1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Chính sách thu hút vốn đầu tư mạo hiểm cho các startups tại israel và bài học kinh nghiệm cho việt nam

95 8 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 95
Dung lượng 2,05 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Một trong những nguyên nhân quyết định dẫn tới thành công “thần kỳ” của các doanh nghiệp khởi nghiệp của Israel chính là việc thu hút và tận dụng được nguồn vốn đầu tư mạo hiểm từ khắp n

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ

-

NGUYỄN THỊ HUYỀN TRANG

CHÍNH SÁCH THU HÚT VỐN ĐẦU TƯ MẠO HIỂM CHO CÁC STARTUPS TẠI ISRAEL VÀ BÀI HỌC KINH NGHIỆM

CHO VIỆT NAM

LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ QUỐC TẾ CHƯƠNG TRÌNH ĐỊNH HƯỚNG NGHIÊN CỨU

Hà Nội – 2020

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ

-

NGUYỄN THỊ HUYỀN TRANG

CHÍNH SÁCH THU HÚT VỐN ĐẦU TƯ MẠO HIỂM CHO CÁC STARTUPS TẠI ISRAEL VÀ BÀI HỌC KINH NGHIỆM

CHO VIỆT NAM

Chuyên ngành: Kinh tế Quốc tế

Mã số: 60 31 01 06

LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ QUỐC TẾ CHƯƠNG TRÌNH ĐỊNH HƯỚNG NGHIÊN CỨU NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS TS NGUYỄN ANH THU

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi tên là: Nguyễn Thị Huyền Trang

Học lớp: KTQT - K25

Trường Đại học Kinh tế – ĐHQG Hà Nội

Tôi xin cam đoan luận văn tốt nghiệp với đề tài: “Chính sách thu hút vốn đầu tư mạo hiểm cho các startups tại israel và bài học kinh nghiệm cho Việt Nam” là công trình của cá nhân tôi Tất cả những số liệu trong luận văn là trung thực, chính xác và các thông tin trích dẫn trong luận văn đều được ghi rõ nguồn gốc

Luận văn có tham khảo và sử dụng thông tin thuộc một số công trình nghiên cứu, khái niệm, đánh giá… của các nhà nghiên cứu, tác giả, tổ chức và được ghi rõ trong nội dung cũng như ở phần tài liệu tham khảo của luận văn

Hà Nội, tháng 12 năm 2020

Tác giả luận văn

NGUYỄN THỊ HUYỀN TRANG

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Sau thời gian học tập và nghiên cứu tại Trường Đại học Kinh tế, Đại học Quốc gia Hà Nội, tôi đã hoàn thành luận văn thạc sỹ với đề tài: “Chính sách thu hút vốn đầu tư mạo hiểm cho các startups tại israel và bài học kinh nghiệm cho Việt Nam

Qua luận văn này, tôi xin được bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến PGS TS Nguyễn Anh Thu, người trực tiếp hướng dẫn, khuyến khích, giúp đỡ tận lực và đưa ra những ý kiến đóng góp vô cùng quí giá trong suốt quá trình nghiên cứu và hoàn thành luận văn Qua đây, tôi cũng xin phép được bày tỏ lòng biết ơn tới tập thể cán bộ giảng viên Trường Đại học Kinh tế đã giảng dạy, cung cấp và trang bị cho tôi những kiến

thức quý báu trong quá trình học tập tại đây

Xin chân thành cảm ơn gia đình, các bạn bè đồng nghiệp đã có sự động

viên, hỗ trợ để tôi có thể hoàn thành công trình nghiên cứu này

Dù đã rất cố gắng nhưng với trình độ hiểu biết và thời gian nghiên cứu thực

tế có hạn nên không tránh khỏi những thiếu sót Rất mong nhận được những lời chỉ

dẫn, góp ý của các Thầy Cô và bạn đọc để luận văn của tôi được hoàn thiện hơn

Trang 5

MỤC LỤC

DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT i

DANH MỤC BẢNG ii

DANH MỤC BIỂU ĐỒ iii

DANH MỤC HÌNH iv

PHẦN MỞ ĐẦU 1

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CHÍNH SÁCH THU HÚT VỐN VỐN ĐẦU TƯ MẠO HIỂM VÀO CÁC STARTUPS TẠI ISRAEL 5

1.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu 5

1.1.1 Các công trình nghiên cứu chung về mối quan hệ giữa đầu tư mạo hiểm và sự phát triển của các doanh nghiệp khởi nghiệp 5

1.1.2 Các công trình nghiên cứu, báo cáo về các chính sách thu hút đầu tư mạo hiểm của các Chính phủ 6

1.1.3 Nghiên cứu về chính sách thu hút đầu tư mạo hiểm tại Israel và Việt Nam 8

1.2 Khoảng trống nghiên cứu và vấn đề cần tiếp tục nghiên cứu 9

1.3 Cơ sở lý luận chung 9

1.3.1 Vốn đầu tư mạo hiểm 9

1.3.2 Startup (Start-up) 15

1.3.3 Mối quan hệ giữa đầu tư mạo hiểm và Start-ups 19

1.3.4 Chính sách thu hút đầu tư mạo hiểm cho khởi nghiệp 20

CHƯƠNG 2: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU VÀ THIẾT KẾ NGHIÊN CỨU 30

2.1 Phương pháp thu thập số liệu, dữ liệu 30

2.1.1 Các số liệu về Israel và các quốc gia OECD được đem so sánh 30

2.2.2 Các số liệu về Việt Nam 30

Trang 6

2.2 Phương pháp phân tích xử lý số liệu, dữ liệu 30

2.2.1 Phương pháp thống kê 30

2.2.2 Phương pháp so sánh 31

2.2.3 Phương pháp phân tích - tổng hợp 32

2.3 Khung nghiên cứu 33

2.3.1 Chính sách thu hút vốn đầu tư mạo hiểm 33

2.3.2 Nghiên cứu về thực trạng thực thi chính sách 35

2.3.3 Liên hệ thực tiễn Việt Nam và rút ra bài học kinh nghiệm 35

CHƯƠNG 3: CHÍNH SÁCH THU HÚT ĐẦU TƯ MẠO HIỂM CỦA ISRAEL GIAI ĐOẠN 1980-2016 36

3.1 Giới thiệu chung về đất nước Israel 36

3.1.1 Lịch sử ra đời và vị trí địa lý 36

3.1.2 Tình hình kinh tế 36

3.1.3 Tình hình chính trị - xã hội 38

3.2 Chính sách khuyến khích phát triển start-up của Chính phủ Israel giai đoạn 1980-2016 41

3.3.1 Đối với cầu vốn đầu tư mạo hiểm 41

3.3 Những thành công trong hoạt động thu hút vốn đầu tư mạo hiểm tại Israel 56

3.3.1 Thị trường đầu tư mạo hiểm nói chung 56

3.3.2 Các quỹ đầu tư mạo hiểm và hoạt động kêu gọi vốn 58

CHƯƠNG 4: LIÊN HỆ THỰC TIỄN VÀ BÀI HỌC KINH NGHIỆM CHO VIỆT NAM 64

4.1 Chính sách thu hút vốn đầu tư mạo hiểm cho các Startup tại Việt Nam 64

4.1.1 Tổng quan chung về tình hình thu hút vốn đầu tư mạo hiểm tại Việt Nam 64

4.1.2 Chính sách nhằm thu hút vốn đầu tư mạo hiểm của Chính phủ 70

Trang 7

4.2 Bài học kinh nghiệm về mặt chính sách thu hút vốn đầu tư mạo hiểm cho

các Startup 73

4.2.1 Nguyên nhân Israel thành công trong việc thu hút vốn đầu tư mạo hiểm cho startup 73

4.2.2 Bài học kinh nghiệm cho Việt Nam 75

KẾT LUẬN 80

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 81

Trang 8

DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT

BIRD Binational Industrial Research

and Development

Quỹ Nghiên cứu và Phát triển Công nghệ của Hoa Kỳ và

Israel

EVCA European Private Equity and

Venture Capital Association

Hiệp hội vốn đầu tư tư nhân và mạo hiểm Châu Âu

IMD International Management

Institute Viện phát triển quản lý quốc tế

IPO Initial Public Offering Phát hành cổ phiếu ra công

chúng lần đầu

NASDAQ

National Association of Securities Dealers Automated Quotation System

ROE Return on Equity Lợi nhuận trên vốn sở hữu R&D Research and Development Nghiên cứu và phát triển

Trang 9

DANH MỤC BẢNG

Bảng 3.1 Các cuộc Mua bán và Sáp nhập lớn giai đoạn

Bảng 3.2 Nguồn tài chính trung bình của các dự án Startup

Bảng 3.3 Lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu qua các năm 2004 –

Trang 10

DANH MỤC BIỂU ĐỒ

Biểu đồ 3.1 Vốn đầu tư mạo hiểm tính trên %GDP của một số

Biểu đồ 3.2 Vốn đầu tư mạo hiểm vào Israel qua các năm Trang 44

Biểu đồ 3.3

Tỷ lệ người trưởng thành tiếp nhận giáo dục đại học tại các quốc gia OECD, 2014 (dân số độ tuổi từ 25-64)

Trang 50

Biểu đồ 3.4 Tỷ lệ doanh nghiệp R&D có vốn đầu tư nước ngoài

Biểu đồ 3.5 Số lượng các nhà nghiên cứu R&D các quốc gia

Biểu đồ 3.6 Đầu tư của Chính phủ cho R&D các quốc gia

Biểu đồ 4.1 Quy mô vốn đầu tư mạo hiểm Việt Nam giai đoạn

Biểu đồ 4.2 Quy mô vốn đầu tư mạo hiểm Việt Nam giai đoạn

Trang 11

DANH MỤC HÌNH

Hình 1.1 Sơ đồ về sự luân chuyển các dòng vốn trên thị trường

Hình 1.2 Các công cụ chính sách của Chính phủ trong việc thúc

Hình 4.1 Hệ sinh thái đầu tư mạo hiểm tại Việt Nam 2015 Trang 67

Trang 12

PHẦN MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Khởi nghiệp hiện nay đang là xu hướng của các bạn trẻ tìm ra hướng đi mới trong phát triển sự nghiệp của mình, là một trào lưu mà giới trẻ đang quan tâm Ấp ủ nhiều dự định kinh doanh và nhiều ý tưởng độc đáo, nhưng để thực hiện được ý tưởng thì điều đầu tiên mà bất kỳ doanh nhân trẻ nào cũng gặp phải, đó là nguồn vốn Huy động vốn, sử dụng vốn thế nào cho hiệu quả

để các ý tưởng khởi nghiệp không biến thành những “ý tưởng chết” là một bài toán dành cho các nhà quản trị trẻ Giai đoạn bắt đầu thực hiện khởi nghiệp cần nguồn vốn phù hợp với khả năng tăng trưởng đặt ra, đảm bảo được mục tiêu lợi nhuận tối đa và chi phí chi ra ở mức tối thiểu Với sự bùng nổ công nghệ thông tin toàn cầu hiện nay, ngoài các nước phát triển có lợi thế hơn thì các nước đang phát triển cũng đang nỗ lực hình thành nên mạng lưới startups góp phần cho sự phát triển của đất nước đó nói chung

Đối với các dự án khởi nghiệp nguồn vốn đầu tư nói chung, đặc biệt nguồn vốn đầu tư mạo hiểm nói riêng đóng một vai trò vô cùng quan trọng

Có thể nói, giai đoạn huy động vốn là bước phát triển sống còn đối với các nhà sáng lập Vậy làm thế nào để thu hút được nguồn lực quý báu này? Trước hết, khi nhắc đến khởi nghiệp chúng ta không thể không nhắc đến Israel, một quốc gia được mệnh danh là “quốc gia khởi nghiệp” (Senor và Saul Singer, 2009), nơi chứng kiến sự phát triển thần kỳ của nền kinh tế mà nền tảng là các doanh nghiệp vừa và nhỏ hoạt động trong lĩnh vực khoa học công nghệ cao Là một quốc gia mới thành lập được 70 năm, dân số vỏn vẹn 8,6 triệu người (2017), luôn phải đối mặt với các cuộc xung đột, chiến tranh triền miên, bị bao vây bởi các quốc gia thù địch, không có bất kì nguồn tài nguyên thiên nhiên nào, thậm chí nước sạch còn là nguồn tài nguyên khan

Trang 13

hiếm Thế nhưng, số lượng công ty khởi nghiệp ở Israel lại nhiều hơn những quốc gia thanh bình, ổn định và lớn hơn nhiều như Nhật Bản, Trung Quốc, Ấn

Độ, Hàn Quốc, Canada và thậm chí Anh Quốc (Senor và Saul Singer, 2009) Một trong những nguyên nhân quyết định dẫn tới thành công “thần kỳ” của các doanh nghiệp khởi nghiệp của Israel chính là việc thu hút và tận dụng được nguồn vốn đầu tư mạo hiểm từ khắp nơi trên thế giới

Đối với các quốc gia đang phát triển nơi mà hệ sinh thái khởi nghiệp còn đang ở giai đoạn sơ khai như Việt Nam, dòng vốn đầu tư mạo hiểm còn nhỏ lẻ và chưa có sự tăng trưởng thường xuyên Hiện nay, Việt Nam được coi

là một thị trường hấp dẫn cho đầu tư mạo hiểm Điều này được minh chứng rõ khi trên thị trường tài chính Việt Nam đang xuất hiện ngày càng nhiều các quỹ đầu tư mạo hiểm của nước ngoài như: Mekong Capital, Vina Capital, Dragon Capital,… và quỹ đầu tư IDG Ventures – một quỹ đầu tư mạo hiểm chuyên đầu tư vào lĩnh vực công nghệ thông tin và công nghệ cao tại Việt Nam Sự xuất hiện của hình thức đầu tư vốn này đã góp phần làm cho thị trường tài chính Việt Nam trở nên sôi động và tăng sức cạnh tranh hơn Bên cạnh đó, nó cũng góp phần xoa dịu phần nào cơn khát về vốn cho các doanh nghiệp, đặc biệt là các doanh nghiệp công nghệ thông tin, nhiều tiềm năng và đang trong giai đoạn khởi nghiệp Tuy nhiên, các nhà đầu tư mạo hiểm vẫn còn e ngại khi rót vốn vào thị trường Việt Nam, vì thị trường Việt Nam vẫn còn tồn tại nhiều rào cản như: cơ sở pháp lý cho hoạt động của quỹ đầu tư mạo hiểm chưa hoàn thiện; môi trường kinh doanh chưa thực sự mang tính cạnh tranh và công bằng, còn có sự phân biệt đối xử giữa khu vực kinh tế tư nhân và khu vực kinh tế nhà nước; thị trường công nghệ chưa phát triển, thiếu các vườn ươm công nghệ và nguồn nhân lực có trình độ cao; bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ chưa đủ mạnh; thị trường chứng khoán chưa phát triển đầy đủ, quy

mô còn nhỏ, tính thanh khoản chưa cao so với các nước trong khu vực Vậy

Trang 14

chính phủ cần phải có những chính sách gì nhằm tăng cường hoạt động đầu

tư, thu hút được nguồn vốn quý bàu này?

Xuất phát từ tính cấp thiết đó, tác giả đã lựa chọn đề tài: “Chính sách

thu hút vốn đầu tư mạo hiểm cho các startups tại Israel và bài học kinh nghiệm cho Việt Nam” làm đề tài luận văn thạc sĩ kinh tế, chuyên ngành

Kinh tế quốc tế của mình để nghiên cứu

2 Câu hỏi nghiên cứu

- Chính sách thu hút vốn đầu tư mạo hiểm vào các Startups tại Israel đạt những thành công và hạn chế nào? Bài học gì cho Việt Nam

- Các chính sách thu hút vốn đầu tư mạo hiểm vào các Starups tại Việt Nam còn tồn tại những hạn chế gì?

- Các kiến nghị và giải pháp nào cho Việt Nam từ bài học Israel?

3 Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu

 Mục tiêu chung:

Nghiên cứu về đầu tư mạo hiểm, vai trò của nó đối với start up và chính sách thu hút đầu tư mạo hiểm vào start up tại Israel và rút ra bài học kinh nghiệm cho Việt Nam

+ Đánh giá tác động tích cực và tiêu cực từ chính sách thu hút vốn vốn đầu

tư mạo hiểm tại Israel, liên hệ so sánh với thực tiễn nước ta, từ đó rút ra bài học kinh nghiệm

Trang 15

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

 Đối tượng nghiên cứu: Đầu tư mạo hiểm, Start up, Chính sách thu

hút vốn đầu tư mạo hiểm vào các Startup Israel và Việt Nam

 Phạm vi nghiên cứ:

 Về không gian: Israel và Việt Nam

 Về thời gian: Giai đoạn 1980-2016 đối với Israel và 1990-2016 với Việt Nam

5 Kết cấu luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục viết tắt, bảng biểu và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung chính của luận văn được chia làm 4 chương như sau:

Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu và cơ sở lý luận về chính

sách thu hút vốn vốn đầu tư mạo hiểm vào các Startups

Chương 2: Phương pháp nghiên cứu

Chương 3: Chính sách thu hút vốn vốn đầu tư mạo hiểm vào các

Startups tại Israel giai đoạn 1980- 2016

Chương 4: Liên hệ thực tiễn và bài học kinh nghiệm cho Việt Nam

Trang 16

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CHÍNH SÁCH THU HÚT VỐN ĐẦU TƯ MẠO HIỂM VÀO

CÁC STARTUPS TẠI ISRAEL

1.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu

1.1.1 Các công trình nghiên cứu chung về mối quan hệ giữa đầu tư mạo hiểm và sự phát triển của các doanh nghiệp khởi nghiệp

Vốn đầu tư mạo hiểm đóng góp một vai trò vô cùng quan trọng và thích hợp nhất cho sự phát triển của các doanh nghiệp khởi nghiệp đặc biệt là các doanh nghiệp công nghệ cao (Grilli và Murtinu, 2014) Các bằng chứng thực nghiệm sẵn có liên tục chỉ ra một tác động tích cực của vốn đầu tư mạo hiểm đối với tăng trưởng bền vững của doanh nghiệp (Bertoni và cộng sự, 2011; Puri và Zarutskie, 2012) Có bốn lý do chính chứng minh vai trò quan trọng của các nhà đầu tư mạo hiểm đối với doanh nghiệp khởi nghiệp: (i) nhà đầu tư mạo hiểm đánh giá tốt hơn các công ty có tiềm năng tăng trưởng cao hơn các nhà đầu tư khác (Sahman, 1990) và cung cấp nguồn lực tài chính cần thiết cho doanh nghiệp; (ii) các nhà đầu tư mạo hiểm "tăng giá trị" cho các công ty đầu

tư thông qua việc cung cấp cả kỹ năng và năng lực quản lý (Hellmann và Puri, 2002); (iii) sự chứng thực của các nhà đầu tư mạo hiểm đại diện cho một "tín hiệu" về chất lượng của các hãng đầu tư danh mục nhằm định hướng cho các bên thứ ba Do đó, các doanh nghiệp được đầu tư tiếp cận các nguồn lực bên ngoài điều không thể xảy ra nếu không có sự chứng thực của các nhà đầu tư mạo hiểm (Hsu, 2006); (iv) các doanh nghiệp được đầu tư cũng được hưởng lợi từ mạng lưới các mối quan hệ kinh doanh (nhà cung cấp, khách hàng, nhà đầu tư tổ chức) từ các nhà đầu tư của họ (Hochberg và cộng sự, 2007)

Ngoài ra, Burzacka và Gasiorowska (2016) phân tích nhu cầu tài chính

của các công ty khởi nghiệp ở các giai đoạn khác nhau đồng thời nghiên cứu

Trang 17

vai trò của vốn đầu tư mạo hiểm cho sự phát triển của các doanh nghiệp này

Hầu hết các công ty khởi nghiệp có hữu tài sản thế chấp giá trị cao đủ cho các khoản vay ngân hàng và trong trường lĩnh vực công nghệ cao, báo cáo tài chính của các công ty thường có dòng tiền âm do chi cho nghiên cứu

và phát triển sản phẩm, tiếp thị Do đó CTCNM có thể sẽ không được tài trợ thông qua các phương tiện truyền thống (Lerner và Watson 2008, Lerner

2009, Mason 2009) Các nhà đầu tư mạo hiểm có cách để giảm thiểu các rủi

ro cao liên quan đến các khoản đầu tư như vậy thông qua một quá trình thẩm định tốn kém trước khi cam kết vốn và bằng cách tham gia chặt chẽ những

Trang 18

người sáng lập trong việc phát triển công ty Với cam kết cao, các nhà đầu tư mạo hiểm thường sẽ không thấy có khả năng đầu tư vào giao đoạn hạt giống

và giai đoạn startup, khi mà nhu cầu tài chính của các công ty khá khiêm tốn (Kanniainen và Keuschnigg 2003) Hơn nữa, do các nhà đầu tư mạo hiểm có kinh nghiệm và danh tiếng, họ có thể thu hút các quỹ đầu tư lớn hơn Các doanh nghiệp có kinh nghiệm sẽ có xu hướng chọn các dự án có quy mô lớn hơn là tài trợ cho một số lượng lớn các dự án nhỏ Điều này lại làm giảm đầu

tư mạo hiểm cho các CTCNM (Dubocage và Riveau-Danset 2002, Mason và Pierrakis 2011, Palacio, Zhange và Sole 2012)

Do đó, sự can thiệp của chính phủ nhằm sửa chữa những sai sót trong thị trường vốn, nơi các công ty sáng tạo trẻ đang phải đối mặt với những hạn chế về tiếp cận các khoản tín dụng Từ quan điểm kinh tế học, rủi ro liên quan đến các công ty như vậy sẽ yêu cầu họ phải trả chi phí lãi vay cao hơn lãi suất thông thường (Mason 2009) Đây là chi phí mà những người mới khởi nghiệp không có khả năng chi trả Bất kỳ công cụ chính sách công nào làm tăng nguồn cung cấp vốn đầu tư sẽ giúp giảm lãi suất này Ngoài ra, bất kỳ công cụ chính sách nào làm tăng lợi tức đầu tư sẽ làm tăng sự sẵn sàng của các nhà tài chính trong việc đầu tư vào các công ty có tài sản thế chấp cao, do đó cho phép các nhà đầu tư mạo hiểm đầu tư vào các công ty có thế chấp thấp (Da Rin, Nicodano và Sembenelli 2006) Khoảng cách về nguồn tài chính cho các công ty mới khởi đầu cũng có liên quan đến sự thiếu hiệu quả của thị trường

do thiếu thông tin, theo đó các doanh nghiệp mới bắt đầu có triển vọng không thể định vị được các nhà đầu tư và ngược lại (Harding 2002)

Ngoài khoảng trống về tài chính, kinh doanh là một hoạt động kinh tế tồn tại sự gia tăng về lợi nhuận do sự có mặt của các tác động lan tỏa/ ngoại lai tích cực (Lerner và Watson 2008) Hoạt động kinh doanh nhiều hơn, dịch

vụ, chuyên môn và mạng lưới tốt hơn mà các quỹ đầu tư, luật sư và các

Trang 19

chuyên gia khác sẵn sàng hỗ trợ các doanh nhân khởi nghiệp Những tác động lan truyền tích cực này đặc biệt quan trọng trong sự phát triển ban đầu của một ngành kinh doanh và ngành công nghiệp đầu tư mạo hiểm Khi ngành công nghiệp phát triển đến độ trưởng thành nhất định, lợi tức đầu tư vào đầu

tư mạo hiểm sẽ tăng lên và tầm quan trọng của sự can thiệp của chính phủ sẽ giảm đi (Lerner và Watson 2008, Lerner, 2010) Đổi mới công nghệ cũng là một hoạt động có tác động lan tỏa tích cực và trong nhiều trường hợp Lý thuyết tài chính công hỗ trợ các khoản trợ cấp của chính phủ trong trường hợp công ty thực hiện đổi mới không thể nắm bắt được tất cả các lợi ích kinh tế (Lerner và Watson 2008)

1.1.3 Nghiên cứu về chính sách thu hút đầu tư mạo hiểm tại Israel và Việt Nam

Ngành công nghiệp đầu tư mạo hiểm tại Isarel luôn chứng kiến mức độ tăng trưởng nhanh chóng liên tục qua các năm kể cả trong quá trình suy thoái kinh tế Là quốc gia đối mặt với hàng loạt nghịch cảnh kể từ khi thành lập nước, nhưng việc san phẳng hệ thống cấp bậc, chú trọng tính thân mật, đồng thời được hỗ trợ bởi chính sách tập trung vào phát minh sáng tạo của chính phủ (Senor và Singer, 2009) đã giúp cho nền kinh tế nước này phát triển một cách thần kì

Nghiên cứu của OECD về chính sách đối với doanh nghiệp vừa và nhỏ

và doanh nhân của Israel đã chỉ ra môi trường kinh doanh tại quốc gia này đồng thời phân tích rõ về khung chính sách nói chung; khung chính sách tập trung cho các doanh nghiệp vừa và nhỏ nói riêng và các chương trình quốc gia cho hoạt động khởi nghiệp

Tại Việt Nam, Đào Lê Minh (2003) khung chính sách cho việc xây dựng hệ thống các quỹ đầu tư mạo hiểm tại Việt Nam là chưa được xây dụng

và đã đưa ra một số kiên nghị: (i) tạo lập cơ sở pháp lý chung, (ii) hoàn thiện

Trang 20

các chính sách của nhà nước; (iii) phát triển các tổ chức và chuyên gia tư vấn chuyên nghiệp, (iv) thúc đẩy sự phát triển của thị trường chứng khoán Tạ Doãn Trịnh và đồng nghiệp (2014) dựa trên lý thuyết đại diễn cũng phân tích các thất bại của thị trường đầu tư mạo hiểm và đưa ra các khuyến nghị về chính sách nhằm phát triển ngành công nghiệp đầu tư mạo hiểm tại Việt Nam

1.2 Khoảng trống nghiên cứu và vấn đề cần tiếp tục nghiên cứu

Các nghiên cứu kể trên đã hệ thống hóa được cơ sở lý luận về giữa đầu tư mạo hiểm và khởi nghiệp, mối quan hệ giữa chúng và vai trò của chính phủ trong hoạt động thu hút vốn đầu tư Chính sách thu hút đầu tư mạo hiểm của Israel chủ đề mà được nhiều chuyên gia quan tâm nghiên cứu bởi vì sự phát triển nhanh chóng với quy mô lớn cả về số lượng và chất lượng của ngành công nghiệp đầu tư mạo hiểm nước này, đặc biệt là trong ngành công nghệ cao

Nghiên cứu về thị trường đầu tư mạo hiểm ở Việt Nam còn ít, đặc biệt chưa có nghiên cứu chính thức về chính sách của chính phủ trong hoạt động thu hút vốn đầu tư Nguyên nhân chủ yếu là thị trường Việt Nam đang ở giai đoạn sơ khai và mức độ quan tâm của chính phủ đôi với lĩnh vực này chỉ mới gia tăng trong một vài năm trở lại đây

Với những lý luận về xu thế phát triển không thể chối cãi của các doanh nghiệp khởi nghiệp vừa và nhỏ, đặc biệt trong định hướng ưu tiên phát triển công nghệ cao, ưu tiên sáng tạo (Đề án Hỗ trợ hệ sinh thái khởi nghiệp đổi mới sáng tạo quốc gia đến năm 2025) của Chính phủ, tác giả nghiên cứu phân tích chính sách thu hút vốn đầu tư mạo hiểm tại Israel, quốc gia đi đầu về đổi mới công nghệ (tỷ lệ R&D/GDP hàng cao nhất thế giới) làm bài học kinh nghiệm kinh nghiệm cho Việt Nam

1.3 Cơ sở lý luận chung

1.3.1 Vốn đầu tư mạo hiểm

Đầu tư: thuật ngữ “investment - đầu tư” được hiểu là việc sử dụng một

lượng tài sản nhất định như vốn, công nghệ, đất đai, vào một hoạt động kinh

Trang 21

tế cụ thể nhằm tạo ra một hoặc nhiều sản phẩm cho xã hội để thu lợi nhuận

(Phùng Xuân Nhạ, 2001)

Đầu tư “mạo hiểm” có thể được xét là một loại hình đầu tư, với chính sách đầu tư hướng vào các chứng khoán vốn cổ phần và mục tiêu đặt ra là tăng trưởng (của các công ty tiếp nhận vốn) Tuy nhiên, do những đặc điểm mang tính chất đặc thù, đầu tư mạo hiểm thường được xem xét như là một hình thức đầu tư riêng biệt

Hiểu theo nghĩa rộng, đầu tư mạo hiểm là một sản phẩm của nền văn minh phương Tây từ nhiều thế kỷ nay Không ít người, trong đó có cả các nhà nghiên cứu, đã cho rằng quyết định của Nhà vua Ferdinand và Hoàng Hậu Isabella của Tây Ban Nha về việc tài trợ toàn bộ chi phí cho chuyến thám hiểm của Christopher Columbus từ thế kỷ XV là phi vụ đầu tư mạo hiểm đem lại nhiều lợi nhuận nhất trong lịch sử nhân loại Tuy nhiên, khái niệm đầu tư mạo hiểm hiện đại, cùng với nó là các khái niệm vốn mạo hiểm và các quỹ đầu tư mạo hiểm lại chỉ xuất hiện vào khoảng giữa thế kỷ XX Đây là một khái niệm ra đời rất gần đây trong lĩnh vực tài chính

Vốn đầu tư: Tất cả các nguồn lực đã bỏ ra để thực hiện đầu tư, được

tính thành tiền, gọi là vốn đầu tư (Nguyễn Thế Lộc, 2009)

Vốn đầu tư mạo hiểm (Nguyễn Văn Ngọc, 2015) là một khái niệm dung

để chỉ các nguồn vốn chuyên dung được quản lý một cách độc lập, tập trung đầu

tư vào vốn cổ phần hoặc liên quan đến vốn cổ phần của các công ty tư nhân tăng trưởng cao Tuy nhiên, xét về bản chất, vốn mạo hiểm có thể hiểu đơn giản là nguồn tài chính cung cấp cho các công ty tư nhân dưới hình thức vốn cổ phẩn hoặc các khoản đầu tư gần giống như vốn cổ phần có thời gian tối thiểu là một vài năm Các công ty tiếp nhận vốn đầu tư thường là những công ty mới thành lập hoặc đang trong giai đoạn bước đầu triển khai sản phẩm, dịch vụ, chưa trưởng thành Mục tiêu của những người cung cấp nguồn vốn mạo hiểm là góp

Trang 22

phần tài trợ cho công ty tiếp nhận đầu tư, giúp các công ty này đạt đến mức độ chín muồi Ở đây, có thể thấy rõ hai yếu tố quan trọng xuất hiện ở hai phía cung

và cầu vốn mạo hiểm: đó là tâm lý chấp nhận rủi ro (phía cung- nhà đầu tư) và ý tưởng kinh doanh mới (phía cầu- công ty tiếp nhận đầu tư) Đầu tư vốn mạo hiểm là sự vẫn động của vốn mạo hiểm từ những người có tiền, sẵn sàng chấp nhận rủi ro, dù ở mức độ khá cao, để tìm kiếm lợi nhuận sang những người có ý tưởng cơ hội kinh doanh nhưng không có khả năng tự biến ý tưởng đó thành hiện thực Nếu thiếu một trong hai yếu tố trên, luồng chu chuyển vốn này sẽ không xuất hiện và đó chính là những yếu tố cơ bản phân biệt vốn mạo hiểm với các nguồn vốn đầu tư thông thường khác

Đầu tư vốn mạo hiểm có nhiều phương thức thể hiện khác nhau, hay nói cách khác là được thực hiện theo nhiều cách khác nhau Nói một cách khái quát, có thể nêu ra hai hình thức:

- Cá nhân tự đầu tư: Theo cách này, sự chủ động của người đầu tư

rất cao Họ có thể tự đánh giá các cơ hội, ý tưởng và lựa chọn đối tượng nhận đầu tư nào thấy thích hợp, tự đưa ra các quyết định cần thiết trong quá trình đầu tư, đồng thời được hưởng toàn bộ lợi nhuận thu được sau này mà không phải chia sẻ với ai Tuy nhiên, phương pháp này có rất nhiều nhược điểm Trên thực tế, một cá nhân khó có thể có một lượng vốn lớn cũng như được trang bị những kỹ năng, kiến thức chuyên môn và kinh nghiệm thực tiễn đủ

để thu được thành công Hơn nữa, đầu tư một mình cũng có nghĩa là phải gánh chịu toàn bộ mọi rủi ro có khả năng sẽ xảy ra trong tương lai Vốn mạo hiểm đầu tư theo phương thức này còn được gọi là vốn đầu tư thien thần và thường có quy mô nhỏ từ $25.000-$100.000 Đô La Mỹ

- Đầu tư có tổ chức: Trong trường hợp này, nhiều nhà đầu tư cùng

góp vốn với nhau để thực hiện đầu tư nhằm hướng tới mục tiêu chung Ưu điểm của hình thức đầu tư này thể hiện rõ nhất ở khả năng phân tán và chia sẻ rủi ro

Trang 23

Sự kết hợp này có thể diễn ra dưới nhiều dạng: hợp đồng hợp tác kinh doanh, thành lập công ty liên doanh, thành lập quỹ đầu tư mạo hiểm… Quỹ đầu tư mạo hiểm tuy xuất hiện sau song ngày càng chứng minh được nhiều điểm nổi trội so với những phương thức đầu tư vốn mạo hiểm có tổ chức khác

Một điểm đáng chú ý khi đề cập đến khái niệm quỹ đầu tư mạo hiểm là

khái niệm này cần được phân biệt với khái niệm vốn góp tư nhân (Private

Equity - PE) Ở Mỹ, đây là hai khái niệm tương đối độc lập và phân biệt với

nhau Quỹ cổ phần tư nhân bao gồm những quỹ mà vốn góp hình thành nên quỹ đó được dành cho nhiều hoạt động khác nhau: đầu tư mạo hiểm, mua cổ phiếu giành quyền kiểm soát bằng cách sử dụng đoạn bẩy, các vụ sáp nhật, đầu tư sử dụng nợ thứ cấp có quyền ưu tiên thấp hơn nợ ngân hàng nhưng lại cao hơn so với chứng khoán vốn cổ phần và thường gắn kèm chứng quyền, đầu tư vào chứng khoán nợ mà tổ chức phát hành có nhiều nguy cơ bị mất khả năng thanh toán (chiến lược đầu tư nhằm mua trái phiếu chiết khấu của một công ty bị cạn kiệt về mặt tài chính, sau đó chuyển các chứng khoán đang nắm giữ thành chứng khoán vốn cổ phần và chủ động tham gia vào quản lý công ty đó) và nhiều họa động hỗn hợp khác như cho thuê tài sản mạo hiểm (cho các công ty non trẻ có mức độ rủi ro cao thuê thiết bị và các tài sản khác)

và mua nợ mạo hiểm (mua các khoản phải thu của những công ty non trẻ có

độ rủi ro cao) Còn khái niệm vốn đầu tư mạo hiểm chủ yếu được dành cho nguồn vốn đầu tư vào vốn cổ phần và những sản phẩm có liên quan đến vốn

cổ phần trong các công ty định hướng tăng trưởng Tuy nhiên, ở một số khu vực khác, chẳng hạn như ở châu Âu là nơi hoạt động của các quỹ đầu tư cũng tương đối phát triển, khái niệm quỹ đầu tư mạo hiểm và quỹ cổ phần tư nhân thường được sử dụng thay thế nhau không có sự phân biệt rõ ràng

Về nguyên tắc, vốn góp tư nhân có thể đầu tư vào một công ty ở các giai đoạn khác nhau và nhằm một trong những mục đích sau:

Trang 24

- Hình thành ý tưởng: đây là giai đoạn người sang lập công ty mới

đưa ra những ý tưởng sơ khởi ch hoạt động kinh doanh Vốn đầu tư vào thời

kỳ này sẽ trợ giúp cho những công việc cụ thể ban đầu như: xây dựng kế hoạch kinh doanh, sản xuất sản phẩm mẫu và nghiên cứu thêm trước khi đưa sản phẩm ra thị trường và bắt dầu việc sản xuất đại trà trên quy mô lớn

- Thành lập: vốn đầu tư vào giai đoạn này sẽ được sử dụng để phát

triển sản phẩm của công ty và tài trợ cho hoạt động tiếp thị ban đầu Các công

ty tiếp nhận vốn đầu tư trong giai đoạn này có thể đang trong quá trình thành lập hoặc đã kinh doanh được một thời gian ngắn nhưng chưa bán được được sản phẩm xét trên phương diện thương mại

- Khởi đầu: đến lúc này, công ty đã hoàn tất giai đoạn phát triển

sản phẩm nhưng chưa tạo ra lợi nhuận Công ty cần vốn để bắt đầu đi vào sản xuất và bán hàng mang tính chất thương mại

- Mở rộng: trong giai đoạn này, việc đầu tư vốn hướng vào mục

đích mở rộng một công ty đã có uy tín- nâng cao năng lực sản xuất, phát triển sản phẩm, tiếp thị và tạo nguồn vốn lưu động bổ sung Vì vậy, nguồn vốn đầu

tư trong thời kỳ này còn được gọi là vốn “phát triển” hay “tăng trưởng”

- Tài trợ bắc cầu: đây là hành động tài trợ vốn mạo hiểm ngắn

hạn, thường được dành cho một công ty có kế hoạch phát hành cổ phiếu ra công chúng trong vòng một năm tới

- Tái cơ cấu nợ ngân hàng: khoản tài chính lúc này được dùng để

giảm bớt mức độ đòn bẩy (vay nợ) của công ty

- Mua thứ cấp/vốn cổ phần thay thế: khi một quỹ đầu tư vốn cổ

phần tư nhân mua cổ phiếu hiện hành của một công ty từ một quỹ vốn cổ phần tư nhân khác, nguồn tài chính sẽ cho phép các nhà đầu tư không thuộc nhóm nhà đầu tư vốn cổ phần tư nhân mua lại hoặc thu hồi một phần hay toàn

bộ sở hữu cổ phần của nhà đầu tư khác

Trang 25

- Cứu vãn/xoay chuyển tình thế: khi khoản tài chính được sử dụng

để giúp cho một công ty có thể giải quyết được những khó khăn về tài chính hoặc cứu cho công ty đó không bị giai cho cơ quan quản lý tài sản

- Mua trong nội bộ để giành quyền kiểm soát (management in): vốn đầu tư sẽ cho phép ban quản lý hiện thời mua hoặc nắm được tỷ lệ sở

buy-hữu lớn trong doanh nghiệp mà họ quản lý

- Mua từ bên ngoài (management buy-out): cho phép một hoặc

một nhóm nhà quản lý bên ngoài công ty mua cổ phần để tham gia sở hữu công ty đó

- Mua giành quyền kiểm soát có tổ chức: với mục đích này, vốn

đầu tư cho phép một quỹ đầu tư vốn cổ phần tư nhân mua một công ty, tiếp đó ban quản lý đương nhiệm và/ hoặc thay thế sẽ được nhận hoặc mua một phần

sở hữu trong công ty

- Tích tụ có sử dụng đòn bẩy: khi một quỹ đầu tư vốn cổ phần tư

nhân mua một công ty với mục đích thực hiện thêm những giao dịch mua có liên quan để phát triển thành một tập đoàn kinh danh

- Nezzanine: đây là một dạng tài trợ bằng cho vay nằm giữa hai

loại công vụ là vốn cổ phần và nợ có đảm bảo, thường thích hợp với những giao dịch lớn hơn

- Tài trợ để chuyển từ công ty đại chúng sang thành công ty tư nhân: nói một cách cụ thể, mục đích của việc đầu tư vốn của quỹ cổ phần tư

nhân trong trường hợp này là tài trợ cho việc đưa một công ty niêm yết trở thành công ty thuộc sở hữu riêng

- Mua cổ phiếu đã niêm yết

Tuy nhiên, trong khi vốn góp tư nhân thông thường có thể đầu tư với một trong số tất cả những mục đích trên, đối tượng của vốn đầu tư mạo hiểm lại nằm trong phạm vi hẹp hơn Thường tập trung vào các công ty ở giai đoạn hình thành ý tưởng, thành lập và khởi đầu

Trang 26

Nói tóm lại, từ những phân tích trên, bài luận văn xin được đưa ra khái niệm của đầu tư mạo hiểm và vốn đầu tư mạo hiểm như sau:

“Đầu tư mạo hiểm là việc cung cấp vốn tài chính cho các công ty ở giai đoạn khởi động tăng trưởng ban đầu Quỹ đầu tư mạo hiểm thường rót tiền vào các công ty có một công nghệ mới hoặc mô hình kinh doanh trong ngành công nghiệp công nghệ cao, chẳng hạn như: công nghệ sinh học, công nghệ thông tin,…”

“Vốn đầu tư mạo hiểm là khoản tiền mà các định chế tài chính, chẳng hạn ngân hàng thương mại và các công ty bảo hiểm, cho một công ty vay hay dùng để mua cổ phiếu của một công ty để đầu tư phát triển công nghệ hoặc sản phẩm mới Do tính chất mới lạ của chúng mà các dự án này được coi là

có mức độ rủi ro cao và do vậy khó thu hút các nguồn tài chính thông thường”

1.3.2 Startup (Start-up)

Trong vài năm trở lại đây, cụm từ startup (khởi nghiệp) được nhắc đến với khá thường xuyên và được gắn với hình ảnh của vài ba thanh niên trẻ tuổi với những ý tưởng táo bạo (thậm chí có khi còn được coi là điên rồ), cùng nhau góp vốn thành lập một công ty nho nhỏ Có nhiều ý kiến cho rằng, Startup được nhận biết bằng quy mô nhỏ và tuổi đời non trẻ Theo Investopedia, startup là công ty đang ở trong giai đoạn đầu của quá trình hoạt động Những công ty đang ở trong giai đoạn này thường được cấp vốn bởi chính những người sáng lập viên để phát triển sản phẩm và dịch vụ mà họ tin rằng có nguồn cung Do nguồn thu hạn hẹp và chi phí cao, hầu hết các startup với quy mô nhỏ thường không ổn định trong dài hạn nếu không có nguồn vốn

hỗ trợ từ các quỹ đầu tư Một số từ điển thông dụng của Mỹ và Anh định nghĩa rằng Startup là một công ty mới thành lập Nhưng cái khó ở đây là những nguồn này không ghi rõ mới là bao nhiêu Điều đó khiến cho nhiều

Trang 27

người hiểu lầm cho rằng startup có tuổi đời chỉ 1-2 năm Theo Paul Graham- lập trình viên và nhà đầu tư mạo hiểm nổi tiếng với vai trò sáng lập viên của Y-Combinator (quỹ đầu tư mạo hiểm chỉ đầu tư cho các ý tưởng mới) – nhận

định: “Một công ty 5 năm tuổi cũng có thể là một startup” Như vậy, thời

gian không phải là thước đo chuẩn để xác định một công ty có phải là startup hay không Theo CEO Warby Parker, startup là một tổ chức được thiết kế

nhằm cung cấp sản phẩm và dịch vụ trong những điều kiện không chắc chắn

nhất Các startup được thiết kế cho những tình huống không thể mô hình hóa

và độ rủi ro không nhất thiết phải lớn nhưng chưa tính toán được Thông thường các startup đều muốn sau này không còn là startup Thời hạn cho quá trình chuyển giao này thường là 3 năm Khi đó, thường có một số yếu tố xuất hiện: được mua lại bởi một công ty lớn hơn, có hơn 1 văn phòng, doanh thu lớn hơn 20 triệu USD, có hơn 80 nhân viên hay ban quản trị có trên 5 người Đặc biệt, khi một công ty đã có lợi nhuận thì thường được coi là đã “tốt

nghiệp” startup Một đặc điểm then chốt gắn liền với các startup là khả năng

tăng trưởng Như Graham giải thích, startup được thiết kế để tăng trưởng không giới hạn và nhanh nhất có thể Đây cũng chính là đặc điểm để phân biệt startup với doanh nghiệp nhỏ Một doanh nghiệp nhỏ sẽ được vận hành trong một phạm vi nhất định và được giới hạn bởi người sáng lập Doanh nghiệp nhỏ cũng muốn phát triển càng nhanh càng tốt tuy nhiên bị giới hạn bởi yêu cầu trước tiên là lợi nhuận – điều này đi ngược lại với startup

Một số chuyên gia lại định nghĩa Startup theo một cách nhìn khác: dựa trên sự đổi mới và phát triển công nghệ Khi nhắc đến Startup, chúng ta thường hình dung ra những công ty mang hai đặc điểm nổi bật: (1) Tính đột phá: tạo ra một điều gì đấy chưa hề có trên thị trường hoặc tạo ra một giá trị tốt hơn so với những thứ đang có sẵn, chẳng hạn như có thể tạo ra một phân khúc mới trong sản, một mô hình kinh doanh hoàn toàn mới hoặc một loại

Trang 28

công nghệ độc đáo, chưa hề thấy,… (2) Tăng trưởng: Một công ty khởi nghiệp (Startup) sẽ không đặt ra giới hạn cho sự tăng trưởng, và họ có tham vọng phát triển đến mức lớn nhất có thể Họ tạo ra sự ảnh hưởng cực lớn, có thể được xem là người khai phá thị trường Theo Neil Blumenthal, Đồng Giám đốc điều hành của Warby Parky được trích dẫn trên tạp chí Forbes thì:

“Startup là một công ty hoạt động nhằm giải quyết một vấn đề mà giải pháp (đối với vấn đề đó) chưa rõ ràng và sự thành công không được đảm bảo) Còn Eric Ries, tác giả cuốn sách “The Lean Startup: How Constant Innovation Creates Radically Successful Businesses” – một cuốn sách được coi là “cẩm nang gối đầu giường” của mọi công ty startup, thì: startup “là một định chế/tổ chức con người được thiết kế nhằm mục đích tạo ra những sản phẩm và dịch

vụ mới trong các điều kiện cực kỳ không chắc chắn” Trong vài năm gần đây, startup cũng thường được dung theo nghĩa hẹp chỉ các một công ty công nghệ trong giai đoạn lập nghiệp Theo ông Trương Gia Bình, Chủ tịch FPT “Một bên là Khởi nghiệp đổi mới sáng tạo, một bên hiểu là Lập nghiệp Lập nghiệp cũng có thể trở thành doanh nghiệp cực kỳ lớn Còn nói đến Startup phải nói đến đỉnh cao của khoa học công nghệ, nói đến điều thế giới chưa từng làm” Còn theo ông Bùi Thế Duy, Thứ trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ: “Doanh nghiệp khởi nghiệp phải dựa trên một công nghệ mới hoặc tạo ra một hình thức kinh doanh mới, xây dựng một phân khúc thị trường mới, nghĩa là phải tạo ra sự khác biệt không chỉ trong nước mà phải với tất cả các công ty trên thế giới” Tuy nhiên, đây chỉ là một đặc tính tiêu biểu của startup bởi mục tiêu tăng trưởng cao, ý tưởng thành lập mới mẻ Dù vậy, ngay cả khi sản phẩm không dựa nhiều vào công nghệ, thì startup cũng cần áp dụng công nghệ để đạt được mục tiêu kinh doanh cũng như tham vọng tăng trưởng

Như vậy, có rất nhiều cách định nghĩa Startup khác nhau, bài luận văn

xin đưa ra khái niệm về Startup như sau: “Startup là những công ty đang

Trang 29

trong giai đoạn đầu của quá trình hoạt động, được thiết kế nhằm mục đích tạo ra những sản phẩm dịch vụ mới trong các điều kiện cực kỳ không chắc chắn nhằm giải quyết một vấn đề mà giải pháp để giải quyết vấn đề đó là chưa rõ ràng và sự thành công không được đảm bảo và thường gắn liền với

sự đổi mới về công nghệ”

Một điểm đáng chú ý khi đề cập đến khái niệm Startup (khởi nghiệp) là khái niệm này cần được phân biệt rõ ràng với Small business (kinh doanh nhỏ) Một “small business” là một tổ chức tự tồn tại được thiết kế với mục đích tạo ra doanh số, thậm chí là lợi nhuận, ngay từ ngày đầu tiên Nó không đòi hỏi nhiều đầu tư và ít rủi ro hơn so với “startup”, tuy nhiên, nó không có khả năng mở rộng (upside), ít có cơ hội trở thành to lớn “Startup”, trái lại, chẳng những không đưa đến lợi ích tức thời mà còn tiêu tốn rất nhiều nguồn lực, và đa phần thất bại trước khi có được một dự án, sản phẩm thành công Nhưng một khi đã thành công, sản phẩm của “startup” có thể tạo ra nhiều lợi ích một cách dài hạn, có thể nhân rộng, trở thành vĩ đại và có thể tạo “mầm để mọc thêm các cây con”

Các Startup thường phát triển qua bốn giai đoạn chính Giai đoạn 1 - Định hướng: Đây là giai đoạn khởi đầu của bất kỳ công ty Start-up nào Ở giai đoạn này, các ý tưởng đầu tiên và kế hoạch thực hiện là rất quan trọng Nếu không có sự chuẩn bị kỹ lưỡng, cẩn thận bạn sẽ rất dễ lạc lối ngay trong bước chân khởi đầu Khi đã có ý tưởng và kế hoạch, các thành viên trong nhóm bắt tay vào thực hiện nó Giai đoạn 2 - Thử thách: Sau khi kết thúc giai đoạn 1, đây sẽ là quãng thời gian khó khăn nhất cho các Startup Hơn 80% các công ty Startup tại Việt Nam không thể vượt giai đoạn này và nhanh chóng đi đến thất bại hoặc phải thay đổi mô hình Thời điểm này, các thành viên thường sẽ bị “vỡ mộng” do kết quả đặt ra không như mong muốn, các yếu tố khách quan và chủ quan tác động khiến cho số lượng nhân sự giảm so

Trang 30

với lúc khởi đầu Giai đoạn 3 - Hoà nhập: Đây được xem như giai đoạn phục hồi sau khó khăn của các Startup Năng suất lao động tăng, các thành viên làm việc ăn ý và hiểu nhau hơn Công ty bắt đầu có doanh thu hoặc không bị thua lỗ quá nhiều Các mục tiêu trong ngắn hạn dần đạt được, công ty sẽ hướng đến việc xây dựng các cơ sở hạ tầng, đội ngũ nhân sự để phục vụ cho các kế hoạch “dài hơi” Giai đoạn 4 - Phát triển: Là giai đoạn trong mơ, là mục tiêu hướng đến của bất kỳ Startup nào Ở giai đoạn này, các nhà đồng sang lập sẽ đề ra những kế hoạch, nhưng mục tiêu dài hạn Bộ máy doanh nghiệp bắt đầu đi vào “guồng” Kinh nghiệm, kỹ năng chuyên môn của đội ngũ nhân sự sẽ giúp công ty có bước phát triển rất nhanh

1.3.3 Mối quan hệ giữa đầu tư mạo hiểm và Start-ups

Trước hết chúng ta xem xét hoạt động của ngành đầu tư mạo hiểm, có

4 nhân tố chính:

- Doanh nhân khởi nghiệp (Entrepreneurs): những người có ý

tưởng kinh doanh, có doanh nghiệp mới thành lập đang rất cần huy động vốn

để phát triển Các chính phủ thường có các quỹ hỗ trợ các doanh nghiệp non trẻ, tuy nhiên là không đáng kể so với nhu cầu Bởi vậy, kênh huy động chủ yếu là thông qua các chuyên gia đầu tư mạo hiểm

- Các nhà đầu tư cá nhân (Private investors): những người có

sẵn vốn và đang tìm kiếm lợi nhuận Tuy nhiên, họ không trực tiếp đem vốn đi đầu tư mà thường tìm kiếm đến các chuyên gia đầu tư mạo hiểm (ở các quỹ), do đây đều là những người có kinh nghiệm lâu năm, có kiến thức trong ngành

- Các ngân hàng đầu tư (Investment bank): cung cấp vốn cho các

quỹ đầu tư, sau đó thu lại lợi nhuận từ IPOs của các doanh nghiệp

- Các chuyên gia đầu tư mạo hiểm (Venture capitalist): những

người thu lợi bằng việc tạo ra thị trường cho 3 đối tượng trên

Trang 31

Hình 1.1: Sơ đồ về sự luân chuyển các dòng vốn trên thị trường đầu tư

mạo hiểm

(Nguồn: Bob Zider, 1998)

Như vậy, có thể thấy các quỹ đầu tư mạo hiểm đóng một vai trò hết sức quan trọng trong sự phát triển của các startup Trước hết, xem xét đầu tư mạo hiểm là một nhân tố quan trọng tích cực cho sự phát triển của các startup: (1) Đảm bảo cung cấp một lượng vốn nhiều hơn so với nguồn vay thương mại hoặc vay chính phủ, (2) Gia tăng giá trị công ty, (3) Hưởng lợi từ kinh nghiệm lâu năm (kinh doanh, quản lý,…) của các chuyên gia đầu tư mạo hiểm, (3) Chia sẻ rủi ro tài chính của việc mở rộng kinh doanh, (4) nhận được hỗ trợ tài chính từ khác nguồn quỹ đầu tư mạo hiểm khác nhau, phù hợp cho từng giai đoạn phát triển của công ty

Ngoài ra, một số tác động tiêu cực cần phải kể đến: (1) Chia sẻ cổ phần công ty cho các nhà đầu tư, (2) Chia sẻ quyền kiểm soát, giám sát công ty, (2) Rủi

ro từ việc các quỹ đầu tư mạo hiểm có thể đưa công ty lên sàn quá sớm so với kế hoạch ban đầu của chủ doanh nghiệp, (3) Phải chia sẻ nhiều thông tin hơn

1.3.4 Chính sách thu hút đầu tư mạo hiểm cho khởi nghiệp

Trong lý thuyết và thực tiễn kinh tế, sự can thiệp trực tiếp của chính phủ vào việc hỗ trợ doanh nhân khởi nghiệp và đầu tư mạo hiểm được bảo

Các quỹ/ công

ty đầu tư mạo hiểm

Các ngân hàng đầu tư

Các nhà đầu tư thiên thần

Thị trường đại chúng và các tập đoàn

Trang 32

đảm khi có sự thất bại của thị trường (Keuschnigg và Nielson, 2001) Hai thất bại lớn của thị trường đã được ghi nhận: sự thiếu hụt nguồn cung cho các công ty dựa trên công nghệ mới (funding gap) và sự hiện diện của các ngoại ứng tích cực, làm giảm sự khuyến khích tư nhân đối với sự đổi mới và tinh thần khởi nghiệp Trong trường hợp không có phát triển tốt của đầu tư mạo hiểm, các công ty dựa trên công nghệ mới tiềm năng cao thường không nhận được vốn đầu tư từ các tổ chức tài chính truyền thống Về mặt lý thuyết, khoảng cách tài trợ này được giải thích bởi sự hiện diện của lựa chọn bất lợi

và rủi ro đạo đức do sự bất cân xứng thông tin Lựa chọn bất lợi phát sinh trong một tình huống mà doanh nhân biết nhiều về công nghệ, sản phẩm hơn nhà đầu tư và có thể thổi phồng những điểm mạnh của nó trái với lợi ích của nhà đầu tư Nhà đầu tư cam kết vốn theo thông tin bất cân xứng này

Rủi ro đạo đức là kết quả của việc nhà đầu tư không thể đánh giá mức

độ mà doanh nhân đưa ra nỗ lực tối ưu giúp doanh nghiệp thành công (Amit, Brander và Zott, 1998) Hầu hết các công ty non trẻ không sở hữu tài sản thế chấp cao đáp ứng yêu cầu thế chấp của các khoản vay ngân hàng và trong trường hợp các startup công nghệ cao, báo cáo tài chính của công ty thường sẽ hiển thị vài năm dòng tiền âm do chi cho nghiên cứu, phát triển sản phẩm và tiếp thị Do đó, các công ty dựa trên công nghệ mới dường như không nhận được tài trợ thông qua các phương tiện truyền thống (Lerner và Watson, 2008; Lerner, 2009; Mason, 2009) Đầu tư mạo hiểm có cách giảm thiểu rủi ro cao thông qua quy trình thẩm định tốn kém chi phí trước khi quyết định đầu tư và bằng cách tham gia sâu và trực tiếp với nhà đầu tư vào phát triển công ty Do cam kết cao, các nhà đầu tư thường sẽ không thấy tính khả thi khi đầu tư vào giai đoạn hạt giống và khởi nghiệp, nơi mà nhu cầu tài chính của các công ty khá khiêm tốn (Kanniainen và Keuschnigg, 2003) Hơn nữa, khi các nhà đầu

tư mạo hiểm phát triển về chuyên môn, họ có thể thu hút các quỹ đầu tư lớn

Trang 33

hơn Các nhà đầu tư mạo hiểm có kinh nghiệm sẽ có xu hướng chọn các dự án

có quy mô lớn hơn thay vì tài trợ cho một số lượng lớn các dự án nhỏ Điều này một lần nữa có khuynh hướng làm các công ty dựa trên công nghệ mới khó tiếp cận các khoản đầu tư mạo hiểm (Dubocage và Riveau-Danset, 2002; Mason và Pierrakis, 2011; Palacio, Zhange và Sole, 2012)

Do đó, sự can thiệp của chính phủ được bảo đảm để sửa chữa những khiếm khuyết trong thị trường vốn nơi các công ty non trẻ phải đối mặt với những hạn chế tín dụng Từ góc độ kinh tế lý thuyết, rủi ro liên quan đến các công ty như vậy sẽ yêu cầu họ phải chi trả cao hơn so với mức lãi suất thông thường được tính cho các công ty có tài sản thế chấp cao, trưởng thành hơn (Mason, 2009) Mức lãi suất cao này là một điều mà các công ty mới khởi nghiệp khó có khả năng chi trả Bất kỳ công cụ chính sách công nào làm tăng nguồn cung của các đầu tư sẽ giúp giảm lãi suất này Khoảng cách tài trợ cho các công ty khởi nghiệp đầy triển vọng cũng có liên quan đến sự thiếu hiệu quả của thị trường do thiếu thông tin, theo đó các công ty khởi nghiệp tiềm năng không thể định vị được các nhà đầu tư mạo hiểm và ngược lại (Harding, 2002)

Bên cạnh khoảng cách tài trợ, khởi nghiệp là một hoạt động kinh tế thể hiện lợi nhuận ngày càng tăng do sự hiện diện của ngoại ứng tích cực (Lerner

và Watson, 2008) Hoạt động kinh doanh càng nhiều, các dịch vụ, chuyên môn và mạng lưới tốt hơn mà các nhà đầu tư, luật sư và các chuyên gia khác sẵn sàng hỗ trợ các doanh nhân Sự lan tỏa tích cực này đặc biệt quan trọng trong sự phát triển ban đầu của một doanh nghiệp và ngành đầu tư mạo hiểm nói chung Khi ngành đầu tư mạo hiểm đạt đến một khối lượng nhất định, lợi tức từ đầu tư mạo hiểm tăng lên và tầm quan trọng của sự can thiệp của chính phủ giảm (Lerner và Watson, 2008; Lerner, 2010) Đổi mới công nghệ cũng

là một hoạt động thể hiện sự lan tỏa tích cực và trong nhiều trường hợp, tỷ lệ hoàn vốn xã hội dành cho nghiên cứu phát triển (R&D) vượt quá tỷ lệ hoàn

Trang 34

vốn tư nhân của các công ty thực hiện nó Lý thuyết tài chính công hỗ trợ các khoản trợ cấp của chính phủ trong trường hợp công ty thực hiện đổi mới không thể nắm bắt được tất cả các lợi ích kinh tế (Lerner và Watson, 2008) Avnimelech và Teubal (2004) sử dụng viễn cảnh hệ thống để cho thấy rằng bằng cách hạ thấp chi phí tư nhân của những người tham gia sớm vào ngành đầu tư mạo hiểm, chính sách của chính phủ Mỹ cho phép học tập cá nhân và tập thể phát triển diễn ra và cho một ngành đầu tư mạo hiểm trưởng thành phát triển

Lập luận số một chống lại sự can thiệp của chính phủ là sự bất lực (Lerner và Watson, 2008) Một quan chức chính phủ sẽ không chi tiêu các khoản tiền dưới sự kiểm soát của mình tích cực như một doanh nhân hoặc nhà đầu tư sẵn sàng chi tiêu cho một công ty mà thường chưa xác định rõ được sự thành công trong tương lai Lựa chọn không tốt cho các mục tiêu đầu tư, trục lợi bằng cách thuê các chuyên gia tư vấn là người thân hoặc bạn bè và các khuyến khích sai lầm khác và các hành vi rủi ro đạo đức được trích dẫn (Lerner, 2009) Thứ hai, có những nhóm người thụ hưởng tổ chức để nắm bắt các khoản trợ cấp trực tiếp và gián tiếp được cung cấp bởi các chương trình

hỗ trợ công cộng Trong nhiều trường hợp, các nhóm này không phải là những người hưởng lợi mục tiêu mà các chương trình của chính phủ ban đầu được thiết kế để hỗ trợ (Lerner, 2009) Thứ ba, chính sách của chính phủ có thể không hiệu quả do kết hợp nhiều mục tiêu chính sách với các ưu tiên trái ngược nhau trong các chương trình chung (McGlue, 2002) Hình 1.3 dưới đây minh họa các cơ chế chính sách chính đã được sử dụng ở các quốc gia khác nhau nhằm hỗ trợ sự phát triển của ngành đầu tư mạo hiểm

Trang 35

Hình 1.2: Các công cụ chính sách của Chính phủ trong việc thúc đẩy vốn

đầu tư mạo hiểm

Nguồn: Iman Seoudi, 2015

 Cơ chế chính sách (1): Hệ sinh thái khởi nghiệp và đổi mới sáng tạo:

Vườn ươm doanh nghiệp là cầu nối quan trọng để đưa công nghệ, đổi mới sáng tạo, tinh thần và văn hóa doanh nhân mới vào cộng đồng Phát triển vườn ươm doanh nghiệp cần một hệ sinh thái khởi nghiệp đổi mới sáng tạo đồng bộ, năng động, với sự tham gia mạnh mẽ đến từ các thành tố của hệ sinh thái

Mục tiêu của vườn ươm: Các vườn ươm doanh nghiệp sẽ giúp tăng cường năng lực cho các nhà sáng lập với trọng tâm phát triển công nghệ, đổi mới sáng tạo và tinh thần, văn hóa khởi nghiệp liêm chính, vườn ươm cũng gia tăng nguồn lực cho các doanh nghiệp nhờ mạng lưới kết nối hệ sinh thái khởi nghiệp và hỗ trợ cho doanh nghiệp công nghệ và đổi mới sáng tạo gia nhập thị trường dễ dàng hơn

Trang 36

Các vườn ươm doanh nghiệp sẽ gắn kết chặt chẽ với sự phát triển của

hệ sinh thái khởi nghiệp, nơi các startup có thể tương tác và kết nối, hợp tác liên tục giữa các tổ chức khác nhau, tùy theo chủ sở hữu sáng lập thì vườn ươm thực hiện các mục tiêu khác nhau

Đối với các chương trình ươm tạo doanh nghiệp, mục tiêu chính là nâng cao khả năng của nhà sáng lập với chương trình đào tạo về văn hóa khởi nghiệp, kiến thức đổi mới sáng tạo và giúp chuyển hóa ý tưởng thành các mô hình kinh doanh sáng tạo, sản phẩm thử nghiệm để đáp ứng yêu cầu của thị trường Các chương trình ươm tạo rất phù hợp ở các trường đại học, viện nghiên cứu, trung tâm đổi mới sáng tạo ở các tập đoàn

Đối với các chương trình tăng tốc thường dành cho các doanh nghiệp đổi mới sáng tạo nhằm hỗ trợ cho doanh nghiệp xây dựng kế hoạch kinh doanh, năng lực vận hành doanh nghiệp, khả năng thương mại hóa, gia nhập thị trường, kết nối nguồn lực và gọi vốn đầu tư

Cấu trúc và hệ thống vận hành:

Mô hình vận hành vườn ươm thường bao gồm 5 hoạt động chính:

+ Chính sách quản lý: Thực hiện các mục tiêu của chương trình ươm tạo đề ra như số lượng, chất lượng các ý tưởng, lĩnh vực ươm tạo, cũng như chính sách đầu tư, thoát vốn,…

+ Cấu trúc tổ chức: Quản lý chương trình, nguồn nhân sự vận hành kiểm soát chất lượng, tiến độ, các nhà cố vấn chương trình và quan hệ các bên liên quan trong hệ sinh thái khởi nghiệp

+ Nguồn lực: Sự hỗ trợ từ các cơ sở vật chất của cơ sở ươm tạo, tình nguyện viên, ngân sách từ các nhà tài trợ, nhà đầu tư

+ Kết nối bên ngoài: kết nối các nguồn lực của mạng lưới hệ sinh thái khởi nghiệp như cơ chế, chính sách của trung ương và địa phương, sự hỗ trợ của startup đã thành công, các tổ chức hỗ trợ khởi nghiệp khác

Trang 37

+ Dịch vụ hỗ trợ: Hỗ trợ cơ sở vật chất, hỗ trợ việc vận hành doanh nghiệp, hỗ trợ kỹ thuật, công tác quản lý, tài chính,…

- Đổi mới sáng tạo:

+ Xây dựng Cổng thông tin khởi nghiệp đổi mới sáng tạo quốc gia cung cấp thông tin về công nghệ, sáng chế, tiêu chuẩn, đo lường, chất lượng,

sở hữu trí tuệ; chính sách, pháp luật; nguồn nhân lực; nguồn đầu tư và giao dịch đầu tư; đối tác, khách hàng; sản phẩm, dịch vụ, mô hình kinh doanh mới;

tổ chức, cá nhân hỗ trợ; tin tức, sự kiện trong nước, quốc tế và các hoạt động khác hỗ trợ khởi nghiệp đổi mới sáng tạo

+ Xây dựng Khu tập trung dịch vụ hỗ trợ khởi nghiệp đổi mới sáng tạo tại các địa phương có tiềm năng phát triển hoạt động khởi nghiệp đổi mới sáng tạo

+ Xây dựng, phát triển mạng lưới các tổ chức thúc đẩy kinh doanh dựa trên việc lựa chọn, xây dựng năng lực cho một số cá nhân, nhóm cá nhân, doanh nghiệp khởi nghiệp đổi mới sáng tạo tiềm năng và đầu tư vốn ban đầu cho doanh nghiệp khởi nghiệp đổi mới sáng tạo Xây dựng mạng lưới nhà đầu tư cá nhân và mạng lưới quỹ đầu tư mạo hiểm cho khởi nghiệp đổi mới sáng tạo

+ Phát triển hoạt động đào tạo, nâng cao năng lực và dịch vụ cho khởi nghiệp đổi mới sáng tạo

+ Phát triển cơ sở vật chất - kỹ thuật phục vụ hoạt động khởi nghiệp đổi mới sáng tạo

 Cơ chế chính sách (2): Luật và quy định đầu tư:

Xây dựng nền tảng pháp lý cho hoạt động đầu tư mạo hiểm Trước mắt, Chính phủ cần có những quy định cụ thể hướng dẫn hoạt động đầu tư vốn mạo hiểm như phạm vi đầu tư mạo hiểm, các lĩnh vực khuyến khích đầu tư,

cơ cấu tài sản đầu tư của các quỹ, quy chế thành lập và hoạt động của quỹ đầu

tư mạo hiểm Trong quá trình thực hiện các quy định trên, Chính phủ xem xét

Trang 38

thành lập một đơn vị quản lý hoạt động đầu tư vốn mạo hiểm Khi hoạt động đầu tư vốn mạo hiểm dần phát triển, cần tiến tới ban hành một luật riêng để điều chỉnh Hoạt động đầu tư vốn mạo hiểm cần được điều chỉnh bằng hai luật riêng, cho quỹ đầu tư mạo hiểm nội địa và quỹ đầu tư mạo hiểm nước ngoài

Chính phủ tạo môi trường đầu tư thuận lợi hỗ trợ sự phát triển hình thức đầu tư vốn mạo hiểm Hệ thống pháp luật phải hướng tới mục tiêu: (i) Bảo đảm tính thực thi của hệ thống nhằm bảo vệ tài sản và lợi ích của nhà đầu tư; (ii) Đảm bảo tính rõ ràng, đồng bộ, nhất quán nhằm hạn chế rủi ro do các quy định chồng chéo; (iii) Phù hợp với hệ thống pháp luật quốc tế nhằm tạo

cơ hội cho các nhà đầu tư trong nước nhanh chóng hòa nhập môi trường kinh doanh toàn cầu và nhà đầu tư nước ngoài; (iv) Từng bước hợp nhất các luật điều chỉnh hoạt động kinh tế nhằm tạo ra môi trường đầu tư bình đẳng cho mọi chủ thể trong nền kinh tế

 Cơ chế chính sách (3): Ưu đãi thuế và chính sách tài khóa:

Thứ nhất, ưu đãi thuế trực tiếp cho DN khởi nghiệp Chính sách ưu đãi

thuế trực tiếp cho DN khởi nghiệp thường tập trung vào thuế thu nhập DN Theo đó, DN khởi nghiệp được áp dụng thuế suất ưu đãi và được miễn, giảm thuế trong thời gian đầu hoạt động sản xuất, kinh doanh Miễn thuế, giảm thuế thu nhập DN có thời hạn trong thời gian mới thành lập thường không đem lại nhiều lợi ích cho DN khởi nghiệp, do đa phần các DN khởi nghiệp không có lợi nhuận trong giai đoạn đầu hoạt động Tuy vậy, nếu thời gian miễn thuế được kéo dài ở mức thích hợp hoặc áp dụng thuế suất ưu đãi cho DN khởi nghiệp thì cũng tạo điều kiện để những DN này mở rộng hoạt động sản xuất, kinh doanh Trên thế giới có khá nhiều quốc gia lựa chọn hình thức ưu đãi này Theo Lê Minh Hương (2017) tại Ấn Độ, những DN khởi nghiệp thông qua đổi mới sáng tạo, đáp ứng các điều kiện là DN khởi nghiệp trong Chương trình hành động của Ấn Độ sẽ được miễn thuế thu nhập DN trong vòng 3

Trang 39

năm; Tại Singapore, trong 3 năm đầu, các DN khởi nghiệp có doanh thu dưới 100.000 đô la Singapore được miễn thuế thu nhập DN; doanh thu từ 100.000 - 300.000 đôla Singapore áp dụng mức thuế suất thuế thu nhập DN là 8,5%

Thứ hai, hỗ trợ gián tiếp cho DN khởi nghiệp thông qua ưu đãi thuế thu

nhập DN hoặc thu nhập cá nhân cho nhà đầu tư khi tham gia đầu tư vào DN khởi nghiệp và ưu đãi thuế cho các quỹ đầu tư mạo hiểm, các cơ sở ươm tạo

DN Ưu đãi về thuế thu nhập cá nhân được thực hiện bằng cách miễn thuế thu nhập từ đầu tư vốn vào DN khởi nghiệp Đối với nhà đầu tư là tổ chức thì hình thức ưu đãi được thực hiện là giảm thuế đối với thu nhập từ đầu tư vào

DN khởi nghiệp hoặc cho bù trừ lỗ của khoản đầu tư vào DN khởi nghiệp với các hoạt động kinh doanh khác Thuế suất ưu đãi và miễn, giảm thuế thu nhập

DN có thời hạn cũng được một số quốc gia áp dụng đối với quỹ đầu tư mạo hiểm và cơ sở ươm tạo DN Chẳng hạn như, Thái Lan không đánh thuế thuế thu nhập cá nhân trong vòng 10 năm đối với nhà đầu tư khi đầu tư vào 10 lĩnh vực công nghiệp chủ chốt về công nghệ và sáng tạo gồm: Ô tô thế hệ kế tiếp, điện tử thông minh, du lịch trải nghiệm đa dạng phong phú và du lịch chăm sóc sức khỏe, nông nghiệp và công nghệ sinh học, thực phẩm, rô-bốt công nghiệp, vận chuyển và hàng không, chất đốt sinh học Ngoài ra, các công ty đầu tư mạo hiểm cũng được miễn thuế thu nhập DN trong vòng 5 năm đầu (Lê Minh Hương, 2017)

 Cơ chế chính sách (4): Quỹ VC của chính phủ:

Một là, thực hiện chính sách thuế ưu đãi cho hoạt động đầu tư vốn mạo

hiểm Hoạt động đầu tư mạo hiểm vào quá trình đổi mới công nghệ thường tiềm ẩn nhiều rủi ro và tỉ lệ thành công ở mức thấp Chính vì vậy, Chính phủ cần khuyến khích phát triển các hình thức đầu tư vốn mạo hiểm thông qua các chính sách ưu đãi về thuế Cụ thể là cần có chính sách miễn, giảm thuế đối với phần thu nhập phát sinh khi nhà đầu tư mạo hiểm kết thúc doanh vụ, kể cả

Trang 40

các lợi tức phái sinh trong quá trình hoạt động Chính sách thuế cũng cần ưu đãi đối với phần thu nhập phát sinh của các nhà đầu tư góp vốn vào quỹ, nhằm thu hút nguồn vốn từ các cá nhân và nhà đầu tư có tổ chức vào hoạt động đầu tư mạo hiểm Tất cả các chính sách ưu đãi thuế phải dựa vào luật đầu tư mạo hiểm hoặc danh mục các ngành nghề Nhà nước khuyến khích đầu

tư mạo hiểm trong các lĩnh vực công nghệ cao được ưu đãi đầu tư

Hai là, Chính phủ đưa ra các chính sách tín dụng mở nhằm hỗ trợ hoạt

động đầu tư mạo hiểm cho các doanh nghiệp, đặc biệt là các doanh nghiệp tư nhân Việc khuyến khích phát triển các kênh tín dụng hỗ trợ cho hoạt động đầu tư mạo hiểm nhằm gia tăng lượng cung vốn đầu tư mạo hiểm trên thị trường Khi thực hiện chính sách này, các ngân hàng đầu tư phát triển, quỹ hỗ trợ đầu tư phát triển, quỹ hỗ trợ khoa học - công nghệ, sẽ cho các quỹ đầu tư vốn mạo hiểm (không phân biệt hình thức sở hữu) vay với các mức lãi suất ưu đãi và cơ chế bảo đảm tiền vay linh hoạt

Nói tóm lại, từ những phân tích trên, bài luận văn xin tổng kết lại những Chính sách thu hút đầu tư mạo hiểm cho khởi nghiệp như sau:

Một là: Sự can thiệp của chính phủ được bảo đảm để sửa chữa những

khiếm khuyết trong thị trường vốn nơi các công ty non trẻ phải đối mặt với những hạn chế tín dụng

Hai là: Tạo hệ sinh thái khởi nghiệp, khuyến khích và thúc đẩy đổi mới

sang tạo

Ba là: Ban hành Luật phát liên quan đến đầu tư mạo hiểm nhằm tạo

môi trường bình đẳng và bảo vệ các Start-ups

Bốn là: Xây dựng các trung tâm nghiên cứu, vườn ươm khởi nghiệp để

ươm mầm và nuôi dưỡng những ý tưởng mới, những doanh nghiệp khởi nghiệp

Năm là: Hỗ trợ từ Chính phủ, như: ưu đãi thuế, quỹ đầu tư mạo

hiểm,…

Ngày đăng: 02/04/2021, 11:28

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
2. Blavatnik Interdisciplinary Cyber Research Center (ICRC) and the Yuval Ne’eman Workshop for Science, Technology, and Security, 2016. Finder insights series Israel’s Cybersecurity Industry in 2016.Israel, Start-Up Nation Central: Finder Insights Series Sách, tạp chí
Tiêu đề: Finder insights series Israel’s Cybersecurity Industry in 2016
3. Bob Zider, 1998. How venture capital works. Boston, Harvard Business School Publishing Corporation, PP.135 Sách, tạp chí
Tiêu đề: How venture capital works
4. Daniel Shkedi, 2015. Tev Aviv Commercial Wing- Venture Financing and Start-up Performance in Israel. Israel, Embassy of India, PP. 5-14 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tev Aviv Commercial Wing- Venture Financing and Start-up Performance in Israel
5. David McGlue, 2002. The funding of venture capital in Europe: Issues for public policy. Venture Capital: An International Journal ofEntrepreneurial Finance, vol. 4(1), PP 45-58 Sách, tạp chí
Tiêu đề: David McGlue, 2002. "The funding of venture capital in Europe: Issues for public
6. Da Rin, M., G. Nicodano and A. Sembenelli, 2006. Public Policy and the Creation Of Active Venture Capital Markets,” Journal of Public Economics, vol. 90(8), p. 1699-1723 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Public Policy and the Creation Of Active Venture Capital Markets,” Journal of Public Economics
7. Dubocage, E. and D. Rivaud-Danset, 2002. Government Policy on Venture Capital Support in France,” Venture Capital: An International Journal of Entrepreneurial Finance, vol. 4(1), p. 25-43 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Government Policy on Venture Capital Support in France,” Venture Capital: An International Journal of Entrepreneurial Finance
8. Gil Avnimelech and Morris Teubal, 2002. Venture Capital Policy in Israel: A Comparative Analysis & Lesson for Other Country. Israel, PP17-25 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Venture Capital Policy in Israel: A Comparative Analysis & Lesson for Other Country
10. Iman Seoudi, 2015. Public Policy for Venture Capital: An Intergrated Framework. Egypt, Global Journal of Business Research, PP.34 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Public Policy for Venture Capital: An Intergrated Framework
11. Kanniainen, V. and C. Keuschnigg, 2003. The Optimal Portfolio of Start-up Firms in Venture Capital Finance, Journal of Corporate Finance, vol. 9(5), p. 521-534 Sách, tạp chí
Tiêu đề: The Optimal Portfolio of Start-up Firms in Venture Capital Finance, Journal of Corporate Finance
12. Keuschnigg, C. and S. B. Nielsen, 2001. Public Policy for Venture Capital,” International Tax and Public Finance, vol. 8(4), pp. 557-572 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Public Policy for Venture Capital,” International Tax and Public Finance
14. Mason, C., 2009. Public Policy Support for the Informal Venture Capital Market in Europe: A Critical Review, International Small Business Journal, vol. 27(5), p. 536-556 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Public Policy Support for the Informal Venture Capital Market in Europe: A Critical Review, International Small Business Journal
15. Mason, C. and Y. Pierrakis, 2011. Venture Capital, the Regions and Public Policy: The United Kingdom Since the Post-2000 Technology Crass. Regional Studies, August 2011 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Venture Capital, the Regions and Public Policy: The United Kingdom Since the Post-2000 Technology Crass
16. Monika Burzacka and Elzbiesta Gasiorowska, 2016. The important of VC Financing of Start-ups companies. Poland, Forum Scientiae Oeconomia Volume 4 (2016) No. 3. PP. 142-150 Sách, tạp chí
Tiêu đề: The important of VC Financing of Start-ups companies
18. OECD, 2016. SME and Entrepreneurship Policy in Israel. Paris, OECD Publishing Sách, tạp chí
Tiêu đề: SME and Entrepreneurship Policy in Israel
19. OECD, 2011. Higher Education in Regional and City Development: The Galilee, Israel. Paris, OECD Publishing Sách, tạp chí
Tiêu đề: Higher Education in Regional and City Development: "The Galilee, Israel
22. Del Palacio, I., X. T. Zhange, and F. Sole, 2012. The Capital Gap for Small Technology Companies: Public Venture Capital to the Rescue?Small Business Economics, vol. 38(3), p. 283-301 Sách, tạp chí
Tiêu đề: The Capital Gap for Small Technology Companies: Public Venture Capital to the Rescue? "Small Business Economics
23. Reddal Inc, 2017. Driving Vietnam’s economic growth- The role of private equity and venture capital. Vietnam, Vietnam Forum 2017. Tài liệu tiếng Việt Sách, tạp chí
Tiêu đề: The role of private equity and venture capital". Vietnam, Vietnam Forum 2017. 
1. Dan Senor and Saul Singer, 2009. Quốc gia khởi nghiệp. Dịch từ tiếng Anh. Người dịch Trí Vương, 2013. Hà Nội: Nhà xuất bản Thế giới Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quốc gia khởi nghiệp
Nhà XB: Nhà xuất bản Thế giới
2. Đào Lê Minh, 2003. Quỹ đầu tư mạo hiểm và cơ hội hình thành, phát triển ở Việt Nam. Đề tài nghiên cứu khoa học cấp Bộ. Ủy ban Chứng khoán nhà nước Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quỹ đầu tư mạo hiểm và cơ hội hình thành, phát triển ở Việt Nam
3. Nguyễn Hùng, 2017. Khởi nghiệp đổi mới sáng tạo ở Việt Nam đang phát triển mạnh mẽ. Báo Dân trí http://dantri.com.vn/khoa-hoc-cong-nghe/khoi-nghiep-doi-moi-sang-tao-o-viet-nam-dang-phat-trien-manh-me-2017110920100166.htm Link

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w