Mục tiêu nghiên cứu Đánh giá hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp cho đối tượng hộ gia đình, cá nhân và doanh nghiệp trong giai đoạn 2014 - 2019, qua đó đề xuất định hướng, giải pháp sử dụn
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC TỰ NHIÊN
- -
NGUYỄN DUY PHONG
ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ SỬ DỤNG ĐẤT
TRÊN ĐỊA BÀN THỊ XÃ AN KHÊ, TỈNH GIA LAI
TRONG BỐI CẢNH BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC
HÀ NỘI, 2021
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC TỰ NHIÊN
- -
NGUYỄN DUY PHONG
ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ SỬ DỤNG ĐẤT
TRÊN ĐỊA BÀN THỊ XÃ AN KHÊ, TỈNH GIA LAI
TRONG BỐI CẢNH BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU
LUẬN VĂN THẠC SỸ KHOA HỌC
Chuyên ngành: Quản lý đất đai
Mã số: 8850103.01
Người hướng dẫn khoa học: TS Nguyễn Hữu Xuân
XÁC NHẬN HỌC VIÊN ĐÃ CHỈNH SỬA THEO GÓP Ý CỦA HỘI ĐỒNG
luận vănthạc sĩ khoa học
HÀ NỘI, 2021
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan luận văn với đề tài: “Đánh giá hiệu quả sử dụng đất trên
địa bàn thị xã An Khê, tỉnh Gia Lai trong bối cảnh biến đổi khí hậu” hoàn toàn là
kết quả nghiên cứu, tìm hiểu của chính bản thân tôi và chưa được công bố trong bất
cứ một công trình nghiên cứu nào của người khác Trong quá trình thực hiện luận
văn tôi đã thực hiện nghiêm túc các quy tắc đạo đức nghiên cứu các kết quả trình
bày trong luận văn là sản phẩm nghiên cứu khảo sát của riêng cá nhân tôi
Tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm về tính trung thực của số liệu và các nội
dung khác trong luận văn của mình
Hà nội, ngày tháng năm 2021
Tác giả luận văn
Nguyễn Duy Phong
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Trong quá trình thực hiện đề tài ngoài sự lỗ lực của bản thân, tôi đã nhận
được sự hướng dẫn nhiệt tình, chu đáo của các nhà khoa học, các thầy cô giáo và sự
giúp đỡ nhiệt tình, những ý kiến đóng góp quý báu của nhiều cá nhân và tập thể để
hoàn thành bản luận văn này
Nhân dịp này, tôi chân thành cảm ơn TS Nguyễn Hữu Xuân - người hướng
dẫn khoa học đã hướng dẫn, chỉ bảo tôi trong suốt thời gian thực hiện luận văn Tôi
trân trọng cảm ơn sự góp ý chân thành của các thầy, cô giáo Trường Đại học KHTN
- ĐHQGHN đã tạo điều kiện thuận lợi cho tôi thực hiện đề tài
Tôi xin cảm ơn tới gia đình, những người thân, cán bộ, đồng nghiệp và bạn
bè đã tạo điều kiện về mọi mặt cho tôi trong quá trình thực hiện đề tài này Một lần
nữa tôi trân trọng cảm ơn!
Hà Nội, ngày tháng năm 2021
Tác giả luận văn
Nguyễn Duy Phong
Trang 5MỤC LỤC
MỤC LỤC iii
DANH MỤC BẢNG BIỂU v
DANH MỤC HÌNH VẼ vii
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT viii
MỞ ĐẦU 1
1 Tính cấp thiết của đề tài luận văn 1
2 Mục tiêu nghiên cứu 2
3 Nhiệm vụ và nội dung nghiên cứu 2
4 Phạm vi nghiên cứu 3
5 Phương pháp nghiên cứu 3
5.1 Phương pháp điều tra thu thập tài liệu, số liệu thứ cấp 3
5.2 Phương pháp thống kê: 3
5.3 Phương pháp phỏng vấn nhanh nông thôn (PRA) 3
5.4 Phương pháp phân tích, đánh giá tổng hợp 4
5.5 Phương pháp bản đồ và hệ thống thông tin địa lí 4
6 Cấu trúc Luận văn 4
Chương 1 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 5
1.1 Tổng quan các nghiên cứu có liên quan 5
1.1.1 Tổng quan nghiên cứu về sử dụng đất 5
1.1.2 Tổng quan nghiên cứu về biến đổi khí hậu và sử dụng đất 6
1.2 Cơ sở lý luận 9
1.2.1 Các thuật ngữ liên quan đến sử dụng đất 9
1.2.2 Sử dụng đất bền vững 11
1.2.3 Quản lý đất nông nghiệp bền vững 14
1.2.4 Biến đổi khí hậu và tác động của biến đổi khí hậu đến sử dụng đất 16
1.3 Cơ sở pháp lý 25
1.4 Cơ sở thực tiễn 28
1.4.1 Biến đổi khí hậu trên thế giới 28
1.4.2 Biến đổi khí hậu ở Việt Nam 30
Trang 61.4.3 Biến đổi khí hậu vùng Đông Gia Lai 32
CHƯƠNG 2 CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG VÀ THỰC TRẠNG SỬ DỤNG ĐẤT CỦA THỊ XÃ AN KHÊ 41
2.1 Điều kiện tự nhiên, kinh tế- xã hội của khu vực nghiên cứu 41
2.1.1 Vị trí địa lý 41
2.1.2 Nhân tố tự nhiên 42
2.1.3 Nhân tố kinh tế - xã hội 58
2.2 Thực trạng sử dụng đất đai trên địa bàn thị xã An Khê 65
2.2.1 Thực trạng sử dụng đất nông nghiệp của hộ gia đình, cá nhân 65
2.2.2 Thực trạng sử dụng đất nông nghiệp của hợp tác xã, doanh nghiệp 69
2.2.3 Thực trạng sử dụng đất trong nội thị thị xã An Khê 78
2.3 Thực trạng quản lý đất đai địa bàn nghiên cứu 83
2.3.1 Thực trạng quản lý đất nông nghiệp và đô thị 83
2.3.2 Xung đột, tranh chấp đất đai trên địa bàn 92
2.4 Kết quả điều tra xã hội về sử dụng đất, quy hoạch sử dụng đất giai đoạn 2014 - 2019 94
Chương 3 ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ SỬ DỤNG ĐẤT THỊ XÃ AN KHÊ VÀ ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP SỬ DỤNG BỀN VỮNG ĐẤT ĐAI 100
3.1 Đánh giá hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp 100
3.1.1 Đánh giá hiệu quả kinh tế sử dụng đất nông nghiệp 100
3.1.2 Đánh giá hiệu quả xã hội sử dụng đất nông nghiệp 103
3.1.3 Đánh giá hiệu quả môi trường sử dụng đất nông nghiệp 105
3.1.4 Đánh giá tác động của biến đổi khí hậu đến hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp 106
3.1.5 Đánh giá hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp theo đối tượng sử dụng 109
3.1.6 Đánh giá hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp theo địa phương 111
3.2 Các giải pháp quản lý, sử dụng hiệu quả đất đai cho sản xuất nông nghiệp và phát triển đô thị 114
3.2.1 Giải pháp chung 114
3.2.2 Một số giải pháp cụ thể 117
KẾT LUẬN 124
KIẾN NGHỊ 125
TÀI LIỆU THAM KHẢO 126
Trang 7DANH MỤC BẢNG BIỂU
Bảng 1.1 Phân bố đất dốc và đất thoái hóa do xói mòn và rửa trôi tại các vùng 21
Bảng 1.2 Độ lệch tiêu chuẩn của nhiệt độ trung bình tháng, năm tại các trạm 29
Bảng 1.3 Tần số xuất hiện các giá trị nhiệt độ cực trị trong vùng 31
Bảng 1.4 Mức thay đổi nhiệt độ trung bình nhiều năm qua các thời kỳ 32
Bảng 1.5 Sự thay đổi của lượng mưa năm, mùa mưa, mùa khô qua từng thập kỷ 33
Bảng 1.6 Trung bình lượng mưa thời đoạn ngày lớn nhất qua các thời kỳ lưu vực sông Ba 35
Bảng 1.7 Biến đổi nhiệt độ trung bình (ºC) so với thời kỳ cơ sở 1986 ÷ 2005 theo các kịch bản 37
Bảng 1.8 Biến đổi của lượng mưa (%) so với thời kỳ (1986 ÷ 2005) 37
Bảng 1.9 Biến đổi của lượng mưa 1, 3, 5 ngày max (%) so với thời kỳ (1986 ÷ 2005) 38
Bảng 2.1 Phân bố mưa và tỷ lệ mưa theo tháng vùng Đông Gia Lai 45
Bảng 2.2 Đặc trưng hồ thuỷ điện An Khê (Quy trình vận hành liên hồ chứa lưu vực sông Ba) 48
Bảng 2.3 Một số đặc trưng thống kê hạn hán tháng tại các trạm vùng nghiên cứu 54
Bảng 2.4 Chỉ số khô hạn (K) trung bình trên một số trạm KTTV vùng thượng và trung lưu sông Ba 54
Bảng 2.5 Tần suất xuất hiện hạn mùa tại các trạm tiêu biểu LV sông Ba 55
Bảng 2.6 Mức độ cạn kiệt tại các trạm trong mùa cạn trên lưu vực sông sông Ba 55
Bảng 2.7 Dân số, cơ cấu dân số theo thành thị và nông thôn thị xã An Khê 57
Bảng 2.8 Số lượng các hợp tác xã tại thị xã An Khê năm 2019 68
Bảng 2.9 Các trang trại tại thị xã An Khê giai đoạn 2014 – 2019 72
Bảng 2.10 Quy mô và loại cây trồng chủ yếu trong trang trại nông nghiệp
tại thị xã An Khê giai đoạn 2014 – 2019 73
Bảng 2.11 Diện tích đất nông nghiệp tại các khu vực đô thị trên địa bàn thị xã
An Khê năm 2019 75
Bảng 2.12 Diện tích đất sản xuất nông nghiệp tại các khu vực đô thị trên địa bàn thị xã An Khê năm 2019 76
Trang 8Bảng 2.13 Diện tích đất ở tại các phường trên địa bàn thị xã An Khê 77
Bảng 2.14 Thời gian canh tác của nông hộ được khảo sát 90
Bảng 2.15 Nghề nghiệp chính của nông hộ được khảo sát 91
Bảng 2.16 Quy mô sản xuất của nông hộ tại địa bàn điều tra khảo sát 91
Bảng 2.17 Loại cây trồng, vật nuôi chủ lực được nông hộ lựa chọn để sản xuất 92
Bảng 3.1 Loại cây trồng, vật nuôi chủ lực được nông hộ lựa chọn để sản xuất 95
Bảng 3.2 Thực trạng thuê mướn lao động của nông hộ tại địa bàn điều tra khảo sát 98
Bảng 3.3 Lựa chọn phát triển sản xuất thân thiện với môi trường của nông hộ 100
Bảng 3.4 Tác động của biến đổi khí hậu đến hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp 100
Trang 9DANH MỤC HÌNH VẼ
Hình 1.1 Nhiệt độ mặt đất toàn cầu giai đoạn 1880 - 2020 - 27
Hình 1.2 Phân tích thống kê nhiệt độ trung bình tháng, năm tại các trạm - 29
Hình 1.3 Xu thế biến đổi nhiệt độ tại các trạm thuộc lưu vực sông Ba - 32
Hình 1.4 Xu thế biến đổi tổng lượng mưa năm tại các trạm vùng nghiên cứu - 34
Hình 2.1 Bản đồ hành chính thị xã An Khê, tỉnh Gia Lai - 40
Hình 2.2 Bản đồ phân tầng độ cao địa hình thị xã An Khê, tỉnh Gia Lai - 43
Hình 2.3 Bản đồ hiện trạng rừng thị xã An Khê năm 2017 - 51
Trang 10DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
CNH, HĐH Công nghiệp hóa, hiện đại hóa GCNQSDĐ Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất
Trang 11MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài luận văn
Việt Nam có nguồn tài nguyên phong phú, đa dạng Tuy nhiên, việc quản lý
và khai thác tài nguyên đặc biệt là tài nguyên đất đai đang đặt ra nhiều vấn đề cần giải quyết Quy hoạch sử dụng đất chưa hợp lý, quá trình phát triển kinh tế xã hội đã dẫn đến những xung đột giữa phát triển kinh tế và bảo vệ môi trường Đồng thời trong xu thế biến đổi khí hậu toàn cầu, những tác động to lớn của nó thông qua biến đổi đặc trưng khí hậu, thiên tai đã và đang gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến tài nguyên đất đai
Thị xã An Khê tỉnh Gia Lai gồm 11 đơn vị hành chính cấp phường/xã với diện tích tự nhiên 20.006,78 ha, dân số 68.048 người, mật độ dân số bình quân đạt
340 người/km2 (năm 2019) Hoạt động kinh tế chính của thị xã là sản xuất công nghiệp, dịch vụ, phát triển nông nghiệp trồng trọt (lúa, mía, sắn…) và trồng rừng
Trong giai đoạn 2014 - 1019, thị xã An Khê đã lập quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất Trong đó chủ yếu đưa ra quy hoạch sử dụng đất đô thị, đất công nghiệp, các loại đất cho sản xuất như nông - lâm nghiệp nhưng chưa đề xuất sâu được hướng sử dụng đất thật hợp lý trên địa bàn Để đạt được yêu cầu nhiệm vụ đặt ra, việc khai thác sử dụng đất nông lâm nghiệp cần phải nghiên cứu, xác định rõ hiện trạng, đánh giá hiệu quả trong sử dụng đất, xác định tiềm năng thế mạnh của từng vùng trong thị xã đưa ra những giải pháp nhằm góp phần khai thác và sử dụng có hiệu quả nguồn tài nguyên đất đai ở địa phương
Trong những năm gần đây dưới ảnh hưởng của biến đổi khí hậu đã có nhiều tác động tiêu cực đến hoạt động sản xuất của người dân đặc biệt là trong sản xuất nông nghiệp Biến động diện tích đất trồng cây hàng năm rất lớn với sự gia tăng rất nhanh của diện tích cây mía, gỗ rừng trồng khiến diện tích rừng tự nhiên suy giảm Dưới tác động của hạn hán, xói mòn, suy giảm nguồn nước vào mùa khô… đã khiến tính hiệu quả trong khai thác sử dụng đất nông nghiệp giảm mạnh
Quy mô đất đai nhỏ, dân số đông, tăng nhanh, đô thị hóa nhanh khiến quỹ đất, cơ cấu sử dụng đất của địa phương biến động mạnh Tình trạng ô nhiễm môi trường diễn ra ngày càng trầm trọng, làm thay đổi hệ sinh thái tự nhiên và ảnh hưởng đến đời sống KT-XH của cộng đồng dân cư
Trang 12Đứng trước thực trạng đáng lo ngại đó, thị xã An Khê, tỉnh Gia Lai cần phải
có những nghiên cứu cơ bản, đồng bộ về tài nguyên, những định hướng và giải pháp
tổ chức không gian lãnh thổ thực sự phù hợp với điều kiện và hoàn cảnh cụ thể của Thị xã, nhằm thúc đẩy nền KT-XH phát triển tương xứng với tiềm năng, đồng thời sử dụng bền vững các nguồn tài nguyên và bảo vệ môi trường Điều này đòi hỏi phải có
sự quản lý chặt chẽ của nhà nước để nâng cao hiệu quả quản lý và sử dụng đất, đồng thời đảm bảo sự ổn định về mọi mặt của đời sống kinh tế, chính trị và xã hội
Với những lý do nêu trên, đề tài: “Đánh giá hiệu quả sử dụng đất trên địa bàn thị xã An Khê, tỉnh Gia Lai trong bối cảnh biến đổi khí hậu” là lựa chọn hợp lý cho việc thực hiện luận văn chuyên ngành Quản lý đất đai làm đối tượng nghiên cứu
2 Mục tiêu nghiên cứu
Đánh giá hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp cho đối tượng hộ gia đình, cá nhân và doanh nghiệp trong giai đoạn 2014 - 2019, qua đó đề xuất định hướng, giải pháp sử dụng bền vững đất đai trên địa bàn thị xã An Khê trong bối cảnh biến đổi khí hậu
3 Nhiệm vụ và nội dung nghiên cứu
3.1 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Thu thập, xử lý tài liệu, số liệu về đặc điểm tự nhiên, KT-XH, môi trường, các tài liệu bản đồ, các dự án đã và đang thực hiện tại vùng nghiên cứu liên quan đến hướng nghiên cứu của đề tài;
- Điều tra khảo sát thực địa trên địa bàn thị xã An Khê;
- Hoàn thiện báo cáo luận văn theo đúng quy định, đảm bảo chất lượng
3.2 Nội dung nghiên cứu
- Tổng quan cơ sở lý luận, thực tiễn về đánh giá và sử dụng đất hiệu quả, về biến đổi khí hậu và các nghiên cứu cơ bản của địa phương về sử dụng đất bền vững;
- Phân tích, đánh giá cơ sở địa lý (vị trí, điều kiện tự nhiên, tài nguyên thiên nhiên và một số nhân tố KT-XH ) và biến đổi khí hậu tác động tới sử dụng đất trên địa bàn nghiên cứu;
Trang 13- Nghiên cứu hiện trạng sử dụng đất nông nghiệp cho hộ gia đình, cá nhân, doanh nghiệp và một số vấn đề xung đột về sử dụng đất tại khu vực nghiên cứu;
- So sánh, đánh giá hiện trạng, hiệu quả sử dụng đất ở, đất sản xuất của hộ gia đình, cá nhân; đất của cơ quan, doanh nghiệp với quy hoạch sử dụng đất; Đề xuất định hướng sử dụng bền vững đất đai thị xã An Khê
4 Phạm vi nghiên cứu
- Phạm vi không gian nghiên cứu: Nghiên cứu trên địa bàn thị xã An Khê, tỉnh Gia Lai
- Phạm vi nội dung nghiên cứu:
Đề tài được tiến hành nhằm mục đích đánh giá hiệu quả sử dụng đất sản xuất nông nghiệp cho đối tượng sử dụng đất là hộ dân làm nông nghiệp (hộ gia đình, cá nhân), các hợp tác xã tác, doanh nghiệp sản xuất nông nghiệp
- Thời gian nghiên cứu: Đánh giá hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp cho giai đoạn 2014 – 2019
5 Phương pháp nghiên cứu
5.1 Phương pháp điều tra thu thập tài liệu, số liệu thứ cấp
Sử dụng để thu thập thông tin, tài liệu, số liệu về điều kiện tự nhiên, KT-XH, tình hình quản lý sử dụng đất của thị xã An Khê phục vụ cho mục đích đánh giá; các tài liệu, số liệu về kết quả điều tra tại các dự án nghiên cứu
5.2 Phương pháp thống kê:
Sử dụng để thống kê các số liệu về tình hình quản lý sử dụng đất tại địa phương nhằm phục vụ cho mục đích nghiên cứu
5.3 Phương pháp phỏng vấn nhanh nông thôn (PRA)
Sử dụng để điều tra, phỏng vấn các hộ gia đình, cá nhân để có số liệu so sánh với số liệu thống kê về tình hình quản lý sử dụng đất tại địa phương
Phương pháp này giúp thu thập các thông tin thực tiễn mà số liệu thứ cấp không có được Tác giả phỏng vấn người dân tại các địa phương, khảo sát thực tế sản xuất nhằm thu thập các nguồn thông tin về hiện trạng sử dụng đất và hiệu quả kinh tế của cây trồng, nguồn gốc đất đai, tranh chấp đất đai… Từ đó, làm rõ những phân
Trang 14tích, so sánh, kiểm định các thông tin thu thập được từ nhiều nguồn khác nhau, góp phần tăng tính khách quan, khoa học và giá trị thực tiễn cho kết quả nghiên cứu
5.4 Phương pháp phân tích, đánh giá tổng hợp
Để phân tích và đánh giá làm rõ thực trạng trong công tác quản lý, sử dụng đất của dự án nghiên cứu, từ đó đề xuất các giải pháp có tính khoa học và phù hợp với thực tiễn, góp phần nâng cao hiệu quả sử dụng đất tại địa phương trong điều kiện biến đổi khí hậu hiện nay
5.5 Phương pháp bản đồ và hệ thống thông tin địa lí
Phương pháp bản đồ và hệ thống thông tin địa lí (GIS) được sử dụng trong quá trình nghiên cứu nhằm khai thác các thông tin địa lí, các đặc trưng không gian trong kế hoạch, quy hoạch và hiện trạng sử dụng đất cho sản xuất, đất đô thị
6 Cấu trúc Luận văn
Luận văn gồm có 3 Chương:
Chương 1 Tổng quan vấn đề nghiên cứu
Chương 2 Nhân tố ảnh hưởng và thực trạng sử dụng đất của thị xã An Khê Chương 3 Đánh giá hiệu quả sử dụng đất thị xã An Khê và đề xuất giải pháp
sử dụng bền vững đất đai
Trang 15
Chương 1 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1.1 Tổng quan các nghiên cứu có liên quan
1.1.1 Tổng quan nghiên cứu về sử dụng đất
Thời gian qua, vấn đề về sử dụng đất để phát triển kinh tế nói chung và về phát triển nông nghiệp nói riêng, đã có nhiều bài viết và các công trình nghiên cứu khoa học đề cập dưới các góc độ và những phạm vi khác nhau Các nghiên cứu đã cung cấp cơ sở lý luận và thực tiễn giúp tác giả có những căn cứ để đưa ra các giải pháp về sử dụng đất đai hiệu quả, nhất là sử dụng đất để phát triển nông nghiệp bền vững, trong đó có thể kể đến các công trình sau:
Nghiên cứu của Ngô Sỹ Tiệp (2015) đã cho thấy để phát triển nông nghiệp theo hướng bền vững cần phải sử dụng đất đai hợp lý dựa trên cơ sở ứng dụng các thành tựu khoa học công nghệ, đặc biệt là hệ thống các tiêu chuẩn khoa học về sử dụng đất nông nghiệp, đồng thời phải chú trọng tới lợi ích của các chủ thể sử dụng đất nông nghiệp, giải quyết hài hòa, hiệu quả mối quan hệ giữa kinh tế, xã hội và môi trường trong sử dụng đất để phát triển nông nghiệp
Nghiên cứu của Trần Trọng Phương (2012) cho thấy càng vào gần vùng lõi trung tâm thành phố thì hiệu quả kinh tế và khả năng đầu tư sản xuất trên cùng một loại sử dụng đất của các loại cây trồng có giá trị cao (rau, hoa) càng cao
Nghiên cứu của Nugent (2000) ở 17 thành phố lớn trên thế giới, trong đó có thành phố Hồ Chí Minh đã cho thấy người dân vùng ven các đô thị lớn quyết định duy trì sản xuất nông nghiệp vì những lý do chủ yếu như: phục vụ nhu cầu tiêu dùng của gia đình; đa dạng hóa nguồn thu nhập; tránh rủi ro về kinh tế; đối phó với tình trạng tăng giá lương thực - thực phẩm trên thị trường; tạo thêm việc làm cho lao động gia đình; bảo đảm an ninh sinh kế cũng như an ninh tài sản
Theo Phạm Thị Minh Thuỷ (2010), để quản lý được đất nông nghiệp nói chung và đất lúa cần phải xác định bộ tiêu chí để cắm mốc bảo vệ nghiêm ngặt đất trồng lúa Tác giả đã đề xuất bộ tiêu chí gồm 14 tiêu chí chia thành 5 nhóm: điều kiện tự nhiên, cơ sở hạ tầng kỹ thuật, kinh tế - thị trường, văn hóa - xã hội và môi trường Tuy nhiên do điều kiện canh tác lúa ở mỗi vùng có khác nhau nên ngoài các tiêu chí chung cần có những chỉ tiêu ưu tiên cho từng vùng
Trang 16Nguyễn Võ Linh (2013), khi nghiên cứu dự báo tác động của biến đổi khí hậu đến sản xuất lúa ở đồng bằng sông Cửu Long cho rằng, đến năm 2100 nếu nước biển dâng 75 cm thì diện tích đất lúa ở đồng bằng sông Cửu Long còn 1.562 nghìn
ha, diện tích đất bị mất so với năm 2013 là 365 nghìn ha, tổng sản lượng lương thực chỉ còn 23,58 triệu tấn, cân đối nguồn cung đến năm 2100 chỉ bán được 3,8 triệu tấn Theo đó tác giả đã đề xuất 2 nhóm giải pháp là giải pháp công trình bao gồm: xây dựng hệ thống đê biển, hệ thống kiểm soát lũ, hệ thống kênh mương nội đồng,
và giải pháp phi công trình là trồng rừng phòng hộ ven biển, chọn giống lúa chịu mặn, chịu hạn, giống lúa có khả năng chịu ngập úng kéo dài, chuyển đổi cơ cấu mùa, vụ
1.1.2 Tổng quan nghiên cứu về biến đổi khí hậu và sử dụng đất
Các công trình nghiên cứu về tác động của biến đổi khí hậu đến sử dụng đất
mà tác giả đã tiếp cận cho thấy hiện tại có nhiều công trình nghiên cứu chuyên sâu
về vấn đề này, cụ thể:
Trung tâm Quốc tế Nghiên cứu biến đổi toàn cầu (ICARGC) đã thực hiện chương trình nghiên cứu về biến động SDĐ dưới tác động của hoạt động KT-XH và BĐKH toàn cầu tại điểm nghiên cứu là đồng bằng sông Hồng và vùng núi Tây Bắc Việt Nam Kết quả của đề tài xác định được biến động đất lúa và lượng phát thải khí
mê tan từ canh tác lúa khu vực đồng bằng sông Hồng Ở khu vực Tây Bắc, chương trình thực hiện nghiên cứu điểm ở Sa Pa đã xác định được biến động SDĐ giai đoạn
1993 - 2009 và mối quan hệ giữa biến động SDĐ với du lịch và các tai biến thiên nhiên ở Sa Pa [26]
Phạm Gia Tùng và nnk (2011) Trường Đại học Nông lâm Huế, với nghiên cứu “Ứng dụng GIS và Viễn thám xây dựng bản đồ biến động quỹ đất lúa do tác động của BĐKH giai đoạn 2000-2010: trường hợp nghiên cứu tại 3 xã thuộc huyện Phú Vang, tỉnh Thừa thiên Huế” [27] Nghiên cứu này được tiến hành tại các xã Phú An, Phú Mỹ và thị trấn Thuận An, huyện Phú Vang, tỉnh Thừa Thiên Huế đã chỉ ra rằng: BĐKH đang diễn ra trên toàn bộ lãnh thổ tỉnh Thừa Thiên Huế gây ảnh hưởng đến nhiều lĩnh vực sản xuất và đời sống của con người Đối với một nền kinh
tế nông nghiệp thì lúa gạo có vai trò quan trọng, tác động của BĐKH đã ảnh hưởng rất lớn không chỉ về năng suất, giống cây trồng mà còn làm đất nông nghiệp bị mất
ưu thế Bên cạnh đó, việc sử dụng ảnh vệ tinh Landsat và công nghệ GIS để xây dựng bản đồ hiện trạng sử dụng đất và biến động SDĐ đã cho một kết quả tương
Trang 17đối khách quan, có thể sử dụng như một công cụ để kiểm tra độ trung thực của các bản đồ hiện trạng SDĐ Theo nghiên cứu từ năm 2000 đến 2010 trong ba xã có 57,6
ha lúa do bị ảnh hưởng bởi BĐKH cần được chuyển sang nuôi trồng thủy sản Đến năm 2050 và 2100, khi mực nước biển dâng kịch bản trung bình là 30 cm và 75 cm
ở cả ba xã sẽ bị mất lần lượt là 161,51 ha và 527,51 ha đất trồng lúa
Cũng trong khuôn khổ Dự án P1-08-VIE có chuyên đề: “Nghiên cứu tác động của BĐKH đến sinh thái nông nghiệp ở những vùng cảnh quan khác nhau tại khu vực Trung Trung Bộ” [6], các tác giả thành lập bản đồ cảnh quan sinh thái tỉnh Quảng Nam tỉ lệ 1/100.000, là cơ sở khoa học để thành lập bản đồ các cảnh quan sinh thái nông nghiệp vùng ven biển và xác định đặc điểm, tính chất tác động của BĐKH và NBD đến các cảnh quan này Đồng thời đã đề xuất các giải pháp thích ứng với BĐKH trong nông nghiệp ở tỉnh Quảng Nam: Các giải pháp về cơ cấu lịch mùa vụ, gieo trồng các giống lúa chịu hạn, chịu mặn Đề xuất các giải pháp phòng chống, giảm thiểu xâm nhập mặn do BĐKH và NBD ở các vùng duyên hải
Mai Thanh Sơn “Biến đổi khí hậu: tác động, khả năng ứng phó và một số vấn đề chính sách (Nghiên cứu trường hợp đồng bào các dân tộc thiểu số vùng núi phía bắc) [22], nghiên cứu đã sử dụng các phương pháp phân tích, đánh giá, so sánh phân tích tác động của BĐKH đến vấn đề sử dụng đất của đồng bào miền núi các tỉnh phía Bắc, chỉ ra được những bất cập của chính sách hỗ trợ người dân trong việc thích ứng và giảm thiểu tác động tiêu cực của biến đổi khí hậu
Lê Văn Thăng đã thực hiện đề tài “Nghiên cứu ảnh hưởng của đô thị hoá và BĐKH đến đất trồng lúa ở một số tỉnh miền Trung” [23] Đề tài đã sử dụng các phương pháp truyền thống như kế thừa, phân tích tổng hợp các nguồn tài liệu, số liệu, phương pháp thực địa, tham vấn chuyên gia Kết quả nghiên cứu đã cho thấy BĐKH đã và đang tác động lớn đến lĩnh vực nông nghiệp ở một số tỉnh miền Trung
và thu hẹp dần diện tích đất trồng lúa ở đây
Phạm Thị Minh Thư trong bài viết “Vấn đề quy hoạch sử dụng đất lồng ghép” [25] đề cập vai trò của quy hoạch sử dụng đất cần phải được mở rộng hơn, bao trùm cả các yếu tố môi trường, BĐKH, xã hội và kinh tế cũng như tạo điều kiện
để các bên chịu ảnh hưởng từ các thay đổi trong sử dụng đất có thể tham gia vào quá trình quy hoạch Mối quan hệ giữa BĐKH và quy hoạch sử dụng đất là không thể tách rời và có thể được thông qua hai vấn đề: 1 BĐKH sẽ ảnh hưởng đến các kiểu sử dụng đất thông qua những hệ quả của nó như mực nước biển dâng, sa mạc
Trang 18hóa, thiếu nguồn nước, lụt lội, bão, xâm nhập mặn,… vì vậy việc lồng ghép các yếu
tố BĐKH vào quy hoạch sử dụng đất nhằm thích ứng với các hoạt động của là cần thiết; 2 Quy hoạch SDĐ có khả năng làm giảm nhẹ hậu quả của BĐKH bằng cách đưa ra biện pháp để giảm hiệu ứng khí nhà kính, ví dụ hạn chế tối đa diện tích rừng
bị mất, trồng và khoanh nuôi rừng, khuyến khích sản xuất sạch,… Những tác động chung của BĐKH đã được chấp nhận là có thể xảy ra và những vấn đề này nên được đưa ra trong bản phân tích xu hướng trong tương lai khi thực hiện quy hoạch
sử dụng đất
Đoàn Tuân, Phạm Nguyễn Kim Tuyến, Khoa Khoa học-Môi trường, Trường Đại học Sài Gòn trong công trình “Tác động của quá trình BĐKH đến các tỉnh ven biển vùng đồng bằng sông Cửu Long” nhấn mạnh vấn đề BĐKH xảy ra do các quá trình tự nhiên bên trong hoặc các tác động bên ngoài hoặc do tác động của con người làm thay đổi thành phần khí quyển hay trong khai thác sử dụng đất Đối với Vùng đồng bằng sông Cửu Long, BĐKH sẽ làm tăng mức độ thiệt hại do tai biến thiên nhiên và nước biển dâng xâm chiếm các vùng ven biển [28]
Trần Thị Giang Hương trong luận án tiến sỹ “Thực trạng quản lý SDĐ tỉnh Nam Định trong điều kiện BĐKH” [13] đã xác định được một số ảnh hưởng chính
do BĐKH đến sử dụng đất tỉnh Nam Định, đó là yếu tố ngập và nhiễm mặn cần thiết phải tính toán trong định hướng sử dụng đất Qua đó đánh giá và lựa chọn được các mô hình sử dụng đất nông nghiệp và đất phi nông nghiệp theo mức độ sử dụng đất thích ứng với BĐKH Xây dựng được cơ sở dữ liệu về khu vực đất có nguy cơ ngập và mặn hóa trên địa bàn tỉnh Nam Định, từ đó đề xuất sử dụng đất có tính đến tác động của BĐKH
Về cơ bản, các công trình nói trên đã phân tích, xem xét mối quan hệ giữa BĐKH, nước biển dâng với suy thoái tài nguyên nói chung trong đó có việc suy thoái tài nguyên đất
Như vậy, BĐKHB là sự thay đổi của khí hậu trong một khoảng thời gian dài, diễn ra trên phạm vi toàn cầu do tác động của các điều kiện tự nhiên và hoạt động của con người Biểu hiện của BĐKH là sự nóng lên toàn cầu, mực nước biển dâng
và gia tăng các hiện tượng khí tượng thủy văn cực đoan Hiện nay, BĐKH đang có diễn biến phức tạp, khó dự đoán gây hậu quả nặng nề cho thiên nhiên và con người trên Trái đất
Trang 19- Xây dựng một số kịch bản BĐKH ở Việt Nam
Năm 2009, Bộ Tài nguyên và Môi trường đã công bố kịch bản biến đổi khí hậu và nước biển dâng cho Việt Nam (kịch bản 2009), mức độ chi tiết của kịch bản mới chỉ giới hạn cho 7 vùng khí hậu (Tây Bắc, Đông Bắc, Đồng bằng bắc bộ, Bắc Trung Bộ, Nam Trung Bộ, Tây nguyên, Nam Bộ) và nước dâng cho toàn dải ven biển Việt Nam
Năm 2012, Bộ Tài nguyên Môi Trường đã công bố Kịch bản Biến đổi Khí hậu và nước biển dâng cho Việt Nam (kịch bản 2012), với mức độ chi tiết hơn đến đơn vị cấp tỉnh (đối với nhiệt độ và lượng mưa được đưa ra đối với thời đoạn năm
và các mùa) và nước dâng do BĐKH cho các khu vực ven biển Đặc biệt là đã bổ sung một số yếu tố cực trị khí hậu nhằm phục vụ cho công tác tính toán và thiết kế quy hoạch
Năm 2016, Kịch bản biến đổi khí hậu và nước biển dâng cho Việt Nam được xây dựng trên cơ sở Báo cáo đánh giá lần thứ 5 (AR5) của Ban liên Chính phủ về biến đổi khí hậu (IPCC); số liệu quan trắc khí tượng thủy văn và mực nước biển cập nhật đến năm 2014, bản đồ số địa hình Quốc gia cập nhật đến năm 2016; xu thế biến đổi gần đây của khí hậu và nước biển dâng ở Việt Nam Xây dựng kịch bản BÐKH và một số cực trị khí hậu chi tiết cho 63 tỉnh/thành phố, các quần đảo Hoàng
Sa và Trường Sa của Việt Nam và chi tiết cho 150 trạm khí tượng (tương đương cấp huyện); Xây dựng kịch bản nước biển dâng chi tiết cho 28 tỉnh/thành phố ven biển, quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa
1.2 Cơ sở lý luận
1.2.1 Các thuật ngữ liên quan đến sử dụng đất
- Đất đai: là một vùng đất có ranh giới, vị trí, diện tích cụ thể và có các thuộc tính tương đối ổn định hoặc thay đổi nhưng có tính chu kỳ, có thể dự đoán được, có ảnh hưởng tới việc sử dụng đất trong hiện tại và tương lai của các yếu tố tự nhiên, KT-
XH như: thổ nhưỡng, khí hậu, địa hình, địa mạo, địa chất, thuỷ văn, thực vật, động vật
cư trú và hoạt động sản xuất của con người Theo của Luật Đất đai 2013 [19]:
- Đất nông nghiệp là đất sử dụng vào mục đích sản xuất, nghiên cứu, thí nghiệm về nông nghiệp, lâm nghiệp, nuôi trồng thủy sản, làm muối và mục đích bảo
Trang 20vệ, phát triển rừng Đất nông nghiệp bao gồm đất sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp, đất nuôi trồng thủy sản và đất nông nghiệp khác
- Quy hoạch sử dụng đất: là việc phân bổ và khoanh vùng đất đai theo không gian sử dụng cho các mục tiêu phát triển KT-XH, quốc phòng, an ninh, bảo vệ môi trường và thích ứng biến đổi khí hậu trên cơ sở tiềm năng đất đai và nhu cầu sử dụng đất của các ngành, lĩnh vực đối với từng vùng KT-XH và đơn vị hành chính trong một khoảng thời gian xác định
- Kế hoạch sử dụng đất: là việc phân chia quy hoạch sử dụng đất theo thời gian để thực hiện trong kỳ quy hoạch sử dụng đất
- Người sử dụng đất: là người được Nhà nước giao đất, cho thuê đất, công nhận quyền sử dụng đất, nhận chuyển quyền sử dụng đất theo quy định của Luật này, bao gồm: tổ chức trong nước; hộ gia đình, cá nhân; cộng đồng dân cư; cơ sở tôn giáo; tổ chức nước ngoài có chức năng ngoại giao; người Việt Nam định cư ở nước ngoài; doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài
- Sử dụng đất: Đó là hoạt động tác động của con người vào đất đai nhằm đạt kết quả mong muốn trong quá trình sử dụng Trên thực tế có nhiều loại hình sử dụng đất chủ yếu như đất trồng cây hàng năm, đất trồng cây lâu năm, đất trồng cỏ, đất trồng rừng, đất cảnh quan du lịch, ngoài ra còn có đất sử dụng đa mục đích với hai hay nhiều kiểu sử dụng chủ yếu trên cùng một diện tích đất Kiểu sử dụng đất có thể là trong hiện tại nhưng cũng có thể là trong tương lai, nhất là khi các điều kiện kinh tế, xã hội, cơ sở hạ tầng, tiến bộ khoa học thay đổi Trong mỗi kiểu sử dụng đất thường gắn với những đối tượng cây trồng hay vật nuôi cụ thể (Phạm Chí Thành và Đào Châu Thu, 1998)
Khai thác sử dụng đất, trong đó khởi đầu là sử dụng đất nông nghiệp đã gắn liền với lịch sử sự hình thành và phát triển của xã hội loài người (Nguyễn Đình Bồng và cs., 2012)
- Nguyên tắc sử dụng đất:
+ Đúng quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất và đúng mục đích sử dụng đất + Tiết kiệm, có hiệu quả, bảo vệ môi trường và không làm tổn hại đến lợi ích chính đáng của người sử dụng đất xung quanh
Trang 21+ Người sử dụng đất thực hiện quyền, nghĩa vụ của mình trong thời hạn sử dụng đất theo quy định của Luật này và quy định khác của pháp luật có liên quan
Sử dụng đất đai là hệ thống các biện pháp nhằm điều hòa mối quan hệ người
và đất trong tổ họp các nguồn tài nguyên khác và môi trường Căn cứ vào nhu cầu của phát triển KT-XH và nhu cầu của thị trường sẽ phát hiện, quyết định phương hướng chung và mục tiêu sử dụng hợp lý nhất tài nguyên đất đai, phát huy tối đa công dụng của đất đai để đạt tới lợi ích sinh thái, kinh tế và xã hội cao nhất
Hiện nay, việc sử dụng đất nói chung và đất nông nghiệp nói riêng được phát triển theo 6 xu thế sau: Sử dụng đất phát triển theo chiều rộng và tập trung; Cơ cấu
sử dụng đất phát triển theo hướng phức tạp hóa và chuyên môn hóa; SDĐ theo hướng xã hội hóa và công hữu hóa; SDĐ theo xu thế phát triển kinh tế hợp tác hóa, khu vực hóa, toàn cầu hóa; SDĐ trong cân bằng sinh thái và bảo vệ môi trường; SDĐ theo hướng thích ứng với biến đổi khí hậu (Nguyễn Hữu Ngữ, Nguyễn Thị Hải, 2013) [16]
1.2.2 Sử dụng đất bền vững
* Quan điểm sử dụng đất bền vững
Từ khi biết sử dụng đất đai vào mục đích sinh tồn, đất đai đã trở thành cơ sở cần thiết cho sự sống và cho tương lai phát triển của loài người
Trước đây, khi dân số còn ít để đáp ứng yêu cầu của con người việc khai thác
từ đất khá dễ dàng và chưa có những ảnh hưởng lớn đến tài nguyên đất Nhưng ngày nay, mật độ dân số ngày càng tăng, đặc biệt ở các nước đang phát triển thì vấn
đề đảm bảo lương thực cho sự gia tăng dân số đã trở thành sức ép ngày càng mạnh
mẽ lên đất đai Diện tích đất thích hợp cho sản xuất nông nghiệp ngày càng cạn kiệt, con người phải mở mang thêm diện tích canh tác trên các vùng đất không thích hợp cho sản xuất, hậu quả đã gây ra quá trình thoái hoá đất một cách nghiêm trọng
Tác động của con người tới đất đã làm cho độ phì nhiêu của đất ngày càng suy giảm và dẫn đến thoái hoá đất, lúc đó rất khó có khả năng phục hồi độ phì nhiêu của đất hoặc phải chi phí rất tốn kém với có thể phục hồi được Đất với 5 chức năng chính là: “Duy trì vòng tuần hoàn sinh hoá và địa hoá học; phân phối nước; tích trữ
và phân phối vật chất; mang tính đệm và phân phối năng lượng” (De Kimpe và Warkentin – 1983), là những trợ giúp cần thiết cho các hệ sinh thái Mục đích của
Trang 22sản xuất là tạo ra lợi nhuận luôn chi phối các tác động của con người lên đất đai và môi trường tự nhiên, những giải pháp sử dụng và quản lý đất không thích hợp chính
là nguyên nhân dẫn đến sự mất cân bằng lớn trong đất, sẽ làm cho đất bị thoái hoá
Sử dụng đất một cách có hiệu quả và bền vững luôn là mong muốn cho sự tồn tại và tương lai phát triển của loài người, bởi vậy việc tìm kiếm các giải pháp sử dụng đất thích hợp, bền vững đã được nhiều nhà khoa học đất và các tổ chức quốc
tế quan tâm Thuật ngữ “Sử dụng đất bền vững” (Sustainable land use) đã trở thành thông dụng trên thế giới hiện nay
Nội dung sử dụng đất bền vững bao hàm ở một vùng trên bề mặt trái đất với tất cả các đặc trưng: Khí hậu, địa hình, thổ nhưỡng, chế độ thuỷ văn, động vật, thực vật và cả những hoạt động cải thiện việc sử dụng và quản lý đất đai như: hệ thống tiêu nước, xây dựng đồng ruộng Do đó thông qua hoạt động thực tiễn sử dụng đất chúng ta phải xác định được những vấn đề liên quan đến các yếu tố tác động đến khả năng bền vững đất đai trên phạm vi cụ thể của từng vùng để tránh khỏi những sai lầm trong sử dụng đất, đồng thời hạn chế được những tác hại đối với môi trường sinh thái
Theo Fetry sự phát triển bền vững trong lĩnh vực nông nghiệp chính là sự bảo tồn đất, nước, các nguồn động và thực vật, không bị suy thoái môi trường, kỹ thuật thích hợp, sinh lợi kinh tế và chấp nhận được về mặt xã hội FAO đã đưa ra các chỉ tiêu cụ thể cho nông nghiệp bền vững là:
Thoả mãn nhu cầu dinh dưỡng cơ bản của các thế hệ hiện tại và tương lai về
số lượng, chất lượng và các sản phẩm nông nghiệp khác
Cung cấp lâu dài việc làm, đủ thu nhập và các điều kiện sống, làm việc tốt cho mọi người trực tiếp làm nông nghiệp
Duy trì và có thể tăng cường khả năng sản xuất của các cơ sở tài nguyên thiên nhiên, khả năng tái sản xuất của các nguồn tài nguyên tái tạo được mà không phá vỡ chức năng của các chu trình sinh thái cơ sở, cân bằng tự nhiên không phá vỡ bản sắc văn hoá - xã hội của các cộng đồng sống ở nông thôn hoặc không gây ô nhiễm môi trường Giảm thiểu khả năng bị tổn thương trong nông nghiệp, củng cố lòng tin trong nhân dân
- Đánh giá hiệu quả sử dụng đất (về kinh tế, về xã hội và về môi trường)
Trang 23Năm 1991 tại Nairobi đã tổ chức Hội thảo về: “Khung đánh giá quản lý đất bền vững” đã đưa ra định nghĩa: “Quản lý bền vững đất đai bao gồm các công nghệ, chính sách và hoạt động nhằm liên hợp các nguyên lý KT-XH với các quan tâm môi trường để đồng thời: Duy trì, nâng cao sản lượng (hiệu quả sản xuất); Giảm tối thiểu mức rủi ro trong sản xuất (an toàn); Bảo vệ tài nguyên tự nhiên và ngăn chặn
sự thoái hoá đất và nước (bảo vệ); Có hiệu quả lâu dài (lâu bền); Được xã hội chấp nhận (tính chấp nhận);”
Năm nguyên tắc trên được coi là trụ cột của sử dụng đất đai bền vững và là những mục tiêu cần phải đạt được, nếu thực tế diễn ra đồng bộ, so với các mục tiêu cần phải đạt được Nếu chỉ đạt một hay một vài mục tiêu mà không phải tất cả thì khả năng bền vững chỉ mang tính bộ phận
Vận dụng nguyên tắc trên, ở Việt Nam một loại hình sử dụng đất được xem
là bền vững phải đạt 3 yêu cầu sau:
Bền vững về kinh tế: cây trồng cho hiệu quả kinh tế cao, được thị trường chấp nhận
Hệ thống sử dụng đất phải có mức năng suất sinh học cao trên mức bình quân vùng có điều kiện đất đai Năng suất sinh học bao gồm các sản phẩm chính và phụ (đối với cây trồng là gỗ, hạt, củ, quả và tàn dư để lại) Một hệ bền vững phải có năng suất trên mức bình quân vùng, nếu không sẽ không cạnh tranh được trong cơ chế thị trường
Về chất lượng: sản phẩm phải đạt tiêu chuẩn tiêu thụ tại địa phương, trong nước và xuất khẩu, tuỳ mục tiêu của từng vùng
Tổng giá trị sản phẩm trên đơn vị diện tích là thước đo quan trọng nhất của hiệu quả kinh tế đối với một hệ thống sử dụng đất Tổng giá trị trong một giai đoạn hay cả chu kỳ phải trên mức bình quân của vùng, nếu dưới mức đó thì nguy cơ người sử dụng đất sẽ không có lãi, hiệu quả vốn đầu tư phải lớn hơn lãi suất tiền vay vốn Ngân hàng
Bền vững về mặt xã hội: thu hút được lao động, đảm bảo đời sống xã hội phát triển
Trang 24Đáp ứng nhu cầu của nông hộ là điều quan tâm trước, nếu muốn họ quan tâm đến lợi ích lâu dài (bảo vệ đất, môi trường ) Sản phẩm thu được cần thoả mãn cái
ăn, cái mặc và nhu cầu sống hàng ngày của người nông dân
Nội lực và nguồn lực địa phương phải được phát huy Về đất đai, hệ thống sử dụng đất phải được tổ chức trên đất mà nông dân có quyền hưởng thụ lâu dài, đất đã được giao và rừng đã được khoán với lợi ích các bên cụ thể
Sử dụng đất sẽ bền vững nếu phù hợp với nền văn hoá dân tộc và tập quán địa phương, nếu ngược lại sẽ không được cộng đồng ủng hộ
Bền vững về môi trường: loại hình sử dụng đất phải bảo vệ được độ màu mỡ của đất, ngăn chặn thoái hoá đất và bảo vệ môi trường sinh thái Giữ đất được thể hiện bằng giảm thiểu lượng đất mất hàng năm dưới mức cho phép
Độ phì nhiêu đất tăng dần là yêu cầu bắt buộc đối với quản lý sử dụng bền vững
Độ che phủ tối thiểu phải đạt ngưỡng an toàn sinh thái (> 35%)
Đa dạng sinh học biểu hiện qua thành phần loài (đa canh bền vững hơn độc canh, cây lâu năm có khả năng bảo vệ đất tốt hơn cây hàng năm )
Ba yêu cầu bền vững trên là để xem xét và đánh giá các loại hình sử dụng đất hiện tại Thông qua việc xem xét và đánh giá các yêu cầu trên để giúp cho việc định hướng phát triển nông nghiệp ở vùng sinh thái
* Tóm lại: Khái niệm sử dụng đất đai bền vững do con người đưa ra được thể hiện trong nhiều hoạt động sử dụng và quản lý đất đai theo các mục đích mà con người đã lựa chọn cho từng vùng đất xác định Đối với sản xuất nông nghiệp việc sử dụng đất bền vững phải đạt được trên cơ sở đảm bảo khả năng sản xuất ổn định của cây trồng, chất lượng tài nguyên đất không suy giảm theo thời gian và việc sử dụng đất không ảnh hưởng xấu đến môi trường sống của con người, của các sinh vật
1.2.3 Quản lý đất nông nghiệp bền vững
Bên cạnh quan điểm và nguyên tắc sử dụng đất bền vững của một số nhà khoa học thì quan điểm về nông nghiệp bền vững theo FAO (1990) đưa ra bao gồm
“Việc quản lý, sử dụng có hiệu quả tài nguyên cho nông nghiệp nhằm đáp ứng nhu
Trang 25cầu cuộc sống của con người, đồng thời gìn giữ, cải thiện môi trường và bảo vệ tài nguyên thiên nhiên” (FAO, 1990) [7]
Sự phát triển bền vững như vậy trong lĩnh vực nông nghiệp chính là sự bảo tồn đất, nước, các nguồn động, thực vật, không bị suy thoái môi trường, kỹ thuật thích hợp, sinh lợi kinh tế và chấp nhận được về mặt xã hội (Smyth and Dumanski, 1993)
Theo Bill (1994), nông nghiệp bền vững là một hệ thống thiết kế để chọn môi trường bền vững cho con người, liên quan đến cây trồng, vật nuôi, các công trình xây dựng và cơ sở hạ tầng (nước, năng lượng, đường sá, ) Tuy nhiên, nông nghiệp bền vững không hẳn là những yếu tố đó mà chính là mối quan hệ giữa các yếu tố do con người tạo ra, sắp đặt và phân phối chúng trên bề mặt Trái đất (Bill, 1994)
Nông nghiệp bền vững không có nghĩa là từ bỏ những kinh nghiệm truyền thống mà là phối hợp, lồng ghép, áp dụng khoa học kỹ thuật, những sáng kiến mới
từ các nhà khoa học, từ nông dân hoặc cả hai (Cao Liêm và Trần Đức Viên, 1993)
Có ba điều kiện để tạo nông nghiệp bền vững đó là công nghệ bảo tồn tài nguyên, những yếu tố tác động từ bên ngoài và vai trò tương tác của các nhóm địa phương (Phạm Chí Thành, 1996)
Những vấn đề được đặt ra về phát triển nông nghiệp bền vững chủ yếu tập trung vào sản xuất nông nghiệp như bảo vệ đất, nước và đề xuất một số hệ thống canh tác bền vững trong những năm cuối của thế kỷ 20 Mục đích là tạo ra một hệ thống bền vững về sinh thái, có tiềm lực về kinh tế, có khả năng thỏa mãn nhu cầu của con người mà không làm thoái hóa đất, không làm ô nhiễm môi trường (Turlough, 2001) [34]
Theo quan điểm của Mollison và Remy Mia Slay (1999): (1) Triết lý của nông nghiệp bền vững là hợp tác với thiên nhiên, tuân theo các quy luật tự nhiên, không đi ngược/chống lại các quy luật của tự nhiên; (2) Nông nghiệp bền vững không chỉ bảo vệ những hệ sinh thái hiện có mà còn tìm cách khôi phục những hệ sinh thái đất suy thoái; (3) Mục đích của nông nghiệp bền vững là tạo ra một hệ sinh thái bền vững có tiềm lực về kinh tế, thỏa mãn nhu cầu của con người mà không bóc lột tài nguyên, không hủy hoại môi trường sống; (4) Nguyên tắc xây dựng nông nghiệp bền vững: Áp dụng khoa học kỹ thuật khác nhau tùy vào điều kiện khí hậu từng vùng/miền và điều kiện kinh tế của từng địa phương xây dựng những hệ sinh thái nông nghiệp phù hợp Việc áp dụng các biện pháp phòng trừ sâu bệnh hại hay
Trang 26việc sử dụng các hóa chất làm phân bón cần phải tính toán cẩn thận (Mollison và Remy Mia Slay, 1999) [35]
Nông nghiệp bền vững sử dụng những đặc tính vốn có của cây trồng, vật nuôi kết hợp với đặc trưng của cảnh quan và cấu trúc diện tích đất sử dụng một cách thống nhất Nông nghiệp bền vững là một hệ thống mà nhờ đó con người có thể tồn tại được, sử dụng nguồn lương thực và tài nguyên phong phú của thiên nhiên mà không liên tục hủy diệt sự sống trên trái đất Đạo đức của nông nghiệp bền vững bao gồm ba phạm trù: Chăm sóc trái đất, chăm sóc con người và dành thời gian, tài lực, vật lực vào các mục tiêu đó Nông nghiệp bền vững là một hệ thống nông nghiệp thường trực, tự xây dựng bền vững, thích hợp cho mọi tình trạng ở đô thị và nông thôn với mục tiêu đạt được sản lượng cao, giá thành hạ, kết hợp tối ưu giữa sản xuất cây trồng, cây rừng, vật nuôi, các cấu trúc hoạt động của con người (dẫn theo Đào Đức Mẫn, 2014) [15]
Nguyễn Tử Siêm và Thái Phiên (1999) cho rằng: Tiêu chí đánh giá phát triển nông nghiệp bền vững: Tốt về môi trường, có hiệu quả kinh tế, phù hợp với nhu cầu
xã hội, nhạy cảm về văn hóa, áp dụng các công nghệ thích hợp, có cơ sở khoa học hoàn thiện và đem lại sự phát triển chung cho cộng đồng [21]
Qua các phân tích trên có thể thấy, sử dụng đất nông nghiệp bền vững là khái niệm động và tổng hợp, nó liên quan đến các lĩnh vực kinh tế, xã hội, văn hóa, môi trường hiện tại và tương lai Mục tiêu của nông nghiệp bền vững là xây dựng một
hệ thống ổn định về mặt sinh thái, có tiềm lực kinh tế, có khả năng thỏa mãn những nhu cầu của con người mà không gây hại cho đất, không gây ô nhiễm môi trường
Ba vấn đề trên có quan hệ mật thiết với nhau và có ý nghĩa quan trọng đối với mục tiêu phát triển bền vững trong sản xuất nông nghiệp
1.2.4 Biến đổi khí hậu và tác động của biến đổi khí hậu đến sử dụng đất
1.2.4.1 Biến đổi khí hậu
- Biến đổi khí hậu:
Theo Công ước chung của Liên Hợp Quốc về Biến đổi khí hậu tại Hội nghị Thượng đỉnh về Môi trường tại Rio de Janero (Braxin - năm 1992): Biến đổi khí hậu là sự thay đổi của khí hậu mà nguyên nhân trực tiếp hay gián tiếp bởi hoạt động
Trang 27của con người làm thay đổi thành phần của khí quyển toàn cầu và tác động thêm vào sự biến động khí hậu tự nhiên trong các thời gian có thể so sánh được [12]
Theo tổ chức Liên Chính phủ về biến đổi khí hậu IPCC (2007), biến đổi khí hậu (Climate Change) là sự biến đổi về trạng thái của hệ thống khí hậu, có thể được nhận biết qua sự biến đổi về trung bình và biến động của các thuộc tính của nó, được duy trì trong một thời gian dài, điển hình là hàng thập kỷ hoặc dài hơn BĐKH
có thể do các quá trình tự nhiên bên trong hệ thống khí hậu hoặc do tác động thường xuyên của con người, đặc biệt tăng hiệu ứng nhà kính làm thay đổi thành phần cấu tạo của khí quyển
Theo Bộ Tài Nguyên và Môi Trường, 2008: Biến đổi khí hậu là sự biến đổi trạng thái của khí hậu so với trung bình hoặc dao động của khí hậu duy trì trong một khoảng thời gian dài, thường là vài thập kỷ hoặc dài hơn Biến đổi khí hậu có thể là do các quá trình tự nhiên bên trong hoặc các tác động bên ngoài, hoặc do hoạt động của con người làm thay đổi thành phần của khí quyển hay trong khai thác sử dụng đất
Như vậy, BĐKH trên Trái Đất là không có giới hạn về đơn vị hành chính, nó không phải xảy ra ở một không gian hẹp một hoặc hai quốc gia, mà xảy ra trên phạm vi toàn cầu Nhìn chung BĐKH là do sự thay đổi của các thành phần tự nhiên bên trong của nó theo thời gian, nhưng hiện nay BĐKH xảy ra ở mức độ nghiêm trọng hơn mà nguyên nhân không còn là sự thay đổi các thành phần trong nội hàm của nó nữa, nguyên nhân chủ yếu đó là con người đã làm thay đổi các thành phần của khí quyển thông qua các hoạt động sản xuất BĐKH hiện nay đang diễn ra mạnh mẽ, mà hậu quả của nó gây ra cho thiên nhiên và con người trên Trái Đất là
vô cùng nghiêm trọng mà không lường trước được
Đặc điểm của biến đổi khí hậu
Như vậy sự biến đổi khí hậu toàn cầu đang diễn ra ngày càng nghiêm trọng, nhìn chung xét về tính chất BĐKH trên Trái Đất có 4 đặc điểm:
- BĐKH diễn ra chậm, khó phát hiện, khó ngăn chặn và đảo ngược BĐKH là hiện tượng và quá trình tự nhiên (mặc dù có nguyên nhân do con người gây ra) diễn
ra trong khí quyển của Trái Đất một cách rất chậm chạp, từ từ, không rõ rệt (trong vòng 100 năm, nhiệt độ trung bình của Trái Đất tăng 0,740C) Con người phải có mạng lưới quan trắc rộng khắp; có nhận xét, phát hiện tinh tế; Có sự hỗ trợ của các phương tiện kỹ thuật hiện đại mới có khả năng nhận biết được sự biến động này Mặt
Trang 28khác, BĐKH lại do nhiều nguyên nhân gây ra, biểu hiện ở mỗi khu vực trên Trái Đất cũng khác nhau nên khó lòng ngăn chặn hoặc đảo ngược tình thế được
- BĐKH diễn ra trên phạm vi toàn cầu, có ảnh hưởng đến tất cả các lĩnh vực
có liên quan đến đời sống và hoạt động của con người Sẽ không có nơi nào trên Trái Đất, không có người dân nào và mọi mặt hoạt động của con người ở bất kỳ một quốc gia nào mà không chịu ảnh hưởng của BĐKH, chỉ có điều mức độ ảnh hưởng của BĐKH không diễn ra đồng đều ở mọi nơi
- BĐKH diễn ra với cường độ ngày một tăng và hậu quả khó lường trước Các số liệu thống kê và các quan sát trong những năm gần đây cho thấy mức độ BĐKH gây ra ngày một lớn, mạnh và bất thường, trái hẳn với quy luật vốn có, vì thế cũng gây nên những hậu quả và thiệt hại rất to lớn, khó lường
- BĐKH là nguy cơ lớn nhất mà con người phải đối mặt với tự nhiên trong suốt lịch sử phát triển của loài người
Trong những năm gần đây, BĐKH đã gây ra những thiệt hại khủng khiếp đến hoạt động sản xuất và trọng đời sống con người, so với các thiên tai tự nhiên khác như: Động đất, núi lửa… thì thảm họa do BĐKH gây ra là rất lớn
1.2.4.2 Tác động của biến đổi khí hậu đến sử dụng đất
Nông nghiệp vẫn là ngành kinh tế rất quan trọng đối với nước ta, là ngành chịu ảnh hưởng rất lớn bởi các tác nhân tự nhiên như đất đai, khí hậu, nguồn nước Trong những năm gần đây, sản xuất nông nghiệp đã và đang chịu tác động rất lớn của BĐKH, có thể thấy là:
❖ BĐKH tác động đến sản xuất nông nghiệp
* BĐKH làm thay đổi tính thích hợp của nền sản xuất nông nghiệp
+ Sự giảm dần cường độ lạnh trong mùa đông, tăng cường thời gian năng nóng dẫn đến tình trạng mất dần hoặc triệt tiêu tính phù hợp giữa các tập đoàn cây, con trên các vùng sinh thái
+ Làm chậm đi quá trình phát triển nền nông nghiệp hiện đại sản xuất hàng hóa và đa dạng hóa cũng như làm biến dạng nền nông nghiệp cổ truyền Ở mức độ nhất định, BĐKH làm mất đi một số đặc điểm quan trọng của các vùng nông nghiệp
ở phía bắc
Trang 29* Do tác động của BĐKH, thiên tai ngày càng ảnh hưởng nhiều hơn đến sản xuất nông nghiệp:
+ Thiên tai chủ yếu đối với sản xuất nông nghiệp ngày càng gia tăng trong bối cảnh BĐKH
+ Hạn hán song hành với xâm nhập mặn trên các sông lớn và vừa
* BĐKH gây nhiều khó khăn cho công tác thủy lợi:
+ Khả năng tiêu thoát nước ra biển giảm đi rõ rệt, mực nước các sông dâng lên, đỉnh lũ tăng thêm, uy hiếp các tuyến đê sông ở các tỉnh phía Bắc, đê bao và bờ bao ở các tỉnh phía Nam
+ Diện tích ngập úng mở rộng, thời gian ngập úng kéo dài
+ Nhu cầu tiêu nước và cấp nước gia tăng vượt khả năng đáp ứng của nhiều
hệ thống thủy lợi Mặt khác, dòng chảy lũ gia tăng có khả năng vượt quá các thông
số thiết kế hồ, đập, tác động tới an toàn hồ đập và quản lý tài nguyên nước
❖ BĐKH tác động đến đất nông nghiệp
Khí hậu là một trong những yếu tố quan trọng có ảnh hưởng lớn đến đất đai Khí hậu ảnh hưởng trực tiếp đến đất thể hiện ở lượng nước mưa và nhiệt; ảnh hưởng gián tiếp thông qua sinh vật BĐKH gây rối loạn chế độ mưa, nguy cơ nắng nóng nhiều hơn… làm cho lượng dinh dưỡng trong đất bị mất cao hơn, hiện tượng xói mòn, khô hạn nhiều hơn Nước biển dâng, thiên tai, bão lũ gia tăng sẽ làm tăng hiện tượng nhiễm mặn, ngập úng, sạt lở bờ sông, bờ biển… dẫn đến ảnh hưởng nghiêm trọng tới tài nguyên đất Nhiệt độ không khí tăng dẫn đến bốc thoát hơi tiềm năng cũng tăng lên và do đó càng gây căng thẳng đối với mùa màng, đặc biệt là ở những nơi nguồn cấp nước bị hạn chế Tác động kết hợp nắng nóng và hạn hán làm giảm sản lượng cây trồng Ngoài ra, nhiệt độ tăng cao là môi trường thuận lợi cho
sự phát triển của các loại sâu bệnh hại trên cây trồng, các chủng virus mới trên vật nuôi; đồng thời, làm suy giảm khả năng kháng lại các dịch bệnh
- Mưa thất thường, trái mùa… ảnh hưởng đến công việc làm đất, thời điểm gieo trồng và thay đổi chu trình cuộc đời sâu bọ và do đó tác động đến nông nghiệp
- Bão, áp thấp nhiệt đới với tần xuất và cường độ gia tăng gây thiệt hại lớn cho nông ngiệp bởi gió mạnh, mưa lớn, ngập úng cục bộ ảnh hưởng đến năng suất
Trang 30hoa màu, thất thoát thủy sản và giảm sản lượng ngành diêm nghiệp Nếu mưa bão kéo dài có thể gây mất trắng những diện tích sản xuất trên
- Hạn hán trong những năm xảy ra hiện tượng El Nino gây nên khan hiếm, thiếu nước cho cây trồng và tăng sâu bệnh có hại Mưa lớn trong những năm xảy ra hiện tượng La Nina có thể gây nên lũ lụt, xói lở, trượt lở đất, lũ quét rất nghiêm trọng, ảnh hưởng lớn đến sản xuất nông nghiệp
- Xâm nhập mặn tác động đến đất nông nghiệp bởi diện tích đất bị nhiễm mặn khó có thể phục hồi cho sản xuất nông nghiệp Xâm nhập mặn ảnh hưởng quá trình sinh trưởng của cây trồng Ngoài ra, hiện tượng hạ mực nước ngầm và nhiễm mặn nước ngầm tầng nông sẽ xảy ra nghiêm trọng hơn, dẫn đến tình trạng thiếu nước ngọt gây giảm năng suất của hoa màu
- Môi trường sống của sinh vật bị biến đổi ảnh hưởng đến quá trình sinh trưởng và phát triển của cây trồng, vật nuôi
Biến đổi khí hậu ảnh hưởng nghiêm trọng quỹ đất nông nghiệp, cụ thể:
* Mất diện tích do nước biển dâng:
Về tác động do nước biển dâng đối với cả nước: Theo Kịch bản Biến đổi khí hậu và nước biển dâng năm 2016, nguy cơ ngập do nuớc biển dâng: Nếu mực nước biển dâng 100 cm và không có các giải pháp ứng phó, khoảng 16,8% diện tích đồng bằng sông Hồng, 1,5% diện tích các tỉnh ven biển miền Trung từ Thanh Hóa đến Bình Thuận, 17,8% diện tích Tp Hồ Chí Minh, 38,9% diện tích dồng bằng sông Cửu Long có nguy cơ bị ngập Cụm đảo Vân Ðồn, Côn Ðảo và Phú Quốc có nguy
cơ ngập cao Nguy cơ ngập đối với quần đảo Truờng Sa là không lớn Quần đảo Hoàng Sa có nguy co ngập lớn hơn, nhất là đối với các đảo thuộc nhóm Lưỡi Liềm
và đảo Tri Tôn
* Đất bị xâm nhập mặn:
Hiện nay, nước mặn xâm nhập ngày càng sâu vào đất liền, độ mặn tăng cao
và thời gian ngập mặn kéo dài Đó là hậu quả của các yếu tố: nước biển dâng cao; lưu lượng nước sông trong mùa khô ít đi do rừng thượng nguồn ở các nước đầu nguồn thuộc lưu vực sông bị tàn phá nặng nề theo đó sẽ làm cho mặn từ biển xâm nhập sâu vào trong hệ thống sông ngòi, kênh rạch và đồng ruộng và đặc biệt là làm ngập những vùng đất trũng thấp ở đồng bằng ven biển
Trang 31Năm 2005, tình trạng xâm nhập mặn sớm, xâm nhập sâu, độ mặn cao và thời gian duy trì dài xảy ra phổ biến ở các tỉnh đồng bằng sông Cửu Long Trên sông Tiền, sông Hàm Luông, sông Cổ Chiên xâm nhập mặn đã tiến sâu vào phạm vi 60 -
80 km Còn trên tuyến sông Hậu, nhập mặn cũng vào sâu 60 - 70 km Riêng các dòng sông chính như Vàm Cỏ Tây, Vàm Cỏ Đông độ mặn đã xâm nhập sâu tới mức
kỷ lục 120 - 140km Năm 2008, tình trạng hạn - nước mặn xâm nhập diễn biến gay gắt hơn Tại Cà Mau, trong tháng 3/2008, nước mặn đã xâm nhập nghiêm trọng vào vùng ngọt của huyện U Minh Tại một số khu vực này, người dân đã phá các đập để đưa nước mặn vào nuôi tôm làm cho tình hình nhiễm mặn càng trở nên nghiêm trọng Tại Bến Tre, trên sông Cửa Đại, nước mặn vào đến xã Phú Thuận, huyện Bình Đại cách biển 30km Năm 2009, vào tháng 5, nước mặn đã xâm nhập sâu nội địa vùng Đồng bằng sông Cửu Long 70 km qua các cửa thuộc sông Mê Kông, sâu hơn 5 km so với cùng kỳ 2008
Hiện tượng nhiễm mặn ở vùng ven biển lớn hơn nhiều ở các khu vực khác Nước mặn xâm nhập sâu kết hợp với suy giảm nguồn nước ở hạ lưu đã gây ảnh hưởng lớn đến nhiều diện tích đất sản xuất nông nghiệp
* Đất bị khô hạn và hoang mạc hóa:
Sự phối hợp không hài hòa giữa chế độ nhiệt và chế độ mưa tạo nên sự khắc nghiệt có khả năng thúc đẩy các quá trình hạn hán, hoang mạc hóa của đất Nguy cơ nắng nóng và đất đai bị khô cằn nhiều hơn làm giảm năng suất trồng trọt
Khô hạn: Tại những vùng đất khô hạn, bán khô hạn, sự thay đổi nhỏ của nhiệt độ và lượng mưa có thể ảnh hưởng lớn tới đất đai Hạn hán đã gây thiệt hại nhiều mặt cho các vùng Nam Bộ, Tây Nguyên, Nam Trung bộ Hạn hán kéo dài, làm tăng nguy cơ cháy rừng và làm suy giảm đáng kể sức sản xuất của đất Trung bình trong 10 năm qua, diện tích bị khô hạn ở miền Trung lên tới 140.000 ha và mất trắng gần 50.000 ha
Theo báo cáo mới nhất của Cục Thủy lợi (Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn), hạn hán đã gây thiếu nước cho trên 120.000 ha đất canh tác, tập trung ở hầu hết các tỉnh Tây Nguyên, Ninh Thuận và Bình Thuận Hạn hán cũng đã bắt đầu ảnh hưởng đến các tỉnh Bắc Bộ và Trung Bộ, mực nước trên các sông, hồ đều cạn kiệt
Điều đáng nói là sự gia tăng nhanh chóng diện tích hoang mạc ở các vùng khô hạn, bán khô hạn, kể cả một số vùng ẩm ướt không chỉ do khí hậu và BĐKH,
Trang 32mà còn do sức ép của sự gia tăng dân số và hoạt động sống của con người Diện tích đất liên quan đến hoang mạc hóa phân bố trên khắp các vùng trong cả nước, đặc biệt là ở Tây Bắc và Duyên hải Miền Trung Theo kết quả điều tra gần đây nhất, cả nước có tới 9,34 triệu ha đất đồi núi trọc, đồi cát, trảng cỏ có liên quan tới hoang mạc hóa, chiếm 28% tổng diện tích đất đai trên toàn quốc, trong đó khoảng 7,85 triệu ha chịu tác động mạnh bởi hoang mạc hóa với trên 4 triệu ha đất trống trọc chưa sử dụng, khoảng 2 triệu ha đất đang được sử dụng nhưng đã bị thoái hóa nặng
và 1 triệu ha đang có nguy cơ thoái hóa cao Tại các tỉnh miền núi phía Bắc, nơi còn nhiều vùng đồi núi trọc đang bị mưa lũ làm lở đất, xói mòn và suy thoái đến khô cằn hoang mạc Đây là những vấn đề đáng lo ngại, là thách thức lớn cho việc sử dụng đất của nước ta hiện nay
Dọc theo bờ biển miền Trung đã xuất hiện hiện tượng sa mạc hóa cục bộ ở các dải cát hẹp trải dài với khoảng 462.000 ha, chiếm khoảng 1,4% tổng diện tích tự nhiên toàn quốc, trong đó có 87.800 ha là các đụn cát, đồi cát lớn di động Với điều kiện độ che phủ kém, đất cát thường chứa ít nước và nhiều không khí, nguồn nước mặt cung cấp hầu như không đáng kể, vì vậy vào những ngày nắng, đất cát thường
bị nung nóng mạnh mẽ bởi bức xạ mặt trời Kết cấu đất vốn đã kém bền vững lại càng dễ bị phá hủy Cùng với gió mạnh, hình dạng các cồn cát di dộng thay đổi hàng ngày, những trận gió cát, bão cát khiến cho khu vực khô nóng càng trở nên khắc nghiệt
* Đất bị xói mòn, rửa trôi:
BĐKH gây rối loạn chế độ mưa nắng, nguy cơ nắng nóng nhiều hơn, lượng mưa thay đổi, lượng dinh dưỡng trong đất bị mất cao hơn trong suốt các đợt mưa dài, gây ra hiện tượng xói mòn nhiều hơn Các quan trắc có hệ thống về xói mòn đất
từ 1960 đến nay cho thấy trên thực tế có khoảng 10 - 20% lãnh thổ Việt Nam bị ảnh hưởng xói mòn từ trung bình đến mạnh
Vùng Tây Bắc đất dốc chiếm 98% nên nguy cơ thoái hóa và xói mòn là rất lớn Hàng năm, chỉ trong 6 tháng mùa mưa, lượng đất mất đã chiếm tới 75 - 100% tổng lượng xói mòn cả năm, còn lại dưới 25% lượng đất bị xói mòn xảy ra trong các trận mưa giông ở thời kỳ chuyển tiếp giữa các mùa mưa – khô và ngược lại
Trang 33Ở các tỉnh miền Trung, mùa mưa tập trung vào 4 tháng đầu năm và giữa mùa gió mùa Đông bắc, có nơi mưa dồn dập từ tháng 9 đến tháng 12, là nguyên nhân chính gây xói mòn rửa trôi
Bảng 1.1 Phân bố đất dốc và đất thoái hóa do xói mòn và rửa trôi tại các vùng
(Nguồn: Hội Khoa học Đất Việt Nam, 2000)
* Đất bị ngập úng:
Những năm gần đây thiên tai, lũ lụt, hiện tượng triều cường xảy ra liên tiếp
đã làm cho vấn đề ngập úng đất ngày càng trở nên nghiêm trọng Tại miền Bắc, hội
tụ đới gió Đông Nam kết hợp với bộ phận không khí lạnh phía Bắc tràn xuống là nguyên nhân dẫn đến trận mưa cực lớn gây ngập úng ở nhiều nơi Cuối tháng 10 năm 2008 tại Hà Nội, tính riêng lượng mưa trong vòng 24 giờ đầu tiên tại đường Láng đã lớn thứ hai trong lịch sử (sau trận mưa năm 1984), đây là hiện tượng thời tiết bất thường, trái với quy luật
Tại miền Trung, Bình quân mỗi năm có khoảng 12 vạn ha lúa bị úng ngập (trong đó có khoảng 4 vạn ha bị mất trắng, trên 7 vạn ha bị ảnh hưởng) và có trên 6,2 vạn ha hoa màu bị úng ngập
Tại miền Nam, từ năm 2004 - 2007, đỉnh triều cường trên sông Hậu tại thành phố Cần Thơ mỗi năm cao thêm 4 cm, gây nên tình trạng ngập lụt thường xuyên ở một số tuyến đường phố trung tâm Thành phố Cần Thơ Ở Thành phố Hồ Chí Minh
từ năm 1999 đến nay, mực nước thủy triều của Thành phố Hồ Chí Minh cũng liên tục tăng nhanh, từ mức 1,22m lên 1,55m
* Sạt lở đất:
Trang 34Tình hình sạt lở đất trong mấy thập niên vừa qua đã xảy ra rất phổ biến với hai loại hình sạt lở đó là xói lở bờ biển; sạt lở đất ven sông và vùng cao:
Xói lở bờ biển: Hầu hết bờ biển nước ta đang bị xói lở với cường độ vài mét chục mét mỗi năm Xu hướng dâng lên của mực nước biển trong những năm gần đây cũng góp phần gây ra sụt lở mạnh hơn Ngoài ra, sự tăng dòng chảy sông cũng
là một nguyên nhân gây xói lở, nhưng thường xảy ra vào mùa mưa và chỉ ảnh hưởng ngắn hạn Hiện trạng xói lở đường bờ ở nước ta có thể được nghiên cứu theo các dải như sau:
- Dải bờ biển từ Quảng Ninh đến Ninh Bình: Giai đoạn 1965 - 1980 trước khi đập Đình Vũ được xây dựng, xói lở xảy ra với tỷ lệ cao nhất (11,8 m/năm); Giai đoạn 1980 - 2001 sau khi xây dựng đập Đình Vũ, tỉ lệ xói lở giảm xuống khá nhiều (4,3 m/năm)
- Dải bờ biển từ Thanh Hóa đến Bình Thuận: có 263 khu vực bị xói lở, nơi rộng nhất là 262,8 ha, nơi nhỏ nhất là 1,4 ha Bờ biển bị xói lở nghiêm trọng nhất là Tuy An (Phú Yên), Phan Rí, Thành phố Phan Thiết (Bình Thuận)
Dải bờ biển từ Vũng Tàu đến Hà Tiên: Trước năm 1940 không có xói lở; những năm 1940 - 1950 xói lở xảy ra ở cửa sông với tốc độ chậm; từ năm 1995 đến nay, xói lở diễn ra rộng hơn và khá phức tạp, gây hậu quả nghiêm trọng Nơi có tốc
độ xói lở lớn nhất là Gò Công Đông (Tiền Giang), Hiệp Thành, Duyên Hải (Trà Vinh), Gành Hào (Bạc Liêu)
Sạt lở đất ở ven sông và vùng cao: Sạt lở đất ven sông và vùng cao cũng là một vấn đề xảy ra thường xuyên ở Việt Nam Dọc theo các hệ thống sông vào mùa mưa lũ, có hiện tượng sạt lở đất nghiêm trọng ở nhiều nơi, đặc biệt ở phần hạ lưu các con sông Hồng, Cửu Long, Trà Khúc, Ba
Những nơi có độ dốc cao, tầng đất không dày, sâu trên 1 m đã gặp những tầng đá vụn, đất không bám được vào lớp đá vụn phía dưới bị bong ra, lở xuống xuống phía dưới theo trọng lực như ở Mường Tè (Lai Châu), Yên Sơn (Sơn La), Trạm Tấu (Yên Bái)… các trận mưa rào đầu vụ đã làm trượt cả tầng đất mặt đang trồng lúa, ngô xuống dưới chân dốc
Trang 35Sạt đất, trượt lở đất không chỉ làm lấp đất đang sản xuất mà còn làm hư hại đường giao thông, công trình xây dựng và có những vụ đã vùi lấp một phần diện tích bản làng, sông, suối
* Tác động của biến đổi khí hậu đến chất lượng đất
- Quá trình ôxy hóa gây thoái hóa đất do nhiệt độ tăng lên và hạn hán gia tăng trong mùa khô
- Quá trình mặn hóa do nước biển dâng cao và bốc hơi mạnh hơn
- Quá trình xói mòn, rửa trôi theo nước do lượng mưa và cường độ mưa trong mùa mưa tăng lên, nhất là ở những vùng lớp phủ thực vật bị tàn phá
- Quá trình xâm thực xói lở bờ sông do mùa khô và hạn hán làm lòng sông bị nâng cao, tăng cường quá trình xói mòn, rửa trôi đưa vật liệu thô lấp dần lòng sông hoặc lắng đọng dưới đáy sông dẫn đến thay đổi quy luật lòng sông, gia tăng quá trình xâm thực, xói lở bờ sông
- Quá trình phong thành cát bay, cát chảy do bão tố nhiều hơn, tần số và tốc
độ gió bão đều tăng lên đáng kể, gió to cùng với mưa lớn mài mòn các sườn đất, bốc hơi tăng lên làm gia tăng quá trình hoang mạc hóa, gia tăng quá trình cát bay, các nhảy vào đất liền, ruộng đồng và khu vực dân cư ven biển
1.3 Cơ sở pháp lý
Quản lý, sử dụng đất nông nghiệp được Đảng, Nhà nước và người dân đặc biệt quan tâm vì hàng chục triệu người dân đang tham gia sản xuất nông nghiệp và đời sống của họ gắn với nông nghiệp, nông thôn Do vậy, ngày 29 tháng 11 năm
2013, Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã thông qua Luật Đất đai mới trên cơ sở thể chế hóa Nghị quyết số 19-NQ/TƯ ngày 31 tháng 10 năm
2012 của Hội nghị Trung ương 6 khóa XI về tiếp tục đổi mới chính sách, pháp luật
về đất đai trong thời kỳ đẩy mạnh toàn diện công cuộc đổi mới, tạo nền tảng để đến năm 2020 nước ta cơ bản trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại
Căn cứ pháp lý để quản lý đất đai nói chung và đất nông nghiệp tại thị xã An Khê chủ yếu dựa trên Luật đất đai 2013; Quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất của địa phương giai đoạn 2010 – 2020; Nghị quyết số 07/NQ-CP của Chính phủ ngày 22 tháng 01 năm 2014 ban hành Chương trình hành động thực hiện Nghị quyết 19-NQ/TW ngày 31 tháng 10 năm 2012 của Ban chấp hành Trung ương Đảng khóa XI
Trang 36về tiếp tục đổi mới chính sách, pháp luật về đất đai trong thời kỳ đẩy mạnh toàn diện công cuộc đổi mới, tạo nền tảng để đến năm 2020 nước ta cơ bản trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại
Để thúc đẩy KT-XH thị xã An Khê, trong đó có lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn phát triển bền vững, Ủy ban nhân dân tỉnh Gia Lai đã phê duyệt các quy hoạch: Quy hoạch tổng thể phát triển KT-XH thị xã An Khê đến năm 2020; Quy hoạch chung đô thị An Khê đến năm 2030 và các quy hoạch chuyên ngành khác Bên cạnh đó, Thị ủy An Khê đã ban hành Nghị quyết Đại hội Đảng bộ thị xã lần thứ XVI, nhiệm kỳ 2015-2020; Kế hoạch số 20-KH/TU ngày 16/8/2016 của Ban Thường vụ Thị ủy thực hiện Chương trình số 15-CTr/TU ngày 30/6/2016 của Ban Thường vụ Tỉnh ủy về tái cơ cấu ngành nông nghiệp gắn với xây dựng nông thôn mới theo hướng nâng cao giá trị gia tăng, chất lượng sản phẩm, đẩy mạnh ứng dụng công nghệ sinh học chất lượng cao vào sản xuất trong điều kiện biến đổi khí hậu; Chương trình số 20-CTr/TU, ngày 07/3/2017 của Ban Thường vụ Thị ủy An Khê thực hiện Kết luận số 06-KL/TW
Một số điểm quan trọng liên quan đến quản lý, sử dụng đất nông nghiệp trong Luật Đất đai năm 2013:
Thời hạn giao đất, công nhận quyền sử dụng đất nông nghiệp đối với hộ gia đình, cá nhân trực tiếp sản xuất nông nghiệp là 50 năm Thời hạn cho thuê đất nông nghiệp đối với hộ gia đình, cá nhân không quá 50 năm Về hạn mức giao đất trồng cây hàng năm, đất nuôi trồng thủy sản, đất làm muối cho mỗi hộ gia đình, cá nhân trực tiếp sản xuất nông nghiệp, không quá 03 ha cho mỗi loại đất đối với tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương thuộc khu vực Đông Nam Bộ và khu vực đồng bằng sông Cửu Long; không quá 02 ha cho mỗi loại đất đối với tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương khác
Hạn mức giao đất trồng cây lâu năm cho mỗi hộ gia đình, cá nhân không quá
10 ha đối với xã, phường, thị trấn ở đồng bằng; không quá 30 ha đối với xã, phường, thị trấn ở trung du, miền núi Hạn mức giao đất cho mỗi hộ gia đình, cá nhân không quá 30 ha đối với đất rừng phòng hộ; đất rừng sản xuất Trường hợp hộ gia đình, cá nhân được giao nhiều loại đất bao gồm đất trồng cây hàng năm, đất nuôi trồng thủy sản, đất làm muối thì tổng hạn mức giao đất không quá 05 ha
Trang 37Trường hợp hộ gia đình, cá nhân được giao thêm đất trồng cây lâu năm thì hạn mức đất trồng cây lâu năm không quá 05 ha đối với xã, phường, thị trấn ở đồng bằng; không quá 25 ha đối với xã, phường, thị trấn ở trung du, miền núi Trường hợp hộ gia đình, cá nhân được giao thêm đất rừng sản xuất thì hạn mức giao đất rừng sản xuất không quá 25 ha Hạn mức nhận chuyển quyền sử dụng đất nông nghiệp của hộ gia đình, cá nhân không quá 10 lần hạn mức giao đất nông nghiệp của hộ gia đình, cá nhân đối với mỗi loại đất quy định tại các khoản 1, 2 và 3 Điều
129 của Luật Đất đai
Về chuyển mục đích sử dụng đất, đối với dự án có sử dụng đất trồng lúa, đất rừng phòng hộ, đất rừng đặc dụng vào các mục đích khác mà không thuộc trường hợp được Quốc hội quyết định, Thủ tướng Chính phủ chấp thuận chủ trương đầu tư thì cơ quan nhà nước có thẩm quyền chỉ được quyết định giao đất, cho thuê đất, cho phép chuyển mục đích sử dụng đất khi có một trong các văn bản như: Văn bản chấp thuận của Thủ tướng Chính phủ đối với trường hợp chuyển mục đích sử dụng từ 10
ha đất trồng lúa trở lên; từ 20 ha đất rừng phòng hộ, đất rừng đặc dụng trở lên; hay Nghị quyết của Hội đồng nhân dân cấp tỉnh đối với trường hợp chuyển mục đích sử dụng dưới 10 ha đất trồng lúa; dưới 20 ha đất rừng phòng hộ, đất rừng đặc dụng
Các quy định kể trên là động lực khuyến khích người nông dân yên tâm sản xuất, đầu tư vốn, khoa học kỹ thuật và hình thành nên những vùng sản xuất hàng hóa tập trung trong nông nghiệp, góp phần giải phóng sức lao động Ngoài ra, còn tạo căn cứ pháp lý quan trọng để nông dân tích tụ ruộng đất, đẩy mạnh phát triển kinh tế trang trại, hình thành những vùng chuyên canh lớn, đẩy nhanh việc thực hiện mục tiêu phát triển nông nghiệp, nông thôn, nông dân
Tuy vậy, việc đầu tư trong lĩnh vực này còn một số rào cản như: quy định của Luật Đất đai hiện hành chưa điều chỉnh các quan hệ đất đai phù hợp với điều kiện thực tiễn nên chưa hỗ trợ tốt cho quá trình tích tụ, tập trung đất đai và phát triển thị trường bất động sản nông nghiệp Cụ thể, Luật Đất đai chỉ cho phép chuyển đổi đất nông nghiệp đối với các hộ gia đình, cá nhân trong cùng một xã, phường, thị trấn Tổ chức kinh tế không được nhận chuyển nhượng đất trồng lúa, trừ trường hợp được phép thay đổi mục đích sử dụng đất của cơ quan nhà nước có thẩm quyền theo
dự án đầu tư Hộ gia đình, cá nhân được giao đất nông nghiệp ổn định không được phép cho thuê đất nông nghiệp cho doanh nghiệp có 100% vốn nước ngoài hoặc doanh nghiệp mà nhà đầu tư nước ngoài nắm giữ tỷ lệ cổ phần chi phối (trên 51%)
Trang 38Do đó, doanh nghiệp muốn tập trung đất đai để thực hiện dự án nông nghiệp gặp nhiều khó khăn và rủi ro khi phải thỏa thuận với nhiều hộ dân trong điều kiện đất đai manh mún (30 - 40 hộ gia đình mới có 1ha) và không thuộc đối tượng Nhà nước thu hồi đất Đối với mô hình tích tụ, tập trung đất đai mới (UBND cấp xã, cấp huyện đứng ra thuê đất của dân và Sở TN&MT cho doanh nghiệp thuê lại) Luật Đất đai chưa cho phép chính quyền cấp huyện, cấp xã ký kết hợp đồng thuê quyền sử dụng đất của các hộ dân để thu hút đầu tư phát triển sản xuất nông nghiệp
Quan hệ đất đai giữa UBND cấp xã, UBND cấp huyện với tư cách quản lý Nhà nước với người sử dụng đất sau khi được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất chưa được điều chỉnh với nội dung thuê đất của người sử dụng đất và cho doanh nghiệp thuê lại đất Cho nên dưới góc độ lập pháp thì có thể coi hoạt động theo mô hình này là trái với quy định của Luật Đất đai
Thứ hai, Luật Ngân sách không cho phép ứng trước ngân sách Nhà nước để trả tiền thuê đất của dân với mục đích hình thành quỹ đất nông nghiệp để kêu gọi các doanh nghiệp vào đầu tư nông nghiệp công nghệ cao Chính những rào cản pháp
lý này làm cho mô hình tích tụ, tập trung chưa được nhân rộng ra nhiều địa phương
và làm cho thị trường bất động sản nông nghiệp chưa thể phát triển và sôi động như các loại hình bất động sản khác
Ngoài những yếu tố này, vẫn còn rào cản về văn hóa; giá đất nông nghiệp thấp và phương pháp xác định giá thuê chưa phù hợp dẫn tới khó khăn trong việc đẩy mạnh công cuộc này
1.4 Cơ sở thực tiễn
1.4.1 Biến đổi khí hậu trên thế giới
Gia tăng nhiệt độ Trái Đất:
Bước sang thế kỷ 21, dựa theo các dự án mô hình khí hậu của (IPCC), nhiệt
độ bề mặt Trái đất sẽ tăng lên 1,10C đến 6,40C Trong 10 năm gần đây, nhiệt độ trung bình nhiều năm được ghi nhận là cao lịch sử Năm 2014, nhiệt độ trung bình toàn cầu tăng cao hơn nhiệt độ trung bình thời kỳ 1961 - 1990 vào khoảng 0,57 ± 0,090C, và cao hơn trung bình 10 năm gần đây (2005 - 2014) khoảng 0,080C Theo
Tổ chức Khí tượng thế giới (WMO) năm 2014 được ghi nhận là năm nóng nhất lịch
sử quan trắc trong vòng 165 năm gần đây; Sau đó là năm 2010 (0,55 ± 0,090C) và năm 2005 (0,54 ± 0,090C) Xét theo từng khu vực, nhiệt độ trung bình năm 2014 so
Trang 39với nhiệt độ trung bình nhiều năm là cao hơn: Châu Á các khu vực chỉ số nhiệt này đều cao hơn, đặc biệt Tây và Đông Bắc Á (cao hơn từ 1 đến 50C) xuất hiện nhiều đợt năng nóng vào tháng 7, 8, ở khu vực Islamic, Iran nhiệt độ cao nhất trên 500C
và kỷ lục 530C vào ngày 17/7 ở thành phố Khuzestan (Iran); Châu Âu có 19 quốc gia có nhiệt độ trung bình năm 2014 đạt kỷ lục, tại Na Uy tháng 7 là tháng nóng nhất lịch sử với chuẩn sai nhiệt độ là 4,30C cao hơn lịch sử là 10C; Phía Bắc Châu Phi nhiệt độ năm trung bình năm 2014 cao hơn trung bình nhiều năm từ 1 đến
20C… (Theo WMO - 2015) Sự thay đổi nhiệt độ không khí trên toàn cầu theo xu hướng tăng, dẫn đến các đợt nắng nóng lịch sử cũng gia tăng theo, gây nhiều thảm họa trên toàn cầu
Phân tích toàn cầu hàng năm của NOAA/NCDC cho năm 2019: "Năm 2019
là năm nóng nhất thứ hai trong kỷ lục 140 năm, với nhiệt độ bề mặt đại dương và đất liền toàn cầu chênh lệch từ mức trung bình + 0,950C Năm nóng nhất trong kỷ lục 1880–2019 đều xảy ra kể từ năm 2015, trong khi chín trong số 10 năm ấm nhất
đã xảy ra kể từ năm 2005 Năm 1998 hiện được xếp hạng là 10 năm ấm nhất được ghi nhận Năm 2019 đánh dấu lần thứ 43 liên tiếp năm (kể từ năm 1977) với nhiệt
độ đất liền và đại dương toàn cầu, ít nhất là trên danh nghĩa, trên mức trung bình của thế kỷ 20 Nhiệt độ hàng năm toàn cầu đã tăng với tốc độ trung bình 0,070C mỗi thập niên kể từ năm 1880 và hơn hai lần tốc độ đó (+0,180C) kể từ năm 1981
(Nguồn: https://vi.wikipedia.org/wiki/Ấm_lên_toàn_cầu)
Hình 1.1: Nhiệt độ mặt đất toàn cầu giai đoạn 1880 - 2020
Trang 40Nước biển dâng
Các đo đạc và tính toán cho thấy cùng với sự tăng lên của nhiệt độ là sự tăng lên của mực nước biển trên các đại dương thế giới Tính chung, mực nước biển trung bình lên 10 - 25 cm với tốc độ tăng trung bình 1 - 2 mm/năm trong thế kỷ 20 Thời kỳ 1993 - 2003 mức nước biển đã dâng cao khoảng 2,8 mm/năm, trong đó tăng khoảng 1,6 mm/năm do giãn nở nhiệt độ và khoảng 1,2 mm/năm do băng tan Đáng chú ý là trong thời gian gần đây, nghiên cứu xu thế biến đổi mực nước biển quy mô toàn cầu (IPCC, 2013) - Giai đoạn 1901 - 2010, mực nước biển trung bình toàn cầu tăng khoảng 19 cm với tốc độ tăng trung bình là 1,7 mm/năm Trong giai đoạn 1993 - 2010, mực nước biển trung bình toàn cầu tăng 3,2 mm/năm
• Sự thay đổi thành phần và chất lượng của khí quyển
Thành phần và chất lượng của khí quyển đã thay đổi rất nhiều do tác động của các yếu tố tự nhiên và con người Đó là sự gia tăng của các chất khí nhà kính trong khí quyển, tuy chiếm một tỷ lệ rất nhỏ, nồng độ rất thấp so với hai chất khí chủ yếu: Nitơ (78 %) và Oxi (21 %) nhưng tác hại của chúng lại rất lớn Chất lượng của khí quyển vì thế giảm sút rất nhanh Các chất khí nhà kính là nguyên nhân trực tiếp làm tăng nhiệt độ không khí, gây nên hiệu ứng nhà kính, khiến cho Trái Đất nóng lên Ngoài ra, chúng là các chất khí độc hại ảnh hưởng trực tiếp hoặc gián tiếp đến các quá trình tự nhiên, đời sống của sinh vật nói chung, của con người nói riêng, gây hậu quả nghiêm trọng
• Xuất hiện nhiều thiên tai bất thường, trái quy luật và có cường độ, quy
mô lớn
Các thiên tai liên quan đến BĐKH trên toàn cầu: siêu bão, lốc xoáy, lũ lụt, lũ quét, hạn hán, …có cường độ, quy mô ảnh hưởng rộng xảy ra thường xuyên, đột ngột, bất thường, trái quy luật khó dự báo trước nên gây ra nhiều thảm họa vô cùng nặng nề cho nhân loại
1.4.2 Biến đổi khí hậu ở Việt Nam
Việt Nam là nước dễ bị tổn thương trước tác động của BĐKH Theo đánh giá hàng năm về những nước chịu ảnh hưởng nặng nhất bởi các hiện tượng thời tiết cực đoạn giai đoạn 1997-2016, Việt Nam đứng thứ 5 về Chỉ số rủi ro khí hậu toàn cầu năm 2018 và thứ 8 về Chỉ số rủi ro khí hậu dài hạn (CRI)