1. Trang chủ
  2. » Mẫu Slide

Hướng dẫn học sinh phổ thông thực hiện các Đề tài nghiên cứu khoa học

20 12 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 20
Dung lượng 233,91 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

LỌAI HÌNH VÀ GIẢ NỘI DUNG THUYẾT NGHIÊN CỨU Phát hiện qui luật của sự vật, hiện tượng: -Tổng kết kinh nghiệm từ một sự vật Nghiên cứu cơ bản -Điều tra tổng thể về tự nhiên hoặc kinh tế v[r]

Trang 1

KẾT QUẢ MONG ĐỢI

1 Về kiến thức: Học viên nắm được:

- Hiện trạng cuộc thi Khoa học – Kỹ thuật của học sinh phổ thông

- Quy trình và nghiệp vụ hướng dẫn học sinh phổ thông thực hiện các đề tài NCKH

- Những kiến thức cơ bản về phương pháp luận NCKH

2 Về kỹ năng: Học viên củng cố và phát triển các kỹ năng:

- Tư duy về vấn đề nghiên cứu, từ đó hướng dẫn học sinh hình thành đề tài nghiên cứu

- Phát huy năng lực hướng dẫn học sinh: Xây dựng đề cương và triển khai kế hoạch nghiên cứu đề tài

3 Về thái độ: Học viên cần:

- Nghiêm túc, đam mê trong NCKH

- Truyền cảm hứng sáng tạo và say mê NCKH cho học sinh

PHẦN I NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ ĐỀ TÀI KHOA HỌC

LĨNH VỰC XÃ HỘI – HÀNH VI

1 Yêu cầu và tầm quan trọng của việc học sinh phổ thông NCKH

- Khuyến khích học sinh trung học NCKH; sáng tạo kĩ thuật, công nghệ và vận dụng kiến thức của các môn học vào giải quyết những vấn đề thực tiễn

- Góp phần đổi mới hình thức tổ chức dạy học; đổi mới hình thức và phương pháp đánh giá kết quả học tập; phát triển năng lực và phẩm chất của học sinh; thúc đẩy giáo viên tự bồi dưỡng nâng cao năng lực chuyên môn, nghiệp vụ; nâng cao chất lượng dạy học trong các cơ sở giáo dục trung học

- Khuyến khích các cơ sở giáo dục đại học, cao đẳng, cơ sở nghiên cứu, các tổ chức và cá nhân hỗ trợ hoạt động nghiên cứu KHKT của học sinh trung học

- Tạo cơ hội để học sinh trung học giới thiệu kết quả nghiên cứu KHKT của mình; tăng cường trao đổi, giao lưu văn hóa, giáo dục giữa các địa phương và hội nhập quốc tế

2 Những điểm còn hạn chế của cuộc thi Khoa học – Kỹ thuật của học sinh

2.1 Về nhận thức

- Mặc dù hoạt động nghiên cứu khoa học của học sinh đã có những bước phát triển mạnh mẽ trong những năm qua nhưng một bộ phận cán bộ quản lí, giáo viên và cha mẹ học sinh chưa nhận thức đầy đủ về vai trò của nghiên cứu khoa học đối với việc đổi mới giáo dục theo định hướng phát triển năng lực và phẩm chất của học sinh

Vì thế, ở một số đơn vị chỉ chú trọng đầu tư cho một số học sinh tham gia nghiên cứu với mục tiêu dự thi cấp quốc gia mà chưa chú trọng tổ chức rộng rãi hoạt động nghiên cứu khoa học của học sinh trong các nhà trường

Trang 2

- Cũng vì nhận thức chưa đúng nên một số cha mẹ học sinh đã "đầu tư" cho con

em mình nghiên cứu chỉ với mục đích là được dự thi cấp quốc gia hay quốc tế, để được tuyển thẳng vào đại học hoặc dễ dàng hơn trong việc tìm kiếm cơ hội du học nước ngoài Việc này đã làm sai lệch động cơ nghiên cứu của các em và vô hình chung làm cho học sinh có nhận thức không đúng đắn về hoạt động nghiên cứu khoa học

2.2 Về công tác tổ chức

- Mặc dù Cuộc thi đã được tổ chức hằng năm nhưng một số địa phương còn chưa chủ động trong việc triển khai hoạt động nghiên cứu khoa học của sinh, chưa huy động được đông đảo học sinh tham gia nghiên cứu để tạo được nhiều dự án để lựa chọn cho cuộc thi cấp tỉnh Có đơn vị chưa tổ chức cuộc thi cấp tỉnh mà chỉ lựa chọn một số dự

án để cử đi tham dự Cuộc thi cấp quốc gia

- Việc thực hiện các yêu cầu về tổ chức Cuộc thi cấp quốc gia của một số địa phương còn hạn chế, nhất là về các quy định thực hiện trên website của Cuộc thi, dẫn đến những sai sót về thông tin của học sinh cũng như chậm trễ về thời gian, gây khó khăn cho công việc chung

- Công tác theo dõi, hỗ trợ, kiểm tra, giám sát, đánh giá kết quả triển khai hoạt động khoa học và cuộc thi khoa học kĩ thuật ở các địa phương chưa có điều kiện thực hiện đầy đủ, kịp thời

- Quy trình thẩm định và đánh giá các dự án dự thi của học sinh vẫn còn những điểm phải tiếp tục cải tiến; việc đánh giá năng lực thực sự của học sinh trong quá trình thực hiện dự án còn gặp khó khăn

2.3 Về nội dung các dự án

Đối chiếu với các tiêu chí đánh giá dự án khoa học kĩ thuật của Intel ISEF, các

dự án của học sinh Việt Nam còn tồn tại một số hạn chế như sau:

- Việc nghiên cứu tổng quan còn hạn chế, dẫn tới câu hỏi/vấn đề nghiên cứu chưa được xác định một cách rõ ràng, cụ thể trong mối quan hệ với những nghiên cứu mới nhất trong và ngoài nước Vì vậy có những đề tài đã không xác định được tường minh điểm mới so với những đề tài cùng lĩnh vực đã được công bố Cũng vì chưa đầu tư nghiên cứu tốt về tổng quan nên học sinh chưa đề xuất được những ý tưởng mới và vì thế nhiều dự án dự thi mới chỉ đạt mức độ "cải tiến", chưa thể hiện được sự sáng tạo về mặt khoa học hay kĩ thuật Một số dự án còn "nhầm" lĩnh vực đăng kí dự thi, thể hiện việc xác định vấn đề/câu hỏi nghiên cứu chưa rõ ràng về mặt khoa học

- Việc lập kế hoạch nghiên cứu của một số dự án chưa được thực hiện một cách khoa học, thể hiện ở việc hoàn thành các Biểu mẫu của Cuộc thi chưa chuẩn xác về mặt nội dung cũng như thời gian thực hiện; cũng vì thế mà chất lượng nghiên cứu còn hạn chế

- Việc ghi chép các minh chứng và lí giải về quá trình nghiên cứu, bao gồm việc xác định vấn đề nghiên cứu, lựa chọn giải pháp giải quyết vấn đề và quá trình thực thi

Trang 3

giải pháp để giải quyết vấn đề còn hạn chế, thể hiện ở việc lúng túng khi phải trả lời các câu hỏi dạng "Tại sao lại làm thế này mà không làm thế kia?"

- Cách trình bày kết quả nghiên cứu của nhiều dự án còn rập khuôn, nặng về hình thức

Nhiều bản báo cáo dự án còn có cấu trúc như là một luận văn, luận án, trình bày dài dòng

về cơ sở lí luận nhưng không làm bật được vấn đề nghiên cứu và điểm mới, sáng tạo của đề tài Việc trình bày poster cũng như việc trả lời phỏng vấn của một số học sinh còn hạn chế, chưa sáng tạo, linh hoạt

3 Một số nguyên nhân của hạn chế

- Công tác tuyên truyền nâng cao nhận thức của học sinh, gia đình học sinh, nhà trường và xã hội còn hạn chế Việc triển khai hoạt động nghiên cứu khoa học của một

số địa phương mới ở mức độ phát động phong trào, còn thiếu kế hoạch triển khai và tổ chức các hoạt động cụ thể để lôi cuốn học sinh tham gia, qua đó phát hiện và bồi dưỡng những ý tưởng khoa học, những học sinh có có lòng say mê và khả năng nghiên cứu khoa học

- Năng lực và quy trình hướng dẫn học sinh nghiên cứu khoa học của một số nhà trường, giáo viên còn hạn chế, chưa tạo cơ hội để học sinh phát huy tính tích cực, tự lực và sáng tạo trong việc đề xuất và thực thi ý tưởng sáng tạo khoa học kĩ thuật, thể hiện ở việc chưa hướng dẫn học sinh xây dựng kế hoạch nghiên cứu để phê duyệt trước khi tiến hành nghiên cứu Một số giáo viên hướng dẫn chưa nắm được những quy định của Cuộc thi, kể cả Tiêu chí đánh giá dự án dự thi Trong quá trình hướng dẫn, giáo viên chưa yêu cầu học sinh thực hiện đầy đủ các yêu cầu về hồ sơ dự thi, thể hiện qua việc hoàn thành và nộp các Biểu mẫu một cách chính xác và đúng hạn Một

số dự án còn nặng “bóng dáng” của người hướng dẫn từ ý tưởng đến việc trình bày kết quả nghiên cứu

- Khả năng tìm tòi và tham khảo các tài liệu khoa học chuyên ngành của cả giáo viên và học sinh còn hạn chế, nhất là việc tìm và nghiên cứu các tài liệu bằng tiếng Anh trên mạng, dẫn tới có những dự án được thực hiện có thể trùng lặp hoặc đã lạc hậu so với những nghiên cứu đã được công bố ở nước ngoài

- Điều kiện về cơ sở vật chất, thiết bị dạy học, phòng thí nghiệm phục vụ cho hoạt động nghiên cứu khoa học của học sinh trong các trường phổ thông còn thiếu thốn, chưa đồng bộ

- Sự gắn kết giữa trường phổ thông với các trường cao đẳng, đại học, viện nghiên cứu, các tổ chức khoa học công nghệ (sở khoa học và công nghệ; Liên hiệp các hội khoa học-kỹ thuật, các doanh nghiệp khoa học công nghệ; các trung tâm nghiên cứu, thực nghiệm khoa học - kỹ thuật; ) trong quá trình tổ chức cho học sinh nghiên cứu còn chưa chặt chẽ và thường xuyên Các trường phổ thông chưa tranh thủ được nhiều nguồn lực của các trường đại học, việc nghiên cứu, các cơ sở khoa học công nghệ về

Trang 4

người hướng dẫn, các nhà khoa học chuyên ngành, cơ sở vật chất, thiết bị, phòng thí nghiệm, kinh phí cho hoạt động nghiên cứu khoa học của học sinh

- Cơ chế, chính sách dành cho hoạt động nghiên cứu khoa học của học sinh như kinh phí, chế độ đãi ngộ cho giáo viên làm công tác hướng dẫn học sinh nghiên cứu khoa học còn chưa đầy đủ và đồng bộ, chưa tạo được động lực bên trong cho cả giáo viên và học sinh trong hoạt động nghiên cứu khoa học kĩ thuật

PHẦN II: HƯỚNG DẪN HỌC SINH NCKH (Trong phạm vi cuộc thi KH-KT của học sinh phổ thông)

1 Xác định nhóm nghiên cứu:

- Một đề tài có thể do 1 đến 2 học sinh nghiên cứu

- Nhóm nghiên cứu phải hội tụ:

+ Thường là học sinh lớp 9 hoặc 11, 12 với học lực từ loại khá trở lên

+ Có năng lực tìm tòi, khám phá, sáng tạo và thích NCKH

+ Có những hiểu biết cơ bản về lĩnh vực nghiên cứu

2 Hướng dẫn học sinh xác định vấn đề nghiên cứu:

- Đặt và trả lời các câu hỏi: Tại sao? Như thế nào? Phải làm gì? Làm như thế nào? Nghiên cứu vấn đề sẽ đáp ứng mục tiêu gì?

- Hình thành vấn đề nghiên cứu một cách sáng tỏ, mạch lạch và có hướng giải quyết

3 Đặt tên đề tài:

- Tên đề tài phải sáng rõ, cô đọng, không quá dài

- Tên đề tài phải hàm chứa mục tiêu, nội dung và hướng nghiên cứu

- Tránh đặt tên đề tài như: Mang nhiều nghĩa, thử bàn, bước đầu nghiên cứu, một vài vấn đề, phát huy hơn nữa…

4 Xây dựng thuyết minh đề cương nghiên cứu:

PHẦN MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài:

- Lý do về pháp lý

- Lý do về lý luận

- Lý do về thực tiễn

- Nêu tầm quan trọng và tính cấp thiết khi nghiên cứu đề tài

2 Mục tiêu nghiên cứu:

- Mục tiêu nghiên cứu là cái đích cần giải quyết của đề tài (phân biệt với mục đích)

- Mục tiêu của đề tài phải ngắn gọn, rõ ràng

Trang 5

- Mục tiêu của đề tài phải mang tính khả thi và có giới hạn nhất định theo quy

mô của đề tài

3 Nội dung nghiên cứu:

- Nội dung nghiên cứu là đặt là nhiệm vụ nghiên cứu những vấn đề gì trong phạm

vi của đề tài

- Nội dung nghiên cứu phải bám sát mục tiêu nghiên cứu vì vậy đòi hỏi phải ngắn gọn, rõ ràng và mang tính khả thi

- Xác định nội dung nghiên cứu đúng sẽ định hướng cho việc hình thành các chương trong phần nội dung

4 Giả thuyết nghiên cứu:

- Là đặt ra giả định đề tài nghiên cứu thành công sẽ giải quyết được vấn đề theo

dự kiến khoa học

- Xác định giả thuyết phải bám sát mục tiêu và nội dung nghiên cứu

5 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

- Đối tượng nghiên cứu và sự vật, hiện tượng, hoạt động… mà nhóm nghiên cứu trực tiếp khám phá, phân tích, đánh giá và kết luận

- Phạm vi nghiên cứu là giới hạn về không gian, thời gian, đối tượng nghiên cứu theo quy mô của đề tài

6 Phương pháp nghiên cứu:

- Phương pháp nghiên cứu là hệ thống cách thức, phương tiện tiếp cận giải quyết vấn đề nhằm đáp ứng mục tiêu và nội dung nghiên cứu

- Mỗi đề tài có hệ thống phương pháp nghiên cứu khác nhau

7 Kế hoạch nghiên cứu:

- Kế hoạch nghiên cứu là toàn bộ lộ trình từ khi bắt đầu đến khi hoàn thiện việc triển khai nghiên cứu một đề tài

- Kế hoạch nghiên cứu phải liệt kế toàn bộ công việc của quá trình nghiên cứu Trong đó thể hiện rõ: Nội dung công việc; yêu cầu cần đạt; ai làm; thời gian bắt đầu và kết thúc; dự kiến kinh phí (nếu có) và rủi ro

PHẦN NỘI DUNG Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu và cơ sở lý luận của đề tài

1.1 Tổng quan về tình hình nghiên cứu:

- Điểm qua những công trình nghiêu cứu của các tác giả đi trước liên quan đến đề tài nhằm:

+ Họ đã nghiên cứu đến đâu?

+ Thành tựu nghiên cứu của họ là gì?

+ Công trình nghiên cứu của họ đã gợi mở cho nhóm nghiên cứu vấn đề gi?

- Điểm qua những chương trình, những hoạt động của các tổ chức liên quan đến

đề tài nhằm:

Trang 6

+ Họ đã làm gì? Làm đến đâu?

+ Kết quả của các chương trình, hoạt động đó có tạo điểm tựa về mặt thực tiễn cho đề tài không?

1.2 Cơ sở lý luận của đề tài (nội dung 1): Các khái niệm, định nghĩa, quan

niệm liên quan đến đề tài

Chương 2: Luận điểm 1 (nội dung 2)

Chương 3: Luận điểm 2 (nội dung 3)

Chương 4: Luận điểm 3 (nội dung 4)

PHẦN KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ

1 Kết luận

2 Kiến nghị

PHẦN PHỤ LỤC

5 Hướng dẫn học sinh triển khai nghiên cứu

6 Hướng dẫn học sinh thiết kế poster

7 Hướng dẫn học sinh thuyết trình

Trang 7

PHƯƠNG PHÁP LUẬN NGHIÊN CỨU KHOA HỌC

1 Khoa học là gì?

Khoa học được hiều là “ hệ thống những tri thức về mọi lọai qui luật của vật chất

và sự vận động của vật chất, những qui luật của tự nhiên, xã hội, tư duy”

Khoa học còn được hiểu là một họat động xã hội nhằm tìm tòi, phát hiện quy luật của sự vật và hiện tượng các qui luật ấy để sáng tạo ra nguyên lý các giải pháp tác động vào các sự vật hoặc hiện tượng, nhằm biến đổi trạng thái

Ngoài ra, theo quan điểm triết học Mác, khoa học được hiểu là một hình thái ý thức xã hội Với tư cách là một hình thái ý thức xã hội, khoa học tồn tại mang tính độc lập tương đối với các hình thái ý thức xã hội khác : Khoa học phân biệt với các hình thái ý thức xã hội khác ở đối tượng và hình thức phản ánh và mang một chức năng xã hội riêng biệt Đây là một nhận thức có ý nghĩa quan trọng về phương pháp luận nghiên cứu khoa học, trong việc xử lý mối quan hệ phức tạp giữa khoa học với các hình thái ý thức xã hội khác nhau

Điều cần lưu ý đối với người nghiên cứu và người quản lý nghiên cứu là , mỗi phát hiện mới về quy luật, hoặc sáng tạo mới thường phải chấp nhận sự va chạm với các định kiến xã hội, thậm chí là những đụng độ gay gắt, nếu như sự phát hiện hoặc sáng tạo đó khác biệt với một lề thói của cộng đồng, một tập tục dân tộc, một tín điều tôn giáo, những cái đã bén rễ sâu xa trong đời sống xã hội

2 Nghiên cứu khoa học là gì?

Nghiên cứu khoa học nói cho cùng là nhằm thỏa mãn về nhu cầu nhận thức và cải tạo thế giới:

- Khám phá những thuộc tính bản chất của sự vật hoặc hiện tượng (sau đây gọi chung là sự vật )

- Phát hiện quy luật vận động của sự vật

- Vận dụng quy luật để sáng tạo giải pháp tác động vào sự vật

3 Chức năng cơ bản của nghiên cứu khoa học

Nghiên cứu khoa học nhằm vào hai mục đích cơ bản: Nhận thức thế giới và cải tạo thế giới Hai mục đích đó được thực hiện thông qua những chức năng cụ thể như sau :

+ Mô tả

Mô tả một sự vật là sự trình bày bằng ngôn ngữ hình ảnh chung nhất của sự vật, cấu trúc, trang thái, sự vận động của sự vật

Nhờ nghiên cứu khoa học mà sự vật được mô tả một cách chân xác, phù hợp qui luật vận động như nó tồn tại Mục đích của mô tả là đưa ra một hệ thống tri thức về sự vật, giúp cho con người một công cụ nhận dạng thế giới, phân biệt được sự khác biệt

về bản chất giữa một sự vật này với một sự vật khác

Sự mô tả bao gồm mô tả định tính và mô tả định lượng

Trang 8

Mô tả định tính nhằm chỉ rõ các đặc trưng về chất của sự vật Ví dụ, Trái đất và Kim tinh quay xung quanh Mặt trời theo một quĩ đạo bầu dục “ Quay theo quĩ đạo bầu dục” là một đặc trưng về chất của cả hai hành tinh Trái đất và Kim tinh

Mô tả định lượng nhằm chỉ rõ các đặc trưng về lượng của sự vật Trong ví dụ trên, người ta biết được một trong những đặc trưng về lượng là chu kỳ quay của Trái đất xung quanh Mặt trời là 365,24 ngày đêm; còn chu kỳ quay của Kim tinh xung quanh Mặt trời là 224,7 ngày đêm

+ Giải thích

Giải thích một sự vật là sự làm rõ nguyên nhân dẫn đến sự hình thành và qui luật chi phối quá trình vận động của sự vật

Mục đích của giải thích là đưa ra những thông tin về thuộc tính bản chất của sự vật để có thể nhận dạng không chỉ những biểu hiện bên ngoài, mà còn cả những thuộc tính bên trong của sự vật

Nội dung của giải thích có thể bao gồm giải thích nguồn gốc, giải thích quan hệ giữa các yếu tố cấu thành sự vật, giải thích tác nhân gây ra sự vận động của sự vật, giải thích mối liên hệ giữa các quá trình bên trong và các yếu tố bên ngoài sự vẫt, giải thích hậu quả của các tác động vào sự vật và giải thích qui luật chung chi phối quá trình vận động của sự vật

Thực hiện chức năng giải thích, khoa học đã nâng tầm từ chức năng mô tả giản đơn các sự vật tới chức năng phát hiện qui luật vận động của sự vật, trở thành công cụ nhận thức các qui luật bản chất của thế giới

+ Tiên đoán

Tiên đóan một sự vật là sự nhìn trước quá trình hình thành, sự tiêu vong, sự vận động và những biểu hiện của sự vật trong tương lai

Chính nhờ thực hiện hai chức năng mô tả và giải thích mà con người có khả năng ngọai suy, nhìn trước xu thế vận động và quá trình hình thành và phát triển của sự vật Với những công cụ về phương pháp luận nghiên cứu, người nghiên cứu thực hiện các tiên đóan thường khi với độ chuẩn xác bất ngờ về các hiện tượng tự nhiên và xã hội, chẳng hạn, tiên đóan các hiện tượng kinh tế, thậm chí, tiên đóan các biến cố xã hội

và chính trị vv…

Tuy nhiên điều đáng lưu ý trong nghiên cứu khoa học là mọi phép ngọai suy đêu phải chấp nhận những độ sai lệch nhất định

Phương pháp luận biện chứng duy vật Mác-xít không cho phép người nghiên cứu được tự thỏa mãn với những tiên đóan hoặc lạm dụng các tiên đóan, dù là những tiên đóan đầy luận cứ của những nhà khoa học có uy tín lớn, để phủ định những kết luận khoa học đã được kiểm chứng trong đời sống thực tế Điều này là một kết luận mang tính phương pháp luận cho mọi lĩnh vực nghiên cứu, bất kể là khoa học tự nhiên, khoa học kĩ thuật khoa học xã hội hoặc nhân văn

Trang 9

+ Sáng tạo

Sáng tạo là sự làm ra một sự vật mới chưa từng tồn tại

Lịch sử phát triển khoa học đã chứng tỏ, khoa học không bao giờ dừng lại ở chức năng mô tả, giải thích và tiên đóan Sứ mệnh có ý nghĩa lớn lao của khoa học

là sáng tạo các giải pháp cải tạo thế giới.

4 Tri thức khoa học

+ Tri thức thường nghiệm

Tri thức thường nghiệm là những hiểu biết được tích lũy từ kinh nghiệm sống thường ngày Thiếu những tri thức này, con người sẽ hoàn toàn bỡ ngỡ trước các biến động, không biết phản ứng trước những sự vật xung quanh

+ Tri thức khoa học

Tri thức khoa học là những hiểu biết được tích lũy từ quá trình nghiên cứu khoa học Tri thức khoa học được biểu hiện dưới dạng các khái niệm, phạm trù, tiền đề, qui luật, định luật, định lý, lý thuyết, học thuyết vv…

Trong một tọa đàm về kinh nghiệm nghiên cứu khoa học trong cải cách kinh tế, tác giả Việt Phương đã có sự so sánh thú vị giữa tri thức thường nghiệm với tri thức khoa học Việt Phương xem tri thức khoa học là những chủ kiến có giá trị, nó không miên man dàn trải, mặt nào, vấn đề gì cũng có một tí ý kiến, kiểu ý kiến để “ nói chuyện nổi bật ở thính phòng” Tác giả gọi đó là những hiểu biết phổ thông ( tức tri thức thường nghiệm), không chuyên môn ( tức tri thức khoa học ), có thể hấp dẩn ở các cuộc nói chuyện tài tử, không phải là kiến thức khoa học chuyên sâu, càng không phải là sự sáng tạo

5 Các đặc điểm của nghiên cứu khoa học

+ Tính mới

Nghiên cứu khoa học là quá trình thâm nhập vào thế giới của những sự vật mà con người chưa biết Vì vậy quá trình nghiên cứu khoa học luôn là quá trình hướng tới những phát hiện mới hoặc sáng tạo mới Trong nghiên cứu khoa học không có sự lặp

lại như cũ những phát hiện hoặc sáng tạo Vì vậy, tính mới là thuộc tính quan trọng

số một của lao động khoa học.

+ Tính tin cậy

Một kết quả nghiên cứu đạt được nhờ một phương pháp nào đó phải có khả năng kiểm chứng lại nhiều lần do nhiều người khác nhau thực hiện trong những điều kiện quan sát hoặc thí nghiệm hoàn toàn giống nhau và với những kết quả thu được hoàn toàn giống nhau

Điều này dẫn đến một nguyên tắc mang tính phương pháp luận của nghiên cứu khoa học, là khi trình bày một kết quả nghiên cứu, người nghiên cứu cần chỉ rõ những điều kiện, các nhân tố và phương tiện thực hiện ( nếu có )

+ Tính thông tin

Trang 10

Sản phẩm của nghiên cứu khoa học được thể hiện dưới nhiều dạng, có thể đó là một báo cáo khoa học, tác phẩm khoa học, song cũng có thể là một mẫu vật liệu mới, mẫu sản phẩm mới, mô hình thí điểm về một phương thức tổ chức sản xuất mới vv…Tuy nhiên, trong tất cả các trường hợp này, sản phẩm khoa học luôn mang đặc trưng thông tin

Đó là những thông tin về qui luật vận động của sự vật hoặc hiện tượng, thông tin

về qui trình công nghệ và các tham số đi kèm qui trình đó

+ Tính khách quan

Tính khách quan vừa là một đặc điểm của nghiên cứu khoa học, vừa là một tiêu chuẩn của người nghiên cứu khoa học

Để đảm bảo tính khách quan, người nghiên cứu cần luôn phải lật đi lật lại những kết luận tưởng đã hoàn toàn được xác nhận Bộ câu hỏi để tự trắc nghiệm có thể như chỉ trong Bảng 1

Bảng 1: Câu hỏi tự trắc nghiệm của người nghiên cứu:

1 Kết luận có đúng không Có Không

( 1.1 ) Nếu “ không” thì kiểm tra tiếp theo Câu hỏi 2

( 1.2 ) Nếu “ có” thì kiểm tra tiếp theo Câu hỏi 3

2 Có còn cách nào khác để đạt kết quả Có Không

( 2.1) Nếu “ không” thì bác bỏ giả thuyết và chấm dứt nghiên cứu

( 2.2) Nếu “ có” thì kiểm tra tiếp theo Câu hỏi 3

3 Có đề ra được giải pháp kiểm chứng giả thuyết Có Không

( 3.1 ) Nếu “có” thì tiến hành nghiên cứu bổ sung và kiểm tra theo Câu hỏi 1 ( 3.2 ) Nếu “ không” thì chấm dứt quá trình tự trắc nghiệm

+ Tính rủi ro:

Tính hướng mới của nghiên cứu khoa học qui định một thuộc tính quan trọng khác của nghiên cứu khoa học Đó là tính rủi ro ( risque ) Một nghiên cứu có thể thành công, có thể thất bại Sự thất bại trong nghiên cứu khoa học có thể do nhiều nguyên nhân với các mức độ khác nhau :

- Do thiếu những thông tin cần thiết và đủ tin cậy để xử lý những vấn đề được đặt

ra trong nghiên cứu

- Do trình độ kĩ thuật của thiết bị thí nghiệm không đủ đáp ứng nhu cầu kiểm chứng giả thuyết

- Do khả năng thực hiện của người nghiên cứu chưa đủ tầm xử lý vấn đề

- Do giả thuyết nghiên cứu đặt sai

- Do những tác nhân bất khả kháng vv…

Tuy nhiên, trong khoa học, thất bại cũng được xem là một kết quả

+ Tính kế thừa

Ngày đăng: 02/04/2021, 08:35

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w