Nó có khả năng ám gợi một điều kinh rợn sẽ được nói rõ ra trong khổ thơ sau : áo choàng bê bết đỏ tức là tấm áo choàng đẫm máu của Lor-ca, của bao con người vốn chỉ biết hát nghêu nga[r]
Trang 1«n V¨n 12 –P1( Nhng bµi v¨n chän läc )
Đất của tâm hồn
“Khi ta ở đất là nơi đất ở
Khi ta đi đất bỗng hóa tâm hồn”
Có thể đất chỉ là vật chất bình thường vô tri vô giác nhưng khi đi xa “đất bỗng hóa tâm hồn”, thật cao cả thật đáng quý biết bao! Phải chăng đó là tâm hồn của ta (Người đi) đối với đất hay đất ở đây đã được gắn một tâm hồn người, một tính cách người đối với những ai đã từng hoài vọng cố hương khi phải sống nơi đất khách quê người thì nỗi nhớ mong còn vành vạnh hơn với đất quê ta - Nơi ta cất tiếng chào đời
từ cái ngày xa xưa ấy khi bà mụ (bà bảo mẫu) đem cái nhau máu mũ ấy chôn vào lòng đất, bình thường đó là sự tan biến hư vô theo quy luật tự nhiên nhưng với mỗi con người Việt Nam đã có một kỷ niệm đầu đời hòa vào lòng đất để trở thành lời nhắc nhớ đầu tiên, gọi là “ nơi chôn nhau cắt rốn” Tuổi đời mênh mông dòng đời vô tận những cánh chim non rồi cũng trưởng thành rời tổ, trên những chuyến tàu thời gian quằn nặng những lo toan trăn trở giữa đời thường vì cuộc sống, miếng cơm manh áo Những ai ít có được diễm phúc trở lại quê hương có nghe dòng hồi ức chảy ngược về nơi những con đường đầy hoa cỏ dại về mùa mưa lụt đầy bùn lầy lội và cũng không ít những ổ gà, ổ voi lởm chởm khi mùa nắng tới Nơi ấy các em thơ ngày hai buổi vẫn đi về và biết nuôi hy vọng cũng như bao lớp đàn anh đi trước và nơi ấy
mẹ cha ta vẫn đi, về tay cuốc vai cày một nắng hai sương mà gởi gắm cho tương lai con trẻ nơi những miền xa qua những buổi chiều tà đã xong công việc ra cửa nhìn vềphía cuối dòng sông chảy mong có ánh ráng hồng báo hiệu một ngày mai nắng đẹp Thật nhiều lo toan và cũng thật nhiều hạnh phúc khi con người biết lao động và biết
hy vọng và có những dòng hồi tưởng đẹp để không hổ thẹn với chính bản thân mình cho dù trong đó có những buồn vui lẫn lộn Chính vì vậy những lúc thả hồn mình trở lại với đất quê hương bằng dòng ký ức mới thẩm thấu hết cái giá trị đích thực của những gì còn đọng lại trong tâm mình
Thực tại sự tác động của cơ chế thị trường đã làm thay da đổi thịt; mỗi mảnh đất, con đường nhỏ đều được quy đổi gia trị kinh tế Đất quê hương bây giờ không còn như trong ký ức ngày xưa mà thay vào đó là những con đường mở rộng nối xã liền
xã thôn liền thôn bằng bê tông rắn chắc, chỉ có dòng sông như mãi miết lặng lẽ xuôi dòng chở theo bao giá trị của đất và cát Nhưng sông cũng ngày càng quặn mình đổihướng vì chính bàn tay con người Nước xoáy mạnh vào bờ kết hợp với những làn sóng tạo ra từ những chiếc thuyền máy tấp nập đi về và cứ thế những biền dâu xanhngắt một màu, những lũy tre xanh nghiêng mình roi bóng nước, những hình ảnh đẹp
và nên thơ như thế hôm nay hầu như chỉ còn trong ký ức Bây giờ là vực sâu đầy nguy hiễm từng gây ra những cái chết thương tâm Đất với những con người xuất thân từ đất, quả đúng là một phần hồn của đất trong cuộc sống hôm nay Điều giản đơn mà cũng thật là sâu sắc tất cả những gì cuộc sống này có được đều diễn ra trên mặt đất và từ trong lòng đất Đặc biệt là đất quê hương nơi những đôi tình nhân hẹn
hò tình tự, nới ấy em đã đi về sau mỗi giờ tan lớp ai đón đưa
Con đường đất tuy đơn sơ nhưng cũng là con đường để những trái tim đến với trái
Trang 2tim khi họ biết cùng nhau vượt qua những rào cản của một quan niệm hay nói đúng hơn là một cách nghĩ không còn hợp thời Chính vì thế mà trên con đường đất quê hương chứng kiến không ít những cuộc chia ly đầy nước mắt của những trái tim non trẻ, song cũng nhiều đôi trở thành những đôi uyên ương thật là hạnh phúc Biết ai còn nhớ hay ai đã quên ! Âm vọng quê hương nghe thật nhiều xúc cảm mãi mãi vẫntươi xanh một màu nhớ thương, một thời nông nổi một vùng ký ức tuổi thơ gắn liền với đất quê hương Đất của tâm hồn./.
Cảm nhận về bài thơ "Đàn ghita của Lor-ca"
(Thanh Thảo)
Đàn ghi ta của Lor-ca của Thanh Thảo - một sự cộng hưởng của những khát vọng sáng tạo, một khả năng nhập cảm sâu sắc vào thế giới nghệ thuật thơ Lor-ca, một suy nghiệm thâm trầm về nỗi đau và niềm hạnh phúc của những cuộc đời đã dâng hiến trọn vẹn cho cái đẹp
Trong nửa đầu bài thơ, một không gian Tây Ban Nha đặc thù, nhất là không gian miền quê An-đa-lu-xi-a yêu dấu của Lor-ca đã được gợi lên Giữa không gian đó, nổi bật hình tượng người nghệ sĩ lãng du có tâm hồn phóng khoáng, tha thiết yêu người, yêu đời, nhưng nghịch lí thay, lại không ngừng đi theo một tiếng gọi huyền bí nào đóhướng về miền đơn độc :
những tiếng đàn bọt nước
Tây Ban Nha áo choàng đỏ gắt
li-la li-la li-la
đi lang thang về miền đơn độc
với vầng trăng chếnh choáng
trên yên ngựa mỏi mòn
tiếng ghi ta nâu
bầu trời cô gái ấy
tiếng ghi ta lá xanh biết mấy
tiếng ghi ta tròn bọt nước vỡ tan
Tại sao tác giả lại có thể gợi lên được những điều ấy ? - Trước hết là nhờ "đàn ghi ta của Lor-ca" Tất nhiên, ở đây ta không nói tới một cây đàn cụ thể, dù vẫn biết Lor-ca
là nghệ sĩ trình tấu rất xuất sắc ghi ta và dương cầm Đàn ghi ta ở đây chính là thơ Lor-ca, là bản mệnh của Lor-ca Đọc thơ Lor-ca, ta thường bắt gặp hình tượng một chàng kị sĩ đi mải miết, vô định dưới vầng trăng khi đỏ, khi đen, khi rạng ngời, khi u tối, khi nồng nàn, khi buốt lạnh, Ta cũng thường được ngập mình trong phong vị, hương sắc riêng không thể nào quên được của miền quê Gra-na-đa thuộc xứ An-đa-lu-xi-a, nơi ngày xưa từng được xem là "một trong những vương quốc đẹp nhất của châu Phi" do người ả-rập dựng nên ở đó có những chàng hiệp sĩ đấu bò tót khoác trên mình tấm áo choàng đỏ, có những cô gái Di-gan nước da nâu gợi tình tràn trề sức sống, có những vườn cam, những rặng ô-liu xanh một màu xanh huyền hoặc Đặc biệt, ở đó luôn vang vọng tiếng đàn ghi ta - âm thanh nức nở, thở than làm vỡ toang cốc rượu bình minh, tựa tiếng hát của một con tim bị tử thương bởi năm đầu kiếm sắc, không gì có thể bắt nó im tiếng (ý thơ trong bài Đàn ghi ta)
Trang 3Thanh Thảo quả đã nhập thần vào thế giới thơ Lor-ca để lẩy ra và đưa vào bài thơ của mình những biểu tượng ám ảnh bồn chồn vốn của chính thi hào Tây Ban Nha Nhưng vấn đề không đơn giản chỉ là sự "trích dẫn" Tất cả những biểu tượng kia đã được tổ chức lại xung quanh biểu tượng trung tâm là cây đàn, mà xét theo "nguồn gốc", vốn cũng là một biểu tượng đặc biệt trong thơ Lor-ca - người mê dân ca,
"chàng hát rong thời trung cổ", "con sơn ca xứ An-đa-lu-xi-a" Cây đàn từ chỗ mang hàm nghĩa nói về một định hướng sáng tạo gắn thơ với dòng nhạc dân gian, rộng ra, nói về một tình yêu vô bờ và khắc khoải đối với quê hương, đến Thanh Thảo, nó đã nhập một với hình tượng Lor-ca, hay nói cách khác, nó đã trở thành hình tượng
"song trùng" với hình tượng Lor-ca Cây đàn cất lên tiếng lòng của Lor-ca trước cuộc sống, trước thời đại Nó là tinh thần thơ Lor-ca, là linh hồn, và cao hơn cả là số phận của nhà thơ vĩ đại này Bởi thế, trên những văn bản thơ trước đây của Lor-ca là một văn bản mới của nhà thơ Việt Nam muốn làm sống dậy hình tượng người con của một đất nước, một dân tộc yêu nghệ thuật, ưa chuộng cuộc sống tự do, phóng khoáng Hơn thế nữa, tác giả muốn hợp nhất vào đây một "văn bản" khác của đời sống chính trị Tây Ban Nha mùa thu 1936 - cái "văn bản" đã kể với chúng ta về sự bạo ngược của bọn phát xít khi chúng bắt đầu ra tay tàn phá nền văn minh nhân loại
và nhẫn tâm cắt đứt cuộc đời đang ở độ thanh xuân của nhà thơ được cả châu Âu yêu quý :
Tây Ban Nha
hát nghêu ngao
bỗng kinh hoàng
áo choàng bê bết đỏ
Lor-ca bị điệu về bãi bắn
chàng đi như người mộng du
Những hình ảnh, biểu tượng vốn có trong thơ Lor-ca được làm mới để chuyên chở những cảm nhận về chính thơ Lor-ca và về thân phận các nhà thơ trong thời hoành hành của bạo lực Câu thơ những tiếng đàn bọt nước ở đầu bài nếu được nối kết với các câu thơ khác là tiếng ghi ta tròn bọt nước vỡ tan và tiếng ghi ta ròng ròng - máu chảy, sẽ bộc lộ một tiềm năng ý nghĩa lớn hơn nhiều so với ý nghĩa dễ nhận thấy gắnliền với việc diễn tả âm thanh tuôn trào, sôi động của tiếng đàn
Tiếng đàn giống như tiếng kêu cứu của con người, của cái đẹp trong thời khắc bị đẩy tới chỗ tuyệt diệt Không có gì khó hiểu khi dưới ngòi bút Thanh Thảo, tiếng đàn cũng có màu (nâu, xanh), có hình thù (tròn), có sinh mệnh (ròng ròng máu chảy), bởi tiếng đàn ở đây chính là sự cảm nhận của nhà thơ nay về tiếng đàn xưa Theo
đó, tiếng đàn không còn là tiếng đàn cụ thể nữa, nó là sự sống muôn màu hiện hình trong thơ Lor-ca và là sinh quyển văn hoá, sinh quyển chính trị - xã hội bao quanh cuộc đời, sự nghiệp Lor-ca Rồi màu đỏ gắt của tấm áo choàng, không nghi ngờ gì, là
Trang 4sáng tạo của Thanh Thảo Nó không đơn thuần là màu của một trang phục Nó có khả năng ám gợi một điều kinh rợn sẽ được nói rõ ra trong khổ thơ sau : áo choàng
bê bết đỏ tức là tấm áo choàng đẫm máu của Lor-ca, của bao con người vốn chỉ biết hát nghêu ngao niềm yêu cuộc đời với trái tim hồn nhiên, ngây thơ, trong trắng, khi
bị điệu về bãi bắn một cách tàn nhẫn, phũ phàng, phi lí (câu thơ chàng đi như người mộng du có phần thể hiện sự phi lí không thể nào nhận thức nổi này)
Cùng một cách nhìn như thế, độc giả sẽ thấy những thi liệu của thơ Lor-ca (mà truy nguyên, một phần không nhỏ vốn là thi liệu của những bài dân ca An-đa-lu-xi-a) nhưhình ảnh người kị sĩ đi lang thang, yên ngựa, vầng trăng đã thực sự được tái sinh lần nữa trong một hình hài mới và gây được những ấn tượng mới Các từ miền đơn độc, chếnh choáng, mỏi mòn gắn với chúng đã tạo ra một trường nghĩa chỉ sự mệt mỏi, bất lực, bồn chồn, thắc thỏm không yên của con người khi đối diện thực sự với cái bản chất phong phú vô tận của cuộc sống Với kiểu tạo điểm nhấn ngôn từ của Thanh Thảo, ta hiểu rằng cảm giác đó không chỉ có ở Lor-ca Nó là một hiện tượng cótính phổ quát, không của riêng ai, không của riêng thời nào, tất nhiên, chỉ được biểu hiện đậm nét và thực sự trở thành "vấn đề" trong thơ của những nhà thơ luôn thắc mắc về ý nghĩa của tồn tại Gồm một chuỗi âm thanh mơ hồ khó giải thích, dòng thơ li-la li-la li-la xuất hiện hai lần trong thi phẩm một mặt có tác dụng làm nhoè đường viền ý nghĩa của từng hình ảnh, biểu tượng đã được ném ra chừng như lộn xộn, mặt khác, đảm nhiệm một phần chức năng liên kết chúng lại thành một chỉnh thể, nhằm biểu hiện tốt nhất cái nhìn nghệ thuật của tác giả và giải phóng bài thơ khỏi sự trói buộc của việc thuật, kể những chuyện đã xảy ra trong thực tế Quả vậy, dù không có
sự kiện nào của cuộc đời Lor-ca được kể lại một cách rành mạch, chi tiết, nhưng độc giả hiểu thơ không vì thế mà cho rằng thiếu Cái người ta thấy đáng quan tâm lúc này nằm ở chỗ khác Đó là sự tự bộc lộ của chủ thể sáng tạo khi ráo riết suy nghĩ về
số phận đầy bất trắc của nghệ thuật và khả năng làm tan hoà những suy nghĩ ấy trong một thứ nhạc thơ tác động vào người tiếp nhận bằng hình thức ám gợi tượng trưng hơn là hình thức giãi bày, kể lể kiểu lãng mạn
Tất nhiên, chúng ta có quyền cắt nghĩa tại sao lại li-la chứ không phải là cái gì khác Hoa li-la (tử đinh hương) với màu tím mê hoặc, nao lòng, từng là đối tượng thể hiện quen thuộc của nhiều thi phẩm và hoạ phẩm kiệt xuất trong văn học, nghệ thuật phương Tây chăng ? Hay đó là âm thanh lời đệm (phần nhiều mang tính sáng tạo độtxuất) của phần diễn tấu một ca khúc, hoặc nữa là âm thanh mô phỏng tiếng ngân
mê đắm của các nốt đàn ghi ta dưới tay người nghệ sĩ ? Tất cả những liên hệ ấy đều có cái lí của chúng !
ở nửa sau của bài thơ, tác giả suy tưởng về sức sống kì diệu của thơ Lor-ca nói riêng
và về sự trường tồn của nghệ thuật chân chính nói chung, vốn được sáng tạo bằng chính trái tim nặng trĩu tình yêu cuộc sống của các nghệ sĩ :
không ai chôn cất tiếng đàn
tiếng đàn như cỏ mọc hoang
giọt nước mắt vầng trăng
long lanh đáy giếng
đường chỉ tay đã đứt
dòng sông rộng vô cùng
Lor-ca bơi sang ngang
trên chiếc ghi ta màu bạc
chàng ném lá bùa cô gái Di-gan
vào xoáy nước
chàng ném trái tim mình
Trang 5vào lặng yên bất chợt
li-la li-la li-la
Câu thơ không ai chôn cất tiếng đàn có lẽ đã được bật ra trong tâm thức sáng tạo của Thanh Thảo khi ông nghĩ tới lời thỉnh cầu của Lor-ca trong bài Ghi nhớ - lời thỉnh cầu đã được dùng làm đề từ cho bài thơ Đàn ghi ta của Lor-ca Không, ở đây không có thao tác đối lập sắc lẻm của lí trí mà nhiều thi sĩ ưa dùng trong các bài thơ
"chân dung" hay "ai điệu", nhằm làm nổi bật những tứ thơ "mới" mang tính chất "ăn theo" Chỉ có sự đau đớn trước cái chết thảm khốc của một thi tài mãnh liệt, mà xác
bị quăng xuống một giếng sâu (hay vực ?) gần Gra-na-đa Dĩ nhiên, ý nguyện của Lor-ca - một ý nguyện thể hiện chất nghệ sĩ bẩm sinh hoàn hảo của nhà thơ, nói lên
sự gắn bó vô cùng sâu nặng của ông đối với nguồn mạch dân ca xứ sở - đã không được thực hiện Nhưng nghĩ về điều đó, những liên tưởng dồn tới và ta bỗng vỡ ra một chân lí : không ai chôn cất tiếng đàn và dù muốn chôn cũng không được ! Đây làtiếng đàn, một giá trị tinh thần, chứ không phải là một cây đàn vật thể Tiếng đàn ấytrường cửu cùng tự nhiên và hơn thế, bản thân nó chính là tự nhiên Nó vẫn không ngừng vươn lên, lan toả, ngay khi người nghệ sĩ sáng tạo ra nó đã chết Dù thật sự thấm thía chân lí nói trên, tác giả vẫn không ngăn nổi lòng mình khi viết ra những câu thơ đau xót hết mực, thấm đượm một cảm giác xa vắng, bơ vơ, côi cút, như cảmgiác của ta khi thấy cỏ mọc hoang đang ngao hát bài ca vắng người giữa mang mangthiên địa Không phải ngẫu nhiên mà trong ít nhất hai phương án ngôn từ có thể dùng, Thanh Thảo đã lựa chọn cách diễn đạt không ai chôn cất chứ không phải là không ai chôn được ! Đến lượt độc giả, giọt nước mắt vầng trăng cứ mãi làm ta thao thức, dù nó long lanh trong im lặng, và hình như càng im lặng trong thăm thẳm đáy giếng, nó lại càng long lanh hơn bao giờ hết
Từ câu đường chỉ tay đã đứt đến cuối bài, nhịp điệu, tiết tấu của thi phẩm không còn gấp gáp và dồn bức nữa Nó chậm rãi và lắng sâu Điều này tuân theo đúng lô gích tái hiện và suy ngẫm (tạm quy về phạm trù "nội dung") mà tác giả chọn lựa Nhưng quan trọng hơn, nó tuân theo lô gích tồn tại của chính cuộc đời : tiếp liền cái chết là
sự sinh thành, sau bộc phát, sôi trào là tĩnh lặng, trầm tư, nối theo sự mù loà, khủnghoảng (của xã hội loài người) là sự khôn ngoan, chín chắn, Trong muôn nghìn điều
mà con người phải nghĩ lại khi đã "khôn dần lên", sự hiện diện của nghệ thuật trong đời sống là một trong những điều khiến ta trăn trở nhiều nhất Việc quy tội, kết tội cho một đối tượng cụ thể nào đó đã đối xử thô bạo với nghệ thuật không còn là chuyện thiết yếu nữa Hãy lắng lòng để chiêm ngưỡng một sự siêu thoát, một sự hoáthân Trên dòng sông của cuộc đời, của thời gian vĩnh cửu mà trong khoảnh khắc bừng tỉnh thoát khỏi mê lầm, ta tưởng thấy nó hiện hình cụ thể và dăng chiếu ngangtrời, có bóng chàng nghệ sĩ Lor-ca đang bơi sang ngang trên chiếc ghi ta màu bạc Chàng đang vẫy chào nhân loại để đi vào cõi bất tử Chiếc ghi ta, cũng là con thuyềnthơ chở chàng, có ánh bạc biêng biếc, hư ảo một màu huyền thoại
Trên thực tế, cái chết của Lor-ca là cái chết tức tưởi do bọn phát xít Frăng-cô gây nên Nhưng nhìn suốt chiều dài lịch sử, ta thấy Lor-ca không phải là trường hợp nghệ
sĩ đầu tiên hay cuối cùng chịu kết cục bi thương bởi các thế lực thù địch với cái đẹp Vậy phải chăng có thể xem những khổ nạn liên tục là một phần tất yếu trong định mệnh của họ ? Hẳn Thanh Thảo đã nghĩ vậy khi viết tiếp những câu thơ thật gọn nghẽ, "nhẹ nhõm" và "mênh mang" (ta hãy chú ý tới điểm rơi cuối dòng thơ của các
từ, cụm từ như đã đứt, vô cùng, sang ngang) Dù ai tiếc thương mặc lòng, đối với người nghệ sĩ như Lor-ca, khi đường chỉ tay đã đứt (đường chỉ tay như dấu ấn của sốmệnh đóng lên cơ thể con người), chàng đã dứt khoát được giải thoát Còn nuối làm chi lá bùa hộ mệnh được xem là vật tàng trữ những sức mạnh thần diệu mà cô gái Di-gan trao cho Chàng, dứt khoát và mạnh mẽ, ném nó "chìm lỉm" (chữ của Hàn
Trang 6Mặc Tử) vào xoáy nước hư vô, như ném trái tim mình vào lặng yên bất chợt - cái lặng yên của sự "đốn ngộ", cái lặng yên sâu thẳm, anh minh, mà ở đó, lời nói đã tan
đi trong chính nó Chàng đã đoạt lấy thế chủ động trước cái chết của mình Chàng đãthắng không chỉ lũ ác nhân mà còn thắng cả chính định mệnh và hư vô nữa Từ điểmnày nhìn lại, ta bỗng thấy câu thơ chàng đi như người mộng du ở phần trên có thêm tầng nghĩa mới Bị lôi đến chỗ hành hình, Lor-ca vẫn sống như người trong cõi khác Chàng đang bận tâm đuổi theo những ý nghĩ xa vời Chàng đâu thèm chú ý tới máu lửa quanh mình lúc đó Chàng đã không chấp nhận sự tồn tại của bạo lực Chàng chết, nhưng kẻ bất lực lại chính là lũ giết người ! ở đây, có một cái gì gợi ta nhớ tới
sự tuẫn nạn của Chúa Giê-su trên núi Sọ Lại thêm một "văn bản" nữa ẩn hiện tỏ mờdưới văn bản thơ của Thanh Thảo[1] !
Trong đoạn thơ cuối bài vừa phân tích, người đọc càng nhìn thấy rõ hơn sự vững vàng của tác giả trong việc phối trí các hình ảnh, biểu tượng lấy từ nhiều "văn bản" khác nhau vào một tổng thể hài hoà Tưởng không có gì chung giữa đường chỉ tay, lábùa, xoáy nước và cả lặng yên nữa Vậy mà, nhờ được "tắm" trong một "dung môi" cảm xúc có cường độ mạnh cùng sự suy tư có chiều sâu triết học, tất cả chúng trở nên ăn ý với nhau lạ lùng để cùng cất tiếng khẳng định ý nghĩa của những cuộc đời dâng hiến hoàn toàn cho nghệ thuật, cũng là cho một nhu cầu tinh thần vĩnh cửu củaloài người Là sản phẩm tinh tuý của những cuộc đời như thế, thơ ca làm sao có thể chết ? Nó tồn tại như là hơi thở xao xuyến của đất trời Nó gieo niềm tin và hi vọng
Nó khơi dậy khát khao hướng về cái đẹp Nó thanh lọc tâm hồn để ta có được tâm thế sống an nhiên giữa cuộc đời không thôi xáo động, vĩnh viễn xáo động Muốn mô
tả nó ư ? Chỉ có thể, như Thanh Thảo, sau một thoáng mặc tưởng, bật thốt lên : li-la li-la li-la
Để lòng mình ngân theo chuỗi âm thanh ấy, ta hiểu rằng trong cuộc tương tranh không ngừng và hết sức thú vị giữa những cách diễn tả đặc hữu của văn học và cách diễn tả mang tính chất ám gợi huyền hồ của âm nhạc, cuối cùng, ở bài thơ của Thanh Thảo, cách diễn tả của âm nhạc đã chiếm ưu thế Điều này hiển nhiên là một
sự lựa chọn có ý thức Để nói về nỗi cô đơn, cái chết, sự lặng yên, "lời" vẫn thường gây vướng víu, gây nhiễu Chỉ có nhạc với khả năng thoát khỏi dấu ấn vật chất của
sự vật khi phản ánh nó, trong trường hợp này, là phương tiện thích hợp Tất nhiên, Thanh Thảo không phải đang làm nhạc mà là làm thơ Nói nhạc ở đây không có gì khác là nói tới cách thơ vận dụng phương thức của nhạc - cái phương thức ám thị, khước từ mô tả trực quan - để thấu nhập bề sâu, "bề xa" của sự vật Từ lâu, các nhà thơ tượng trưng chủ nghĩa đã hướng tới điều này Dù không nhất thiết phải quy Đàn ghi ta của Lor-ca vào loại hình thơ nào, ta vẫn thấy nó đậm nét tượng trưng Chẳng có gì lạ khi với bài thơ này, Thanh Thảo muốn thể hiện mối đồng cảm sâu sắc đối với Lor-ca - cây đàn thơ lạ lùng trong nền thi ca nhân loại ở nửa đầu của thế kỉ
XX đầy bi kịch
Rừng xà nu
- Nguyễn Trung
Trang 7Thành-I Tìm hiểu chung:
1, Tác giả:
- Tên khai sinh: Nguyễn Văn Báu; bút danh: Nguyên Ngọc
- Sinh 5/ 9/ 1932: quê Thăng Bình- Quảng Nam
- 1950: Ông ra nhập quân đội; 1954: tập kết ra Bắc; 1962 : trở vào Nam
- Ông là nhà văn quân đội, hai cuộc kháng chiến chống Pháp và Mĩ chủ yếu ở Tây Nguyên và liên khu 5 Ông gắn bó với con người và mảnh đất nơi này
- Các TP chính: “ Đất nước đứng lên”(1955); “Mạch nước ngầm”(1960); “ Rừng xà nu”(1965); “ Trên quê hương anh hùng Điện Ngọc”(1969)
2, Xuất xứ:
- Viết vào mùa hè năm 1965: Đế quốc Mĩ ồ ạt đổ quân vào Miền Nam nước ta
- TP được in lần đầu trong cuốn tạp chí “Văn nghệ quân giải phóng”( số 2- 1965)
- Năm 1965: được in lại trong tập truyện kí “Trên quê hương những anh hùng Điện Ngọc” của Nguyễn Trung Thành
3, Tóm tắt cốt truyện:
Có hai câu chuyện đan cài vào nhau
- Cuộc chiến đấu của dân làng XôMan
- Chuyện đời riêng của Tnú
4, Chủ đề:
- Thông qua câu chuyện về cuộc đời Tnú, TP ca ngợi sức sống, tinh thần đấu tranh quật cường của dân làng XôMan nói riêng và các dân tộc Tây Nguyên nói chung trong đấu tranh chống Mĩ xâm Lược
II Phân tích:
1, Truyện xây dựng hệ thống nhân vật thể hiện sự tiếp nối của các thế hệ CM làng XôMan cũng
là của đồng bào Tây Nguyên: Cụ Mết, Tnú, Dít, Mai, Heng
a, Nhân vật Mết:
- Là một giag làng, cao niên, quắc thước khoẻ mạnh
Chi tiết: + 60 tuổi, tiếng nói vang trong lồng ngực, giọng ồ ồ
+ Ngực căng như một cây xà nu lớn, mắt sáng xếch ngược, râu dài; hai bàn tay chắc nịch
- Là người trầm tính, kín đáo, uy nghi đĩnh đạc
Chi tiết:
+ các nhận xét của cụ được bày tỏ một cách thận trọng có mức độ Trước khi đánh giá bao giờ
cụ cũngquan sát kĩ đối tượng, nhìn từ đầu đến chẩnồi mới nhận xét Những khi vừa ý nhất cụ cũng chỉ nói “Được”
+ Phong thái uy nghi, tiếng nói trầm trầm Mỗi khi cụ nói thì tất cả im lặng lắng nghe, trẻ con nhìn chăm chú như nuốt lấy từng lời
Trang 8- Là người giàu lòng yêu thương với dân làng, quê hương:
Chi tiết:
+ Nhường muối cho người đau
+ Giữ Tnú ở nhà mình và đãi Tnú những món ăn ngon của làng quê
+ Cụ tự hào về làng quê “ Gạo strá ”
+ Cụ có ý thức truyền lại cho con cháu nhớ câu chuyện của Tnú hay truyền thống đấu tranh của dân làng XôMan
- Cụ tin tưởng ở CM:
+ Tổ chức nuôi dấu cán bộ trong 5 năm không có một người cán bộ nào bị bắt
+ Cụ dạy cho dân làng XôMan “Cán bộ là Đảng, Đảng còn, núi nước này còn”
=> KL: cụ Mết là tập hợp tiêu biểu cho truyền thống lịch sử cha ông, là gạch nối giữa Đảng, CM
và dân XôMan Cụ chính là cây Xànu lớn nhất của rừng Xànu
+ Lúc nhỏ Tnú vào rừng cùng Mai để tiếp tế cho cán bộ
+ Đi đưa thư
+ học chữ chậm-> lấy đá đập đầu
+ Bị bắt, bị tra tấn-> nhưng Tnú cắn răng chịu đựng
+ Sau khi thoát khỏi tù ngục-> Tnú vẫn tiếp tục con đường CM
- Là người giàu ý chí, nghị lực, biết vượt lên bi kịch của cá nhân để sống đúng, sống đẹp sống có
ý chí
+ Bi kịch: * Mồ côi
• Vợ con bị kẻ thù giết dã man
• Bản thân chịu nhiều đau thương: bắt, đánh đập, tra tấn, bị đốt 10 ngón tay
-> Thổi bùng lên ngọn lửa căm hờn của dân làng XôMan, của đồng bào Tây Nguyên
- là người giàu tình, nặng nghĩa
+ hết lòng yêu thương vợ con
• Khi Mai sinh con,Tnú không đi chợ mua vải cho Mai may địu thì Tnú lấy ngay taams chăn của mình để Mai làm địu
• Lúc chứng kiến vợ con bị kẻ thù đánh đập: đau thương, căm giận-> anh lao vào bọn giặc+ Làng quê với Tnú là gia đình-> xa làng quê, Tnú rất nhớ khi gặp mọi người, Tnú đều nhớ, anh không quên ai, nhớ tiếng chày của làng quê
Trang 9Dẫn chứng: Khi Tnú vượt ngục, Mai gặp Tnú và cầm hai bàn tay anh rưng rưng nước mắt
- Mối tình của họ hết sức bi thương bởi quân thù tàn bạo Tuy nhiên, nó trở thành động lực để Tnú hoàn thành nhiệm vụ mà CM giao
* ở nhân vật Tnú, hình ảnh bàn tay gây ấn tượng sâu đậm:
- Lúc bàn tay còn lành lặn thì đây là bàn tay nghĩa tình:
+ Bàn tay đã dắt Mai lên rẫy trồng tỉa
+ Bàn tay cầm phấn để viết lên bảng, viết những con chữ đầu tiên
+ Bàn tay cầm công văn để làm liên lạc
+ Hai bàn tay ấy, Mai đã cầm để biện hộ tình yêu của mình
- 10 ngón tay Tnú bị kẻ thù tẩm nhựa Xà nu để đốt cháy-> trở thành 10 ngọn đuốc-> 10 ngón tay
ấy đã trở thành chứng tích của lòng căm hận kẻ thù
- Bàn tay mỗi ngón chỉ còn hai đốt nhưng Tnú vẫn cầm súng và chính bằng bàn tay ấy anh đã bóp chết tên chỉ huy đồn địch ngay trong hầm cố thủ của nó
=> TL: Tnú chính là cây Xànu mạnh mẽ nhất, đẹp nhất trong núi rừng Tây Nguyên
d.Dân làng Xụ Man :
Người già trẻ em , trai gỏi cú tờn & khụng tờn mừng khi TN về làng ,chăm chỳ nghe Mết kể chuyện Tnỳ, đồng lũng căm thự giặc& cựng ý chớ chiến đấu bảo vệ làng bản ,bảo vệ cỏch mạng
Họ yờu nước yờu cỏch mạng
** Sự xuất hiện của Heng, Dỳt ,Tnỳ & cụ Mết là sự nối tiếp hết lớp này đến lớp khỏc nhiều người con Tõy Nguyờn anh hựng chiến đấu cho đến thắng lợi hoàn toàn của quê hương đất nước
Họ là những “cõy xà nu” mà nếu ngó xuống sẽ cú cõy con mọc liờn tiếp nhanh để tạo rừng xà nu n/tiếp tới chõn trời
-Hỡnh ảnh bản làng Xụ Man vừa tạo cho truyện khụng khớ sử thi cũng chớnh là hỡnh ảnh cuả
“rừng Xà nu” hiờn ngang tuyệt đẹp, “cỏnh rừng tạo ra những cõy vững chải như cụ Mết Dớt ,Mai,Heng…
e Cuộc đồng khởi của dõn làng:
-Giặc đến dõn làng chuẩn bị khớ giới mài giỏo mỏc, vút chụng
-Đờm giặc võy làng TN bị tra tấn mọi người đó nổi dậy
+ Cỏc cụ già chồm dậy “Tiếng kờu thột dữ dội tiếng chõn chạy rầm rập quanh nhà ủng”
+ Tất cả thanh niờn trong làng mỗi người một cõy rựa sỏng loỏng…
+ “Đống lửa xà nu lớn giữa nhà vẫn đỏ Xỏc 10 tờn lớnh ngổn ngang xung quanh đống lửa” + “Thế là… khắp rừng”
Cuộc vùng dậy quyết liệt & tất yếu Hành động của kẻ thự chõm ngọn lửa quật khởi of dõn bản
“Căm thự thỳc giục trả lời, vũ khớ trả lời vũ khớ”… Đờm bỏo hiệu cuộc chiến với kẻ thự dài lõu
2, Hình tượng cây Xà nu:
Vừa là cảnh sắc thiên nhiên hùng vĩ, vừa mang ý nghĩa tượng trưng
- Mở đầu và kết của truyện đều là cảnh rừng Xànu
Đầu: “ Đứng trên đến hết tầm mắt cũng chân trời”
- Cây Xànu ham ánh sáng và khí trời như Mai, Tnú khao khát tự do
- Cây Xànu cũng như người dân Xôman chịu những đau thương, hi sinh:
Trang 10+ Con người XôMan: anh Xút bị treo cổ trên cây vaie đầu làng; bà Nhan bị giặc chặt đầu; Tnú bị đốt 10 ngón tay.
+ Cây Xà nu: bị đạn đại bác bắn suốt đêm ngày Hàng vạn cây, có những vết thương cây con không lành được-> chết
- Cây Xà nu hiện diện trong suốt câu chuỷện về người dân XôMan trong cuộc kháng chiến chống
kẻ thù xâm lược
+ Cây Xà nu có mặt trong đời sống hàng ngàycủa người dân XôMan: ngọn lửa trong bếp, trong đống lửa lớn để tập hợp dân làng ở nhà Ưng; là ngọn đuốc để soi sáng những đoạn rừng đêm, khói Xà nu xông lên để làm bảng cho Tnú học chữ
+ Cây Xà nu còn có mặt trong những sự kiện trọng đại:
• Ngọn đuốc Xànu đã cháy sáng trong tay cụ Mết và tất cả dân làng đã vào rừng để lấy giáo, mác
để chuẩn bị cho cuộc chiến đấu mới
• Đêm đêm, dân làng đãthức để mài vũ khí dưới ánh sáng của nhựa Xànu
- Rừng xà nu có sức sống mãnh liệt như dân làng XôMan đầy khí phách
+ Cạnh một cây Xà nu mới ngã gục đã có 4-5 cây con mọc lên ngọn xanh rờn
+ Đã 2-3 năm nay, rừng Xà nu trong mưa bom bão đạn vẫn “Ưỡn tấm ngực lớn của mình ra che chở cho làng-> đây là một hình ảnh đầy kiêu hãnh, biểu hiện khí phách”
+ Kẻ thù định dùng nhựa Xà nu để dìm dân làng trong biển máu nhưng chính lũ ác ôn do thằng Dục cầm đầu đã bị cụ Mết và dân làng giết chết Xác chúng ngổn ngangquanh đống lửa Xànu Sau đó, Tnú đã tham gia lực lượng-> trở thành người chiến sĩ CM
- Hình tượng cây Xà nu trong TP còn là biểu tượng cho thế trận chiến tranh nhân dân không ngừng lớn mạnh-> đây là hình ảnh ẩn dụ, là liên tưởng kì vĩ của nhà văn Qua đó ta thấy được thái độ, tình cảm của nhà văn yêu mến tự hào về nhân dân
- Hệ thống nhõn vật của truyện là sự tiếp nối của cỏc thế hệ c/m of làng Xụ Man Tớnh chất sp ofnhõn vật mang ý nghĩa đại diện cho nhõn dõn,cộng đồng Sp cỏ nhõn thống nhất với cộng đồng -Cỏch kể & ngụn ngử kể chuyện tạo nờn tớnh sử thi
+Cõu chuyện được kể trong hồi tưởng of già làng bờn bếp lửa trước đụng đủ lũ làng
+ Cỏch cụ Mết kể như muốn truyền lại cho bản làng những trang sử cộng đồng
+ Cõu chuyện về Tnỳ & cuộc nổi dậy of bản làng được kể như chuyện lịch sử = sự kiện quan trọng
-Cỏch tạo k/cảnh of NT Thành mang chất sử thi:
- Truyện được kể bên bếp lửa qua lời kể của một già làng kể cho đông đảo dân làng nghe Cách
kể trang trọng như muốn truyền cho thế hệ con cháu trang sử của csr một cộng đồng-> mang đậm tính chất sử thi
III Tổng kết:
- Tác giả đã khắc hoạ rất thành công hình ảnh một tập thể anh hùng
- RXN là một bước tiến xa so với “ Đất nước tiến lên” ở tầm khái quát, sự chọn lọc và dồn lén những cảm xúc
- TP dạt dào cảm hứng sử thi
Phân tích tác Phẩm Rừng Xà Nu ( Nguyễn Trung Thành)
Trang 11Nhà văn Nguyên Ngọc (Nguyễn Trung Thành) có duyên với Tây Nguyên Cả hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mĩ, Nguyên Ngọc đã sống và chiến đấu ở mảnh đất hùng vĩ này Hai tác phẩm hay nhất của Nguyên Ngọc đều viết về Tây Nguyên là
"Đất nước đứng lên" và "Rừng xà nu"
Truyện "Rừng xà nu" viết về những anh hùng ở làng Xô Man trong cuộc kháng chiến chống Mĩ Là tác phẩm tiêu biểu cho khuynh hướng sử thi và cảm hứng lãng mạn củavăn học Việt Nam giai đoạn 1954-1975 Cảm hứng của nhà văn về nhân vật anh hùng gắn liền với cảm hứng về đất nước hùng vĩ mà cụ thể là hình tượng cây xà nu của Tây Nguyên
Nhà văn đã chọn một loại cây họ thông, gỗ và nhựa đều rất quý, có sức sống mãnh liệt và dẻo dai rất gần gũi với đời sống người dân Tây Nguyên để tượng trưng cho phẩm chất và sức mạnh tinh thần bất khuất của dân làng Xô Man và các dân tộc Tây Nguyên
Truyện được mở đầu và kết thúc bằng hình ảnh rừng xà nu Suốt trong quá trình kể chuyện, hình ảnh rừng xà nu được nhắc đi nhắc lại như một điệp khúc, gần 20 lần nhà văn nói đến rừng xà nu, cây xà nu, nhựa xà nu, ngọn xà nu, đồi xà nu, khói xà
nu, lửa xà nu, dầu xà nu Hình tượng cây xà nu mang ý nghĩa tượng trưng, nó nói lênsức sống bền vững, quật khởi của dân làng Xô Man, của Tây Nguyên bất khuất Chất
sử thi của thiên truyện sẽ không trở thành giọng điệu chính của tác phẩm nếu thiếu
đi hình tượng cây xà nu được khai thác từ nhiều góc độ, được lặp đi lặp lại nhiều lần như vậy, nhất là các hình ảnh "đồi xà nu" (4 lần), "rừng xà nu" (5 lần), với "hàng vạn cây" "ưỡn tấm ngực lớn của mình ra che chở cho làng"
"Làng ở trong tầm đại bác của đồn giặc Hầu hết đạn đại bác đều rơi vào ngọn đồi
xà nu cạnh con nước lớn Cả rừng xà nu hàng vạn cây không có cây nào không bị thương Có những cây bị chặt đứt ngang nửa thân mình, đổ ào ào như một trận bão
Ở chỗ vết thương, nhựa úa ra, tràn trề, thơm ngào ngạt, long lanh nắng hè gay gắt, rồi dần dần bầm lại, đen và đặc quyện lại thành từng cục máu lớn" Hình ảnh cây xà
nu mở đầu truyện đã cho thấy cuộc đấu tranh quyết liệt của dân làng Bằng nghệ thuật nhân hoá, tác giả nói lên được nỗi đau thương mất mát của dân làng Xô Man
và tố cáo tội ác của kẻ thù Mỗi cây xà nu ngã xuống, ta thấy thương tâm như một người dân làng Xô Man ngã xuống
Nhưng hình tượng cây xà nu cũng tượng trưng cho sức sống dẻo dai,mãnh liệt của dân làng Xô Man, của con người Tây Nguyên "Trong rừng ít có loại cây sinh sôi nảy
nở khoẻ như vậy Cạnh một cây xà nu mới ngã gục, đã có bốn năm cây con mọc lên, ngọn xanh rờn, hình nhọn mũi tên lao thẳng lên bầu trời Cũng có ít loại cây ham ánh sáng mặt trời đến thế."
"Có những cây mới nhú khỏi mặt đất, nhọn hoắt như những mũi lê" Rừng xà nu mang ý nghĩa biểu tượng cho con người "Đặt trong hệ thống chủ đề, trong mạch truyện, những cây xà nu này mang tính biểu tượng cho những Mai, Dít, Tnú, Heng, thế hệ trẻ của làng Xô Man bất khuất, gắn bó với cách mạng" Chỉ đơn giản một chi tiết này, thấy cây xà nu giống người biết mấy! "Nhưng cũng có những cây vượt lên đựơc đầu người, cành lá sum sê như những con chim đã đủ lông mao, lông vũ Đạn đại bác không giết nổi chúng, những vết thương của chúng chóng lành như trên một thân thể cường tráng" Hình ảnh đó giống Tnú biết bao, Tnú bị bọn giặc chém nhiều nhát sau lưng, trên tấm lưng chưa rộng bằng bề ngang cái xà lét mẹ để lại đó ứa
Trang 12một vệt máu đậm, từ sáng đến chiều thì đặc quện, tím thẫm như "nhựa xà nu" Nhưng sau khi ở tù vượt ngục trở về, những vết thương đã lành lặn, Tnú khoẻ mạnh,cường tráng, rồi trở thành một chiến sĩ kiên cường.
Cái chết của những cây xà nu giống cái chết của mẹ con Mai biết bao "Có những câycon vừa lớn ngang tầm ngực người lại bị đại bác chặt đứt làm đôi Ở những cây đó, nhựa còn trong, chất dầu còn loãng; vết thương không lành được, cứ loét mãi ra, năm mười hôm thì cây chết"
Và đây, Dít giống một cây xà nu non lao thẳng lên trời bất khuất Dít nhỏ như lanh
lẹ, cứ sẩm tối lại bò theo máng nước đem gạo ra từng cho cụ Mết và thanh niên Chúng bắt đựơc con bé Chúng để con bé đứng ở giữa sân, lên đạn tôm-xông rồi từ
từ bắn từng viên một Không bắn trúng, đạn chỉ sượt qua tai, sém tóc, váy nó rách tượt từng mảng Nó khóc thét lên, nhưng rồi đến viên thứ mười, nó chùi nước mắt,
từ đó nó im bặt Nó đứng lặng giữa bọn lính, cứ mỗi viên đạn nổ, cái thân hình mảnh
dẻ của nó lại quật lên một cái nhưng đôi mắt nó thì vẫn nhìn bọn giặc bình thản lạ lùng
Hình ảnh những cây xà nu vững chắc, không chịu ngã trước giông bão, bom đạn của
kẻ thù "ưỡn tấm ngực lớn của mình che chở cho làng" gợi cho ta nghĩ đến hình ảnh
cụ Mết, con người tiêu biểu cho sức sống quật khởi của làng Xô Man, người nuôi giữ ngọn lửa khát vọng tự do, gắn bó với Đảng Chính cụ Mết cũng đã nói với Tnú:
"Không có cây gì mạnh bằng cây xà nu đất ta " Cụ còn nói với dân làng: "Nghe rõ chưa các con, rõ chưa Nhớ lấy, ghi lấy Sau này tau chết rồi, bay còn sống phải nói lại với con cháu: Chúng nó đã cầm súng, mình phải cầm giáo!" Và khi cuộc khởi nghĩa bùng nổ, nguyên nhân trực tiếp chính là do ngọn lửa xà nu cháy trên mười đầungón tay Tnú Cả làng Xô Man bị kích động, những ngọn đuốc xà nu bùng cháy khắp rừng "Đứng trên đồi xà nu gần con nước lớn Suốt đêm nghe cả rừng Xô Man ào ào rung động Và lửa cháy khắp rừng "
Viết về Tây Nguyên, Nguyên Ngọc (Nguyễn Trung Thành) muốn gắn chặt đất nước với con người Viết về anh hùng Đinh Núp, tác giả gọi tên tiểu thuyết của mình là
"Đất nước đứng lên" Viết về cuộc khởi nghĩa của dân làng Xô Man trong cuộc kháng chiến chống Mĩ lại lấy tên là "Rừng xà nu" Hình tượng cây xà nu là một sáng tạo nghệ thuật độc đáo của Nguyễn Trung Thành Với bút pháp tượng trưng, tư tưởng chủ đề của truyện "Rừng xà nu" thêm sâu sắc Chính nhờ hình tượng cây xà nu mà những nhân vật anh hùng thêm bất tử
Về nguyên lý “tảng băng trôi” của Ernest Hemingway
Về nguyên lý “tảng băng trôi” của Ernest Hemingway
Đào Ngọc Chương
Những phát biểu dưới nhiều hình thức khác nhau của Ernest Hemingway về sáng tác
đã thực sự được các nhà phê bình nghiên cứu về sáng tác của chính tác giả, Harry Levin, Joseph Warren Beach rồi Frederic I Carpenter (1) tìm cách lý giải chiều thứ
ba, thứ tư, thứ năm trong cấu trúc văn xuôi đa chiều của E.Hemingway là xuất phát
từ chính ý kiến của tác giả về thứ “văn xuôi khó hơn rất nhiều so với thơ ca và chưa từng được viết ra nhưng có thể được viết ra và chẳng cần đến xảo thuật cùng sự đánh tráo nào cả” trong những ngọn đồi xanh châu Phi (Green Hills of Afica, 1935),
và trong chính tác phẩm này cũng như trong các bài phỏng vấn, truyện ngắn, tiểu
Trang 13thuyết, cách E.Hemingway hay nhân vật của ông đánh giá thứ văn chương hùng biệnhoặc nêu ý kiến về câu chữ… đã giúp cho các nhà phê bình, nghiên cứu định hướng trong quá trình nghiên cứu về phong cách E.Hemingway (2).
Những cách làm như thế là hoàn toàn sáng rõ về phương diện thao tác và phương pháp trong chừng mực nhà nghiên cứu tránh cắt xén và coi các phát biểu của tác giả chỉ đơn thuần là cái cớ mà những phát biểu là tuỳ thuộc cách biện giải của nhà nghiên cứu, mặc dù những phát biểu của nhà văn đôi khi không thể thâu tóm hết những vấn đề sáng tác của chính bản thân Đó là chưa kể, đôi khi, cách nói của E.Hemingway lại mang tính đa nghĩa bất ngờ, ví dụ một đoạn trong những ngọn đồi xanh châu Phi:
“Hãy cho biết cái gì, những thứ thực tế và cụ thể ấy, gây hại cho nhà văn ?”
Tôi mệt mỏi về cuộc trao đổi đã ra chiều phỏng vấn Thế nên tôi đẩy nó thành cuộc phỏng vấn cho xong chuyện và xin chào Cần thiết phải đẩy một ngàn chuyện bất khả tri vào một câu trong lúc này, ngay trước bữa ăn trưa, là rất sinh tử:
“Chính trị, phụ nữ rượu chè, tiền bạc, tham vọng, và thiếu chính trị, phụ nữ, rượu chè, tiền bạc và tham vọng” Tôi nói một cách sâu sắc
Và sau khi đã đi trọn một đời văn, đã đạt đến đỉnh cao vinh quang của nghiệp văn, Hemingway nhìn lại sáng tác của mình mà đánh giá Chính bấy giờ, trong bài phỏng vấn do Geoge Plimpton (3) ghi Hemingway đã nói về hình ảnh “tảng băng trôi” một phần nổi bảy phần chìm như thứ nguyên lý (principle) sáng tác của ông, và từ đấy,
“tảng băng trôi” trở đi trở lại trong nhiều bài viết về E.Hemingway, đặc biệt ở Việt Nam
Chúng ta tiếp cận ý kiến này của E.Hemingway khi nghiên cứu về sáng tác của ông, theo chúng tôi, ít nhất xuất phát từ hai lẽ Thứ nhất, những phát biểu của
E.Hemingway về sáng tác và về sáng tác của chính mình sáng rõ một cách hàm ẩn vìthế đặc biệt cuốn hút các nhà nghiên cứu; hơn nữa vấn đề nguyên lý “tảng băng trôi”
về thời điểm xuất hiện và về nội hàm của nó như mang ý nghĩa tổng kết sáng tác của nhà văn về phương diện lý luận Thứ hai, điều này thực sự thú vị vì liên quan đến tiềm thức phương Đông về văn chương, là nguyên lý “tảng băng trôi” của
E.Hemingway bất ngờ giống đến độ như trùng khít với quan niệm của chúng ta về văn chương (cổ), đặc biệt, về thơ, và chúng ta thường dành cho thơ: ý tại ngôn ngoại, điểm –diện, nhất điểm –vạn điểm, một góc – ba góc, quí hồ tinh bất quí hồ đa… Chính điểm thứ hai này dễ khiến chúng ta tiếp nhận nguyên lý “tảng băng trôi” của E.Hemingway một cách đơn giản Chúng ta dễ dàng đẩy thao tác chọn lựa, thồi
ảo trong quan niệm phương Đông (về thơ) vào thao tác loại bỏ (omit, eliminate) trong quan niệm của E.Hemingway về văn xuôi (prose) của ông Từ đó các nhà nghiên cứu đi tìm những biểu hiện của nguyên lý này ở nhiều phương diện khác nhau: ngôn ngữ và giọng điệu của tác phẩm, vấn đề xây dựng hình tượng nhân vật…
và coi những biểu hiện này chủ yếu thuộc phương diện hình thức nghệ thuật, thậm chí có lúc coi nguyên lý “tảng băng trôi” là một phương diện trong nhiều phương diệnkhác nhau của nghệ thuật văn xuôi E.Hemingway như “miêu tả tâm lý”, “bút phán đối thoại và độc thoại”… Những khám phá như vậy, ví dụ vấn đề liên văn bản, giọng điệu mỉa mai và tượng trưng, hiện tượng lặp từ hay hình ảnh, ngôn ngữ đối thoại giản dị, rời rạc…, là hoàn toàn xác đáng nhưng chỉ mới dừng lại ở cấp độ hình thức biểu hiện, “phương pháp viết” hay “quan niệm về sáng tạo nghệ thuật và biểu hiện”.Chúng tôi quan tâm đến nguyên lý “tảng băng trôi” của E.Hemingway theo hướng
Trang 14khác như một đặc điểm thi pháp có tính hệ thống, quan niệm trong sáng tác của E.Hemingway chuyển tải quan niệm của nhà văn về con người và thế giới.
Điều khá hiểm hóc và tạo nhiều hiểu lầm lại xuất phát từ chính hình ảnh quá sáng rõcủa bảy phần chìm và một phần nổi của “tảng băng trôi” và do đó dễ đẩy chúng ta đến khái niệm mạch ngầm văn bản theo hướng chúng tôi đã nói ở trên Thực ra, trước khi phát biểu về nguyên lý “tảng băng trôi”, E.Hemingway đề cập đến chuyện quan sát của nhà văn nhân gợi lại chuyện ông gặp người phụ nữ có thai rồi ngay buổichiều hôm ấy viết truyện ngắn Những quả đồi tựa như những con voi trắng, bỏ cả cơm trưa Sau đây là trọn đoạn trả lời (có đề cập đến nguyên lý “tảng băng trôi”) củaE.Hemingway:
Phóng viên: Thế là khi ông không viết, ông vẫn là người quan sát, chờ đợi một thứ gì
Ông già và biển cả có thể dài trên một ngàn trang và có đủ mặt nhân vật trong làng cùng đủ mọi cách kiếm sống, ra đời, học hành, sinh con đẻ cái… Điều đó được hoàn tất một cách xuất sắc bởi những nhà văn khác Trong chuyên viết lách anh thường phải quẩn quanh trong thứ đã được thực hiện thỏa đáng Vì thế tôi phải cố gắng học làm một vài điều khác Trước hết tôi phải cố gắng bỏ đi tất cả những thứ không cần thiết để chuyển tải kinh nghiệm đến người đọc, nhờ vậy sau khi bạn đọc nam nữ đã đọc được điều đó thì nó sẽ trở thành một phần kinh nghiệm của họ và như là thực sựxảy ra Điều này rất khó làm và tôi đã cật lực thực hiện
Bỏ qua chuyện ấy được thực hiện như thế nào, dẫu sao lần này tôi có được cơ may khó tin và có thể chuyển tải kinh nghiệm một cách trọn vẹn và đó là thứ kinh nghiệm
mà chưa ai từng chuyển tải Cơ may là thế này: tôi đã tóm được một người đàn ông đáng mặt và một đứa bé trai ngon lành và gần đây các nhà văn đã quên rằng vẫn đang có những thứ như thế Cả biển cả cũng đáng được viết như người vậy Thế là nơi đó tôi gặp may Tôi đã từng gặp ông bạn cá đao và biết rõ điều đó Thế là tôi bỏ
đi Tôi đã từng chứng kiến một đàn năm mươi con cá nhà táng trong cùng một luồng nước và có lần phóng lao vào một con dài 60 feet và để mất Thế là tôi bỏ đi Tất cả những câu chuyện biết từ cái làng chài tôi đều bỏ đi Nhưng kiến thức là thứ làm nênphần chìm của tảng băng trôi
Nguyên lý “tảng băng trôi” như vậy liên quan đến một loạt vấn đề: quan sát, kiến thức, kinh nghiệm, loại bỏ, tính dân chủ của sáng tác, lỗ hổng của tác phẩm… đặc biệt mối quan hệ giữa phần nổi với phần chìm Thật ra tất cả những vấn đề ấy có mối quan hệ mật thiết trên cơ sở loại bỏ Ít nhất, trong lần phỏng vấn này,
Hemingway trước đó đã nói đến thao tác này trong mối quan hệ với kiến thức, lỗ hổng của tác phẩm, phần chìm, phần nổi: “Cái gì anh có thể bỏ được là anh biết rõ anh vẫn đưa được vào tác phẩm và chất của nó sẽ lộ ra Khi nhà văn bỏ qua những thứ mà mình không biết thì chúng sẽ bài ra những lỗ hổng trogn tác phẩm” Và sau
Trang 15đó: “Thứ gì anh biết anh có thể bỏ đi và điều đó chỉ làm tảng băng trôi của anh thêmmạnh mẽ Đó là phần không lộ ra Nếu nhà văn bỏ đi một vài thứ bởi vì anh ta khôngbiết chúng thế là có một lỗ hổng trong câu chuyện”.
Cơ sở của “loại bỏ” là kiến thức, kiến thức viên mãn về một vấn đề nào đó trong kho
dự trữ lớn lao mà nhà văn có được Nếu không, sẽ không phải là phần chìm mà là lỗ hổng Với thao tác lược bỏ này, E.Hemingway đặc biệt quan tâm đến phần chìm; trong khi đó với thao tác lựa chọn, chúng ta dễ hướng tới phần nổi Điều này giúp lý giải hiện tượng ngôn ngữ trong tác phẩm E.Hemingway
Trong bài phỏng vấn đã nêu, rất nhiều lần E.Hemingway đề cập đến kiến thức và nhiều dạng kiến thức: kiến thức xác thân, kiến thức riêng, kiến thức khách quan, kiến thức không thể giải thích được như thứ kinh nghiệm về gia đình, chủng loại đã
bị quên lãng, đồng thời ông cho rằng hoạt động sáng tác (theo cách hiểu của chúng ta) là hoạt động phát minh (invent), làm ra (make) từ kiến thức, kinh nghiệm và hiểu biết về hiện thực, thế giới Những điều đó cho chúng ta thấy rằng sáng tác và hoạt động sáng tác của E.Hemingway, nhìn từ góc nhìn của chính tác giả, gắn bó với nhận thức hiện thực và điều đó là nguyên tắc Xuất phát từ việc loại bỏ những gì đã biết rõ về hiện thực, thế giới trên cơ sở toàn bộ những kiến thức kinh nghiệm, hiểu biết về thế giới, nguyên lý “tảng băng trôi” tạo nên một hiệu quả nghệ thuật trên người đọc, thực hiện quá trình dân chủ hoá hoạt động sáng tác và tiếp nhận khi chuyển tải kinh nghiệm như một quan niệm bản thân về thế giới đến người đọc Và như thế bản thân hình ảnh “tảng băng trôi” (bảy phần tám dưới nước cho một phần
lộ ra) kia không phải là hình thức biểu hiện như hiện tượng hàm súc là hình thức biểuhiện cảm xúc trong thơ (cổ) mà là hình thức cảm nhận (cảm thức) hiện thực, thế giớichủ yếu trong văn xuôi (của E.Hemingway)
Từ đây chúng ta có thể nhận ra mối quan hệ giữa thao tác lược bỏ với các biểu hiện của hình thức cảm nhận hiện thực hay cảm thức hiện thực (nguyên lý “tảng băng trôi”) của E.Hemingway Đó là hiện tượng khoảng trắng trong đối thoại và độc thoại; hiện tượng lắp ghép, lặp lại, phiến đoạn trong kết cấu ở nhiều cấp độ; hiện tượng phicốt truyện hay cốt truyện bên trong của cốt truyện; hiện tượng liên văn bản trong cách đọc văn bản tác phẩm; hiện tượng đa giọng một cách đặc biệt trong ngôn ngữ; hiện tượng chất thơ trong lời văn… Bởi vì những biểu hiện như vậy đều gắn bó với hình thưc cảm nhận hiện thực, con người: tảng băng trôi, bảy chìm một nổi Con người cô đơn, xa lạ vừa như đang cố giấu mình vừa như đang tìm nhau; con người bao giờ cũng như vừa sống hết mình lại vừa phải nén lại, theo đuổi một điều gì rất riêng như một nỗi ám ảnh Kiểu nhân vật con người ấy trong hiện tượng liên văn bản
có khi là sự tiếp nối của một nhân vật, (4) Nhân vật luôn luôn đi trên đường trong từng tác phẩm và luôn luôn đi trên đường trong một chuỗi tác phẩm từ sự thúc đẩy của thứ tinh thần thời đại, làm một cuộc phiêu lưu mà cuộc đời là hành trình và là đích tới của nhân vật
Trong bài viết ngắn này, chúng tôi chỉ nhằm làm sáng tỏ nguyên lý “tảng băng trôi” của E.Hemingway không thuộc phạm vi hình thức biểu hiện và là một hình thức cảm nhận hiện thực (cảm thức hiện thực), một đặc điểm thi pháp sang tính hệ thống và quan niệm trong sáng của E.Hemingway; chứ không đề ra mục tiêu lý giải, miêu tả
và chứng minh những biểu hiện của hình thức cảm nhận hiện thực ấy cũng như mối quan hệ giữa những biểu hiện ấy với quan niệm về con người và thế giới của
E.Hemingway Nhưng những khái quát trên đây về những điểm vừa nêu có thể gợi lên những điểm đáng quan tâm, mới mẻ về thế giới nghệ thuật của Ernest
Hemingway
Trang 16-
ĐÀN GHI TA CỦA LOR-CA
Thanh Thảo
MỤC TIÊU BÀI HỌC
- Hiểu và cảm nhận được vẻ đẹp bi tráng của hình tượng Lor-ca qua mạch cảm xúc
và suy tư đa chiều vừa sâu sắc vừa mãnh liệt của tác giả bài thơ
- Thấy được vẻ đẹp độc đáo trong hình thức thơ mang đậm phong cách tượng trưng
và có trí thức đọc hiểu bài thơ viết theo phong cách hiện đại
I Tìm hiểu chung
1 Tác giả
+ Thanh Thảo tên khai sinh là Hồ Thành Công, sinh năm 1946 Quê xã Đức Tân, Huyện Mộ Đức, tỉnh Quãng Ngãi Tốt nghiệp khoa văn trường đại học Tổng hợp HN Tham gia trực tiếp chiến đấu ở chiến trường miền Nam Từ sau năm 1975, Thanh Thảo hoạt động văn nghệ và báo chí Ông là phó chủ tịch Hội đồng thơ Hội nhà văn Việt Nam, Chủ tịch Hội Văn học nghệ thuật Quãng Ngãi
Tác phẩm chính: Những người đi tới biển (1977 - trường ca) Dấu chân qua Trảng cỏ (1978 - thơ), Khối vuôn ru bích (1985 - thơ), Từ một đến một trăm (1988 - thơ), Những ngọn sóng mặt trời (2002 – trường ca)
Ông được nhận Giải thưởng Hội Nhà văn Việt Nam 1979 cho tập thơ Dấu chân qua trảng cỏ
Thanh Thảo tiêu biểu cho gương mặt thơ trẻ thời chống Mĩ và có nhiều nỗ lực đổi mớithơ Việt Thơ Thanh Thảo viết về đề tài nào cũng đều đậm chất triểt lí Mạch trữ tình trong thơ ông đều hướng tới những vẻ đẹp của nhân cách: nhân ái, bao dung, can đảm, trung thực và yêu tự do Thơ ông dành mối quan tâm đặc biệt cho những con người sống có nghĩa khí như Cao Bá Quát, Nguyễn Đình Chiểu, Ê-xê-nhin, Lor-ca
2 Nghệ sĩ Phê-đờ-ri-cô Ghát-xi-a Lor-ca và bài thơ Đàn ghi ta của Lor-ca
Lor-ca sinh năm 1898 ở tỉnh Gra-na-đa miền Nam Tây Ban Nha, được xem là nhà thơlớn nhất TBN thế kỉ XX Ngoài thơ, ông còn là tác giả của nhiều vở kịch nổi tiểng Thơcủa Lor-ca gắn bó máu thịt với nguồn mạch văn hoá dân gian, hồn nhiên, phóng khoáng Nhân cách nghệ sĩ của ông thể hiện qua câu thơ nổi tiếng “Khi tôi chết hãy chôn tôi với cây đàn ghi ta” (ghi nhớ) Lor-ca bị phe phát xít phran-cô giết trong thời gian đầu cuộc nội chiến ở TBN Xác ông bị chúng quăng xuống giếng Thanh Thảo thực sự xúc động về Lor-ca nhất là cái chết của ông để viết bài thơ Đàn ghi ta của Lor-ca Bài thơ Đàn ghi ta của Lor-ca như một tuyên ngôn nghệ thuật của Lor-ca.Cây đàn ghi ta
cất tiếng thở than
dưới năm đầu kiếm sắc
Bài thơ Đàn ghi ta của Lor-ca
Trang 17- Bài thơ chia làm 3 phần
+ Phần 1: (6 dòng đầu) Lor-ca một nghệ sĩ tự do và cô đơn, một nghệ sĩ cách tân trong khung cảnh chính trị và nghệ thuật TBN
+ Phần 2 (tiếp đó đến “không ai chôn cất tiếng đàn”): Một cái chết oan khuất gây ra bởi thế lực tàn ác
+ Phần 3 (còn lại): Niềm xót thương Lor-ca những suy tư về cuộc giải thoát và giã từcủa Lor-ca
Chủ đề:
Bài thơ miêu tả Lor-ca, một nghệ sĩ tự do có tư tưởng cách tân về nghệ thuật, sống
cô đơn trong khung cảnh chính trị TBN và cái chết oan khuất của ông do thế lực tàn
ác gây ra Đồng thời thể hiện niềm xót thương của tác giả và những suy tư về cuộc giải thoát và giã từ của Lor-ca
II Đọc hiểu văn bản
1 Người nghệ sĩ tự do Lor-ca
- Lor-ca được miêu tả trên cái nền rộng lớn của văn hoá TBN
+ Áo choàng đỏ gắt: hình ảnh này nhắc tới môn đấu bò tót, một hoạt động văn hoá khiến TBN nổi tiếng toàn thế giới
+ Vầng trăng
+ Yên ngựa
+ Cô gái Di-gan
+ Mô phỏng nốt nhạc ghi ta “li-la-li-la-li-la”
Tất cả làm nổi bật không gian văn hoá TBN Hình tượng Lor-ca nổi bật trên nền văn hoá đó, làm rõ ca sĩ dân gian Đó là một ca sĩ đơn độc lang thang “hát nghêu ngao” cùng “tiếng đàn bọt nước” cùng với “vầng trăng chếnh choáng/ trên yên ngựa mỏi mòn”
- Tấm “áo choàng đỏ gắt” giúp ta liên tưởng tới cảnh đấu trường Đây không phải là trận đấu giữa bò tót và võ sĩ mà là đấu trường quyểt liệt giữa công dân Lor-ca cùng khát vọng dân chủ với nền chính trị độc tài, giữa nền nghệ thuật già nua của TBN vớinghệ thuật cách tân của Lor-ca Nhưng ở góc nhìn nào ta cũng thấy Lor-ca đơn độc Chàng sống mộng du với bầu trời, đồng cỏ, dòng sông và lá bùa sinh mệnh trên đường chỉ tay
- Ta bắt gặp sự đồng cảm sâu sắc giữa nhà thơ Thanh Thảo với đối tượng cảm xúc - người nghệ sĩ Lor-ca
+ Tác giả tạo dựng không khí chính trị qua “TBN áo choàng đỏ gắt”
+ Cái phông của nền văn hoá dân gian TBN
Trang 18+ Bài thơ giàu tính nhạc qua biện pháp tu từ, từ láy
+ Mô phỏng âm thanh các nốt đàn ghi ta (li-la-li-la-li-la) Tất cả làm nổi lên hình tượng Lor-ca, nghệ sĩ hát rong, người đã dùng tiếng đàn ghi ta để giải bày nỗi đau buồn và khát vọng yêu thương cảu nhân dân mình
2 Cái chết oan khuất của Lor-ca
- Đấy là khi Lor-ca bọn phát xít Phrăng-cô giết, ném xác xuống giếng để phi tang
- Để miêu tả sự việc bi phẫn này, Thanh Thảo sử dụng nhiều biện pháp nghệ thuật+ Đối lập:
+) Tự do của người nghệ sĩ và thế lực tà n bạo của phát xít
+) Tiếng hát yêu đời, vô tư với hiện thực phũ phàng đến kinh hoàng (áo choàng bê bết đỏ)
+) Tình yêu cái đẹp với hành động tàn ác, dã man
+ Nhân cách hoá: “Tiếng ghi ta ròng ròng máu chảy” có sức ám ảnh
+ Hoán dụ:
+) Tiếng hát để chỉ Lor-ca
+) Tấm “áo choàng bê bết đỏ”: chỉ cái chết
+ So sánh và chuyển đổi cảm giác:
* Tiếng ghi ta nâu, tiếng ghi ta lá xanh, tiếng ghi ta tròn Mỗi so sánh này cũng làm nổi bật về tình yêu, cái đẹp, cái chết, nỗi đau trong tư tưởng, khát vọng, tình cảm của Lor-ca Cái chết của người nghệ sĩ còn để lại nhiều suy nghĩ Bọn phát xít không thể sống được trong bầu không khí dân chủ, khát vọng tự do Chúng phải thủ tiêu Lor-ca Cái chểt của Lor-ca gây lòng căm thù bọn phát xít và lòng thương cảm người nghệ sĩ dân gian
3 Nỗi xót thương và suy tư về cuộc giã từ của Lor-ca
- Nỗi niềm xót thương Lor-ca được chuyển hoá thành niềm tin bất tử của tiếng đàn Lor-ca
Không ai chôn cất
cỏ mọc hoang
+ Tiếng đàn tượng trưng cho nghệ thuật của Lor-ca Nó còn là tình yêu con người, khát vọng mà ông hằng theo đuổi Đấy là cái đẹp mà mọi sự tàn ác không thể nào huỷ diệt được Nó sẽ sống, lưu truyền mãi mãi như thứ cỏ dại “mọc hoang”
+ Tiếng đàn còn có thể hiểu là nỗi xót thương của mọi người trước cái chết của một thiên tài Đó là sự nuổi tiếc hành trình cách tân nghệ thuật dang dở của Lor-ca và cả nền văn chương TBN
Trang 19Thanh Thảo cảm thông đến tận cùng với Lor-ca Nhà thơ tài hoa của đất nước TBN ấyđành chấp nhận số mệnh phủ phàng Đường chỉ tay báo trước phận người ngắn ngủi.Dòng sông rộng mênh mang tượng trưng cho thế giới vô cùng Con người ấy “ném là bùa vào xoáy nước” “ném trái tim” vào thế giới của sự im lặng (cõi chết) để “bơi sang ngang/trên chiếc ghi ta màu bạc” Đấy có thể coi như một sự giải thoát.
- Sự giã từ cuộc đời cũng là cách giải thoát Song tiếng đàn của Lor-ca, nghệ thuậtcủa Lor-ca, tình yêu con người và khát vọng tự do ông hằng ôm ấp là cái đẹp mà sự tàn ác không thể huỷ diệt được
- Câu thơ “Khi tôi chết hãy chôn tôi với cây đàn: Đây là thể hiện nhân cách nghệ sĩ của Lor-ca. Nó thể hiện tình yêu say đắm với nghệ thuật của Lor-ca Đó là tình yêu tha thiết với đất nước TBN (Tây ban cầm) Nhưng Lor-ca đâu phải là người nghệ sĩ sinh ra để nói những điều đơn giản ông muốn bộc lộ điều sâu sắc đến một ngày nào
đó thi ca của mình sẽ án ngữ, ngăn cản những người đến sau trong sáng tạo nghệ thuật Ông đã dặn cần phải biết chôn nghệ thuật của ông để đi tới
Tìm hiểu bài thơ "Sóng" (Xuân Quỳnh)
- 13 tuổi, Xuân Quỳnh từng là diễn viên múa đoàn văn công Trung ương, Biên tập báo Văn nghệ, biên tập viên NXB Tác phẩm mới, Uỷ viên BCH Hội nhà văn Việt Nam khoá III Xuân Quỳnh mất đột ngột cùng chồng là nhà viết kịch nổi tiếng Lưu Quang
Vũ vì tai nạn giao thông tại Hải Dương (chiều 29/4/1988)
- Tác phẩm gồm có:
+ Tơ tằm, chồi biếc (in chung với Cẩn Lai) (1963)
+ Hoa dọc chiến hào (1968)
+ Gió Lào cát trắng (1974)
+ Lời ru trên mặt đất (1978)
+ Tự hát (1984)
+ Sân ga chiều em đi (1984)
+ Hoa cỏ may (1989) (sau khi nhà thơ mất)
Một số tập dành riêng cho thiếu nhi
Trang 20Truyện: Bến tàu trong thành phố, Bầu trời trong quả trứng, Vẫn còn ông trăng khác.
- Truyện viết cho thiếu nhi mang đến cho các em những tình cảm trong trẻo, trìu mến, nhân hậu và cái nhìn hỏm hỉnh thông minh
- Xuân Quỳnh được xem là một trong những người viết thơ tình hay nhất trong nền thơ Việt Nam từ sau 1945 Đó là tình yêu vừa nồng nàn, sôi, say đắm, vừa tha thiết dịu dàng, vừa giàu trực cảm, vừa lắng sâu trải nghiệm suy tư Cái tôi của thi sĩ là cái tôi thành thật:
Không sĩ diện đâu nếu tôi yêu được một người
Tôi sẽ yêu anh hơn anh ta yêu tôi nhiều lắm
Tôi yêu anh dẫu vạn lần cay đắng…
- Xuân Quỳnh thể hiện trong thơ khát vọng sống, khát vọng yêu và đi liền với nó là những dự cảm về sự biến suy, phai bạc:
+ “Bây giờ yêu mai có thể xa rồi”
+ “Mùa thu hoa vẫn vàng như thế
Chỉ em là đã khác với em xưa”
- Thơ Xuân Quỳnh nổi bật ở vẻ đẹp nữ tính Đó là thiên chức làm vợ, làm mẹ với tâmhồn tinh tế, chăm lo, tạo dựng đời sống bình yên Thơ Xuân Quỳnh cũng là thơ tự bộc bạch giãi bày, mong được nương tựa, chở che, gắn bó
2 Bài thơ Sóng
a Hoàn cảnh và mục đích sáng tác
- Bài thơ viết năm 1967 Lúc này Xuân Quỳnh đang ở độ tuổi 25 Người phụ nữ ở độ tuổi này có suy nghĩ rất chín về tình yêu Mặt khác cũng thấy được ý thức của cái tôi bên cạnh cái ta chung
- Tác giả cũng không đặt tình yêu trong quan hệ cảm tính một chiều mà thể hiện khát vọng tình yêu như một nhu cầu tự nhận thức, khám phá Cảm xúc thơ do vậy vừa sôi nổi mãnh liệt, vừa gợi tới chiều sâu của sự triết lí
b Chủ đề
Sóng và em là hai hình tượng sóng đôi, để từ đó những khám phá về sóng, em thấy mình Tình yêu trong em là sự vươn lên cái cao cả, lớn lao, là nỗi nhớ thương, thuỷ chung son sắt Đồng thời là khát vọng mãnh liệt của tình yêu, nỗi lo âu giữa cái hữu hạn của đời người với cái vô cùng, vô hạn của thời gian
II Đọc hiểu văn bản
1 Cấu trúc bài thơ
- Bài thơ có cấu trúc song hành giữa sóng và em Sóng cũng là em mà em cũng là sóng
+ Sóng nước xôn xao, triền miên vô tận, gợi sóng lòng em tràn đầy khao khát trước
Trang 21tình yêu đôi lứa
+ Cả bài thơ đoạn nào cũng nói về sóng, miêu tả nhiều về sóng
* Giàu biến thái (dữ dội, dịu êm, ồn ào, lặng lẽ…) Đó là
* Sóng có tính cách phức tạp nhưng mang vẻ thống nhất của tự nhiên
Đó là sinh ra từ biển Sóng là nỗi khát khao của biển, là sự hoà hợp giữa biển và bờ
“Con nào chẳng tới bờ/ Dù muôn vời cách trở”
+ Âm điệu bài thơ cũng là âm điệu của sóng
* Thể thơ năm chữ tạo ra giai điệu sóng vỗ
* hoà trộn âm thanh của sóng vỗ với tâm trạng người con gái đang yêu Đó là khao khát, nhớ thương, hờn giận Sóng cũng là em vì lẽ đó
2 Nhận thức về bản thân qua mỗi khám phá về sóng
- hai khổ đầu:
Dữ dội và dịu êm
Ồn ào và lặng lẽ
Bồi hồi trong ngực trẻ
Hai câu đầu: “Dữ dội lặng lẽ” tác giả tạo ra tiểu đổi để diễn tả biến thái phức tạp của sóng cũng là tâm trạng của em Khi tình yêu đến với người con gái, họ có thể sôinổi, cười, nói, hát suốt ngày Nhưng cũng có lúc lặng lẽ trong suy tư Điều đáng nhớ
là khát vọng tình yêu, nhất là tình yêu đôi lứa bao giờ cũng thường trực trong trái tim tuổi trẻ:
Ôi con sóng ngày xưa
Bồi hồi trong ngực trẻ
Điều đáng nói nhất ở hai khổ thơ này là sự chủ động của người con gái khi yêu:Sóng không hiểu nổi mình
Khi nào ta yêu nhau
“Em nghĩ” hai tiếng ấy lặp lại như là sự khám phá, tìm tòi Em nhận thức được “Sóngbắt đầu từ gió” Nhưng gió từ đâu? Nào ai biết Người ta có thể chứng minh nguồn gốc của gió qua ngành khoa học Nhưng không thể giải thích được nguồn gốc của tình yêu Có nhà thơ tự bộc bạch:
Trang 22Anh yêu em vì sao không biểt rõ
Chỉ biết yêu em, anh thấy yêu đời
Như chim bay tỏa hút khí trời
Như ruộng lúa uống dòng nước ngọt
Và cũng có người:
Anh yêu em như yêu đất nước
Vất vả gian lao tươi thắm vô ngần
Họ yêu nhau Nhưng hỏi tình yêu bắt đầu từ đâu và tình yêu là gì thì có bao nhiêu cách trả lời
Nhân vật em trong bài thơ của Xuân Quỳnh cũng cảm nhận thấy điều ấy Nguồn gốc tình yêu rất lạ lùng Nó lạ lùng bí ẩn nhưng cũng rất tự nhiên Không ai có thể tìm thấy câu trả lời tình yêu bắt đầu từ đâu? Tình yêu hấp dẫn là ở chỗ đó Thơ Xuân Quỳnh sâu sắc và tế nhị vì khát vọng về tình yêu thực sự là nhu cầu tự nhận thức và khám phá
Khổ 6, 7 mượn hình ảnh sóng vỗ vào bờ “Con nào chẳng tới bờ” để khẳng định tấm lòng son sắt thuỷ chung Dù đi đâu vào Nam ra Bắc, em đều nghĩ tới anh, hướng về anh
Trang 23- Biển vẫn rộng, gió thổi, mây vẫn bay Những hình ảnh này là biểu hiện sự nhạy cảm với cái vô hạn của vũ trụ So với cái vô cùng, vô tận ấy, cuộc sống con người thật ngắn ngủi Một tiếng thở dài nuối tiếc Nhịp thơ lúc này như lắng xuống, hình ảnh thơ mở ra qua các từ (đi qua, biển dẫu rộng, bay về xa) Nhận thức, khám phá, thơ Xuân Quỳnh mang đến những dự cảm Đó là nỗi lo âu, sự trăn trở bởi hạnh phúc hữu hạn của đời người giữa cái vô cùng, vô tận của thời gian.
- Suy nghĩ như thể, thơ Xuân Quỳnh không dẫn người ta đến bế tắc, buồn chán mà thành khát vọng:
“Làm sao được tan ra
còn vỗ”
Khao khát tình yêu của mình hoà trong tình yêu của mọi người “Tan ra” không phải mất đi mà hoà giữa cái chung và cái riêng Tình yêu như thế không bao giờ cô đơn
Đọc hiểu đoạn trích Đất nước (Nguyễn Khoa Điềm)
1.Về tác giả Nguyễn Khoa Điềm và xuất xứ đoạn trích « Đất Nước ».
-Nguyễn Khoa Điềm sinh 1943 Nhà thơ xứ Huế Tốt nghiệp Đại học Văn Sư phạm HàNội Thời chống Mĩ sống và chiến đấu tại chiến trường Trị-Thiên Nay là Bộ trưởng BộVăn hoá – Thông tin
- Tác phẩm thơ: “Đất ngoại ô”, “Mặt đường khát vọng”,…
- Thơ của Nguyễn Khoa Điềm đậm đà, bình dị, hồn nhiên, giàu chất suy tư, cảm xúc dồn nén, thể hiện tâm tư của người thanh niên trí thức tham gia tích cực vào sự nghiệp giải phóng dân tộc và thống nhất đất nước
- Xuất xứ : Trường ca “Mặt đường khát vọng” được Nguyễn Khoa Điềm viết tại chiến khu Trị-Thiên hoàn thành vào cuối năm 1971 Được xuất bản vào năm 1974
- Đoạn trích “Đất nước” gồm 110 câu thơ tự do, là chương 5 của trường ca “Mặt đường khát vọng” (Sách Văn 12 trích 89 câu thơ phần đầu chương 5 )
2.Chủ đề đoạn trích « Đất Nước »
Bài thơ của Nguyễn Khoa Điềm nói về cội nguồn đất nước theo chiều dài lịch sử đằngđẵng và không gian địa lý mênh mông Hình tượng Núi Sông gắn liền với tâm hồn và chí khí của Nhân dân, những con người làm ra Đất nước Đất nước trường tồn hứa hẹn một ngày mai đẹp tươi và hát ca
3.Nội dung cơ bản
3.1 Cảm nhận chung về đất nước
- Cảm nhận về đất nước bằng những gì gần gũi thân thiết, bình dị trong cuộc sống của con người
+ : “Đất nước có ” qua sự tích:
Trầu cau: nói lên tình nghĩa vợ chồng gắn bó, thủy chung, ý thức dân tộc
Thánh Gióng: tinh thần bất khuất chống xâm lược của dân tộc ta từ thời dựng nước
Trang 24+ Đất nước được hình thành từ những thuần phong mĩ tục: tóc mẹ thì bới sau đầu,
đó là nét đẹp văn hoá cội nguồn của dân tộc dù trải qua 1000 năm Bắc thuộc
+ Đất nước được hình thành từ những lối sống giàu tình nặng nghĩa: Cha mẹ thươngnhau từ câu ca dao: Tay bưng chén muối đĩa gừng
+ Đất nước được hình thành từ những vẻ đẹp văn hoá vật chất của nền văn minh nông nghiệp lúa nước: cái cột, cái kèo và cuộc sống lao động nông nghiệp vất vả: Hạt gạo một nắng hai sương xay ,giã ,dần ,sàng
Đất nước có từ ngày đó
- Đất nước được cảm nhận từ phương diện địa lí, lịch sử
+ Đất nước là không gian rừng biển, sông núi, giang sơn, yêu qúy qua các làn điệu dân ca trữ tình:
Đất là nơi chim về
Nước là nơi rồng ở
+ ĐN là không gian gần gũi gắn bó với mỗi chúng ta:
Đất là nơi anh đến trường
- ĐN hoá thân trong cuộc sống của mỗi con người
+ Mỗi chúng ta đều có một phần ĐN từ thể xác đến tâm hồn Ý thơ gợi chúng ta về trách nhiệm về ĐN về sự đoàn kết giữa các dân tộc tạo nên sự vẹn toàn cho đất nước Cho nên, cần đem xương máu của mình để xây dựng đất nước:
“Em ơi Đất nước là máu xương của mình
Phải biết gắn bó và san sẻ
Phải biết hóa thân cho dáng hình xứ sở
Làm nên đất nước muôn đời”
=>ĐN được tác giả cảm nhận từ chiều dài của thời gian và lịch sử, từ chiều rộng không gian và địa lí, bề dày văn hoá và phong tục lối sống
Tóm lại, 42 câu thơ trong phần I nói về nguồn gốc của Đất nước và sự gắn bó, san
sẻ đối với Đất nước Ý tưởng sâu sắc ấy được diễn tả bằng một thứ ngôn ngữ đậm đàmàu sắc dân gian, một giọng điệu thủ thỉ tâm tình vô cùng thấm thía, xúc động Chất trữ tình hòa quyện với tính chính luận
Trang 253.2.Đất nước của nhân dân, đất nước của ca dao thần thoại.
-Tất cả mọi hình ảnh tồn tại trên đất nước đều gắn liền với nhân dân
“Những người vợ nhớ chồng còn góp cho Đất nước những núi Vọng Phu
Cặp vợ chồng yêu nhau góp nên hòn Trống Mái
Gót ngựa của Thánh Gióng đi qua còn trăm ao đầm để lại
Chín mươi chín con voi góp mình dựng đất Tổ Hùng Vương
Những con rồng nằm im góp dòng sông xanh thẳm
Người học trò nghèo góp cho Đất nước mình núi Bút non Nghiên
Con cóc, con gà quê hương cùng góp cho Hạ Long thành thắng cảnh
Những người dân nào đã góp tên Ông Đốc, Ông Trang, Bà Đen, Bà Điểm…”
Những cảnh quan: hòn Vọng Phu, Trống Mái chỉ trở thành thắng cảnh khi gắn liền vớicon người vì không có sự chờ đợi của người vợ thì không có núi Vọng Phu, không có truyền thuyết Hùng Vương thì không có sự cảm nhận hùng vĩ quanh đền hùng:
“ Và ở đâu trên khắp ruộng đồng gò bãi
Chẳng mang một dáng hình ,một ao ước,một lối sống ông cha
Ôi đất nước bốn nghìn năm đi đâu ta cũng thấy
Những tâm hồn đã hoá núi sông ta”
- Nhân dân gìn giữ và bảo vệ đất nước:
+Nhà thơ không điểm lại những triều đại anh hùng mà nhấn mạnh đến những con người vô danh, bình dị nhưng chính họ là người đã “giữ và truyền” hạt lúa, đã
“truyền lửa”, “truyền giọng điệu”, “gánh tên làng tên xã”…, “đắp đập be bờ cho ngườisau trồng cây hái trái” Chính Nhân dân đã làm nên Đất nước, để Đất nước là của Nhân dân
+ Họ là những con người anh hùng :
.“Năm tháng nào cũng người người lớp lớp
Con gái, con trai bằng tuổi chúng ta
Cần cù làm lụng
Khi có giặc người con trai ra trận
Người con gái trở về nuôi cái cùng con
Ngày giặc đến nhà thì đàn bà cũng đánh
Nhiều người đã trở thành anh hùng”
“Trong bốn nghìn năm lớp người giống ta lứa tuổi
Họ đã sống và chết
Giản dị và bình tâm
Không ai nhớ mặt đặt tên
Nhưng họ đã làm ra đất nước”
- Đất nước này là của nhân dân
+ Vần thơ hàm chứa ý tưởng đẹp, một lối diễn đạt ý vị ngọt ngào:
“Có ngoại xâm thì chống ngoại xâm
Có nội thù thì vùng lên đánh bại
Để Đất nước này là Đất nước Nhân dân
Trang 26Đất nước của Nhân dân, Đất nước của ca dao thần thoại”
+ Đất nước mang sức sống mãnh liệt, tiềm tàng vì Nhân dân đã biết yêu và biết ghét, bền chí và dẻo dai, biết “quý công cầm vàng”, “biết trồng tre đợi ngày thành gậy”, biết trả thù cho nước, rửa hận cho giống nòi mà “không sợ dài lâu”
+Hình ảnh người chèo đò, kéo thuyền vượt thác cất cao tiếng hát là một biểu tượng nói lên sức mạnh Nhân dân chiến thắng mọi thử thách, lạc quan tin tưởng đưa Đất nước đi tới một ngày mai vô cùng tươi sáng:
“Ôi những dòng sông bắt nước từ đâu
Mà khi về Đất nước mình thì bắt lên câu hát
Người đến hát khi chèo đò, kéo thuyền vượt thác
Gợi trăm màu trên trăm dáng sông xuôi”
(Sưu tầm)
Những vấn đề cơ bản trong bài thơ "Việt Bắc" ( Tố Hữu)
1.Hoàn cảnh sáng tác bài thơ :
-Việt Bắc là quê hương CM, trước CM T8 có khởi nghĩa Bắc Sơn (1941), nơi thành lập MTVM; trong kháng chiến chống Pháp là nơi ở và làm việc của TW Đảng và chính phủ
-Bài thơ Việt Bắc được sáng tác vào tháng 10/ 1954 Đây là thời điểm các cơ quan
TW của Đảng và chính phủ rời chiến khu VB về Hà nội, sau khi cuộc kháng chiến chống pháp đã kết thúc vẻ vang với chiến thắng ĐBP và hoà bình được lập lại ở miềnBắc
Nhân sự kiện lịch sử này, Tố Hữu viết bài thơ để ôn lại một thời kháng chiến gian khổ mà hào hùng thể hiện nghĩa tình sâu nặng của những người con kháng chiến đối với nhân dân Việt Bắc, với quê hương CM
2.Chủ đề của đoạn trích “Việt Bắc”
Đoạn trích ca ngợi con người và cuộc sống ở chiến khu VB trong thời kì kháng chiến chống Pháp gian khổ, hào hùng, đồng thời thể hiện tình nghĩa thủy chung giữa ngườiCách mạng và nhân dân Việt Bắc
3 Nghệ thuật đậm đà tính dân tộc trong đoạn trích “Việt Bắc”
- Thể lục bát tài tình, thuần thục
- Sử dụng một số cách nói dân gian: thi liệu, xưng hô, đối đáp,
- Giọng điệu quen thuộc, gần gũi, ấm áp
- Sở trường sử dụng từ láy
- Cổ điển+hiện đại
- Kết cấu bài thơ: lời đối đáp quen thuộc của ca dao, dân ca Không chỉ là đối đáp mà
Trang 27còn hô ứng.
- Cặp đại từ nhân xưng mình ta
4 Nội dung đoạn trích:
4.1 - Sắc thái tâm trạng ,lối đối đáp của nhân vật trữ tình trong đoạn trích:
-Hoàn cảnh sáng tác tạo nên một sắc thái tâm trạng đặc biệt, đầy xúc động bâng khuâng: Cầm tay nhau biết nói gì hôm nay Đó là cuộc chia tay của những người từng sống gắn bó suốt mười lăm năm ấy, có biết bao kỉ niệm ân tình, từng sẻ chia mọi cay đắng ngọt bùi, nay cùng nhau gợi lại những hồi ức đẹp đẽ, khẳng định nghĩatình thuỷ chung và hướng về tương lai tươi sáng Chuyện ân tình cách mạng đã được
Tố Hữu khéo léo thể hiện như tâm trạng của tình yêu lứa đôi
-Diễn biến tâm trạng như trong tình yêu lứa đôi được tổ chức theo lối đối đáp quen thuộc của ca dao, dân ca, bên hỏi, bên đáp, người bày tỏ tâm sự, người hô ứng, đồng vọng
+ Bốn câu đầu là lời ướm hỏi dạt dào tình cảm của ngưòi ở lại,đồng thời cũng khảng định tấm lòng thuỷ chung của mình:
Đại từ Mình-Ta:Mối quan hệ gần gũi thân thiết -> gợi bao lưu luyến, bâng khuâng, bồn chồn, bịn rịn
Điệp từ “nhớ.”(láy lại)
Lời nhắn nhủ của VB “Mình có nhớ ta, mình có nhớ không” vang lên ray rứt,gợi nỗi nhớ triền miên
15 năm gợi thời gian
Cây, núi, sông, gợi không gian thời gian hoạt động kháng chiến tại không gian Việt Bắc + 4 câu sau là tiếng lòng của người cán bộ cách mạng về xuôi
Nghe câu hỏi nên người về bâng khuâng , bồn chồn => Tình cảm thắm thiết của người cán bộ với cảnh và ngưòi Việt Bắc
Đại từ phiếm chỉ “ai”nhưng lại rất cụ thể gợi sự gần gũi thân thương
Áo chàm: H/ảnh bình dị, chân tình, chỉ người Việt Bắc
“Cầm tay ”.-> Câu thơ bỏ lửng ngập ngừng nhưng đã diễn đạt chính xác thái độ xúc động nghẹn ngào không thể nói nên lời của người cán bộ từ dã Việt Bắc về xuôi ->Hỏi và đáp đều mở ra bao nhiêu kỉ niệm về một thời cách mạng và kháng chiến gian khổ mà anh hùng, mở ra bao nhiêu nỗi niềm nhớ thương Thực ra, bên ngoài là đối đáp, còn bên trong là độc thoại, là sự biểu hiện tâm tư, tình cảm của chính nhà thơ, của những người tham gia kháng chiến
Qua hồi tưởng của chủ thể trữ tình, cảnh và người Việt Bắc hiện lên thật đẹp:
- Nỗi nhớ thiết tha của người cán bộ sắp về xuôi đã khắc sâu thiên nhiên núi rừng
Trang 28Việt Bắc với vẻ đẹp vừa hiện thực, vừa thơ mộng, thi vi, gợi rõ những nét riêng biệt, độc đáo, khác hẳn những miền quê khác của đất nước .
+ Hình ảnh thiên nhiên thơ mộng, ấm áp tình người: Trăng lên đầu núi, nắng chiều lưng nương., bản khói sớm khuya
+ Bức tranh tứ bình, mỗi mùa một hình ảnh đẹp làm say lòng người
Mùa đông: rừng xanh, hoa chuối đỏ tươi
Mùa xuân: hoa mơ nở trắng rừng
Mùa hè: ve kêu, rừng phách đổ vàng
Mùa thu: ánh trăng soi sáng khắp núi rừng
= > Có thể thấy thiên nhiên Việt Bắc hiện lên với bao vẻ đẹp thật đa dạng, phong phú, sinh động, thay đổi theo từng thời tiết, từng mùa,đầy màu sắc lãng mạn, ấm áplòng người
Chỉ những người đã từng sổng Việt Bắc, coi Việt Bắc cũng là quê hương thân thiết của mình mới có nỗi nhớ thật da diết, những cảm nhận thật sâu sắc, thấm thía về cảnh Việt Bắc như vậy
-Nhưng có lẽ đẹp nhất trong nỗi nhớ về Việt Bắc là sự hoà quyện thắm thiết giữa cảnh với người, là ấn tượng không thể phai mờ về những người dân Việt Bắc cần cù trong lao động, thuỷ chung trong nghĩa tình :
+ Người VB cần lao gian khổ và đầy tình thương yêu chia ngọt sẻ bùi (câu 31->câu 36)
+Hình ảnh sinh hoạt của cán bộ CM trong chiến khu hoà lẫn với sinh hoạt của nhân dân VB: Tiếng mõ rừng chiều, chày đêm nện cối, lớp học i tờ, giờ liên hoan
= >Chính nghĩa tình của nhân dân với cán bộ, bộ đội, sự đồng cảm và san sẻ, cùng chung mọi gian khổ và niềm vui, cùng gánh vác mọi nhiệm vụ nặng nề, khó khăn, tất cả càng làm Việt Bắc thêm ngời sáng trong tâm trí của nhà thơ
4.2-Khung cảnh hùng tráng của Việt Bắc trong chiến đấu và vai trò của Việt bắc trong cách mạng và kháng chiến
+ Khí thế hào hùng lên đường hành quân của quân và dân ta với những hình ảnh tuyệt đẹp mang dáng dấp sử thi (câu 53-> câu 70)
Cách mạng và kháng chiến đã xua tan vẻ âm u, hiu hắt của núi rừng, đồng thời khơi dậy sức sống mạnh mẽ của thiên nhiên và con người Việt Bắc
+ Chiến công Việt Bắc là bản tổng kết những nét lớn của sự phát triển ngày càng caonhững chiến dịch, những thắng lợi trong niềm vui phơi phới
-Vượt qua bao thiếu thốn, gian khổ, hi sinh Việt bắc đã làm nên những kì tích, nhữngchiến công gắn với những địa danh: Phủ Thông, đèo Giàng, sông Lô, phố Ràng, Hoà Bình, Tây Bắc, Điện Biên,
-Tố Hữu không chỉ miêu tả khí thế hào hùng của cuộc kháng chiến mà còn đi sâu lí giải những cội nguồn sức mạnh đã dẫn tới chiến thắng Đó là sức mạnh của lòng cămthù: Miếng cơm chấm muối, mối thù nặng vai, sức mạnh của tình nghĩa thuỷ chung:
Trang 29Mình đây ta đó, đắng cay ngọt bùi, sức mạnh của khối đại đoàn kết toàn dân, của sự hoà quyện gắn bó giữa con người với thiên nhiên - tất cả tạo thành hình ảnh đất nước đứng lên
Nhớ khi giặc đến giặc lùng
………
Đất trời ta cả chiến khu một lòng
- Đặc biệt, Tố Hữu đã nhấn mạnh, khẳng định Việt Bắc là quê hương của Cách mạng,
là căn cứ địa vững chắc, là đầu não của cuộc kháng chiến, nơi hội tụ bao tình cảm, suy nghĩ, niềm tin và hi vọng của mọi người Việt Nam yêu nước:
+Trong những năm tháng đen tối trước Cách mạng, hình ảnh Việt Bắc hiện dần từ
mờ xa (mưa nguồn suốt lũ, những mây cùng mù) đến xác định như một chiến khu kiên cường, nơi nuôi dưỡng bao sức mạnh đấu tranh, nơi khai sinh những địa danh sẽmãi mãi đi vào lịch sử dân tộc (dẫn đoạn thơ từ câu Mình về,-còn nhờ núi non đến câu Tân Trào, Hồng Thái, mái đình, cây đa)
+ Trong những ngày kháng chiến gian lao, Việt Bắc là nơi có Cụ Hồ sáng soi, có Trung ương, Chính phủ luận bàn việc công
( Sưu tầm)
Những nét độc đáo trong "Thuốc" của Lỗ Tấn
Những nét độc đáo trong "Thuốc" của Lỗ Tấn
Trong di sản văn học của Lỗ Tấn, Thuốc là truyện ngắn đặc biệt và luôn giữ một vị tríquan trọng, độc đáo trong cách thức kết cấu, tổ chức không gian, bố trí nhân vật và tái hiện nhân vật
Với kết cấu bốn phần, mạch lạc tạo ra cảm giác kết cấu khai - thừa - luận - kết hay khai - thừa - chuyển - hợp tương tự như kết cấu của một bài thơ cổ điển, được đánh
số thứ tự từ I đến IV, câu chuyện mang tiêu đề vừa thực vừa biểu trưng – Thuốc - được chia thành hai không gian rất đặc trưng gắn với nhan đề tác phẩm: không gian quán trà nhà lão Hoa với ba phần và không gian nghĩa địa với phần còn lại mà độ dàikhông kém ba phần kia là bao
Phần khai truyện, tương ứng với phần khai đề của một bài thơ cổ điển, được mở ra từkhông gian thứ nhất bằng một buổi sáng sớm, chưa sáng hẳn song cũng đã chuyển sang một ngày mới với nội dung chính là mua thuốc Đó là “một đêm thu gần về sáng, trăng lặn rồi, nhưng mặt trời chưa mọc” Bóng tối bao trùm lên không gian ấy, trời không trăng cũng chẳng có sao nên “ngoài những giống đi ăn đêm, còn thì ngủ say cả” Để xua đi cái bóng tối ấy, lão Hoa, chủ nhân của ngôi nhà vừa để ở vừa để bán hàng, đã “đánh diêm, thắp cái đèn nhầy nhụa những dầu là dầu” để tạo ra một thứ ánh sáng “trắng xanh sáng khắp hai gian quán trà” Ánh sáng ấy không làm cho ngôi nhà ấm lên, hay sáng thêm mà chỉ làm cho nó chìm ngập sâu hơn vào bóng tối đang phủ dày xung quanh, khiến sự trầm lắng có chiều sâu và hoàn cảnh buồn bã thê thảm hơn Ánh sáng ấy cũng mang tính chất khác thường Đã thế sau khi thắp ngọn đèn lồng, lão Hoa lại “tắt ngọn đèn con”, tắt luôn thứ “ánh sáng trắng xanh” đầy vẻ ma quái, hăm dọa ấy Cảm giác về bóng tối bao trùm lại hiện ra khi lão bước
ra “ngoài đường, trời tối om và hết sức vắng” Trong bóng tối ấy, lão đi vừa với tràn trề hi vọng, vừa nơm nớp lo cho gói bạc cồm cộm trong túi Lão đi đến nơi sẽ có
Trang 30phương thuốc diệu kì chữa bệnh cho con lão, phương thuốc được truyền khẩu trong dân gian song không phải ai cũng biết, kể cả lão Hoa.
Sự dịch chuyển thời gian được đánh dấu bằng: “Trời cũng sáng dần và đường cũng càng lâu càng rõ” và lão cũng đến được nơi lão cần đến: một ngã ba đường nơi có
“một cửa hiệu còn đóng kín mít” Tại đó, như một người lạc đường vào một xứ sở mới, lão “ngước đầu nhìn xung quanh” và “thấy bao nhiêu người kì dị hết sức, cứ hai
ba người một, đi đi lại lại như những bóng ma Nhưng nhìn kĩ thì lại chẳng lấy gì làm quái lạ nữa” Đúng là lão đang rơi vào trạng thái trông gà hóa cuốc, thần hồn nát thần tính mà tất cả cũng chỉ vì phương thuốc mà nhà lão đang rất cần để chữa bệnh cho con Thứ ánh sáng ở đây tạo cho lão cái nhìn ảo giác, vừa thực vừa hư mà cho
dù không viết một lời bình nào nhưng tác giả cũng hé lộ cho ta thấy trạng thái tâm lí lưỡng phân của lão Hoa Nếu có ai đó nhìn lão thì cũng nhìn bằng “ánh mắt cú vọ ngời lên, như người đói lâu ngày thấy cơm” hoặc nhìn lão với đôi mắt “sắc như hai lưỡi dao chọc thẳng vào lão” Những cặp mắt ấy cùng với những cái nhìn kia gia tăngsức nặng cho phương thuốc “đặc biệt lắm”, đó là “một chiếc bánh bao nhuốm máu”
mà lão nhìn rõ là “đỏ tươi, máu còn nhỏ từng giọt từng giọt” Tác giả kể một cách tuần tự, không vội vã, như thể đang theo nhịp của từng giọt máu đang nhỏ xuống Màu đỏ của máu tương phản với sắc phục màu đen của người bán bánh tạo ra ấn tượng hãi hùng, vừa huyền bí vừa mang sắc thái mỉa mai và đây là hai màu sắc đặc trưng mà lão Hoa nhận ra cũng như tác giả nhấn mạnh cho độc giả biết
Việc mua bán đã xong và lão đã có trong tay “cái gói bánh”, lão nâng niu nó như
“nâng niu đứa con của gia đình mười đời độc đinh” Có “gói bánh ấy” lão hoàn thành trách nhiệm làm cha, và lại cũng báo hiếu được cho tổ tiên, cứu cho dòng dõi nhà mình không dứt dòng tuyệt giống theo triết lí của đạo Khổng Hình ảnh mặt trời lại xuất hiện: “Mặt trời đã mọc, chiếu sáng con đường lớn đi về nhà lão, và cũng chiếu sáng cái biển mục nát trên cái nhà bia ở ngã ba đường sau lưng lão, có đề bốn chữ thếp vàng đã nhạt màu Cổ… Đình Khẩu” Tác giả dường như cố tình bỏ mất một chữ,song thực ra chỉ nhằm để chứng minh thêm rằng vầng dương đang chiếu sáng kia cũng chỉ là vầng dương yếu ớt, không đủ để soi rọi cả bốn chữ mà chỉ đủ chiếu sáng
có ba
Số lượng nhân vật trong truyện có thể nói là nhiều, song hiện hình rõ rệt chỉ có bốn Trước hết là vợ chồng lão Hoa chủ quán hiện ra chỉ với những động tác mà không có nét ngoại hình nào Hai vợ chồng rất kiệm lời, thể hiện sự nhất trí nhưng đầy băn khoăn nghi ngại mà cả vợ lẫn chồng đều không dám nói ra Vì thế khi cầm gói bạc để
đi mua thuốc, tay lão Hoa cứ “run run”, và cả khi đưa tiền để lấy chiếc bánh bao đẫmmáu người tay lão cũng “run run”, khi gặp người lạ thì lão “trố mắt lên” Nhân vật Thuyên được giới thiệu bằng “một cơn ho” và lời dặn dò của lão Hoa mà không hiện
ra cụ thể, song qua cách giới thiệu như vậy độc giả đã nắm bắt được lí do ra đi vào buổi tờ mờ sáng, khi còn chưa rõ mặt người, của lão Hoa với gói bạc dành dụm được
từ lâu Cơn ho còn là động lực thúc đẩy lão Hoa phải đi, vừa tạo ra sự thấp thỏm đợi chờ của bà Hoa Một nhân vật khác được miêu tả qua bộ “áo quần đen ngòm”, song
có khác hơn một chút là hắn có cặp “mắt sắc như hai lưỡi dao” với cử chỉ và cách nói dứt khoát: “Này! Tiền trao cháo múc, đưa đây!” Nhân vật này hiện ra với cách thức của một kẻ đao phủ chuyên nghiệp, lọc lõi chuyên buôn máu người chết Hắn cũng chẳng nói nhiều và cũng biết chẳng cần nói nhiều nhưng đã nói thì lời của hắn phải làmệnh lệnh
Số nhân vật khác hiện dưới dạng các đám đông “tụm năm tụm ba” mà không thể biết số lượng là bao Ngoài ra, còn “mấy người lính” được phân biệt không phải qua tên người hay khuôn mặt mà qua dấu hiệu quần áo có đính “miếng vải tròn màu
Trang 31trắng ở vạt áo trước và vạt áo sau” Đây là loại nhân vật được định danh bằng kí hiệuqui ước, song cũng thuộc loại nhân vật đám đông Tất cả họp thành một cái chợ đặc biệt Kẻ bán, bán loại thuốc “đặc biệt”, còn người mua tuy ngại ngùng song không thể không mua Cái vô giá của mặt hàng ấy không phải ở chất liệu bánh mì làm nên chiếc bánh bao mà ở chỗ nó được tẩm máu phạm nhân chết chém Người phải chết
đã chết rồi nhưng phần cơ thể của họ, hiện hình qua những giọt máu đỏ tươi còn rỏ dài theo bước chân của kẻ bán, tạo nên một nghịch cảnh trớ trêu, đầy nước mắt Số lượng người đến mua không đếm được song không phải là ít ỏi dưới mức bình
thường, càng cho thấy rõ hơn nỗi đau của đám dân chúng cuồng tín mê muội mà tác giả ngầm gửi gắm trong câu chuyện
Con đường mà lão Hoa đi bắt đầu từ nhà lão và kết thúc tại ngã ba đường, nơi có
“ngôi nhà còn đóng cửa kín mít” mà lão đã đứng chờ để mua phương thuốc thần diệu, nơi những người “tụm năm tụm ba lúc nãy” “dồn lại một chỗ”, “xô nhào tới nhưnước thủy triều”, “quây lại thành một nửa vòng tròn” Con đường đưa lão trở về hiển nhiên cũng chính là con đường ấy, song điều khác biệt là đám người “tụm năm tụm ba” kia, đám người “quây thành nửa vòng tròn” kia đã biến mất từ lúc nào và thay vào đó chỉ là tấm bia có “cái biển mục nát”, bốn chữ chỉ còn ba Sức gợi của mạch văn ở đây là rất lớn mà nếu chỉ đọc bàng bạc lướt qua thì chắc hẳn sẽ bỏ rơi những giá trị nhận thức cần thiết không chỉ để hiểu câu chuyện mà còn để hiểu thời đại mà câu chuyện đề cập tới nữa Đám người biến mất tăm mất dạng ở ngã ba đường, lão Hoa cũng chỉ đến ngã ba đường rồi quay lại Ngã ba đường nơi người ta bán bánh bao tẩm máu người, nơi người ta tận dụng cái chết để tạo thành thuốc “đặc biệt”, nơinuôi dưỡng niềm tin mù quáng và cuồng tín Ngã ba đường là nơi người ta phải chọn lựa, song sự chọn lựa của lão Hoa chỉ là quay về nhà với niềm tin vào chiếc bánh tẩmmáu người mang sức mạnh thần bí Ngã ba đường này vừa thực lại vừa hư, một ngã
ba đường với cái nhà bia tưởng niệm với cái biển đề mục nát Ngã ba đường kiểu nàythường gắn với hình tượng con đường vốn tiêu biểu cho tài năng và trí tuệ của Lỗ Tấn
Phần thừa đề diễn ra ngay trong ngôi nhà - quán trà ấy mà ta có thể tóm gọn nội dung bằng cụm từ dùng thuốc Ánh sáng cũng không sáng hơn cho dù có “ngọn lửa
đỏ sẫm bốc lên” từ trong gian bếp, tuy nhiên với ánh sáng ấy cũng đủ để nhận ra
“trên đĩa có vật gì tròn tròn, đen thui” qua màu đen của vỏ chiếc bánh bao bị “cháy sém” và “làn hơi trắng” bốc ra từ chiếc bánh bị bẻ làm đôi, tiếp đó là ruột bánh bằng
“bột mì trắng” Hành động diễn ra ở đây không nhiều nhưng đều được thể hiện một cách rất cẩn trọng, đầy xác tín Hình ảnh “thằng Thuyên đang ngồi ăn cơm ở cái bàn dãy phía trong, mồ hôi trán nhỏ từng giọt to tướng, chiếc áo kép dính vào sống lưng,hai xương vai gồ lên thành chữ “bát” in nổi” trong mở đầu đoạn II với cách thức
“Thuyên nghe tim mình đập mạnh không sao cầm nổi, đưa tay vuốt ngực” khi kết thúc phần II, gợi ra cảm giác mong manh, vô nghĩa của phương thuốc “đặc biệt lắm”
mà lão Hoa mua về Ngoài màu đen của vỏ chiếc bánh bị cháy sém và màu trắng củalàn hơi bốc lên từ chiếc bánh bị bẻ đôi mà làn hơi đó cũng mang lại cảm giác rợn người là màu chủ đạo, ở đây còn xuất hiện mùi vị qua sự cảm nhận của nhân vật Năm Gù: “Thơm ghê quá”, song đó là “mùi thơm quái lạ tràn ngập cả quán trà”, mùi thơm tỏa ra từ chiếc bánh bao tẩm máu người được bọc lá sen để nướng Cái “mùi thơm quái lạ” này càng tăng thêm ấn tượng cho phương thuốc đặc biệt, vừa tạo ra niềm tin cho vợ chồng lão Hoa vừa đe dọa cảm thức tâm linh của họ
Số lượng nhân vật ở đây cũng chỉ có bốn song vợ chồng lão Hoa chủ quán cũng chỉ được giới thiệu qua các động tác, cử chỉ là chủ yếu, ngoại trừ hình ảnh “bà Hoa từ trong bếp chạy ra, giương to đôi mắt, đôi môi run run” Còn thằng Thuyên đứa con còn lại của một gia đình “mười đời độc đinh” được giới thiệu kĩ hơn Trước hết là hình
Trang 32dáng với “hai xương vai gồ lên thành chữ “bát” in nổi” cho thấy căn bệnh của nó đã
vô phương cứu chữa và vì thế sự tuyệt vọng của gia đình càng tăng hơn
Rồi các động tác ăn bánh của nó, ngoan ngoãn hiền lành, bảo ăn thì ăn, bảo uống thìuống, bảo nằm thì nằm, không hề hé răng nửa lời bởi nó chẳng còn đủ sức mà nói
mà phô nữa, tới mức mới vừa nuốt khỏi cổ nó cũng quên tuốt luôn “mùi vị” của cái bánh mà nó vừa nhai nuốt, bởi lẽ nó cũng đã mất đi cảm giác ngon miệng, bởi bệnh
đã trầm trọng lắm rồi Cách hành động của Thuyên được thể hiện rõ nhất lúc hắn cầm chiếc bánh: “Thuyên cầm lấy vật đen thui, nhìn một lúc, có cảm giác rất lạ không biết thế nào mà nói, như đang cầm tính mệnh của chính mình trong tay” Cái
“lạ” trở thành cảm giác chung được mọi nhân vật nhận biết nhưng cả cha mẹ lẫn đứacon đều không nói cho nhau nửa lời về chuyện đó Cái “lạ” dường như chứa đựng một điều gì đó bí ẩn, khác thường, mà tuy nhận ra cái khác thường ấy, khác thường bởi đó là chiếc bánh bao tẩm máu người, song cả lão Hoa lẫn bà Hoa đều có cảm giác như là vật thiêng cứu mạng Cách trả lời duy nhất của thằng Thuyên là “ho”, là những “cơn ho” Cho nên khi thấy đứa con ăn có vẻ ngon lành thì hai ông bà cứ “trố mắt lên” như thể đang đi từ ngạc nhiên này đến ngạc nhiên khác hoặc giả cũng có thể quá đỗi lo sợ vì đứa con đang ăn nhanh để mà chết chứ không phải để kéo dài cuộc sống thì cả hai đều không thể nói ra lời nên đành phải “trố mắt” mà nhìn vậy Hình ảnh “lão Hoa đứng một bên, bà Hoa đứng một bên”, còn ở giữa là đứa con tạo
ra cảm giác như thể hai người đó đang đứng hai bên chiếc quan tài trong một đám tang Cảnh tượng đó thật hãi hùng song có tính biểu tượng rất lớn và kèm theo đó là nỗi đau tuyệt vọng, vừa của người đang sống mòn mỏi vô vọng lẫn của cả người đang chết dần một cách tuyệt vọng Tác giả khi miêu tả hai ông bà này cũng chỉ đặc
tả trạng thái bất bình thường của họ qua đôi mắt mà cụm từ được sử dụng nhiều nhất là “trố mắt lên”, còn khi phải hành động thì luôn “run run” Bà Hoa “run run” sợ chồng không mua được thuốc, lão Hoa “run run” khi đón nhận chiếc bánh bao tẩm máu người từ tên đao phủ Hoàn cảnh mà cả hai bị đặt vào thật hết sức thương tâm.Nhân vật thứ tư xuất hiện trong phần này là nhân vật có tên: “cậu Năm Gù”- cái tên này trước hết là một số thứ tự tạo ra ấn tượng về kiểu nhân vật vô danh, kiểu nhân vật mang kí hiệu qui ước, kèm theo đặc điểm nhân dạng qua biểu hiện tật nguyền của con người đó: nhân vật bị “gù” Xét về bản chất, đây là loại nhân vật vô công rồinghề, thể hiện ở chỗ: “cậu ta ngày nào cũng lê la ở cái quán này, thường đến sớm nhất mà cũng về muộn hơn ai hết” Cái mà cậu ta cảm nhận được là mùi vị bốc ra từgian bếp Cái mùi đối với vợ chồng lão Hoa là “quái lạ” thì lại được nhân vật cảm nhận thành mùi cơm rang: “Thơm ghê nhỉ !” Sự tật nguyền của cơ thể chưa đủ, tác giả cho nhân vật này tật nguyền luôn cả khứu giác Con người này, bao giờ cũng đếnsớm nhất và ra về muộn nhất, tại nơi mà một con bệnh đang hấp hối khiến cho không gian ngôi nhà - quán trà trở thành không gian đầy tử khí, nơi đó sự sống đangdần bị mất đi, cái chết đang lấn tới, bởi cái chết không chỉ hiện diện trong ngôi nhà - quán trà đó mà còn cả cái chết được mua, mang từ ngoài về Nhưng những con người đó không chỉ chết dần về mặt thể xác mà điều quan trọng hơn là họ đang chết
cả về tâm hồn lẫn trí tuệ
Không gian ngôi nhà - quán trà ấy tiếp tục được mở ra trong phần III - phần luận đề hay chuyển đề của câu chuyện, với số lượng người có vẻ tấp nập hơn, ồn ào hơn nhưng cũng buồn bã hơn Nội dung câu chuyện được bàn ở đây là công dụng của thứthuốc “đặc biệt” và nguồn gốc của thứ thuốc ấy Ánh sáng cũng không sáng hơn, chỉ
đủ để phân biệt màu huyền trên chiếc áo và chiếc thắt lưng của nhân vật Cả Khang Ngoài cậu Năm Gù vốn đã ngồi sẵn từ lâu ở đấy, xuất hiện thêm một người có “râu hoa râm”- nhân vật không có tên mà chỉ được định danh bằng đặc điểm cơ thể - sẽ đóng vai người khơi mở ra câu chuyện được bàn ở đây
Nhân vật Cả Khang với cái tên mang vẻ quyền uy kẻ cả trong làng, thể hiện luân lí