Tìm hiểu ngôn ngữ nghệ thuật trong các tác phẩm văn học dân gian từ góc nhìn Ngôn ngữ học đã có lịch sử lâu dài và đạt được những thành tựu đáng kể.Nhưng nghiên cứu ca từ của một thể lo
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI
TRẦN THỊ DIỄM HẠNH
ĐẶC ĐIỂM CA TỪ TRONG HÁT XOAN PHÚ THỌ
Chuyên ngành : Ngôn ngữ học
Mã số : 9.22.90.20
LUẬN ÁN TIẾN SĨ NGÔN NGỮ HỌC
Người hướng dẫn khoa học:
1 PGS.TS TẠ VĂN THÔNG
2 PGS.TS ĐẶNG THỊ HẢO TÂM
Hà Nội - 2020
Trang 2Tôi xin cam đoan, đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các kết quả nghiên cứu, số liệu trình bày trong luận án là trung thực, những kết luận khoa học của luận án chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác Nội dung luận án có tham khảo và sử dụng ngữ liệu được trích dẫn từ các tác phẩm và nguồn tư liệu đăng tải trên các trang thông tin điện tử theo danh mục tài liệu của luận án
Tác giả luận án
Trần Thị Diễm Hạnh
Trang 3Xin chân thành cảm ơn Thầy Cô thuộc Bộ môn Ngôn ngữ thuộc Khoa Ngữ văn, trường Đại học Sư phạm Hà Nội, đã chỉ dạy và dành những ý kiến đóng góp quý báu cho đề tài nghiên cứu này
Tôi xin bày tỏ sự kính trọng và lòng biết ơn sâu sắc tới Thầy Tạ Văn Thông và Cô Đặng Thị Hảo Tâmđã hướng dẫn, giúp đỡ tôi hoàn thành luận án Nhân dịp này, tôi xin trân trọng cảm ơn Ban Giám hiệu, tổ Văn và các đơn vị liên quan của trường THPT Chuyên Hùng Vương, Phú Thọ; Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh Phú Thọ; Nhạc viện Quốc gia Việt Nam tại Hà Nội đã tạo mọi điều kiện thuận lợi giúp đỡ tôi trong quá trình nghiên cứu Xin chân thành cảm ơn gia đình, bạn bè, đồng nghiệp đã chia sẻ, động viên và tiếp thêm nghị lực để tôi hoàn thành luận án
Hà Nội, tháng năm 2021
Tác giả luận án
Trần Thị Diễm Hạnh
Trang 4Trang
MỞ ĐẦU 1
1.Lí do chọn đề tài 1
2.Mục đích nghiên cứu 2
3.Nhiệm vụ nghiên cứu 2
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 2
5 Phương pháp nghiên cứu 4
6.Những đóng góp của luận án 6
7 Cấu trúc của luận án 6
CHƯƠNG 1.TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU;CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 7
1.1.Tổng quan về tình hìnhnghiêncứu về ca từ trong hát Xoan Phú Thọ 7
1.1.1.Những nghiên cứu về “ca từ” nói chung 7
1.1.2 Những nghiên cứu về hát Xoan Phú Thọ 12
1.2 Cơ sở lí luận 23
1.2.1 Cơ sở ngôn ngữ học 23
1.2.2 Cơ sở văn hóa học 44
1.3.Cơ sở thực tiễn 53
1.4 Tiểu kết CHƯƠNG 2.ĐẶC ĐIỂM CA TỪ HÁT XOAN PHÚ THỌXÉTVỀ MẶT HÌNH THỨC 54
2.1 Kết cấu “đoạn” của văn bản hát Xoan 54
2.1.1 Dạng kết cấu một đoạn 54
2.1.2 Dạng kết cấu hai đoạn 57
2.1.3 Dạng kết cấu ba đoạn 59
2.2 Thể trong hát Xoan 61
2.2.1 Thể 4 tiếng và biến thể 62
2.2.2 Thể lục bát và biến thể 66
Trang 52.2.4 Thể song thất lục bát và thể tự do 75
2.3 Vần trong hát Xoan 77
2.3.1.Vần trong một khổ 78
2.3.2.Vần giữa các khổ 79
2.4 Nhịp và sự hòa phối thanh điệu hát Xoan 81
2.4.1 Nhịp 81
2.4.2 Sự hòa phối thanh điệu 85
2.5.Tiểu kết 88
Chương 3 ĐẶC ĐIỂM CA TỪHÁT XOAN PHÚ THỌ XÉT VỀ MẶT NGỮ NGHĨA 90
3.1 Ngữ nghĩa qua hệ thống tiêu đề các bài hát Xoan 90
3.1.1 Tiêu đề trong mối quan hệ với đề tài 90
3.1.2 Đề tài và mạch lạc trong ca từ hát Xoan 94
3.2 Các trường từ vựng trong ca từ hát Xoan 100
3.2.1 Trường từ vựng “con người” 100
3.2.2 Trường từ vựng“thời gian” 118
3.2.3 Trường từ vựng “vũ trụ” 121
3.2.4 Trường từ vựng “thực vật” 126
3.2.5 Trường từ vựng “động vật” 127
3.2.6 Trường từ vựng “lễ hội” 129
3.3 Một số biểu tượng ngôn ngữ - văn hóa trong hát Xoan 131
3.3.1 Một số biểu tượng trong ca từ hát Xoan 131
3.3.2 Một số nhận xét 147
3.4 Tiểu kết 148
KẾT LUẬN 150
TÀI LIỆU THAM KHẢO 153 PHỤ LỤC
Trang 6DANH MỤC BẢNG
Trang Bảng 1.1 Danh sách các làng, xã có phường hát Xoan ở tỉnh Phú Thọ và
Vĩnh Phúc 46
Bảng 2.1 Đoạn và sự phân loại các bài hát Xoan 54
Bảng 2.2 Mô hình kết cấu một đoạn gồm 3 trổ 55
Bảng 2.3 Mô hình kết cấu hai đoạn trong hát Xoan 58
Bảng 2.4 Tên gọi và nội dung 3 đoạn 59
Bảng 2.5 Mô hình kết cấu ba đoạn trong hát Xoan 60
Bảng 2.6 Thể và sự phân loại các bài hát Xoan 61
Bảng 2.7 Số dòng 4 tiếng và dòng biến thể 5 - 6 tiếng trong hát Xoan 63
Bảng 2.8 Số dòng 4 tiếng và các dòng biến thể 7 tiếng trở lên 64
Bảng 2.9 Các bài hát Xoan thể lục bát và biến thể 67
Bảng 2.10 Các bài hát và số dòng biến thể trong thể lục bát 69
Bảng 2.11 Các bài hát Xoan thể thất ngôn và biến thể của thất ngôn 71
Bảng 2.12 Các bài hát Xoan thể tự do 77
Bảng 2.13 Các loại vần trong bài hát Xoan 78
Bảng 2.14 Các loại vần trong một khổ 78
Bảng 2.15 Cách phân nhịp phổ biến theo thể trong bài hát Xoan 81
Bảng 2.16 Số dòng phối thanh đúng luật và thất luật 86
Bảng 2.17 Số dòng phối đúng luật BT chia theo thể 86
Bảng 2.18 Số dòng phối thanh thất luật BT 87
Bảng 3.1 Nhan đề các bài hát Xoan ứng với đề tài 93
Bảng 3.2 Từ ngữ thuộc các trường từ vựng 100
Bảng 3.3 Số lượng từ ngữ các tiểu trường thuộc trường “con người” 101
Bảng 3.4 Tiểu trường từ vựng “tình thái” 102
Bảng 3.5 Tiểu trường “hoạt động” của con người 108
Bảng 3.6 Tiểu trường từ vựng “địa vị xã hội” 112
Trang 7Bảng 3.8 Tiểu trường từ vựng “nghề nghiệp” 116
Bảng 3.9 Tiểu trường từ vựng “bộ phận cơ thể người” 117
Bảng 3.10 Trường từ vựng“thời gian” 118
Bảng 3.11 Tiểu trường từ vựng “thời gian – mùa” 119
Bảng 3.12 Trường từ vựng “vũ trụ” 122
Bảng 3.13 Tiểu trường từ vựng “sự vật, hiện tượng tự nhiên” 122
Bảng 3.14 Tiểu trường từ vựng “không gian” 123
Bảng 3.15 Trường từ vựng “thực vật” 126
Bảng 3.16 Trường từ vựng “động vật” 127
Bảng 3.17 Trường từ vựng “lễ hội” 129
Bảng 3.18 Một số biểu tượng nổi bật trong ca từ hát Xoan 131
Trang 8MỞ ĐẦU
1 Lí do chọn đề tài
1.1 Tìm hiểu ngôn ngữ nghệ thuật trong các tác phẩm văn học dân gian
từ góc nhìn Ngôn ngữ học đã có lịch sử lâu dài và đạt được những thành tựu đáng kể.Nhưng nghiên cứu ca từ của một thể loại dân ca vùng miền thì vẫn còn một khoảng trống lớn cần được lấp đầy Đây là một hướng đi nhiều triển vọng, hấp dẫn và hứa hẹn những thành tựu mới
1.2 Hát Xoan là hình thức nghệ thuật diễn xướng tổng hợp: ca – múa -
nhạc, phục vụ nhu cầu tín ngưỡng của cộng đồng; là di sản văn hóa phi vật thể quý báu của vùng đất Tổ Phú Thọ nói riêng và của kho tàng di sản văn hóa dân tộc Việt Nam nói chung Đây là hình thức dân ca được sinh ra ở một vùng văn hóa cổ, mang đậm tính nghi lễ, phong tục - còn gọi là hát cửa đình hay “khúc môn đình”, được trình diễn vào hội làng mùa xuân Lối hát này có bề dày lịch
sử, có tổ chức phường hội chặt chẽ, không gian văn hóa rộng lớn và từng có sức lan tỏa mạnh mẽ khắp cộng đồng Hát Xoan Phú Thọ đã được UNESCO vinh danh là Di sản văn hoá phi vật thể đại diện của nhân loại vào ngày 3 – 2 năm
2018
1.3 Cũng như nhiều di sản văn hóa phi vật thể khác, hát Xoan đang đứng
trước sự tiếp biến văn hóa và nguy cơ mai một Các nghệ nhân hát Xoan lâu đời (các cụ trùm Xoan - những báu vật nhân văn sống, những người lưu giữ nghệ thuật trình diễn hát Xoan)không còn nhiều Điều này ảnh hưởng rất lớn đến quá trình truyền dạy di sản này cho các thế hệ kế tiếp Các bài bản Xoan gốc nhiều năm đã bị mai một, hiện tại không tránh khỏi “tam sao thất bản”, làm mất đi tính nguyên gốc của di sản hoặc diễn xướng không đầy đủ nội
dung
Tìm hiểu và nghiên cứu ca từtrong các bài hát Xoan Phú Thọ giúp chúng
ta hiểu biết thêm được cái hay, cái đẹp, sự độc đáo trong loại hình âm nhạc dân
Trang 9gian này, từ đó góp phần giới thiệu, tôn vinh những giá trị văn hóa của di sản phi vật thể đại diện nhân loại Việc làm này còn nhằm khẳng định những tâm huyết, tài năng của các nghệ sĩ dân gian Việt trong sáng tạo nghệ thuật; đồng thời góp phần quan trọng lí giải sự hấp dẫn đặc biệt của loại hình nghệ thuật hát Xoan từ góc nhìn Ngôn ngữ học
Xuất phát từ những lí do trên, luận án đã lựa chọn đề tài “Đặc điểm ca từtronghát Xoan Phú Thọ” để nghiên cứu
2 Mục đích nghiên cứu
Từ góc nhìn của Ngôn ngữ học, để tìm hiểu đặc điểm ca từ trong hát Xoan Phú Thọ, luận án đặt ra mục đích nghiên cứu nhằm góp phần chứng tỏ những nét đặc sắc, những biểu hiện độc đáo về ngôn ngữ - văn hóa của nghệ thuật hát Xoan
Qua đó, từng bước làm lộ diện những giá trị đẹp đẽ của mạch nguồn văn hóa dân gian của người Việt
3 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Tìm hiểu những vấn đề cơ sở lí luận và thực tiễn có liên quan đến đề tài
- Khảo sát và tập hợp tư liệu có liên quan về hát Xoan
- Miêu tả đặc điểm ca từ trong hát Xoan Phú Thọtrên hai phương diện: hình thức (các hình thức kết cấu văn bản, thể, vần, nhịp, sự hòa phối thanh điệu) và ngữ nghĩa(tiêu đề, các trường từ vựng, một sốbiểu tượng ngôn ngữ trong ca từ hát Xoan)
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Luận án tập trung xem xét lời bài hát (ca từ)trong 42 bài hát Xoan Phú Thọ 42 bài hát Xoan này được thu thập từ các nguồn: văn bản đã được các nhà nghiên cứu văn hóa dân gian sưu tầm và ghi chép lại; các văn bản đã được xuất bản trước đây và hiện tại; các bài hátphổ biến được diễn xướng tại các làng Xoan, cuộc thi hát Xoan ởcác địa phương tỉnh Phú Thọ
Trang 104.2 Phạm vi nghiên cứu
Phạm vi nghiên cứu của luận án là các đặc điểm về mặt hình thức (kết cấu văn bản, thể, vần, nhịp, sự hòa phối thanh điệu) và các đặc điểm về mặt ngữ nghĩa (tiêu đề, trường từ vựng và một số biểu tượng ngôn ngữ)
Phạm vi nguồn ngữ liệu của luận án là ca từ của 42 bài hát Xoan Phú Thọ trong 7 công trình được kể tên ở dưới Tổng số bài trong 7 công trình này
là 115 Trong quá trình thu thập, sưu tầm và đi điền dã các làng Xoan ở địa phương, tác giả luận án thấy có sự trùng hợp của 73 bài chúng tôi nênchọn 42 bài Căn cứ để tác giả luận án chọn những bài này vì đây là 42 bài được hát nhiều nhất, phổ biến nhất và đặc sắc nhất Các con số ở từng công trình là các con số biểu hiện cho số bài hát được dẫn [xem PL 3 & PL4] Cụ thể 7 công trình đó là:
1 Hát Xoan – dân ca nghi lễ phong tục (Tú Ngọc, NXB Âm nhạc, 1997) (lấy
7 Tổng tập nghiên cứu về hát Xoan Phú Thọ (Viện Âm nhạc, NXB Văn hóa
dân tộc, 2017) (lấy 5/21 bài)
Tác giả đã sử dụng 26 bài của công trình số 5; 5 bài ở công trình số 1; 6
Trang 11bài ở công trình số 6và 5bài ở công trình số 7 Trong đó, 26 bài ở công trình
số 5 đã được khảo sát cụ thể [X pl6] Các bài hát Xoan ởPhần ca từ trong các
công trình 2, 3, 4đểtham khảo trong quá trình khảo sát
Tính đến thời điểm hiện nay thì đây là các nguồn tư liệu mới nhất, đầy đủ nhất về hát Xoan Phú Thọ.Toàn bộ phần khảo sát và các bảng số liệu cũng như các nhận xét và kết luận của đề tài đều được tổng kết từ phạm vi nguồn ngữ liệu này
5 Phương pháp, thủ pháp nghiên cứu
5.1 Ngôn ngữ học điền dã
Tiến hành nghiên cứu đề tài, tác giả đã đi thực tế ở các làng Xoan được cho là các làng Xoan gốc tại các xã An Thái, Kim Đức (thành phố Việt Trì), làng Xoan Cao Mại (huyện Lâm Thao), làng Xoan An Đạo, Phù Ninh (huyện Phù Ninh), làng Xoan Hương Nộn (huyện Tam Nông) Tác giả đã gặp gỡ, trò chuyện và phỏng vấn các nghệ nhân hát Xoan lão thành (Nghệ nhân ưu tú Nguyễn Thị Lịch, phường Xoan An Thái;nghệ nhân Nguyễn Văn Lợi, phường Xoan Phượng Lâu; nghệ nhân Nguyễn Xuân Hội, phường Xoan Kim Đức; nghệ nhân Lê Thị Tú, phường Xoan Kim Đức; nghệ nhân Nguyễn Văn Bình, phường Xoan Hương Nộn; nghệ nhân Vũ Văn Dinh, phường Xoan Tiên Du; nghệ nhân Trần Thị Bạch Lê, phường Xoan Cao Mại, ), được xem và nghe biểu diễn các tiết mục Xoan; thưởng thức các tiết mục hát Xoan tại các Hội diễn, Hội thi hát Xoan được tổ chức tại thành phố Việt Trì và tỉnh Phú Thọ trong thời gian các năm từnăm 2015 – 2019
5.2 Phân tích - miêu tả
5.2.1 Phân tích nghĩa
Luận án sẽ tiến hành phân tích nghĩa của các từ thuộc cùng một trường
từ vựng, nhằm tách ra những đặc trưng ngữ nghĩa khu biệt của từ, nhóm từ dựa trên nguyên tắc đối lập lưỡng phân các từ vị, kết hợp với sự căn cứ vào
Trang 12ngữ cảnh (bài, đoạn, trổ, khổ, dòng, ) hát Xoan Phương pháp này giúp tìm
ra cấu trúc ngữ nghĩa chung của các đơn vị ngôn ngữ được nghiên cứu
Phương pháp này sẽ được chúng tôi sử dụng trong chương 2 và chương 3
5.2.2 Miêu tả
Luận án miêu tả kết hợp với phân tích mô hình các bài thơ (bài hát Xoan), miêu tả về khổ thơ với thanh điệu bằng – trắc, cách gieo vần, ngắt nhịp Luận án tiến hành mô tả có định lượng để có những nghiên cứu định tính về vần, nhịp và sự phối hợp thanh điệu của ca từ trong hát Xoan Phú Thọ Phương pháp miêu tả cũng được dùng để chỉ ra tính quy luật của ngữ nghĩa (ngữ nghĩa qua hệ thống tiêu đề, các trường từ vựng, biểu tượng) trong hát Xoan
5.3 Phân tích diễn ngôn
Sử dụng phương pháp này, luận án nhằm tìm những kiểu lựa chọn và kết hợp tiêu biểu để chỉ ra giá trị của ca từ hát Xoan trong quá trình diễn xướng Trong khi vận dụng phương pháp này, luận án luôn quan tâm đến chức năng thẩm mĩ của ca từ hát Xoan trong mối quan hệ với toàn bộ cuộc diễn xướng hát Xoan và các yếu tố của ngữ cảnh, đặc biệt là nhân tố chủ thể văn hóa
5.4 Nghiên cứu liên ngành
Ngoài ra, đối tượng nghiên cứu và tư liệu khảo sát của luận án liên quan đến tác phẩm âm nhạc dân gian (phần lời trong các bài hát dân ca) nên ngoài những tri thức ngôn ngữ làm nền tảng, luận án có sử dụng một số tri thức và kĩ năng của một số ngành khác như: văn học dân gian, âm nhạc dân gian, văn hóa học, lịch sử
5.5 Thủ pháp thống kê, phân loại
Đây là thủ pháp hỗ trợ cho phương pháp phân tích - miêu tả Thủ pháp này sẽ được sử dụng trong chương 2 và chương 3
Trang 136 Những đóng góp của luận án
- Về mặt lý luận:
Những kết quả đạt được của luận án có thể làm phong phú hơncho những nghiên cứu về ca từ của một thể loại dân ca vùng miền trên đất nước.Hướng nghiên cứu của đề tài có thể vận dụng trong nghiên cứu ca từ của các tác phẩm âm nhạc có lời (dân gian và hiện đại)của Việt Nam từ góc nhìn Ngôn ngữ học
- Về mặt thực tiễn:
Những kết quả đạt được của luận án có thể giúp giải mã sức hấp dẫn,
sự độc đáo, giá trị của loại hình âm nhạc hát Xoan Phú Thọ dưới góc độ Ngôn ngữ học.Đây cũng có thể là một đóng góp làm giàu thêm cho phần tư liệu và cách nhìn nhận, đánh giá về di sản hát Xoan
Các kết quả của luận án có thể là những tiền đề lí luận để địa phương Phú Thọ xây dựng chương trình và sách giáo khoa dạy hát Xoan trong các
cấp học phổ thông theo hướng lồng ghép vào bộ môn Âm nhạcvà phân bố
trong chương trình giáo dục địa phương
7 Cấu trúc của luận án
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Phụ lục và Tài liệu tham khảo, luận
Trang 14CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU
CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN
1.1 Tổng quan về tình hìnhnghiêncứu về ca từtrong hát Xoan Phú Thọ
1.1.1 Những nghiên cứu về “ca từ”nói chung
1.1.1.1 “Ca từ”là gì?
Khái niệm ca từ(lyric - lời ca, lời bài hát) xuất phát từ tiếng Latin (lyricus) và từ Hy Lạp (λυρικός - lyrikós ), hình thức tính từ của đàn Lia Nó xuất hiện lần đầu trong tiếng Anh trong giữa thế kỷ thứ XVI trong
một tài liệu do Bá tước Bernard Surrey soạn thảo Khái niệm này lần đầu tiên
được tác giả Stainer và Barrett sử dụng vào năm 1876 trong tác phẩm “Từ điển các thuật ngữ âm nhạc”: “Ca từ(Lyric) là lời thơ hay câu trống dự định
sẽ được đặt vào âm nhạc và hát lên"[dt 135]
Vào những năm 1930, khái niệm “ca từ”bắt đầu được sử dụng rộng rãi
hơn; và được tiêu chuẩn hóa kể từ những năm 1950 “Ca từ” (lyric – lời bài hát)được coi là phần lời, phần ngôn ngữ của các tác phẩm âm nhạc dùng để hát
lên [dt 146]
Jean Chevalier và Alain Gheerbrant đã viết: “Ca từ là biểu tượng sự thuần khiết nhất, tượng trưng cho sự biểu hiện của bản thểtự suy nghĩ và tự thể hiện mình, hoặc được thấu hiểu và được giao hòa với một bản thể khác” [35, tr 528]
Tác giả Lauren Meeker cho rằng: “Ca từ là chất liệu, là tín hiệu vật chất nhìn thấy được của một bài ca…là phần hồn của bài ca ấy” [145, tr.73]
Ở Việt Nam, khái niệm “ca từ” có những cách hiểu và định nghĩa khác
nhau Theo Từ điển tiếng Việt thì “ca từ là lời của bài hát” [92, tr 97] Phan
Ngọc cho rằng “nói đến ca từ tức là nói đến mặt lời của âm nhạc…chủ yếu là lời thơ” [78, tr.78]
Trang 15Tác giả Dương Viết Á định nghĩa: “Ca từ là một thuật ngữ với nội dung khái niệm khá rộng, kể từ nhỏ như tên gọi, tiêu đề, lời đề từ, ghi chú, chỉ dẫn…đến như lời ca, kịch bản của nhạc cảnh, nhạc kịch, kịch hát truyền thống…”[1, tr.21]
Vũ Tự Lân quan niệm: “Ca từ sẽ bao gồm: phần tiêu đề, đề từ, ghi chú, chỉ dẫn và phần lời ca Trong đó tên gọi của bài hát có thể ngắn, có thể dài, có thể vừa mang tính định hướng, vừa mang tính gợi mở Còn về lời ca sẽ là tất
cả những từ, những ngữ được ca lên, hát lên, nghĩa là được vang lên theo cao
độ, trường độ, cường độ… ghi trên bản phổ các ca khúc” [68, tr.49]
Như vậy, từ các quan niệm trên, luận án cho rằng“ca từ” là tất cả phần ngôn ngữ nghệ thuật trong bài hát bao gồm nhan đề và phần lời để hát
1.1.1.2 Những nghiên cứu về“ca từ” trong tác phẩm âm nhạc dân gian
lặp lại ở một mức độ cao duy nhất), ca từ (sự sử dụng những âm tiết không có
trong ngữ vực được phát thành âm), kiểu gam và biên độ (khoảng cao độ), tất
cả đều biến đổi theo ngôn ngữ đó là ngôn ngữ thiên về trường độ (như tiếng Hán), hay ngôn ngữ thiên về cao độ (như tiếng Anh) [103, tr.82 – 83]
Ruth Finnegan viết về mối quan hệ giữa ca từ với phương thức diễn xướng trong âm nhạc dân gian như sau: “Cái được truyền bá (ca từ) hoàn toàn
không phải là các lời văn ghi trong trí nhớ mà là các mớ các công thức thuộc
đủ mọi cấp độ (từ các dòng viết cho tới các tình tiết quan trọng, đề tài và khuôn mẫu…mà nhà thơ viện vào phục vụ cho cuộc diễn xướng mang tính
Trang 16sáng tạo của mình Đó thực sự là một phương thức truyền miệng của sự sáng – tác - khi - diễn - xướng, trong đó, khác với lời văn dạng viết, không có khái niệm về một phiên bản chính xác” [103, tr.263]
Beverly J Stoeltje chỉ ra mối quan hệ giữa ca từ, âm nhạc với nghệ thuật múa trong lễ hội dân gian như sau: “…Các điệu múa bao gồm cả âm
nhạc và ca từ có thể được diễn xướng vì mục đích tôn giáo, như một phần của
truyền thống dân gian, hoặc như một hành vi xã hội Phần nhạc, phần lời và các động tác múa đã ngấm vào lễ hội, sâu tới mức chúng dẫn đầu hầu hết các hoạt động và chi phối cảm xúc của người tham gia” [104, tr.146]
Hai tác giả Turpin M & Stebbin T trong bài tổng quan “The language
of song: some recent approaches in Description and Analysiss” đã viết về ca
từ và các yếu tố liên quan trong các bài hát dân ca ở nước Úc Bài khảo cứu
17 trang đã đi vào phân tích một cách tỉ mỉ, chi tiết các 29 vấn đề của ca từ và bài hát gồm: định nghĩa bài hát, hình thức tổ chức và cấu trúc của bài hát, các yếu tố ngôn ngữ trong bài hát (câu, điệp khúc, câu thơ, khổ, đoạn), nhịp, giai điệu, ý nghĩa của từ, ý nghĩa của lời bài hát, ý nghĩa tương tác của bài ca,
Họ đã phân chia: “Cơ cấu tổ chức của một bài hát có thể có phạm vi cả văn bản và âm nhạc Ví dụ, điệp khúc là một dòng văn bản và giai điệu lặp đi lặp lại Mặt khác, câu nhạc có giai điệu giống nhau nhưng lời ca khác nhau Mô hình âm thanh chẳng hạn như vần thường (nhưng không phải luôn luôn) xảy
ra ở cuối các ca từ Riêng thành phần âm nhạc có thể có cấu trúc riêng của
nó Ví dụ, cao độ của nốt nhạc bị giới hạn bởi cấu trúc âm sắc của thể loại âm nhạc cụ thể hoặc hệ thống âm nhạc của người nghe được kết hợp với văn hóa” [146]
Như vậy những nghiên cứu về ca từ trong các tác phẩm âm nhạc dân gian trên thế giới thường từ góc nhìn từ lĩnh vực âm nhạc Các nhà nghiên
cứu thường đặt ca từ trong mối quan hệ với các yếu tố khác như vũ đạo, âm
nhạc, tiết tấu và diễn xướng
ii/ Ở Việt Nam
Trang 17Ở nước ta,những nghiên cứu về ca từđã có trong các công trình [1], [2],
[5], [10], [32],[36], [41], [61], [68], [70], [73],[74], [76], [80] và [84]
Dương Viết Á nghiên cứu về ca từ ở Ca từ trong âm nhạc Việt Nam[1]
Một số nội dung mà tác giả đã làm rõ như: mối quan hệ giữa ca từ với thơ ca
và âm nhạc; vai trò, chức năng và đặc trưng của ca từ; tính khuynh hướng trong ca từ; tính dân tộc trong ca từ; và thi pháp trong ca từ
Các tác giả như Vũ Tự Lân [68], Thụy Loan [70], Phạm Phúc Minh [74], Huyền Nga [76], Tú Ngọc [79], [80] - những nhạc sĩ, nhà nghiên cứu
âm nhạc - cũng có những một số nhận định về ca từ trong các tác phẩmhoặc trong nhiều giai đoạn khác nhau Đây là những công trình nghiên cứu ca từ dưới góc độ của lĩnh vực âm nhạc, lịch sử, văn hóa dân gian, dân tộc học…
Tất cả những công trình kể trên đều có liên quan ở các mức độ khác nhau đếnca từ trong ca khúc; nhưng công trình tập trung chuyên sâu vào ca từ dưới góc độ Ngôn ngữ học là rất ít.Trong số ít những công trình về lĩnh vực này, có thể kể tới một số công trìnhcủa Trần Kim Phượng [128], Nguyễn Thị Bích Hạnh [39], Trần Anh Tư [114],
Trước hết cần nhắc tới các nghiên cứuBiểu tượng ngôn ngữ trong ca từ Trịnh Công Sơn và Hệ thống biểu tượng trong ca từ Trịnh Công Sơn dưới góc
độ ngôn ngữ học tri nhận của tác giả Nguyễn Thị Bích Hạnh Trong các tác
phẩm này, tác giả chủ yếu tìm hiểu và nghiên cứu các hệ thống biểu tượng (từ
mẫu gốc văn hóa đến những biểu tượng trực quan) trong ca từ của nhạc sĩ
Trịnh Công Sơn dưới góc độ của Ngôn ngữ học tri nhận Tác giả đã xác định hướng đi cụ thể như sau: chỉ rõ hệ thống các biểu tượng trong ca từ nhạc Trịnh Công Sơn, từ đó chứng minh mối liên hệ về mặt nguồn gốc của biểu tượng gắn với các quan niệm triết học, tôn giáo, văn hóa của nhân loại Đồng thời, tác giả cũng làm rõ sự kế thừa, sáng tạo để lại hình thành nên những ý nghĩa biểu trưng của hệ biểu tượng cũng như các biến thể trong ca từ của nhạc
Trang 18sĩ Trên cơ sở phân tích sự kế thừa và chuyển đổi ý nghĩa của biểu tượng theo hướng lịch đại, tác giả đã so sánh và đối chiếu trên mặt đồng đại, xác định hướng nghĩa biểu trưng chủ yếu của hệ biểu tượng trong ca từ Trịnh Công Sơn Sau đó, tác giả đã chỉ ra bản chất sự tồn tại của các biểu tượng ngôn ngữ trong ca từ của nhạc sĩ, ý nghĩa biểu trưng và mức độ khái quát của từng biểu tượng Từ đó, tác giả đã tìm hiểu quan niệm nghệ thuật của nhạc sĩ về con người, tình yêu và cõi thế
Tìm hiểu về ca từ dưới góc nhìn Ngôn ngữ còn phải kể đến bài viết
Những kết hợp bất thường trongca từ Trịnh Công Sơn nhìn từ góc độ ngữ pháp của Trần Kim Phượng [128] Tác giả bài viết đã đi vào tìm hiểu bất
thường trong ca từ Trịnh Công Sơn ở các cụm danh từ (đảo trật tự các thành
tố, dùng danh từ đơn vị mang tính chất lạ hóa, dùng các định ngữ mang tính bất thường); cụm động từ; cụm tính từ (kết hợp so sánh sắc màu của Trịnh);
sự chuyển hóa từ loại và những kết hợp bất thường trong cấu trúc câu (dưới dạng định nghĩa, quan hệ bất thường về nghĩa giữa chủ ngữ và vị ngữ, đảo trật
tự cú pháp) Bài viết ghi nhận ở nhạc sĩ này một mẫn cảm ngôn ngữ tuyệt diệu Bằng những kết hợp lạ lẫm, những so sánh bất ngờ, những sắp xếp độc đáo, thông qua một tri giác bén nhạy, nhiều tầng, đa chiều kích, và với một tâm hồn lãng mạn của một thi sĩ, Trịnh Công Sơn đã làm phong phú thêm kho tàng ngôn ngữ Việt
Ngoài ra luận án Tiến sĩMối quan hệ giữa thanh điệu trong ca từ với giai điệu của hát ví Nghệ Tĩnh của Trần Anh Tư [114]cũng góp thêm một
tiếng nói cho nghiên cứu về ca từ dưới góc độ Ngôn ngữ học Tác giả đã khẳng định:trong hát ví Nghệ Tĩnh, tần số xuất hiện của thanh bằng lớn hơn nhiều so với thanh trắc Điều này tạo nên đặc điểm trong âm hưởng chính của giai điệu hát ví Nghệ Tĩnh là nhiều cung bậc trầm bổng, du dương, luyến láy
và hạn chế được những khó khăn trong quá trình phát âm, sự thay đổi đột
Trang 19ngột về cao độ của giai điệu Tác giả cũng cho rằng trong hát ví Nghệ Tĩnh, thanh ngã và thanh nặng gần như không có sự phân biệt về cao độ Khác với dân ca Bắc Bộ, làn điệu hát ví nằm ở âm khu thấp như đặc điểm giọng nói nặng và trầm của ngữ âm xứ Nghệ
Bên cạnh đó còn một số công trình ít nhiều có liên quan đến đề tài luận
án như: Đặc trưng hình thức các thể thơ dân gian Nghệ Tĩnh của Ngô Văn Cảnh [12]; Đặc điểm ngôn ngữ giới tính trong hát phường vải Nghệ Tĩnh của Nguyễn Thị Mai Hoa [45]; Đặc điểm hình thức ngữ nghĩa thơ ca dân gian Quảng Nam của Bùi Thị Lân [65], v.v
Như vậy, lịch sử nghiên cứu về ca từ dưới góc nhìn Ngôn ngữ học chưa
có bề dày và kết quả còn hạn chế Điều này cho thấy sự cần thiết có thêm các công trình tìm hiểu về ca từ trong các tác phẩm âm nhạc có lời ở Việt Nam nhất là vốn dân ca, nhạc cổ truyền
1.1.2 Những nghiên cứu vềhát Xoan Phú Thọ
1.1.2.1 Trên các phương diện văn hóa, lịch sử, xã hội và nghệ thuật
Việc sưu tầm và tìm hiểu về hát Xoan ở Việt Nam được thực hiện từ cuối những năm 1950 Trong những năm gần đây, kể từ khi hát Xoan được UNESCO vinh danh là Di sản văn hóa phi vật thể cần bảo vệ khẩn cấp (2011) rồi trở thành Di sản văn hóa đại diện của nhân loại (2018) thì hát Xoan đã trở thành đối tượng thu hút nhiều sự quan tâm tìm hiểu và nghiên cứu từ nhiều góc độ khác nhau Cho đến nay, đã có không ít các bài viết, công trình, sách xuất bản mang tính tổng hợp hay chuyên sâu đề cập đến các khía cạnh khác nhau của hát Xoan Phú Thọ
Ngoại trừ các tài liệu tập trung viết về lịch sử, văn hóa, nghệ thuật, còn lại phần lớn các tài liệu đều chung một nội dung mang tính giới thiệu khái quát Các công trình này đã điểm qua hoặc khảo sát về nguồn gốc, địa bàn diễn xướng, lịch trình, tổ chức sinh hoạt ca hát, quy cách hát, nội dung mỗi đoạn trình diễn, làn điệu âm nhạc và múa…với những mức độ khác nhau
Trang 20Một thành tựu nghiên cứu đáng kể nữa về hát Xoan nữa là các cuộc hội thảo về hát Xoan Từ khi hát Xoan được quan tâm tìm hiểu và nghiên cứu đến nay đã có 2 hội thảo lớn được diễn ra Hội thảo về hát Xoan lần thứ I vào tháng 10 năm 1994 Hội thảo này đã thu hút được 19 bản tham luận của các nhà nghiên cứu trong nước Nội dung chính của các bài viết trong Hội thảo chủ yếu đặt vấn đề về thể loại trong sự phân biệt giữa hát Xoan và hát Ghẹo Phú Thọ Cụm từ “hát Xoan Ghẹo” thường được nhắc lại nhiều lần
Hội thảo về hát Xoan lần thứ II là Hội thảo Khoa học Quốc tế diễn ra ngày 16/1/2010 Hội thảo có 33 bản tham luận của các nhà khoa học trong nước và 11 bản tham luận của các nhà khoa học nước ngoài.Chủ đề của cuộc Hội thảo là: xác định nguồn gốc, tên gọi, nét đặc sắc, giá trị của hát Xoan; một số bài học kinh nghiệm để bảo tồn và làm lan tỏa các giá trị của hát Xoan; so sánh hát Xoan với các loại hình âm nhạc dân gian của Lào, Thái Lan, Hàn Quốc, Trung Quốc,
Tại Hội thảo lần thứ II, trong các bài viết của các nhà nghiên cứu nước ngoài, có thể một số ý kiến nổi bật sau:
Sheen Dae Cheol (Hàn Quốc) chú ý tới các biểu tượng trong hát Xoan
Ông đã viết: Tôi rất thích thú cảnh hát Đúm, Mó cá… vì nó thể hiện tín ngưỡng phồn thực, đạt giá trị thẩm mĩ cao” Hiểu về các Quả cách rất hay nhưng xin nhắc các bạn phải giới thiệu ý nghĩa biểu tượng của những quả cách với khách nước ngoài để họ cảm nhận hát Xoan tốt hơn” [147, tr.60]
Xiao Mie (Trung Quốc) dành nhiều ý kiến cho hát Xoan với đạo cụ và
nhạc cụ đi kèm: “Tôi ấn tượng với việc sử dụng trống và nhạc cụ gõ bằng tre trong hát Xoan bởi nó rất gần với đời sống nông dân – với số đông người tham gia…Hát Xoan do vậy phổ biến ở vùng nông thôn từ lâu năm Với sự kết hợp giữa biểu diễn nhạc cụ và lời ca của con người, cộng thêm sự chuẩn bị kĩ lưỡng của các nghệ sĩ nên những tác phẩm tạo ra đã thu hút được nhiều khán
Trang 21giả”[147, tr.63]
Tác giả Panikos G Giorgoudes (Hy Lạp) đã nhấn mạnh: “hát Xoan là một trường hợp điển hình của dân ca vùng châu thổ Bắc Bộ Việt Nam kết hợp tổng hợp các yếu tố như ca, múa, kịch Nó là trường hợp sân khấu sơ khai của lịch sử châu Á Nó cần được bảo vệ và làm lan tỏa bằng nhiều cách khác nhau” [147, tr.195]
Các nhà nghiên cứu khác như Gisa Jahnichen (Đức), Triyono Bramantyo (In- đô – nê – xi - a), Joe Peter (Pháp),… đều có những bài viết khoa học về hát Xoan ở các lĩnh vực như: đạo cụ, múa, trò diễn [147]
Dựa vào nội dung đặt ra trong các tài liệu, luận án tạm phân tài liệu theo các mảng vấn đề sau:
a Những vấn đề lịch sử, xã hội liên quan đến hát Xoan
Những vấn đề lịch sử, xã hội liên quan đến hát Xoan gồm các yếu tố được đề cập nhiều như: nguồn gốc, tên gọi, lịch trình hát, địa điểm diễn xướng, dân tộc học, xã hội học, múa hát, trò diễn, v.v Ở đây, có thể chia nhỏ thành 2 nhóm nhỏ:
Nhóm một về nguồn gốc, tên gọi, mục đích, lịch trình, địa điểm diễn
xướng của hát Xoan Ở đây, thấy nổi lên 2 phương pháp tiếp cận để xác định nguồn gốc, tên gọi của hát Xoan Đó là:
- Tìm hiểu nguồn gốc của hát Xoan thông qua các truyền thuyết lịch sử
Từ đó nhận định có phải hát Xoan có từ thời Hùng Vương hay không?
Tìm hiểu nguồn gốc, thời gian ra đời và quan hệ họ hàng của hát Xoan với các loại hình ca hát như hát Cửa đình, hát Nhà tơ, hát Chầu văn, hát Ả đào.Liên quan đến chủ đề này, có thể kể tới một vài các bài viết trong [70], [73], [74], [76], [79], [80], [82], [83], [84],[86]
- Tìm hiểu nguồn gốc và quá trình phát triển của hát Xoan qua việc phân tích những đặc trưng của Xoan như ngôn ngữ, hình thức biểu hiện …để
Trang 22từ đó xác định thời điểm ra đời của Xoan
Các tài liệu kể trên mang đến hai luồng ý kiến về thời điểm ra đời của hát Xoan Một là: hát Xoan hình thành từ khi có những lễ nghi nông nghiệp trên dải đất của người Việt cổ (thời Hùng Vương dựng nước) Hai là: hát Xoan ra đời và được hoàn chỉnh chủ yếu vào thời Lê sơ (thế kỉ XV)
Một số tác giả nước ngoài đưa ra những nhận xét về nguồn gốc lịch sử hát Xoan trong sự so sánh với thời điểm ra đời của các loại hình dân ca của đất nước khác
Nhóm haitập trung vào 6 đề tài chính:
- Thứ nhất: mục đích ra đời của hát Xoan [79], [80], [84], [147]
- Thứ hai: tên gọi của Xoan trong [82], [83], [94], [100], [102]
- Thứ ba: địa bàn và lịch trình đi hát của các phường Xoan [94], [100], [102], [106], [107], [110], [147]
- Thứ tư: cơ cấu tổ chức phường Xoan [80], [84], [94], [100], [102], [107], [110], [147]
- Thứ năm: các vấn đề liên quan tới tục lệ của hát Xoan [84], [100], [107], [110], [117], [118]
- Thứ sáu: trang phục của các đào, kép Xoan [100], [115], [118], [124], [130], [134]
b Những vấn đề văn hóa, nghệ thuật liên quan đến hát Xoan
Đây là khía cạnh được quan tâm, chú ý nhiều nhất, tập trung nhất.Trong số các tài liệu thu thập được, có khoảng 76% khảo tả các yếu tố văn hóa, nghệ thuật của hát Xoan Nằm trong khối những bài viết về văn hóa
của Xoan, có một bài về Nho giáo trong hát Xoan của tác giả Lê Cẩm Ly
[147, tr.107 – tr.117] Sự biểu hiện của yếu tố đó được phản ánh ở một số quan niệm về mối quan hệ vua - tôi; việc học hành, thi cử; các lớp người trong xã hội; vị trí của người đàn ông; con đường của Nho giáo vào Xoan; phạm vi, nội dung và mức độ thâm nhập của Nho giáo trong Xoan Đây là
Trang 23một bài nghiên cứu có hướng tới khía cạnh triết học của Xoan
Bên cạnh đó, những bài viết của một số tác giả nước ngoài đã cho thấycái nhìn bao quát, toàn diện hơn về các khía cạnh liên quan đến văn hóa, nghệ thuật của hát Xoan Bountheng Souksavatd đã bày tỏ quan điểm cá nhân
về văn hóa hát Xoan Ông cho rằng hát Xoan là một hình thức diễn xướng văn hóa độc đáo và đặc biệt của người Việt xưa Tác giả nhấn mạnh vào yếu tố âm nhạc và múa trong hát Xoan:“Nếu không có âm nhạc và múa thì Xoan sẽ không còn hấp dẫn như nó đã từng” [147, tr.179]
Joe Peter (Pháp) đã thể hiện thái độ yêu thích dân ca Xoan không chỉ
vì nó là di sản văn hóa phi vật thể được UNESCO công nhận, mà bởi Xoan
có giá trị nội tại của nó (lời ca, vũ điệu và cách diễn xướng của các nghệ sĩ)[147, tr.167]
Là một loại hình nghệ thuật mang tính tổng hợp, hátXoan có sự tích hợp giữa văn học, âm nhạc, múa và diễn xướng Trong các khía cạnh liên quan đến nghệ thuật, các bài viết bàn nhiều về phương thức trình diễn, âm nhạc và vũ đạo trong hát Xoan.Cụ thể là:
i/ Về phương thức trình diễn hát Xoan
Trong số các tài liệu sưu tầm được có 10 – 12 tài liệu bàn về phương thức, hệ thống bài trong một buổi trình diễn Xoan Nhìn chung hệ thống bài trong hát Xoan ở các tài liệu đều thống nhất nhưng cách phân chia số lượng những bài đó ra thành từng chặng, hoặc từng phần thì chưa thống nhất.Phương thức trình diễn hát Xoan có hai cách phân chia phổ biến:
Cách phân chia thứ nhất: chia hệ thống bài hát làm 3 chặng:
Chặng mở đầu: Hát chúc và khẩn nguyện (Các tên gọi khác: Hát thờ - Hát nghênh thần)
Chặng 2: Hát 14 Quả cách (Quả: điệu hát; cách: cách thức trình diễn)
Chặng 3: Hát hội (gồm các bài hát - múa, giao duyên nam nữ)
Trang 24Đây là cách phân chia được các tác giả Tú Ngọc, Nguyễn Khắc Xương, Phạm Trọng Toàn và nhóm nghiên cứu của Viện Âm nhạc đề xuất
Cách phân chia thứ hai: chia hệ thống bài hátlàm hai phần, chặng của Cao
Khắc Thùy và Đặng Hoành Loan
Tác giả Cao Khắc Thùy [107] chia hệ thống bài hát thành hai phần
Phần hát lễ (hát thờ, hát chúc, hát khẩn nguyện và hát Quả cách)
Phần hát hội (hát giao duyên, vui chơi)
Tác giả Đặng Hoành Loan [115] cho rằng phương thức trình diễn hát Xoan được chia làm hai chặng
Chặng 1: Hát hàng dọc (gồm các bài mở đầu và các Quả cách)
Chặng 2: Hát hàng ngang (gồm hai loại bài: đào hát múa và đào trình diễn cùng trai làng)
Luận án sẽ triển khai theo cách phân chia thứ nhất: chia các bài hát Xoan thành 3 chặng như đã trình bày ở trên [X PL 3]
ii/ Về âm nhạc trong hát Xoan
Số lượng tài liệu mang tính lí luận nghiên cứu, tiếp cận dưới góc độ thuần dạng âm nhạc học chiếm một tỉ lệ thấp Trong số các tài liệu đó, có thể
nói tài liệu số [80] - Hát Xoan – dân ca nghi lễ phong tục của Tú Ngọc là tài
liệu đầu tiên đi vào phân tích kĩ về các thành tố âm nhạc bao gồm giai điệu và các kiểu giai điệu, thang âm, điệu thức, khúc thức, nhịp điệu trong hát Xoan
Nó được coi như một cuốn “kim chỉ nam”, một tài liệu nghiên cứu được nhiều tác giả đi sau trích dẫn, tham khảo
Tiếp thu những cơ sở nghiên cứu của Tú Ngọc, các tác giả của Viện Âm
nhạc trong công trình Cấu trúc bài bản một số thể loại dân ca người Việt vùng đồng bằng châu thổ sông Hồng đã mở rộng và đi vào phân tích sâu, đối chiếu,
so sánh với nhiều dị bản của các nghệ nhân hát ở những thời điểm khác nhau
Từ đó, người đọc có thể nhận biết được những dạng thức, quy luật trong lối tiến hành giai điệu, cấu trúc thang âm, các mô hình nhịp điệu từng chặng của
Trang 25hát Xoan
Không đi vào phân tích chi tiết, trong bài viết của mình, Đặng Hoành
Loan nêu: “Trong dân ca Việt Nam chưa thấy lối hát hai giọng đào kép cách nhau quãng 4 trong cùng một bài dân ca (lối hát hai giọng này khác với lối hát chuyển hò trong Tài tử - Cải lương) Đây là đặc điểm nổi bật làm cho âm nhạc trong hát Xoan có phong cách riêng Chúng tôi gọi lối hát này là lối hát dịch giọng” [115, tr.106]
Ngoài ra, những tài liệu như [83], [84], [110], [117], [147], …cũng dành những phần nhất định cho việc bàn về âm nhạc trong hát Xoan
iii/ Về vũ đạo trong hát Xoan
Có 9 tài liệu đề cập đến vũ đạo trong hát Xoan Bài viết “Vai trò của múa trong hát Xoan” [147, tr.202] là một trong số ít những bài giới thiệu sâu
về vũ đạo trong hát Xoan Từ góc độ của người biên đạo múa, Phạm Hùng Thoan đã phân tích ngôn ngữ, vai trò và chức năng biểu thị của múa trong Xoan: đội hình, động tác, nhạc cụ đệm, đạo cụ, sự phối hợp với các yếu tố
nghệ thuật khác,…Tác giả đã viết: “Với tần suất có trong 36/42 bài, vai trò của múa rất quan trọng trong Xoan, tạo nên sức hấp dẫn cho các tiết mục hát thờ thần linh và cho con người”
Đặng Hoành Loan đã mô tả một cách khái quát về múa trong hát Xoan
như sau: “Khởi đầu bao giờ cũng là đội hình hàng ngang, hoặc hai hàng dọc; rồi dần chuyển sang đội hình hàng ngang, bốn hàng ngang và các kiểu đội hình vòng tròn khác nhau Khi đội hình biến đổi, đào nương vẫn giữ nguyên hoặc di biến đôi chút động tác tay và chân” [147, tr.126]
Tóm lại, các yếu tố văn hóa, nghệ thuật trong hát Xoan đã được nghiên cứu tương đối kĩ
iv/ Về văn học trong hát Xoan
Những tài liệu đi vào phân tích chi tiết về các yếu tố có trong lời ca hát
Trang 26Xoan không nhiều Có 4 tài liệu dành một phần riêng để phân tích về vấn đề này Các tài liệu chủ yếu đi vào vẻ đẹp lời ca hát Xoan nhìn từ góc độ văn học
và lịch sử Chưa có một tài liệu nào nghiên cứu chuyên sâu về ngôn ngữ trong hát Xoan
c So sánh các đặc điểm của hát Xoan với các loại hình âm nhạc dân
tộc truyền thống của nước Việt và với các loại hình âm nhạc dân gian của các nước trong khu vực và trên thế giới; đề xuất các biện pháp cần thiết nhằm bảo
vệ và làm lan tỏa các giá trị của hát Xoan
Trong khía cạnh này, các bài viết tập trung bàn về ba vấn đề cơ bản:
Thứ nhất là mối liên hệ, so sánh giữa hát Xoan với các loại hình âm nhạc dân
tộc truyền thống của đất nước Việt Nam
Tú Ngọc đặt hát Xoan trong mối quan hệvới một số thể loại như hát Cửa đình, Ca trù, Chèo tàu, hát Dô, hát Dậm và đối chiếu hát Xoan với một số hình thức diễn xướng và diễn trò tế thần ở đồng bằng sông Mã (Thanh Hóa) [90] Phạm Trọng Toàn đã bàn về mối quan hệ giữa hát Xoan và một số hình thức sinh hoạt văn hóa âm nhạc ở vùng trung du và châu thổ Bắc bộ như: hát Xoan với hát Ví, hát Đúm, hát Ghẹo và hát Trống quân; hát Xoan và mối quan
hệ với hát Dô, hát Dậm, hát Chèo tàu; hát Xoan và Quan họ; hát Xoan và hát Ả đào Tác giả cho rằng, hát Xoan là tiền đề cho những sinh hoạt văn hóa âm nhạc dân gian của người Việt ở trung du và châu thổ sông Hồng nói riêng, của cộng đồng người Việt ở nước ta nói chung [80] Ngoài ra, Phạm Minh Hương
có những phần viết đề cập đến mối quan hệ mật thiết giữa hát Xoan và Trống quân Đức Bác Nhóm nghiên cứu Viện Âm nhạc có phần nghiên cứu, so sánh
những đặc điểm về tín ngưỡng, bài bản và âm nhạc giữa hát Xoan vàhát Chèo Tàu [115, tr.123 – tr 127]
Thứ hai là so sánh các đặc điểm của hát Xoan với các loại hình âm
nhạc dân gian của các đất nước khác như Trung Quốc, Hàn Quốc, Malaysia…
Trang 27Sheen Dae – Cheol đã so sánh diễn xướng hát Xoan của Việt Nam với hoạt động sân khấn dân gian của người Hàn Quốc vào những ngày đầu năm và cuối năm Ông đã nhìn thấy một số nét tương đồng về hình thức như vũ đạo, động tác cũng như nội dung khẩn nguyện và giao duyên [147, tr.51 – tr.60] Xiao Mei đã chứng minh những điểm tương đồng và khác biệt giữa thể loại hát Xoan và thể loại dân ca xưa của Trung Hoa Bà cho rằng dân ca xưa của Trung Quốc với hát Xoan có những giá trị nội dung tương đồng nhất định đặc biệt là ở các bài ca nghi lễ và các bài ca lao động [147, tr.61 – tr.64] Các nhà nghiên cứu khác như Triyono Bramantyo (Indonexia) [147, tr.80 – tr.97], Bountheng Souksavatd (Lào) [147, tr.178 – tr.181], Maria Walcher (Áo)[147, tr.182 – tr.183] cũng đã đưa ra một số nhận xét về sự so sánh các điểm tương đồng và khác biệt giữa hát Xoan với các hình thức dân ca của các nước Indonexia, Lào, Áo, …
Thứ ba là việc đề xuất các biện pháp cần thiết nhằm bảo vệ và làm lan
tỏa các giá trị của hát Xoan
Các nhà nghiên cứu của Việt Nam như Nguyễn Khắc Xương, Dương Huy Thiện, Phạm Trọng Toàn, Đào Đăng Phượng, Cao Khắc Thùy, Nguyễn Anh Tuấn,… đều chỉ ra thực trạng của hát Xoan Trên cơ sở đó, các bài viết đều gặp gỡ chung ở luận điểm đề xuất các biện pháp cần thiết nhằm bảo vệ và làm lan tỏa các giá trị của hát Xoan Hơn nữa, một số tác giả nước ngoài cũng chỉ ra cho Việt Nam một số bài học kinh nghiệm trong việc giữ gìn và phát huy các giá trị bản sắc của hát Xoan Bussakorn Binson (Thái Lan) cho rằng một trong những cách bảo tồn lịch sử Việt Nam chính là bảo tồn hát Xoan Nói cách khác việc học các bài học về lịch sử và văn hóa Việt Nam có thể thông qua việc truyền dạy hát Xoan trong trường học các cấp [147, tr.49] Mag Maria Walcher thì nhấn mạnh vào việc đưa diễn xướng hát Xoan vào đời sống sinh hoạt của nhân dân vùng Xoan và các địa phương lân cận [147, tr.182 – tr.183] Yves Defrance đề xuất một vài cách bảo tồn và duy trì hát Xoan cùng với việc
Trang 28đưa ra một loạt các câu hỏi cho các nhà quản lí văn hóa của Việt Nam trong việc thực hiện những hành động cụ thể và cần thiết cho sự sống của hát Xoan [147, tr.184 – tr.192] Panikos G Giorgoudes (Hy Lạp) lại đưa ra một giải pháp mới cho hát Xoan: lưu trữ âm nhạc trên mạng Inter net, một sự cần thiết và những đóng góp đa dạng của hát Xoan [147, tr.193 – tr.198]
1.1.2.2 Những nhận xét về ca từ trong hát Xoan Phú Thọ
a/ Những nhận xét của các tác giả Việt Nam
Tú Ngọc đã dành chương V để phân tích về Thành tố văn chương (ca từ) trong hát Xoan Tác giả đã đưa ra những kiến giải ban đầu về nội dung tư tưởng, đề
tài, các điệu thể văn chương, các thể thơ và các thành phần bổ trợ trong ca từ[80, tr.145 – tr.151] Tài liệu thứ hai là phần phân tích về nội dung lời ca, thể thơ và
từ phụ của hát Xoan trong công trình nghiên cứu về Cấu trúc bài bản của một số thể loại dân ca người Việt vùng đồng bằng châu thổ sông Hồng do Viện Âm
nhạc thực hiện năm 2009 Kết quả cụ thể của những nghiên cứu này là: lời ca ở đây được coi như một thành tố trong âm nhạc Vì thế, khi phân tích, tác giảđã đi vào thể thơ, từ phụ tương ứng với cấu trúc âm nhạc
Nguyễn Khắc Xương nhìn nhận lời ca của Xoan dưới góc độ của nhà nghiên cứu văn hóa dân gian[117] Kết quả cụ thể của nghiên cứu này là: bàn
về ngôn ngữ văn học trong Xoan, ông lí giải nguyên nhân lời ca của Xoan có nhiều câu, từ “tối nghĩa, khó hiểu” Sau đó, thông qua nội dung của một số lời
ca Xoan, tác giả bước đầu đi vào phân tích nội dung theo hai hệ thống: ngôn ngữ văn chương bác học của trí thức Nho sĩ và ngôn ngữ dân gian của tầng lớp bình dân
Bàn về lời ca trong hát Xoan, Phạm Trọng Toàn cho rằng: “Lời ca phản ánh khá nhiều tín ngưỡng cộng đồng người Việt (…) cùng với nội dung về thần linh, thần quyền, vương quyền, vai trò của tứ dân, những nội dung trữ tình, giao duyên…” [115, tr.83]
Trang 29Các tác giả khác như Tú Ngọc, Trần Quang Hải, Nguyễn Thụy Loan, Đặng Hoành Loan, Nguyễn Khắc Xương, Dương Huy Thiện có nhắc tới yếu tố
ca từ của các bài hát Xoan trong các tài liệu [100] , [102], [106], [107], [112], [110], [115], [117], [118], [124],… Các ý kiến, nhận xét của các tác giả này có một điểm chung là đề cập đến ca từ hát Xoan dưới góc nhìn của các nhà nghiên cứu âm nhạc, văn hóa dân gian, lịch sử, dân tộc học và xã hội học
b/ Những nhận xét của các tác giả nước ngoài
Triyono Bramantyo (Inđônêxia) đã nghiên cứu, đồng nhất quan điểm là sự
ra đời của hát Xoan từ rất sớm, có những giá trị tinh thần độc đáo, chỉ nhân dân
địa phương, bản địa mới có Theo ông: “Bốn điểm độc đáo nhất của hát Xoan đó là: lời hát trau chuốt gắn liền với múa, tính logic của hát Xoan trong một bối cảnh văn hóa lịch sử, tính xác thực của nó dù đã được truyền khẩu từ đời này sang đời khác Để bảo tồn hát Xoan cần nhấn mạnh đến các giá trị phi vật thể
và đáp ứng được các tiêu chí: độc đáo ở lời ca, giai điệu, làn điệu, tính trung thực… của nó”[147, tr.82]
Gisa Jahnichen (người Đức) xem ca từ hát Xoan: “là một phần không thể tách rời của Hát Ả đào ở vùng nông thôn”[147; tr.72]
Bussakorn Binson quan tâm nhiều đến ca từ trong một bài Xoan cụ thể
(hát Đúm) và những ảnh hưởng của ca từ bài hát đối với các động tác múa và âm
Trang 30Mặc dù vẫn còn những điểm khuyết trong các tài liệu nghiên cứu về ca từhát Xoan nhưng với các tài liệu sưu tầm được, một diện mạo chung về các khía cạnh lịch sử, văn hóa, nghệ thuật của Xoan đã hiện lên tương đối rõ Đó là một quá trình nối tiếp những thành tựu nghiên cứu của nhiều thế hệ Đã có một
số hình dung đại khái về ca từ hát Xoan từ góc nhìn văn hóa
1.2.Cơ sở lí luận
1.2.1 Cơ sở Ngôn ngữ học
1.2.1.1 Diễn ngôn và phân tích diễn ngôn
a Diễn ngôn và văn bản
“Diễn ngôn” (còn gọi là ngôn bản, tiếng Anh: discourse, tiếng Pháp: discours) và “văn bản” (text) là hai khái niệm cơ bản trong lí luận phân tích
diễn ngôn
Các tác giả J McH Sinclair và R M Coulthard (1975) I.Bellert, Cook, Brown, G.Yule, D.Nunan, Widdowson, đã đưa ra một số định nghĩa, những cách hiểu khác nhauvề hai thuật ngữ trên
Ở Việt Nam, các tác giả tiêu biểu nghiên cứu, tìm hiểu về diễn ngôn:
Đỗ Hữu Châu, Diệp Quang Ban, Nguyễn Thiện Giáp, Đinh Văn Đức, Nguyễn Hòa,
Điểm chung trong quan niệm của các tác giả là: coi “diễn ngôn” là một quá trình giao tiếp hay sự kiện giao tiếp nói và viết trong một hoàn cảnh giao tiếp xã hội cụ thể Còn “văn bản” là sản phẩm ngôn ngữ ghi nhận lại quá trình
đó Nói cách khác, “diễn ngôn” được quan niệm là một sự kiện hay quá trình giao tiếp thống nhất, trọn vẹn có mục đích trong hoàn cảnh giao tiếp và được thể hiện qua “văn bản”
Tóm lại, “diễn ngôn” là một quá trình giao tiếp qua sự tương tác Kết
quả tình huống của quá trình này là sự thay đổi sự tình: thông tin được chuyển tải, các ý định được làm rõ, và sản phẩm của quá trình này là “văn bản”
Trang 31“Diễn ngôn” thuộc về mặt nghĩa, mặt sử dụng của một sản phẩm ngôn ngữ, gắn liền với ngữ cảnh cụ thể Do đó, bản chất của việc phân tích (giải mã) diễn ngôn là phân tích ngôn ngữ trong sử dụng để làm nổi bật giá trị và hiệu quả giao tiếp của ngôn ngữ trong hoàn cảnh giao tiếp cụ thể
Căn cứ vào các khái niệm đã nêu trên, luận án coi các văn bản hát Xoan đáp ứng đầy đủ các yêu cầu của diễn ngôn
b Phân tích diễn ngôn
Thuật ngữ “Phân tích diễn ngôn” (Discourse Analysis) xuất hiện lần
đầu tiên năm 1952 doZ.Harris đề xướng Từ đây, các công trình của M Stubbs (1983); G Brown và G Yule (1983); S C Levinson (1983), D.Nunan (1993) đã nghiên cứu chuyên sâu về phân tích diễn ngôn
Các tác giả T A Van Dijk, George Yule, Schiffrin, David Nunan, Austin và Searle đã trình bày và chỉ rõ các khía cạnh khác nhau của phân tích diễn ngôn gồm:khái niệm; yếu tố ngôn ngữ trong diễn ngôn; ngữ cảnh; tìm hiểu diễn ngôn về mặt nghĩa; phát triển năng lực diễn ngôn; phương thức để giải mã diễn ngôn;bản chất của phân tích diễn ngôn, các đường hướng phân tích diễn ngôn
Ở Việt Nam, sự quan tâm tới phân tích diễn ngôn bắt đầu từ đầu thập kỉ
80 của thế kỉ XX Các tác giả như Hoàng Phê, Đỗ Hữu Châu (1985), Trần Ngọc Thêm (1985), Nguyễn Đức Dân, Cao Xuân Hạo (1991), Diệp Quang Ban (1998), Nguyễn Thiện Giáp (2000), Đinh Văn Đức (2002),…đã nghiên cứu những khía cạnh của phân tích diễn ngôn Nguyễn Thiện Giáp quan niệm:
“Trong phạm vi ngôn ngữ học, phân tích diễn ngôn tập trung vào quá trình sử dụng ngôn ngữ để thể hiện ý định trong ngữ cảnh nào đó” [34, tr 398] Diệp
Quang Ban (2011) cho rằng: “Phân tích diễn ngôn là đường hướng tiếp cận tài liệu ngôn ngữ nói và viết bậc trên câu (diễn ngôn/văn bản) từ tính đa diện hiện thực của nó, bao gồm các mặt ngôn từ và ngữ cảnh tình huống, với các mặt hữu quan thể hiện trong khái niệm ngôn vực (register) mà nội dung hết sức phong phú và đa dạng (gồm các hiện tượng thuộc thể loại và phong cách chức
Trang 32năng, phong cách cá nhân, cho đến các hiện tượng xã hội, văn hóa, dân tộc)”
[8,tr.158]
Quan điểm của Diệp Quang Ban đã đề cập đến ba yếu tố quan trọng nhất trong phân diễn ngôn là: a) đối tượng khảo sát (tài liệu ngôn ngữ nói và viết bậc trên câu – diễn ngôn hay văn bản); b) đối tượng nghiên cứu (tính đa hiện thực của tài liệu ngôn ngữ đó); c) phương pháp tiếp cận (phân tích ngôn ngữ trong sử dụng)
c Các giai đoạn chính trong nghiên cứu phân tích diễn ngôn
c1/Giai đoạn thứ nhất: ngữ pháp văn bản
Giai đoạn “ngữ pháp văn bản” là giai đoạn tìm đường tiếp cận diễn ngôn Các nghiên cứu đã cho thấy con đường theo ngữ pháp câu là không thỏa đáng với diễn ngôn
Zellig Harris đã quan tâm tới việc phân bổ các yếu tố ngôn ngữ trong các văn bản và mối quan hệ giữa văn bản và hoàn cảnh xã hội Nghiên cứu
với đầu đề “Phân tích diễn ngôn” (Harris 1952) được coi là mở đường cho
lĩnh vực phân tích diễn ngôn Tuy chưa vượt ra được khung quen thuộc là
“câu” nhưng ông đã gợi ra một hướng nghiên cứu mới với đối tượng mới Các tác giả Van Dijick (1972), Halliday và Hassan (1976), De Beaugrand (1990)
đã có những tác động to lớn trong lĩnh vực này Song các nhà nghiên cứu ở giai đoạn này vẫn sử dụng phương pháp phân tích ngôn ngữ học theo lối hình thức (như đã làm với câu) khi nghiên cứu diễn ngôn Vì thế, cách tiếp cận diễn ngôn ở giai đoạn này thường được coi là cách tiếp cận hình thức và nằm trong khuôn khổ của “ngữ pháp văn bản”
c.2 Giai đoạn thứ hai: phân tích diễn ngôn
Đã có hai tên gọi được đề nghị cho giai đoạn nghiên cứu diễn ngôn R.Barthes (1970) đã đề xướng một thuật ngữ từ đầu giai đoạn nghiên cứu này
là “xuyên ngôn ngữ học” (translinguistique) Sau đó, R De Beaugrande
(1990) đã đề nghị một thuật ngữ khác là “ngôn ngữ học văn bản tính”
Trang 33(textuality linguistics) Tuy nhiên, hai tên gọi này không được sử dụng phổ
biến Trong nhiều bài viết của các tác giả, tên gọi “phân tích diễn ngôn” được
sử dụng trực tiếp hơn
J McH Sinclair và R M Coulthard (1975 – 1977), M Stubbs (1983), G Brown và G Yule (1983), S C Levinson (1983) đã sử dụng trực tiếp thuật ngữ “Phân tích diễn ngôn” trong các công trình nghiên cứu của mình “Phân tích diễn ngôn” đã thực sự được thừa nhận rộng rãi như thuật ngữ chính thức
của giai đoạn tiếp theo giai đoạn ngữ pháp văn bản Trong đó, Phân tích diễn ngôn (Discourse Analysis) của G Brown và G Yule (1983) được coi như
công trình về cơ sở lí thuyết của việc nghiên cứu diễn ngôn
Công trình này đã chỉ rõ: khi phân tích diễn ngôn cần xác định những yếu tố tham gia vào nội dung của diễn ngôn Cụ thể:
- Mục đích giao tiếp, ý định của người nói
- Các chiến lược văn hóa, diễn ngôn sẵn có trong một cộng đồng ngôn ngữ
- Hoàn cảnh xã hội (các cá nhân tham gia tương tác, mối quan hệ, bản chất của bối cảnh tình huống)
- Tính chất của các thể loại diễn ngôn đã được quy ước hóa
- Khung văn hóa, niềm tin và hành động của các thành viên xã hội
d Một số đường hướng phân tích diễn ngôn
Một số đường hướng chính trong phân tích diễn ngôn đã được Nguyễn Hòa miêu tả là: dụng học, biến đổi ngôn ngữ, ngôn ngữ học xã hội tương tác, dân tộc học giao tiếp, tâm lí học xã hội, phê phán, giao tiếp liên văn hóa, và phương pháp phân tích diễn ngôn tổng hợp [50]
e Hướng phân tích diễn ngôn của luận án
Luận án dự kiến sẽ sử dụng nhiều hơn đường hướng giao tiếp liên văn hóa- inter – cultural communication – IC[50, tr.138 – tr.154] (nghiên cứu các
giá trị văn hóa trong sự hoạt động của diễn ngôn thể hiện mối quan hệ giữa
ngôn ngữ - giao tiếp – văn hóa)và phương pháp phân tích diễn ngôn tổng hợp
Trang 34– integrated [50, tr 155 – 159] (“vì mạch lạc thực sự là một hàm hay tích hợp của rất nhiều biến, trong đó có thể đến các biến quan trọng chủ yếu như: tính
tổ chức, liên kết và tính quan yếu” [50, tr 158]) để triển khai các phần nội
sự liên kết với các đoạn khác [7; tr139]
Đoạn trong thi ca là “một tập hợp của những câu thơ biểu thị một ý hoàn chỉnh Sự phân đoạn một bài thơ chủ yếu dựa vào ý chứ không lệ thuộc vào vần, nhịp, cú pháp, ngữ điệu như đối với một khổ Số lượng câu trong một đoạn không hạn định” [37, tr.105].Bài thơ có thể bao gồm nhiều đoạn Số lượng đoạn trong mỗi bài rất khác nhau Những bài thơ ngắn nhìn chung không cần phân đoạn (ca dao hay thơ tứ tuyệt)
Căn cứ vào độ dài ngắn, chặng hát, chức năng cấu trúc của từng bài hát Xoan và khái niệm đoạn, đoạn thơ đã nêu trên, luận án đã chia kết cấu văn bản các bài hát Xoan theo đoạn Ví dụ 1:
Bia truyền cổ tích
Có cô gái lành
Đi chơi một mình Đến chưng quán ấy Náng ấy, thấy vậy
Cầm lấy đôi sênh Ngân nga một mình
Trang 35Ca bằng tiếng dế
Nhớ xưa: vua Hán Vũ Đế (Mới lại) sinh (ra) được một con (gái)
(Kiều Dương cách)
Đây là đoạn thân bài hát (còn gọi là đoạn đưa cách) Một đoạn trong
bài hát Xoan có thể bao gồm 2 khổ trở lên
b Khổ
Theo Từ điển Tiếng Việt, “khổ” được hiểu theo nghĩa là “Đoạn ngắn được
ngắt ra trong một bài văn vần (thường để hát hoặc phổ nhạc)” [92, tr.508]
Khái niệm “khổ” được IU M LotMan cho rằng đi liền với khái niệm
“khung”: “Khung khổ của tác phẩm văn học được tạo nên từ hai yếu tố: mở đầu và kết thúc” [72, tr.373]
Lê Bá Hán, Trần Đình Sử, Nguyễn Khắc Phi đưa ra định nghĩa: “Khổ (thơ) là sự kết hợp của các câu thơ thành từng nhóm, thống nhất với nhau về vần, cú pháp, ngữ điệu Mỗi khổ được kết thúc bằng một khoảng nghỉ dài” [37,tr.108]
Như vậy, có thể quan niệm: khổ là tập hợp một số câu, dòng được sắp xếp thành một đơn vị có quy cách nhất định về vần, luật, âm thanh, nhịp điệu,
cú pháp; là vế tương đương lớn nhất trong ngôn từ thi ca Mỗi khổ được kết thúc bằng một khoảng nghỉ dài Ví dụ 2:
Khổ 1: Bắt ngang thuyền lại hỏi ngưông
Có cá bán chăng đưa một đồng
Dạ, dạ! thưa rằng: thuyền còn đang bủa lưới
Những mảng trông nguyệt phút liền không
Khổ 2: ngư tiền (là) canh mục
(Mới lại là) tứ túc (hỡi a) nhà nho
Trang 36Ngư phủ ban cho ở đâu (Mới lại) buông câu (là) thả lưới (Mới lại là) phấp phới (hỡi a) áo tơ
(Ngư tiều canh mục cách)
Xét về dung lượng, khổcó thể ngắn hơn đoạn.Như trên đã nêu, từ 2 khổ trở lên có thể tạo thành một đoạn
c Thể
Theo Nguyễn Thái Hòa: “Thể là kiểu mẫu của văn bản hình thành trong quá trình phát triển của sự giao tiếp bằng lời tương đối ổn định, trở thành quy ước chung, tồn tại trong kí ức của mọi người như một mô hình cấu tạo văn bản, một thứ siêu ngôn ngữ vừa để biểu đạt vừa để định hướng cho sự tiếp thu biểu đạt” [52, tr 210]
Theo truyền thống, cách xác định thểtrong một bài chính là căn cứ vào số tiếng trong một dòng và tần số của số tiếng ấy xuất hiện trong một khổ Mỗi thểcó những quy tắc riêng về số chữ trong câu, khổ, bài, về cách gieo vần, luật, đối, niêm Trong các thể loại thơ ở Việt Nam, có một số thể như 4 tiếng, 5 tiếng, lục bát, song thất lục bát, các thể loại thơ Đường luật nhưthất ngôn,ngũ ngôn rồi đến các loại thơ mới và thơ tự do Ngoại trừ thơ tự do, một hình thức không có một cấu trúc rõ rệt, các loại thơ khác đều có cấu trúc và cách luật nhất định
Luận án căn cứ theo cách gọi truyền thống ở các tài liệu để gọi tên và phân loại các thể như 4 tiếng, lục bát, song thất lục bát, biến thể và tự do Các thể
4 tiếng, lục bát, song thất lục bát tuân thủ đúng đặc điểm về số tiếng trong một dòng, số dòng trong một khổ sẽ được coi là chính thể Biến thể nghĩa là không theo thể chính và có thể biến đổi về hình thức (có hiện tượng “giãn ra” và “co lại”).Phan Diễm Phương đã nêu: “Giãn ra” nghĩa là thêm số tiếng vào câu chính thể; “co lại” nghĩa là bớt đi số tiếng ở câu chính thể Tác giả cũng chỉ rõ: trong lục bát chính thể, có bốn khả năng biến thể ở dòng lục bát là: “Dòng
Trang 37lục co lại, dòng bát giữ nguyên; dòng lục giữ nguyên, dòng bát giãn ra; dòng lục giãn ra, dòng bát giữ nguyên và cả hai dòng đều giãn ra” [93, tr 143] Đây
có thể xem là căn cứ để phân chia các thể của hát Xoan
Câu –Dòng
Các tác giả Aristote [6], Chafe [15], Nguyễn Phan Cảnh [13], Mai Ngọc Chừ [22], Phan Huy Dũng [25] cùng chỉ ra rằng: câu thơ là đơn vị cơ bản nhỏ nhất của lời thơ
IU M Lotman cho rằng: “Câu thơ – đó là đơn vị phân chia nhịp điệu –
cú pháp và phân chia ngữ điệu của văn bản thơ” [72, tr.313 – tr.314] Ông cũng coi câu thơ như một tổng thể giai điệu (ngữ điệu – nhịp điệu) và cũng đồng thời là một tổng thể ngữ nghĩa
Luận án quan niệm một dòng có thể bao gồm nhiều câu Ví dụ 3:
Ơn vua mà lại nhờ trời,
Làm ăn thịnh vượng muôn đời giàu sang
Giai thời thi đỗ làm quan, Võng anh đi trước, võng nàng theo sau
(Hát đúm)
Thì dòng Võng anh đi trước, võng nàng theo sau là một dòng gồm hai câu
d Vần
Vần là đối tượng nghiên cứu của một phân môn trong thi học được gọi
là thi vận Trong văn học xưa nay, vần được coi là một trong những yếu tố quan trọng nhất của thi ca, là yếu tố xây dựng nên sự hòa âm giữa các câu góp phần tạo nên tính nhạc của thi ca
Có nhiều các định nghĩa khác nhau về “vần thơ” (rhyme) Diệp Quang
Ban cho rằng: “Trong thơ ca, một sự phù hợp về tính đồng nhất hoặc gần đồng nhất trong một đoạn âm thanh thường trùm lên một âm tiết (trong ngôn ngữ châu Âu) hay ở phần cuối có chứa nguyên âm chính của một tiếng (được gọi là “phần vần” trong một tiếng của tiếng Việt)” [7, tr.518]
Trang 38Nguyễn Thiện Giáp viết: “Vần là một bộ phận của âm tiết tiếng Việt, sau khi trừ đi phần âm đầu và thanh điệu” [34, tr.587]
Nguyễn Thái Hòa chỉ ra: “Vần là bộ phận của âm tiết trừ phần phụ âm đầu, còn gọi là khuôn vần Trong thơ, khuôn vần được lặp lại ở dòng tiếp theo, gọi là “hiệp vần” (đối với thơ Việt)” [52, tr.268]
Lý Toàn Thắng đã viết: “ Vần là sự tương hợp, sự tương đồng, sự cộng hưởng, sự hài hòa, sự lặp lại của các đặc trưng về nguyên âm, phụ âm, trọng
âm, thanh điệu v.v của hai từ hay âm tiết được hiệp vần” [99, tr.67]
Tóm lại, luận án dựa trên định nghĩa của tác giả Lý Toàn Thắng để triển khai phần nội dung cụ thể về vần ở chương 2
Theo Nguyễn Thái Hòa [52], có những cách phân chia vần trong các thể như sau: căn cứ vào vị trí hiệp vần, có các loại: vần lưng, vần chân, vần liền, vần cách, vần ôm, vần giao nhau, vần hỗn hợp; căn cứ vào tính chất của vần, có ba loại: vần chính, vần thông và vần áp
Lý Toàn Thắng [99] có cách phân chia tương đồng như quan điểm trên Ông bổ sung thêm các loại vần như: vần lặp (điệp vận), vần sai (lạc vận), vần
ép (cưỡng vận/ áp vận)
Luận ánsẽ được tiếp cận cách phân loại vần trong ca từ hát Xoan theo quan điểm của Nguyễn Thái Hòa.Cách tiếp cận này sẽ được triển khai ở chương 2 của luận án
e Nhịp
Nhịp với đầy đủ các yếu tố của nó, là một phạm trù rất phức tạp trong hệ thống ngôn ngữ âm nhạc Thậm chí, các nhà nghiên cứu đã phải thừa nhận nhịp
là “linh hồn” so với các yếu tố khác “Âm nhạc dân gian Việt Nam nói chung
và Xoan nói riêng là loại âm nhạc đơn điệu, vận động theo chiều ngang” [63, tr 114] Vì vậy, việc hình thành chủ đề và phát triển nhịp mang những đặc điểm riêng của phương thức truyền miệng Giai điệu của một bài dân ca đều đã trải
Trang 39qua một quá trình “trau chuốt” nên nó không mang tính bất biến như nền âm nhạc cung đình mà linh hoạt, mềm dẻo Các dị bản thường có trong dân ca là một biểu hiện rõ nhất
Nhịp trong quan niệm của các nhà Ngôn ngữ thì khác Nguyễn Thiện Giáp cho rằng: “Sự luân phiên đều đặn của sự nhanh và chậm, căng và lơi, dài
và ngắn, giống nhau và khác nhau trong sản phẩm của lời nói Nhịp điệu của
âm nhạc được gọi là tiết tấu” [34, tr 376]
Nguyễn Thái Hòa cho rằng:“Nhịp điệu là yếu tố tổ chức biểu đạt nghệ thuật
và là phương tiện nghệ thuật thuộc các chủng loại khác nhau mà trong nghệ thuật thính giác như âm nhạc, thơ ca,…thể hiện tiêu biểu Vì vậy, tính nhịp điệu là bản chất của nghệ thuật” [52, tr.163]
Mỗi thể khác nhau thì sẽ có nhịp khác nhau Ở ca từ hát Xoan, nhịp thường có chu kì ngắn, láy đi láy lại liên tục, thể hiện ở hai bậc: nhịp dòng và nhịp tiết tấu trong dòng Ví dụ: thể lục bát được ngắt dòng 6/8 và các nhịp tiết tấu 2/2/2 (nhịp chẵn) Ví dụ 4:
Đi đâu từ sáng đến giờ?
Để cho tôi đợi, tôi chờ, tôi mong
(Trống quân đón đào)
Câu 6 có nhịp là 2/2/2; câu 8 ngắt nhịp là 4/2/2 Đây là cách ngắt
nhịp theo luật Nhịp của luật là giống nhau nhưng điệu của thơ khác nhau
tạo ra cảm giác nhanh chậm khác nhau trong thơ Nhịp điệu gắn với cảm xúc và hình tượng hơn là luật thơ
Luận án xin tiếp cận quan điểm về “nhịp” của luật thơ Cách tiếp cận này sử dụng khi tìm hiểu nhịp hát Xoan
g Sự hòa phối thanh điệu
“Thanh điệu là sự nâng cao hoặc hạ thấp giọng nói trong một âm tiết có tác dụng cấu tạo và khu biệt vỏ âm thanh của từ hoặc hình vị”[144]
Trong những ngôn ngữ có thanh điệu, tiếng Việt là ngôn ngữ giàu thanh điệu Tiếng Việt hiện đại có 6 thanh điệu có giá trị âm vị học, trong đó
Trang 40trên chữ viết năm thanh được ghi lại bằng 5 dấu: huyền, hỏi, ngã, sắc, nặng và một thanh không được biểu hiện bằng dấu, có thể gọi là thanh không dấu hoặc thanh ngang
Thanh điệu là đơn vị không có tính âm đoạn, nhưng có đường nét, độ cao, tồn tại trong âm tiết Do đó, các thanh điệu phân biệt với nhau theo hai đặc trưng chủ yếu là độ cao và đường nét vận động Dựa vào hai đặc trưng đó có thể phân loại thanh điệu theo hai cách:
- Dựa vào độ cao của điểm kết thúc:
+ Các thanh có âm vực cao: thanh ngang, ngã, sắc.
+ Các thanh có âm vực thấp: thanh huyền, hỏi, nặng.
Sự đối lập về âm vực này là cơ sở để cấu tạo từ láy âm.
- Dựa vào âm điệu hay theo đường nét vận động:
+ Các thanh có đường nét bằng phẳng: thanh ngang, huyền Gọi là thanh bằng.
+ Các thanh có đường nét không bằng phẳng, gãy khúc: thanh ngã, hỏi, sắc, nặng Gọi là thanh trắc.
Sự đối lập về âm điệu là tiền đề để xây dựng luật bằng - trắc trong thơ Hai mặt đối lập đó tạo nên giá trị biểu trưng của thanh điệu tiếng Việt.Những phẩm chất âm thanh trên làm cho âm tiết tiếng Việt lúc bổng lúc trầm, lúc rút ngắn lúc kéo dài dàn trải, lúc mềm mại nhẹ nhàng lúc mạnh mẽ, dứt khoát, tạo hiệu quả về âm thanh khi sử dụng Trong sáng tác văn chương, thanh điệu làm nên tính nhạc, nhất là đối với thơ Tính nhạc và âm hưởng tạo
ra từ việc phối thanh mang lại hiệu quả về nhận thức và cảm xúc lớn “Sự hòa phối thanh điệu trong âm nhạc sẽ tuân theo một nguyên tắc là: sự “êm tai”,
“dễ nghe”, hài hòa về luật bằng – trắc trong ca từ” [68, tr 201]
1.2.1.3 Lý thuyết khái quát về trường từ vựng – ngữ nghĩa
Trường nghĩa (trường từ vựng - ngữ nghĩa - senmantics field), là một lĩnh
vực được nghiên cứu vào những năm 20, 30 của thế kỷ XX Lý thuyết này bắt nguồn từ những tiền đề duy tâm của trường phái W.Humboldt và những tư tưởng của F.de Saussure về tính cấu trúc của ngôn ngữ, đặc biệt là vấn đề về quan hệ liên tưởng và quan hệ ngữ đoạn trong ngôn ngữ