1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Đề tài Vận dụng hiểu biết của anh chị về các phương pháp dạy học văn bản văn học, định hướng giáo án dạy học bài thơ “Vội vàng” của Xuân Diệu

13 118 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 13
Dung lượng 371,55 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

khoái cảm thẩm mĩ GV giảng: thì một điều cần chú Người xưa lấy thiên nhiên trọng đó là giúp làm thước đo cho vè đẹp người học phát hiện của con người: và liên tưởng tri thức “Khuôn trăng[r]

Trang 1

Đề bài: Vận dụng hiểu biết của anh chị về các phương pháp dạy học

văn bản văn học, định hướng giáo án dạy học bài thơ “Vội vàng” của

Xuân Diệu

Bài làm:

I.Các phương pháp dạy học văn.

Nâng cao đổi mới chất lượng dạy và học là một nhu cầu cấp bách của mọi thời đại, mọi quốc gia, mọi dân tốc Dưới sự tác động của hoàn cảnh sống, đòi hỏi người học ngày càng phải có đủ kiến thức sâu rộng,

tư duy sắc bén, linh hoạt trong mọi hành động, mọi công việc Việc dạy

và học là việc cần kíp phải đổi mới Vì thế, phương pháp dạy và học là một trong những tiêu chí quan trọng phải được đặt lên hàng đầu Vận dụng các phương pháp tiên tiến vào dạy học vừa là để đáp ứng yêu cầu khách quan đó, lại vừa có tác dụng thiết thực trong việc nâng cao phát triển giáo dục Trong Lý luận và phương pháp dạy học văn đã được các nhà nghiên cứu và chỉ ra một số phương pháp cơ bản sau:

+ Phương pháp đọc sáng tạo

+ Phương pháp gợi mở

+ Phương pháp tái tạo

+ Phương pháp nêu và giải quyết vấn đề (học nhóm)

+ Phương pháp nghiên cứu

+ Phương pháp bình giảng, so sánh và đặt câu hỏi

a Phương pháp đọc sáng tạo

- Đây là phương pháp mang đặc trưng riêng của bộ môn Văn học Mục đích của phương pháp này là phát triển

sự cảm thụ trực tiếp tác phẩm văn học cho học sinh

- Phương pháp đọc sáng tạo diễn ra từ đầu tiết học và đến khi kết thúc tiết dạy

- Có ba cấp độ của phương pháp đọc sáng tạo:

+ Đọc đúng: đây là mức độ thấp nhất, đọc đúng là đọc tròn vành, rõ chữ, đúng chính tả, đúng âm điệu, tiết tấu

+Đọc diễn cảm: đọc đúng là cơ sở cho việc đọc diễn cảm, đọc không chỉ là việc bộc lộ cảm xúc đối với tác phẩm và cao hơn là thể hiện cái sự tri ân, động lòng với điều mà tác giả muốn thể hiện Đọc diễn cảm luôn đi liền với tình cảm thẩm mĩ

+Đọc nghệ thuật: tức là nó phải có sự kết hợp của hai yếu

tố ở trên và đồng thời thể hiện được khoái cảm thẩm mĩ, phong cách đọc ( giọng điệu, tâm hồn, phương thức diễn xướng…)

Trang 2

-Từ năng lực đọc, kết hợp với năng lực nghe để giúp cho học sinh dễ dàng thâm nhập vào thế giới hình tượng nghệ thuật

b Phương pháp gợi mở

- Phương pháp này nhằm giúp học sinh chủ động đi tìm kiến thức để chiếm lĩnh tri thức, đồng thời phát huy năng lực lập luận, tư duy phản biện

- Hoạt động chủ yếu là đàm thoại theo câu hỏi gợi mở.Tức là đi từ cái trìu tượng đến cái cụ thể, cho đến việc tiếp nhận và mở ra hình tượng nghệ thuật

- Bên cạnh việc xây dụng hệ thống câu hỏi, giáo viên cần phải tăng tính tranh biện, giao cho học sinh những vấn

đề khác nhau, mâu thuẫn nhau để từ đó tìm ra “chân lý”

c Phương pháp nghiên cứu

- Nghiên cứu là việc tra cứu, nghiền ngẫm vấn đề nào đó

để tìm ra cái mới

- Gíao viên đưa ra vấn đề nhiệm vụ: tất nhiên phải vừa sức với học sinh ( lứa tuổi, trình độ…), nội dung nghiên cứu phải sát với chương trình và các khía cách khác về nội dung ( hướng dẫn học sinh xây dụng đề tài, xây dụng nội dung nghiên cứu…) Sau khi làm xong, cần đánh giá kết quả học sinh để điều chỉnh, giúp học sinh hiểu sâu sắc vấn đề hơn

- Mục đích của phương pháp này là: rèn luyện tính tư duy, phân tích, tổng hợp…

d Phương pháp nêu và giải quyết vấn đề (học nhóm)

- Là phương pháp nằm trong lý luận dạy học hiện đại nhằm phát huy tính chủ thể ở học sinh, mở rộng không gian và thời gian học tập

- Để làm tốt được phương pháp này, giáo viên cần phải nêu vấn đề thật hay, hấp dẫn và có sức gợi

- Đặt ra các câu hỏi gợi mở, đẩy mạnh tính tranh biện, giúp học sinh nâng cao tư duy, tự tìm tòi, phát hiện ra vấn đề mà lĩnh hội nó một cách chủ động

e Phương pháp tái tạo

- Là phương pháp nhớ cái cũ và tiếp thu tri thức mới một cách sáng tạo

- Có ba cấp độ trong phương pháp tái tạo gắn liền với quá trình tư duy của chủ thể: hồi tưởng-hình dung-tưởng tượng

f Phương pháp bình giảng, so sánh, đặt câu hỏi

Trang 3

- Phương pháp Bình giảng là hai hoạt động đan xen nhau

và không thể thiếu trong dạy học văn chương “Gỉang”

là giảng giải, lý giải để hiểu sâu bản chất vấn đề “Bình”

là là hoạt động bình phẩm cái hay cái đẹp dựa trên sự hiểu sâu (giảng)

- Phương pháp so sánh: là hoạt động đối chiếu giữa sự vật này với sự vật khác nhằm nổi bật bản chất khác biệt giữa hai hay nhiều sự vật Trong dạy học văn cũng vậy, giáo viên cần phải liên hệ đến những hình ảnh, chi tiết giữa các tác phẩm để làm cho học sinh có cái nhìn khách quan hơn, nâng cao khả năng cảm thụ sâu sắc hơn

- Phương pháp đặt câu hỏi là hoạt động yêu cầu giáo viên phải có sự chuẩn bị công phu những câu hỏi được sắp xếp logic, chặt chẽ Nhằm tăng tính tò mò, khơi gợi cảm xúc hứng thú cho người học Mục đích của phương pháp này là nâng cao năng lực tư duy biện chứng, tiếp cận vấn đề đúng hướng và phát triển khả năng tưởng tượng

- Trên đây là nhưng phương pháp dạy học văn cơ bản góp phần định hướng quá trình dạy và học Mỗi phương pháp lại có ưu nhước điểm riêng, trong quá trình dạy học văn chúng ta cần vận dụng linh hoạt các phương pháp dạy học đó vừa để khắc phục các hạn chế của mỗi một phương pháp, mặt khác lại làm cho bài giảng them phần hấp dẫn, lôi cuốn

II.Vận dụng các phương pháp dạy học văn

Sau đây là bài ứng dụng các phương pháp dạy học văn trong việc dạy và

học tác phẩm “Vội vàng” của nhà thơ Xuân Diệu

Câu hỏi định hướng: Để đạt được hiệu quả tốt trong công tác dạy và học môn

ngữ văn, giáo viên cần có những câu hỏi gợi mở mang tính định hướng cho học sinh chuẩn bị trước khi đến tiết học Điều này sẽ giúp cho học sinh chủ động hơn trong quá trình cảm nhận tác phẩm Chú ý, câu hỏi định hướng chỉ mang tính định hướng, khái quát hóa Cho nên gv không nên đặt ra những câu hỏi quá chi tiết trong tác phẩm Đối với Tác phẩm “Vội vàng” , giáo viên có thể đặt ra câu hỏi cho học sinh về nhà nghiên cứu, tìm hiểu

1 Em hãy đọc phần tiểu dẫn trong sách giáo khoa và cho biết một số vấn đề: cuộc đời, con người nhà thơ; phong cách thơ Xuân Diệu, xuất xứ bài thơ Vội Vàng

Trang 4

2 Đọc diễn cảm bài thơ “Vội Vàng” và cho biết cảm nhận của riêng em về bài thơ Bài thơ đã để lại cho em ấn tượng và cảm xúc như thế nào?

3 Tìm một số câu thơ, hoặc bài thơ để rút ra đặc điểm phong cách thơ XD

4 Em có nhận xét gì về nội dung và nghệ thuật của bài thơ Vội Vàng?

Giáo án

A Mục tiêu

1 Kiến thức

- Cảm nhận được niềm khát khao sống mãnh liệt, sống hết mình & quan niệm về thời gian, tuổi trẻ, HP của XD được thể hiện qua TP

- Thấy được sự kết hợp nhuần nhuyễn giữa mạch cảm xúc, mạch luận lí chặt chẽ cùng những sáng tạo ngth

2 Kỹ năng

- Rèn luyện kỹ năng đọc, cảm thụ và phân tích thơ trữ tình.

3 Thái độ

- Giáo dục một thái độ sống tích cực, một nhân cách sống trong sáng, yêu đời và biết cống hiến tuổi trẻ cho xã hội

B Chuẩn bị dạy học

1 Phương tiện dạy học

- sách giáo khoa, giáo án, dụng cụ trực quan…

2 Phương pháp dạy học

- Vận dụng các phương pháp dạy học ngữ văn

C Tiến trình dạy học

1 Ổn định tổ chức

2 Kiểm tra bài cũ

3 Nội dung bài mới

Lời vào bài:

Sinh thời, XD tự hào nhất về danh hiệu nhà thơ của tình yêu và tuổi trẻ Trong số rất nhiều danh hiệu mà người đời dành cho ông Và ngay từ khi mới xuất hiện Thế Lữ cũng gọi XD: là thi sĩ của tuổi xuân, của lòng yêu và của ánh sáng “Vội vàng” là bài thơ tiêu biểu cho hồn thơ XD trước cách mạng tháng 8 – một hồn thơ yêu đời, yêu sống đến mãnh liệt và đằng sau đó là quan niệm nhân sinh mới

mẻ mà lần đầu tiên XD đưa tới cho thơ ca đất nước

Trang 5

Phương pháp dạy

học văn

Hoạt động GV - HS Nội dung cần đạt

Phần I Tiểu dẫn, chủ

yếu gv hướng dẫn

người học tìm hiểu

về con người và

phong cách nghệ

thuật của Xuân Diệu

Vì vậy ta cần sử

dụng phương pháp

gợi mở, nhằm giúp

người học thấy được

điểm nổi bật về hồn

thơ XD

Hoạt động 1: GV hướng

dẫn học sinh tìm hiểu khái quát về tác giả-tác phẩm qua phần tiểu dẫn

CH1:Dựa vào phần tiểu

dẫn, em hãy cho biết đôi nét về tiểu sử của nhà thơ XD?

- Theo lời XD: cả xứ Nghệ

quê cha & xứ dừa quê mẹ đều có a.h đến c/s & SN

VH, thừa hưởng đức tính cần cù, kiên nhẫn trong lđ của ng xứ Nghệ & hồn thơ

đc bồi đắp nên từ tn thơ mộng vạn Gò Bồi.

CH2: Vị trí và Phong

cách của nhà thơ XD?

CH3: Đóng góp của XD

được thể hiện qua khả năng sáng tạo dồi dào ntn?

- TP là dòng cx mãnh liệt,

dào dạt tuôn trào, nhưng vẫn theo mạch luận lí, có

bố cục chặt chẽ

I Tiểu dẫn

1 XD (1916-1985):

- Tên khai sinh: Ngô Xuân Diệu,

quê nội ở Hà Tĩnh, quê ngoại ở Bình Định

- Sau khi đỗ tú tài: XD đi dạy học

tư, làm viên chức ở Mĩ Tho, rồi ra

HN sống bằng nghề viết văn

- Ông hăng hái tham gia các hđ XH với tư cách 1 nhà văn chuyên nghiệp

- Ông hăng hái tham gia các hđ XH với tư cách 1 nvăn chuyên nghiệp: ĐBQH K1, UV BCH Hội nvăn VN K1,2,3; Viện sĩ thông tấn Viện Hàn lâm ngth CHDC Đức

- 1996: XD được nhà nước tặng giải thưởng HCM về VHNT

2 Vị trí + Phong cách.

- Nhà thơ lớn, nhà VH’ lớn

+ Ngay khi bước chân vào làng thơ,

đã đc nhìn nhận: nhà thơ mới nhất

trong những nthơ mới (HT).

+ Nhà thơ của mùa xuân, tuổi trẻ &

TY với 1 hồn thơ khát khao giao

cảm với đời (NĐM).

- Luôn duy trì nguồn cx tươi mới,

cặp mắt xanh non để nhìn vạn vật ->

dòng thơ cho đến cuối đời k hề vơi cạn

-> Sự đam mê stạo của ông như 1 cuộc chạy đua với thgian, tìm đến sự bất tử trong văn chương

3 TP chính

- Các tập thơ: Thơ thơ (1938), Gửi

hương cho gió (1945), Riêng chung

(1960)…

- Các tập văn xuôi: Phấn thông vàng

(1939)…

- Các tập tiểu luận, phê bình, nghiên

Trang 6

-Khi tiếp cận đến tác

phẩm, một phương

pháp quan trọng

không thể bỏ qua là

phương pháp đọc

sáng tạo.GV đọc

mẫu và gọi học sinh

lên đọc tác phẩm

Chú ý cách đọc của

học sinh để có thể

giúp học sinh thấy

được vai trò của việc

đọc (giọng đọc tác

phẩm mỗi đoạn lại

khác nhau) Nó là

chìa khóa đầu tiên để

mở ra một thế giới

hình tượng nghệ

thuật

- Đưa học sinh xâm

nhập vào thế giới

hình tượng nghệ

thuật điều cần làm đó

là kích thích vào trí

tưởng tượng của

người học, nâng đỡ

định hướng người

học đi đúng hướng là

một yêu cầu cần

thiết Cho nên, giáo

viên cần gợi mở cho

học sinh những yếu

tố đặc sắc trong câu,

đoạn thơ –Phương

pháp gợi mở.

Hoạt động 2: GV hướng

dẫn học sinh đọc hiểu chi tiết

CH4: Em có nhận xét gì về

cách sử dụng nghệ thuật ở

4 câu thơ đầu? ( động từ, điệp ngữ)

Thi nhân là người nhạy cảm hơn ai hết về sự tàn phai của cái đẹp trước thời gian

- CH5: Qua 4 câu thơ đầu,

em thấy mong muốn lớn nhất của thi sĩ là gì?

-GV gọi học sinh đọc 4 câu thơ đầu Chú ý cách đọc của học sinh thể hiện tâm thế cuồng nhiệt tận hưởng mạnh mẽ

-CH6: Để tái hiện bức

tranh thiên nhiên, tác giả đã

sử dụng biện pháp nghệ thuật gì? (Chú ý đến hình ảnh được gợi nhắc, miêu tả.)

GV gọi học sinh đọc 9 câu thơ tiếp

- CH7: Em hãy nhận xét

bức tranh thiên nhiên được miêu tả như thế nào?

cứu: Các nhà thơ cổ điển VN…

* Vội vàng:

- In trong tập Thơ thơ

- Tiêu biểu cho thơ XD trước CM

II Đọc- hiểu

1 Đoạn 1:

- 4 câu thơ đầu.

+ động từ “tắt nắng” + “buộc

gió” + điệp từ “tôi muốn”

 Khát vọng ngông cuồng muốn đoạt quyền tạo hóa.

+ Mục đích: “màu đừng nhạt

mất”+ “hương đừng bay đi”  khát

vọng xoay chuyển lại quy luật của

tự nhiên

 Những ước muốn k tưởng ấy

đc bộc lộ 1 cách chân thành, mãnh

liệt bởi nó bắt nguồn từ TY tha

thiết đối với cuộc sống.

- 9 câu thơ tiếp

Khác với nhiều thi nhân LM, XD không cần phải tìm cách thoát li HT, nhà thơ tìm thấy cho mình cả 1 thiên đường ngay trên mặt đất này: Không

xa lạ mà rất đỗi quen thuộc, ở ngay trong tầm tay của mỗi chúng ta H/a thiên nhiên & sự sống quen thuộc hiện ra qua cái nhìn & sự cảm nhận độc đáo của nhà thơ: C4 ->8

-Tác giả sử dụng biện pháp liệt kê với điệp từ “này đây” đã tạo ra hàng loạt những hình ảnh:

+ Bướm ong dậập dìu + Chim chóc ca hát (âm thanh) + Lá non phơ phất trên cành (màu sắc)

+ Hoa nở trên đồng nội + ánh sáng chớp hàng mi (ánh sáng)

 Đấy là một cõi trần dạt dào

nhựa sống giữa mùa xuân: tâm

Trang 7

- Phương pháp

“Bình-giảng” luôn

được đan xen trong

quá trình giảng

-Trong quá trình

giúp người đọc

tương tác với thế

giới nghệ thuật, bên

cạnh chỉ ra cái hay,

cái đẹp mang tình

cảm thẩm mĩ, tạo ra

khoái cảm thẩm mĩ

thì một điều cần chú

trọng đó là giúp

người học phát hiện

và liên tưởng tri thức

cũ để so sánh tìm ra

điểm khác biệt làm

nổi bật cái đặc sắc

nghệ thuật của bài

thơ cũng như quan

niệm riêng thuộc về

phong cách của tác

giả Vì thế phương

pháp tái tạo cũng

được sử dụng như

một phương pháp

quan trọng Cụ thể

trong câu thơ: “ Ánh

sáng chớp hàng

mi…môi gần” Ta

thấy rõ quan niệm về

thước đo vẻ đẹp của

thiên nhiên và con

người của XD khác

với người thời xưa

GV: XD đã nhìn thiên nhiên qua lăng kính của

TY, qua cặp mắt của tuổi trẻ -> cảnh vật đều nhuốm mày tình tứ, tràn ngập xuân tình Đó là cái nhìn lấy con người làm chuẩn mực cho thiên nhiên, quy chiếu thiên nhiên về vẻ đẹp của giai nhân: C9

-CH10: Câu thơ: “Tháng

giêng ngon… cặp môi gần”, em có nhận xét gì về biện pháp nghệ thuật của câu thơ Qua đó, thể hiện quan niệm gì của tác giả khác với người thời xưa

GV giảng:

Người xưa lấy thiên nhiên làm thước đo cho vè đẹp của con người:

“Khuôn trăng đầy đặn nét ngài nở nang

Hoa cười ngọc thốt đoan trang…”

-CH11: Hai câu thơ cuối

của đoạn thơ đã thể hiện tâm thế như thế nào của tác giả trước bức tranh mùa xuân? Từ đó, em hãy rút ra

luận điểm của toàn khổ

thơ

Khi chuyển đoạn gv gọi

HS lên đọc, chú ý cách đọc làm sao thể hiện trạng thái khắc khoải, tiếc nuối

hồn tươi trẻ của TG bắt nhịp ngay với những gì đang nảy lộc đâm chồi, đang đơm hoa kết trái

“Và này đây ánh sáng chớp hàng mi Mỗi buổi sáng thần vui hằng gõ cửa Tháng giêng ngon như một cặp môi gần”

-Biện pháp so sánh giả định:

+ánh sáng được phát ra từ đôi mắt của người thiếu nữ

+”Tháng giêng = môi gần” + từ chỉ

vị giác “ngon”  Mang đậm tính

nhục cảm.

-Quan niệm:

+ Quy chiếu vẻ đẹp của thiên nhiên vào con người Lấy vẻ đẹp của con người làm thước đo cho vẻ đẹp của tạo hóa

Tháng giêng…-> Cái đẹp của con

ng đã trở thành chuẩn mực cho cái đẹp của tự nhiên -> 1 phát hiện trong quan niệm mĩ học của XD

 2 câu kết thể hiện một logic

ngầm, cuộc sống là thiên đường trên mặt đất cần phải tận hưởng trước khi thời gian chon vùi vẻ đẹp trong

dĩ vãng Đó là lời giục giã đến

cuồng nhiệt của một tâm hồn khao khát tận hưởng và tận hiến cho đời trước bữa tiệc nhân gian.

Trang 8

-Phương pháp đọc

sáng tạo.

-Phương pháp so

sánh kết hợp với

Phương pháp nêu

và giải quyết vấn

đề GV đặt ra vấn đề

có tình huống để học

sinh tranh biện, thảo

luận để tìm ra bản

chất của vấn đề

-Qúa trình giảng bài

xuyên suốt từ đầu

giờ cho đến hết tiết

dạy, phương pháp

“Bình-giảng” luôn

được sử dụng triệt

để, giúp học sinh

cảm nhận hình tượng

NT sâu sắc

-GV chia lớp thành hai nhóm, mỗi nhóm thảo luận một vấn đề:

+Nhóm 1: Quan niệm về thời gian của các nhà thơ thời trung đại (thời gian tuần hoàn)

+ Nhóm 2: Quan niệm mới

mẻ của Xuân Diệu (thời gian tuyến tính)

GV giảng: Quan niệm về

thời gian của các nhà thơ

thời trung đại: thời gian

tuần hoàn

“Ngán nỗi xuân đi xuân lại lại

Mảnh tình san sẻ tí con con” (HXH)

 Tâm thế bình thản, siêu thực lấy sinh mệnh vũ trụ để nói đến tuổi xuân của đời người

-CH12: XD thể hiện tâm

thế như thế nào về cuộc đời

từ cảm thức về thời gian tuyến tính?

-CH13: Sự chảy trôi của

thời gian năm tháng khiến cho XD đã tái hiện sự vật ở trạng thái như thế nào?

GV bình giảng:

Nếu như ở những câu thơ trên, nhà thơ hiện lên một

cái tôi ham hố đến cuồng

2 Đoạn 2:

-2 câu thơ đầu:

-Xuân đương tới - Xuân đương

qua

-Xuân còn non - Xuân sẽ già.

-Quan niệm mới mẻ về thời gian của

XD: thời gian tuyến tính đã qua đi

là không bao giờ trở lại Xuất phát

từ cái nhìn biện chứng về vũ trụ và thời gian

- XD đã sử dụng biện pháp đối lập triệt để, có tác dụng diễn tả sự chảy trôi của thời gian năm tháng

“Xuân hết- tôi mất… tuổi trẻ chẳng hai lần thắm lại”

 Đ/v thi sĩ, mỗi giây phút cđ là vô cùng quý giá, nên XD lúc nào cũng

như chạy đua với thgian, giục giã mình & mọi ng: Mau lên chứ, vội

vàng lên với chứ! Lấy tuổi trẻ làm thước đo cho thời gian năm tháng.

-Cái đẹp của thiên nhiên là mùa xuân, cái đẹp của con ng là tuổi trẻ

Mx của đất trời còn có thể tuần hoàn, nhưng tuổi xuân của đời ng nếu đã trôi qua đi thì mất đi vĩnh

viễn, chẳng bao giờ thắm lại

-> Nghich lí nhưng cũng là quy

luật tất yếu

- Cảm nhận sâu sắc & có phần đau đớn về sự 1 đi k trở lại của tuổi xuân

khiến thi nhân nhìn đâu cũng thấy

mầm li biệt: C23-28

“Còn trời đất … sợ độ phai tàn sắp

Trang 9

-Câu hỏi gợi mở,

phương pháp bình

giảng, tác động đến

cảm xúc của chủ thể

người tiếp nhận, cho

người tiếp nhận thấy

được sự vận động

của tứ thơ và tư

tưởng cảm xúc trong

thơ từ đoạn đầu cho

đến câu 28

Phương pháp đọc

sáng tạo GV cần

phải chỉnh sửa cho

học sinh về giọng

đọc, cách đọc, giúp

học sinh thấy được

mỗi đoạn thơ lại có

giọng đọc khác nhau

Từ đó định hướng

nhiệt thụ hưởng trước bữa tiệc mùa xuân thì đến câu thơ tiếp theo,XD chợt nhận

ra cái quy luật vĩnh hằng bất diệt của thời gian năm tháng Sự phai tàn của sự vật thắm đấy rồi lại phai, non đấy rồi lại già, sống đấy rồi lại chết đi thôi…Vì thế ông nhìn mọi vật như là

sự chia lìa, khắc khoải.Gói trọn trong lời thơ là sự tiếc nuối bởi thời gian tuổi trẻ, thời gian mùa xuân

-CH14: Qua cái nhìn sự

vật ấy của nhà thơ, em thấy được tâm thế gì mà nhà thơ khao khát thể hiện?

GV giảng: Cách cảm nhận

về thời gian nvậy, xét cho

cùng là dosự thức tỉnh sâu

sắc về cái tôi cá nhân, về

sự tồn tại có y/n của mỗi

cá nhân trên cõi đời, nâng

niu trân trọng từng giây phút của cđ, nhất là những năm tháng của tuổi trẻ

Khi chuyển đoạn gv đọc mẫu và gọi HS lên đọc, chú ý cách đọc làm sao thể hiện trạng thái hả hê, sung sướng, đã đầy

GV giảng: Nếu như ở đoạn

thơ đầu nhà thơ thể hiện khát khát cuồng nhiệt muốn đoạt quyền tạo hóa, đến đoạn hai thi sĩ thể hiện

sự tiếc nuối trước sự chảy trôi của thời gian nam tháng thì đến đoạn thơ thứ

ba, thi nhân thực thi tuyên

sửa”

+ Các giác quan được huy động tối đa dẫn đến những cảm nhận độc

đáo: mùi tháng năm…: mỗi khoảnh

khắc trôi qua là 1 sự mất mát, chia lìa

+ Mỗi sự vật trong vũ trụ đang từng giây, từng phút ngậm ngùi chia

li, tiễn biệt 1 phần đời của mình:

Cơn gió xinh- hờn bay đi.

+ Âm thanh réo rắc, ríu rít của tiếng

chim cũng vụt tắt…

Hai câu kết : “ Chẳng bao giờ, ôi… chiều hôm” đã mở ra một tâm thế giục giã, kêu gọi tận hưởng,

chạy đua với thời gian Đó là cách

thể sống “vội vàng”.

3 Đoạn 3: (9 câu thơ cuối)

- Chính vì bất lực trước quy luật khắc nghiệt của thời gian: không thể níu giữ thời gian, nên thi nhân mới

vội vàng giục giã mọi người tận

hưởng tất cả những gì đẹp đẽ nhất trên thế gian này

-Giọng thơ sôi nối, gấp gáp càng lúc

Trang 10

cách tiếp cận đoạn

thơ và cả bài thơ

Phương pháp tái

tạo và phương pháp

bình giảng để

chuyển đoạn Giúp

người tiếp nhận thấy

được mạnh vận động

của tứ thơ và tư

tưởng

Phương pháp tái

tạo, nêu và giải

quyết vấn đề.Tổng

kết lại kiến

thức.Giups học sinh

nắm được cái thần

thái của cả bài thơ

cũng như triết lý,

quan niệm sống “vội

vàng” mà nhà thơ

gửi gắm

ngôn sống vội vàng

-CH 15: XD đã sử dụng

nghệ thuật gì để diễn tả sự khát vọng thực thi tuyên ngôn sống “vội vàng”?

+ giọng thơ + số câu chữ ở câu thơ đầu +biện pháp nghệ thuật +cách xưng hô

GV giảng: Để thực thi cho

tuyên ngôn sống vội vàng của mình, XD đã xác lập một cái tôi chuyển sang cái

ta rộng lớn để đối diện với

sự sống, với cả thế gian tươi đẹp Giong thơ gấp gáp, cuồng nhiệt, điệp từ

“ta muốn” cứ láy đi điệp lại thể hiện khát vọng không cùng trong lòng thi sĩ

Những động từ, tính từ mạnh đã cho thấy trạng thái hưởng thụ đến tột cùng

vô biên tuyệt đích Đó là một lối sống thể hiện lòng yêu đời, yêu cuộc sống mãnh liệt của thi nhân

GV chia lớp làm 2 nhóm.Thảo luận về Triết lý sống vội vàng của XD

GV giảng:

Thi nhân ý thức được sự chảy trôi của thời gian đời người một đi không trở lại nên ông thể hiện một tâm thế của một con người sẵn sang thụ hưởng Với ông, con người chỉ có thể hưởng thụ tận hiến, tận hưởng khi:

cuộc đời vẫn còn trẻ và khi

vẻ đẹp của sự sống vẫn còn hiện diện trước mắt chúng

càng mãnh liệt -Câu thơ đầu: “Ta muốn ôm” chỉ có

ba chữ đứng độc lập thành một câu thơ Người đọc hình dung ra cánh tay đang dang rộng của thi nhân đang muốn ôm cả sự sống mơn mởn

- Điệp ngữ “Ta muốn” (4 lần) + liên

từ “và” xuất hiện liên tiếp

-Cách xưng hô chuyển từ: “tôi” sang

“ta” Nếu “tôi”- đồng loại; “ta”- sự sống, thế gian

-Sử dụng các động từ, tính từ mạnh

theo lối tăng tiến: riết, say, thâu,

chuếnh choáng, đã đầy, no nê…

Thể hiện một lối sống yêu đời

mãnh liệt – sung mãn tận hiến, tận hưởng

* Triết lí sống vội vàng mà XD thể

hiện trong TP:

+ Phải vội vàng tận hưởng HP &

niềm vui mà cđ ban tặng cho con ng khi còn trẻ vì thgian k chờ đợi

+ Phải vội vàng thâu nhận những

vẻ đẹp của sự sống vì cái đẹp cũng giống như tuổi trẻ sẽ qua đi rất nhanh, không bgiờ trở lại

+ Phải vội vàng lên, phát huy tận

độ mọi giác quan để cảm nhận cđ,

Ngày đăng: 02/04/2021, 06:41

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w