Môc tiªu bµi häc - Giúp hs tìm hiểu sâu hơn về các thao tác lập luận từ đó khắc sâu kiến thức qua các đề văn, đã học - Củng cố kiến thức , kĩ năng tìm hiểu một đề văn , thơ qua các việc [r]
Trang 1Soạn: 20/03/09
Giảng:23/03/09
CHỦ ĐỀ 9: CB (Tiết 22+23)
LUYỆN TẬP CÁC THAO TÁC LẬP LUẬN
A Mục tiêu bài học
- Giúp hs tìm hiểu sâu hơn về các thao tác lập luận từ đó khắc sâu kiến thức qua các đề văn,
đã học
- Củng cố kiến thức , kĩ năng tìm hiểu một đề văn , thơ qua các việc sử dụng các thao tác
B Phương tiện thực hiện
C Phương pháp thực hiện:
Gv hướng dẫn hs tìm hiểu theo phương pháp gợin mở và nêu vấn đề tìm hiểu , thảo luạn và trả lưòi câu hỏi
D Tiến tình bài học
Vớ dụ đề bài : "Văn học chõn chớnh cú
khả năng nhõn đạo húa con người" Hóy
bỡnh luận ý kiến trờn
Đề này đề cập đến chức năng giỏo dục
của văn học Trờn cơ sở hiểu biết về đơn
vị kiến thức trờn mà tổ chức lập luận
- Núi văn học chõn chớnh cú khả năng
nhõn đạo húa con người là núi đến ý
nghĩa tỏc động tớch cực của văn học đối
với người đọc, làm cho họ tốt hơn lờn,
biết sống nhõn ỏi, nhõn đạo Khi đó nắm
chắc nụi dung luận đề thỡ tiến hành xỏc
lập ý lớn Đề trờn cú thể triển khai thành
những luận điểm như sau:
1.Vỡ sao văn học lại cú nhiệm vụ nhõn
đạo húa? Do ý đồ sỏng tạo của nhà văn,
là chức năng cao cả của văn học
2.Văn học thực hiện nhiệm vụ nhõn đạo
húa bằng cỏch nào?
- Đấu tranh vỡ một xó hội cụng bằng tốt
đẹp
- Giỳp con người tự nhận thức, tự hoàn
thiện đạo đức nhõn cỏch, tự chọn lối
sống cỏch sống đẹp nhõn ỏi
- Đụi khi văn học giỳp con người cú lối
sống nhõn đạo bằng lời đề nghị trực
tiếp
3 Cú phải chỉ cú văn học mới cú chức
năng giỏo dục con người hay khụng?
Gia đỡnh, nhà trường, xó hội! Mụn Giỏo
dục cụng dõn v.v Vậy đặc thự của văn
học là gỡ?
4 í nghĩa vấn đề: Đối với nhà văn Đối
với bạn đọc
I Phõn tớch đề, tỡm hiểu đề:
- Đọc kĩ đề, chỳ ý từng từ, khỏi niệm khú, nghĩa đen, nghĩa búng của từ nhữ, nghĩa tường minh, nghĩa hàm ẩn của cõu, đoạn Chia vế, ngăn đoạn, tỡm hiểu mối tương quan giữa cỏc vế: song song, chớnh phụ, nhõn quả, tăng tiến, đối lập
* Vấn đề cần nghị luận là gỡ? Cú bao nhiờu ý cần triển khai? Mối quan hệ giữa cỏc ý như thế nào?
* Sử dụng thao tỏc lập luận gỡ là chớnh? Đề học sinh giỏi thường yờu cầu sử dụng tổng hợp cỏc thao tỏc, nhưng cũn tựy thuộc vào lĩnh vực kiến thức mà thiờn về thao tỏc nào là chớnh Nếu liờn quan đến tỏc phẩm thỡ chủ yếu phõn tớch - chứng minh, nếu liờn quan đến lớ luận văn học thỡ chủ yếu giải thớch - bỡnh luận
* Vựng tư liệu được sử dụng cho bài viết: tỏc gia, trào lưu, giai đoạn, thời kỳ văn học; trong nước hay thế giới
II Lập dàn ý
I Tỏc dụng của vệc lập dàn ý:
- Lập dàn ý giỳp cho người viết lựa chọn, sắp xếp ý thành một hệ thống chặt chẽ và bao quỏt được nội dung
cơ bản, nhờ đú mà trỏnh tỡnh trạng lạc đề hoặc lặp ý, trỏnh được việc bỏ sút ý hoặc triển khai ý khụng cõn xứng
- Cú dàn ý người viết sẽ phõn phối thời gian hợp lý khi viết bài
II.Cơ sở lập ý
Cú hai cơ sở để xỏc lập ý:
- Trường hợp đề bài cú nhiều ý thỡ dựa vào chỉ dẫn của
đề nhưng phải xỏc định mối quan hệ giữa cỏc ý, nhất là quan hệ chớnh phụ, khụng nờn nhầm lẫn ý chớnh với ý phụ Thường thỡ những đề này chỉ chứa những ý chớnh
Vớ dụ đề bài: Nguyễn Văn Siờu cú viết: " Văn chương ( ) cú loại đỏng thờ Cú loại khụng đỏng thờ Loại khụng đỏng thờ là loại chỉ chuyờn chỳ ở văn chương Loại đỏng thờ là loại chuyờn chỳ ở con người" Hóy bỡnh luận ý kiến trờn Đề cú hai ý tương đối rừ ràng
Trang 2Tác dụng của phân tích là thấy được giá
trị ý nghĩa của sự vật hiện tượng, mối
quan hệ giữa hình thức với bản chất, nội
dung Phân tích giúp nhận thức đầy đủ,
sâu sắc cái giá trị hoặc cái phi giá trị của
đối tượng Riêng đối với tác phẩm văn
học, phân tích là để khám phá ba giá trị
của văn học: nhận thức, tư tưởng và
thẩm mĩ
Yêu cầu phân tích: phải nắm vững đặc
điểm cấu trúc của đối tượng để chia tách
một cách hợp lí Sau khi phân tích tìm
hiểu từng bộ phận, chi tiết phải tổng hợp
khái quát lại để nhận thức đối tượng đầy
đủ, sâu sắc và trình bày ngắn gọn
- Dùng phép liên tưởng để mở rộng nội
dung ý nghĩa
Ví dụ: THoài giới thiệu nhân vật Mị
trong truyện Vợ chồng A Phủ:
- Trước nhà thống lí Pá Tra, người ta lúc
nào cũng thấy Mị ngồi quay sợi bên
tảng đá cạnh tàu ngựa
- Lúc nào cô ấy cũng cúi mặt, mặt buồn
rười rượi
- Trường hợp đề bài chỉ có một ý Đây là dạng phổ biến thường gặp ở những kỳ thi h.s giỏi Vậy thì căn cứ vào đâu để xây dựng được hệ thống lập luận gồm những ý lớn ý nhỏ? Hoàn toàn lệ thuộc vào vốn kiến thức của bạn! Nếu có chút lúng túng thì hãy chú ý đến nội hàm của khái niệm (nếu có) hoặc hiểu cái ý ngầm đằng sau những lời văn là gì
III Cách lập dàn ý bài văn nghị luận:
1 Xác định các luận điểm (ý lớn)
- Đề bài có nhiều ý thì ứng với mỗi ý là một luận điểm
- Đề bài có một ý, thì ý nhỏ hơn cụ thể hoá ý đó được xem là những luận điểm Nội dung kiến thức này ở trong bài học, tư liệu hoặc vốn tự có
2 Tìm luận cứ ( ý nhỏ) cho các luận điểm
Mỗi luận điểm cần cụ thể hoá thành nhiều ý nhỏ hơn gọi
là luận cứ
Số lượng ý nhỏ và cách triển khai tuỳ thuộc vào ý lớn
Ý nhỏ có khi được gợi từ đề bài nhưng phần lớn là từ kiến thức của bản thân
3 Lập dàn ý ba phần:
a Mở bài: Giới thiệu luận đề
b Thân bài: Triển khai nội dung theo hệ thống các ý lớn, ý nhỏ đã tìm
c Kết bài: Tổng kết nội dung trình bày, liên hệ mở rộng, nâng cao vấn đề
CÁC THAO TÁC LẬP LUẬN TRONG VĂN NGHỊ LUẬN
1 Phân tích
1 Khái niệm Phân tích là chia tách đối tượng, sự vật hiện tượng thành nhiều bộ phận, yếu tố nhỏ để đi sâu xem xét kĩ lưỡng nội dung và mối liên hệ bên trong của đối tượng
2 Cách phân tích
- Khám phá chức năng biểu hiện của các chi tiết
Ví dụ 1: Trời thu xanh ngắt mấy từng cao Cần trúc lơ phơ gió hắt hiu (Nguyễn Khuyến)
Từ xanh ngắt gợi tả không gian trời thu cao xanh vời vợi, nền trời là một màu xanh ngăn ngắt Màu xanh này gợi tả được cảnh trong veo và thật im vắng, yên tĩnh Cụm từ mấy từng cao đã diễn tả không gian sâu thẳm vô cùng Trên nền không gian bao la ấy, tác giả điểm xuyết một cành trúc Từ láy lơ phơ giàu sức tạo hình, gợi tả cành trúc khẳng khiu, thanh mảnh, nhẹ nhàng, thưa thớt
lá, đang đong đưa trong làn gió nhẹ của chiều thu Nhờ cần trúc với dáng nét lơ phơ mà cảnh thu có vẻ đẹp
Trang 3> Vị trí ngồi ấy cho thấy cuộc đời Mị
như bị thít chặt trong kiếp ngựa trâu và
khuôn mặt lột tả cõi lòng luôn mang nỗi
đau buồn thầm lặng dai dẳng, triền
miên Nỗi buồn đông cứng như tảng đá
vô tri và đè nặng lên đôi vai, lên cuộc
đời Mị Tác giả đã thể hiện nỗi buồn của
Mị với giọng văn ngậm ngùi và chiều
sâu cảm thông hiếm thấy Đoạn văn mở
đầu giúp người đọc chứng kiến cảnh đời
bi thương của nhân vật Mị
Hai sự vật cùng loại có nhiều điểm
giống nhau thì gọi là so sánh tương
đồng, có nhiều điểm đối chọi nhau thì
gọi là so sánh tương phản
Tác dụng của so sánh là nhằm nhận thức
nhanh chóng đặc điểm nổi bật của đối
tượng và cùng lúc hiểu biết được hai
hay nhiều đối tượng
Ví dụ 2:
“Tiếng suối trong như tiếng hát xa”…
Nguyễn Du, Bạch Cư Dị so tiếng đàn
với tiếng suối Thế Lữ lại so tiếng hát
trong với nước ngọc tuyền (suối ngọc)
Những người này không miêu tả trực
tiếp tiếng suối Chỉ có Nguyễn Trãi cho
tiếng suối là tiếng đàn cầm Có lẽ đó là
hình ảnh gần nhất với hình ảnh trong
câu thơ này Có thể chẳng phải ngẫu
nhiên Nguyễn Trãi sành âm nhạc Bác
Hồ cũng thích âm nhạc Tiếng hát của
một danh ca Pháp từng thích nghe thời
trẻ, đến tuổi bảy mươi Bác còn nhờ chị
Mađơlen Rípphô tìm lại hộ Tiếng suối
ngàn của đất nước hay đó là tiếng hát
của trái tim người nghệ sĩ yêu đời
(Lê Trí Viễn)
* Lưu ý: Trong thực tế, một vấn đề
nhiều khi có mặt đúng, mặt sai Vì vậy,
khi bác bỏ hoặc khẳng định cần cân
nhắc, phân tích từng mặt để tránh tình
trạng khẳng định chung chung hay bác
bỏ, phủ nhận tất cả
Vận dụng kết hợp các thao tác lập
luận
1 Vì sao phải sử dụng kết hợp các thao
tác lập luận?
Viết văn nghị luận là thể hiện sự hiểu
biết, nhận thức, khám phá của mình về
đối tượng nghị luận nhằm nâng cao trình
duyên dáng thơ mộng, thanh thoát
Ví dụ 2: Bức tranh thiên nhiên Việt Bắc lơ lửng, trữ tình:
Trăng lên đầu núi, nắng chiều lưng nương
- Hình ảnh thơ chân thực, không gian gần gũi nhưng nhờ cách lựa chọn thời gian nên đã gợi tả được phong cảnh tuyệt vời Đó là thời điểm ngày đã hết, nắng chiều
đã lưng nương nhưng lần lữa như không muốn đi Bóng hoàng hôn còn lưu luyến thì trăng đã nhô lên, đổ ánh sáng dịu dàng Do đó cảnh thung lũng có sự giao hòa ánh sáng của mặt trời và mặt trăng, thứ ánh sáng dịu dàng, trong trẻo của trăng hoà với ánh sáng êm ả của hoàng hôn tạo ra một vừng sáng diệu kì như thực, như
mơ Chớp lấy khoảnh khắc lạ lùng, Tố Hữu đã đem đến cho thiên nhiên Việt Bắc một vẻ đẹp bình dị, mộng mơ làm say đắm lòng người
2 So sánh
1 Khái niệm:
So sánh là một thao tác lập luận nhằm đối chiếu hai hay nhiều sự vật, đối tượng hoặc là các mặt của một sự vật
để chỉ ra những nét giống nhau hay khác nhau, từ đó thấy được giá trị của từng sự vật hoặc một sự vật mà mình quan tâm
2 Cách làm
- Trước hết là cần xác định đối tượng nghị luận từ đó tìm một đối tượng tương đồng hay tương phản, hoặc cần
so sánh hai đối tượng cùng lúc
- Chỉ ra những điểm giống nhau giữa các đối tượng
- Dựa vào nội dung cần tìm hiểu, chỉ ra điểm khác biệt giữa các đối tượng
- Xác định giá trị cụ thể của các đối tượng
Ví dụ 1: So sánh nghị luận về tư tưởng đạo lí và nghị luận về hiện tượng đời sống và cách làm bài
Nghị luận về tư tưởng đạo lí và nghị luận về hiện tượng đời sống là hai dạng đề cụ thể của nghị luận xã hội Nghĩa là, bàn bạc để hiểu một cách thấu đáo cũng như vận dụng vấn đề nghị luận vào đời sống và bản
thân.Vấn đề đạo lí có tính chất truyền thống nhằm rèn luyện đạo đức nhân cách Vấn đề hiện tượng đời sống mang tính thời sự nóng hổi nhằm mục đich rèn luyện ý thức công dân Đối tượng nghị luận có khác nhau nhưng cách làm bài giống nhau
Phần mở bài ta nên tìm hiểu và nói rõ nguyên nhân vì sao xuất hiện vấn đề trên và giới thiệu đề bài
Phần thân bài ta làm lần lượt các ý sau
1 Giải thích chi tiết và tổng quát vấn đề nghị luận
2 Đưa dẫn chứng cụ thể đồng thời phân tích để thấy việc đúng / sai của vấn đề
Nhận đinh khái quát việc đúng / sai, hoặc nửa đúng nửa sai của vấn đề Khi lấy dẫn chứng bạn cần có phương pháp và tránh hiện tượng lấy quá nhiều hoặc quá ít dẫn
Trang 4độ, năng lực, giúp người khác cùng hiểu
và tin vào vấn đề Đồng thời người viết
cũng thể hiện chính kiến, thái độ, sự
đánh giá vấn đề, không ngừng đưa ra
những điều chỉnh tích cực nhằm nâng
cao sự tiến bộ trong lĩnh vực văn minh
tinh thần của văn học Do đó phải sử
dụng kết hợp các thao tác lập luận
- hiểu biết, nhận thức > giải thích
- khám phá > phân tích
- đánh giá > bình luận
2 Tìm hiểu việc sử dụng kết hợp các
thao tác lập luận trong bài văn sau:
HOÀNG HẠC LÂU
(Lầu Hoàng Hạc)
Thôi Hiệu
Thôi Hiệu (704 - 754) là một trong
những nhà thơ xuất sắc thời Đường
Hoàng Hạc lâu là bài thơ nổi tiếng được
truyền tụng xưa nay Thắng cảnh lầu
Hoàng Hạc ở huyện Vũ Xương, tỉnh Hồ
Bắc gắn với truyền thuyết người tiên là
Tử An rồi Phí Văn Vi cưỡi chim hạc
vàng đến nơi này Tương truyền khi xưa
Lí Bạch có đi qua Hoàng Hạc lâu, thấy
phong cảnh hữu tình, muốn phóng bút
một vài câu thơ ca ngợi nhưng chợt thấy
bài Hoàng Hạc lâu khắc trên vách bèn
ngửa mặt than rằng:
Nhãn tiền hữu cảnh đạo bất đắc
Thôi Hiệu đề thi tại thượng đầu
Dịch
Trước mắt thấy cảnh không tả được
Vì Thôi Hiệu đã đề thơ trên đầu
Lầu Hoàng Hạc toạ lạc ở địa điểm cao
nên có thể nhìn bốn phương trời mênh
mang và phía dưới là dòng sông Dương
Tử chảy về đông Đứng trên lầu cao,
cảm giác con người quá bé nhỏ trước vũ
trụ, trước không gian vĩnh hằng và thời
gian chảy trôi vĩnh viễn Do đó, bốn câu
đầu gợi tả quang cảnh chung nhưng
cũng là suy niệm về phận người trước
cái vô thủy vô chung:
Hạc vàng ai cưỡi đi đâu,
Mà đây Hoàng Hạc riêng lầu còn trơ
Hạc vàng đi mất từ xưa,
Ngàn năm mây trắng bây giờ còn bay
Nhắc đến tích xưa là chiêm nghiệm cái
còn và cái đã mất
Người tiên đã cưỡi chim thiêng mang
cái đẹp đi rồi, bây giờ lầu Hoàng Hạc
chứng
3 Bàn bạc mở rộng vấn đề: bạn nên tìm hiểu các khía cạnh còn lại của vấn đề; lật ngược vấn đề để hiểu chắc chắn hơn và tìm hiểu tác dụng, ý nghĩa của vấn đề đối với bản thân và đời sống
Phần kết bài nên nhấn mạnh lần nữa giá trị của vấn đề
3 Bác bỏ
1 Khái niệm: Bác bỏ là chỉ ra ý kiến sai trái của vấn đề trên cơ sở đó đưa ra nhận định đúng đắn và bảo vệ ý kiến lập trường đúng đắn của mình
2 Yêu cầu của thao tác lập luận bác bỏ
- Muốn bác bỏ một ý kiến sai thì phải dẫn đầy đủ ý kiến
đó Sau đó làm sáng tỏ hai phương diện: sai ở chỗ nào
và vì sao như thế là sai Trả lời vì sao như thế là sai, đó chính là thao tác lập luận bác bỏ
- Để khẳng định ý kiến sai cần xem xét ba yếu tố: luận điểm, luận cứ, luận chứng
- Bác bỏ ý kiến sai là dùng lý lẽ và dẫn chứng để phân tích, lí giải tại sao như thế là sai
3 Cách sử dụng Bác bỏ một ý kiến sai có thể thực hiện bằng nhiều cách: bác bỏ luận điểm, bác bỏ luận cứ, bác bỏ cách lập luận hoặc kết hợp cả ba cách
a Bác bỏ luận điểm: thông thường có hai cách bác bỏ
- Dùng thực tế để bác bỏ: Nếu luận điểm đi ngược lại với thực tế thì ta dùng thực tế để bác bỏ
- Dùng phép suy luận: Từ thực tế, ta có thể thêm suy luận để cái sai ấy bộc lộ rõ hơn
b Bác bỏ luận cứ: Là vạch ra tính chất sai lầm, giả tạo trong lý lẽ và dẫn chứng được sử dụng
c Bác bỏ lập luận: Là vạch ra sự mâu thuẫn, không nhất quán, phi lôgíc trong lập luận của đối phương
* Lưu ý: Mục đích của bác bỏ là bảo vệ chân lí, xác nhận sự thật Nếu xa rời mục đích chân lí thì sự bác bỏ trở thành nguỵ biện, vô bổ và có hại
Bài viết có bố cục như sau:
Đoạn 1: Xác định luận điểm cần bác bỏ
Đoạn 2: Phân tích để thấy rõ thực chất của luận điểm Đoạn 3: Dùng luận cứ để bác bỏ luận điểm
Ví dụ:
a Nhất Chi Mai (Nhất Linh) phê bình Vũ Trọng Phụng, năm 1937
Đọc xong một đoạn văn, tôi thấy trong lòng phẫn uất, khó chịu, tức tối
Không phải phẫn uất, khó chịu cái vết thương xã hội tả trong câu văn, mà chính là vì cảm thấy tư tưởng hắc ám, căm hờn nhỏ nhen ẩn trong đó
Đọc văn Vũ Trọng Phụng, thực không bao giờ tôi thấy một tia hy vọng, một tư tưởng bi quan Đọc xong ta tưởng nhân gian là một nơi địa ngục và xung quanh mình toàn là những kẻ giết người, làm đĩ, ăn tục, nói
Trang 5chỉ còn dấu tích của kỉ niệm, đứng trơ
trọi như cái xác không hồn Nhìn lên
bầu trời quang đãng chỉ thấy vầng mây
trắng trôi lơ lửng ngàn năm: Ngàn năm
mây trắng bây giờ còn bay Cảnh trong
trẻo mênh mông mà cô quạnh đã diễn tả
cái trống vắng chơi vơi trong tâm hồn lữ
khách Bốn câu thơ nhưng có ba từ
hoàng hạc, đây là điểm kiêng kị trong
thơ Đường nhưng phép điệp hình ảnh
chim hạc bay đi (chỉ còn lại khoảng trời
trống vắng) đã diễn tả niềm luyến tiếc
không nguôi cái đẹp đã mất Tâm trạng
hụt hẫng, nuối tiếc như gởi vào bầu trời
xanh mênh mông Đoạn thơ còn suy
niệm về lẽ mất còn và cái hữu hạn, bé
nhỏ của đời người trước sự trôi chảy của
thời gian và không gian trời rộng sông
dài
Hạc vàng tượng trưng cho ẩn sĩ, cái đẹp
cao khiết và bất tử Mây trắng biểu
tượng cho trinh bạch, yên tĩnh nhưng vô
hồn như lầu không Hạc đi, mây ở lại,
gợi đến tình cảnh biệt li Hạc vàng đi về
đâu không biết như cuộc đời con người
thật quý giá nhưng cuối cùng sẽ đi về
đâu sau trăm năm chìm nổi nên hình ảnh
mây trắng phiêu bồng lãng du gợi cảm
giác phù sinh của kiếp người
Thơ luật Đường thất ngôn, đề ra nguyên
tắc niêm luật rất chặt chẽ Tuy vậy bốn
câu thơ đầu đã phá luật bằng trắc: hoàng
hạc khứ / hoàng hạc lâu để đảm bảo tiểu
đối về cái động (chim hạc bay) với cái
tĩnh (lầu Hoàng Hạc), từ đó nổi rõ ý
tưởng giữa cái hư vô và cái hiện hữu
Bất phục phản đối không chỉnh với
không du du nhưng thể hiện được cảm
xúc tự nhiên dạt dào
Từ cảnh hiện hữu gợi cái vô thường, nhà
thơ đưa người đọc về không gian sống
tươi tắn, tràn đầy ánh sáng của cảnh bên
lầu Hoàng Hạc:
Hán Dương sông tạnh cây bày,
Bãi xa Anh Vũ xanh dày cỏ non
Hình ảnh hàng cây soi bóng sáng rõ
mồn một (lịch lịch) trên dòng sông xanh
phẳng lặng như gương và cỏ thơm đôi
bờ xanh mơn mởn gợi vẻ đẹp diễm lệ
mà im ắng như bức tranh tĩnh vật Cảnh
trống vắng như lầu không, như bầu trời
cao Nhìn chung, khung cảnh đẹp như
bức tranh thủy mạc tươi thắm những sắc
càn, một thế giới khốn nạn vô cùng
Phải chăng đó là tấm gương phản chiếu tính tình, lí tưởng của nhà văn, một nhà văn nhìn thế giới qua cặp mắt kính đen và một cội nguồn văn cũng đen nữa
b Vũ Trọng Phụng đã phản bác lại cùng năm đó, 1937 Khi dùng một từ bẩn thỉu tôi chẳng thấy khoái trá như khi các ông tìm được một kiểu áo phụ nữ mới mẻ, những lúc ấy, tôi chỉ thương hại cái nhân loại ô uế bẩn thỉu, nó bắt tôi phải viết như thế, và nó bắt các ông phải chạy xa sự thực bằng những danh từ điêu trá của văn chương Các ông quen nhìn một cô gái nhảy là một phụ
nữ tân thời, vui vẻ trẻ trung, hi sinh cho ái tình hoặc cách mạng lại gia đình Riêng tôi, tôi chỉ thấy đó là một người đàn bà vô học, chẳng có thị vị, lại hư hỏng, lại bất hiếu bất mục nữa, lại có nhiều vi trùng trong người nữa Tôi không biết gọi gái đĩ là nàng - chữ ấy nó thi vị lắm - hoặc tô điểm cho gái đĩ ấy những cái thi vị mà gái đĩ ấy không có, đến nỗi đọc xong truyện người ta chỉ thấy một gái đĩ làm gương cho thế gian noi theo!
Đó, thưa các ông, cái chỗ bất đồng ý kiến giữa chúng ta! Các ông muốn tiểu thuyết cứ là tiểu thuyết Tôi và các nhà văn cùng chí hướng như tôi, muốn tiểu thuyết là
sự thực ở đời
Hắc ám, có! Vì tôi vốn là người bị quan, căm hờn cũng
có, vì tôi cho rằng cái xã hội nước nhà mà lại không đáng căm hờn, mà lại cứ "vui trẻ trung", trưởng giả, ăn mặc tân thời, khiêu vũ v.v như các ông chủ trương thì một là không muốn cải cách gì xã hội, hai là ích kỉ một cách đáng sỉ nhục
Còn bảo nhỏ nhen thì thì thế nào?
Tả thực cái xã hội khốn nạn, công kích cái xa hoa dâm đãng của bọn người có nhiều tiền, kêu ca những sự thống khổ của nhân dân nghèo bị bóc lột, bị áp chế, bị cưỡng bức, muốn cho xã hội công bình hơn nữa, đừng
có chuyện ô uế, dâm đãng, mà bảo là nhỏ nhen, thì há
dễ Zôla (Dôla), Hugo (Huygô), Mabraux (Mabrô), Dostoievski (Đôtstôiepski), Maxime Gorki (Maxim Gorki) lại không cũng là nhỏ nhen?
Nếu các ông không muốn sờ lên gáy thì thôi, bao nhiêu chuyện thanh cao, tao nhã, cao thượng của loài người xin các ông cố mà hương hoa khấn khứa Tôi xin để cái phần ấy cho các ông Riêng tôi, xã hội này, tôi chỉ thấy khốn nạn, quan tham lại nhũng, đàn bà hư hỏng, đàn ông dâm bôn, một tụi văn sĩ đầu cơ xảo quyệt, mà cái xa hoa chơi bời của bọn giàu thì thật là những câu chửi rủa vào cái xã hội dân quê, thợ thuyền bị lầm than, bị bóc lột Lạc quan được cho đời là vui, là không cần cải cách, cho cái xã hội này là hay ho tốt đẹp, rồi ngồi mà đánh phấn bôi môi hình quả tim để đi đua ngựa, chợ phiên, khiêu vũ, theo ý tôi, thế là giả dối, là tự lừa mình và di hoạ cho đời, nếu không là vô liêm sỉ một cách thành thực
4 Bình luận
Trang 6màu: cánh hạc vàng, trời trong mây
trắng, sông xanh, cỏ mướt Đứng trong
cảnh đẹp thanh khiết, con người như
cũng được thanh lọc tâm hồn Từ thê thê
có nghĩa là xanh tươi mơn mởn nhưng
cũng có nghĩa là lạnh buốt buồn bã, tùy
theo cách phát âm Do đó, phong cảnh
có nắng ấm, cỏ thơm nhưng buồn vắng
lạnh lẽo nên gợi biết bao nỗi niềm cho
viễn khách thi nhân
Chiều xuống, cảnh hoàng hôn tĩnh lặng
càng thêm buồn vời vợi Khi ánh nắng
yếu dần, cái tươi thắm của bức tranh
xuân đã nhường chỗ cho khói sương mờ
bao phủ dòng sông, ngày đã hết nên tâm
trạng muốn quay về ngôi nhà yêu dấu và
làm dâng lên nỗi buồn thương nhớ quê
hương:
Quê hương khuất bóng hoàng hôn,
Trên sông khói sóng cho buồn lòng ai
Quê hương ở đâu sau ánh chiều tà? Quê
hương là ngôi làng dấu yêu hay là chốn
trở về sau cuộc đời trăm năm chìm nổi
đã được suy niệm từ câu thơ đầu? Hết
một cuộc đời con người rồi sẽ đi về đâu?
Trở về cát bụi hay cõi hư vô? Câu thơ
gợi nỗi buồn bâng khuâng, man mác
Bảy câu thơ dọn đường cho chữ sầu
buông xuống Sầu vì hoài cổ, thương
kim? hay nhớ quê hương?
Bài thơ đẹp về cảnh lẫn tình ý sâu xa
nên Nghiêm Vũ đời Nam Tống đã nói
rằng “Đường nhân thất ngôn luật thi,
đương dĩ Thôi Hiệu Hoàng Hạc Lâu đệ
nhất” (Thơ niêm luật đời Đường bảy
chữ, phải xếp bài Hoàng Hạc Lâu của
Thôi Hiệu vào hạng nhất)
1 Khái niệm: Bình luận là bàn bạc đánh giá vấn đề, sự việc, hiện tượng… đúng hay sai, hay / dở; tốt / xấu, lợi / hại…; để nhận thức đối tượng, cách ứng xử phù hợp và
có phương châm hành động đúng
- Yêu cầu của việc đánh giá là sát đối tượng, nhìn nhận vấn đề toàn diện, khách quan và phải có lập trường tư tưởng đúng đắn, rõ ràng
2 Cách làm:
BL luôn có hai phần:
- Đưa ra những nhận định về đối tượng nghị luận
Thông thường, những nhận định được rút ra từ kết quả phân tích
- Trên cơ sở của những nhận định, người viết đánh giá vấn đề
Muốn đánh giá vấn đề một cách thuyết phục thì phải có lập trường đúng đắn và nhất thiết phải có tiêu chí
Trong văn NL xã hội, thì dựa vào lập trường nhân dân
và tiêu chí đạo lí
Trong văn NL văn học, thì dựa vào lập trường nhân dân, quyền con người và tiêu chí là tính khách quan của đời sống,sự tiến bộ của văn học, đối với tác phẩm cụ thể thi tiêu chí là giá trị nhận thức, giá trị tư tưởng, giá trị thẩm mĩ
Ví dụ: Bình luận về sự đóng góp của Nguyễn Đình Chiểu đối với văn học dân tộc qua bài Văn tế nghĩa sĩ Cần giuộc?
Trả lời:
- Lần đầu tiên người nông dân đi vào văn học với vẻ tự nhiên vốn có về cuộc sống, đức tính
- Lần đầu tiên NĐC thấy được nông dân là chủ nhân thật sự của đất nước, trong khi triều đình Nguyễn lúng túng, nhu nhược trước ngoại xâm thì nông dân đã tự giác đứng lên đánh giặc để bảo vệ quê hương bờ cõi
- Bài văn được viết bằng chữ Nôm, ngôn ngữ mộc mạc nhưng có sức gợi hình gợi cảm lớn, đặc biệt đoạn văn dựng lại cảnh chiến đấu rất hoành tráng, có không khí
và màu sắc sử thi, vượt qua giới hạn của bài văn tế thông thường
- Bài văn khắc họa được hình tượng con người VN tiêu biểu về phẩm chất yêu nước và anh hùng, thể hiện tinh thần bất khuất và lẽ sống vì nước quên mình mang tính truyền thống của dân tộc VN
- Bài văn có ý nghĩa cỗ vũ tinh thần kháng chiến mạnh
mẽ ngay từ lúc nó ra đời