Bên cạnh đó, mỗi văn bản nghệ thuật còn đem lại cho người đọc nhận thức, tình cảm, thái độ, khoái cảm thẩm mĩ, lòng ham thích cái đẹp, cái thiện… Phát hiện nghĩa hàm ẩn tức là chúng ta l[r]
Trang 1ỨNG DỤNG LÍ THUYẾT NGHĨA TƯỜNG MINH, NGHĨA HÀM ẨN ĐỂ THIẾT KẾ BÀI TẬP DẠY ĐỌC HIỂU CHO HỌC SINH LỚP 4
A ĐẶT VẤN ĐỀ
1 Lí do chọn đề tài
Môn Tiếng Việt là một trong những môn học có tầm đặc biệt quan trọng trong các môn khoa học xã hội - nhân văn, có vai trò trọng yếu trong việc giữ gìn và phát huy tiếng nói dân tộc Với tư cách là một môn học độc lập, môn Tiếng Việt có nhiệm vụ cung cấp cho học sinh những tri thức về ngôn ngữ học, hệ thống tiếng Việt, quy tắc hoạt động và những sản phẩm của nó trong mọi hoạt động giao tiếp Tập đọc là một phân môn của chương trình Tiếng Việt cấp tiểu học Không những thế, nó còn là phân môn có vị trí đặc biệt quan trọng vì nó đảm nhiệm việc hình thành và phát triển cho học sinh kĩ năng đọc, kĩ năng quan trọng hàng đầu của người học sinh
Chỉ khi biết đọc, người ta mới có thể chế ngự một phương tiện văn hóa cơ bản, giúp họ giao tiếp với thế giới bên trong của người khác, thông hiểu tư tưởng, tình cảm của người khác Khi đọc con người không chỉ được thức tỉnh về nhận thức mà còn rung động tình cảm, nảy nở những ước mơ tốt đẹp, khơi dậy năng lực hành động, sức mạnh cũng như được bồi dưỡng tâm hồn
Đối với học sinh tiểu học, việc đọc hiểu các văn bản chính là một công cụ hữu hiệu để lĩnh hội tri thức khi học các môn học khác Nó cũng là công cụ mà nhờ đó học sinh tự học, tự bổ sung những kiến thức mà cuộc sống ngoài đời đòi hỏi ở các em Chương trình sách giáo khoa Tiếng Việt tiểu học bên cạnh các văn bản nghệ thuật như thơ, truyện, kí, tạp văn,…các loại văn bản khoa học truyền thông báo chí, hành chính, đặc biệt các loại hình truyện cười, truyện ngụ ngôn được đưa vào giảng dạy nhiều hơn Nội dung thông tin trong các loại văn bản này có nhiều điểm khác nhau Các loại văn bản khoa học, truyền thông, báo chí, hành chính…thiên về loại thông tin có nội dung miêu tả, hay còn gọi là nội dung sự vật, là những hiểu biết, những nhận thức về thế giới xung quanh, về xã hội và về chính bản thân con người Những nội dung này tạo thành nghĩa sự vật của văn bản, cách thức biểu hiện thường là nghĩa tường minh, tức là các thông tin này thường được biểu hiện trên bề mặt của câu chữ và người đọc tiếp cận nó thông qua nguyên văn từ ngữ và cấu trúc ngữ pháp Các văn bản nghệ thuật lại thiên về loại thông tin về cảm xúc, tình cảm, thái độ của người viết với đối tượng được đề cập đến, đối với người tham gia hoạt động giao tiếp Nội dung này tạo ra nghĩa liên cá nhân của văn bản và cách thức biểu hiện của nó thường là nghĩa hàm ẩn Để hiểu được thông tin hàm ẩn của văn bản, người đọc phải tiến hành phân tích và suy ý dựa vào các yếu tố ngôn ngữ hiện diện trong văn bản và hoàn cảnh giao tiếp
Thực tế cho thấy, khả năng phát hiện và tiếp nhận thông tin hàm ẩn của giáo viên và học sinh còn yếu Mặt khác chúng ta biết rằng, vai trò quyết định chất lượng dạy học chính là ở giáo viên Nguyên nhân quan trọng nhất làm cho chất
Trang 2lượng dạy đọc hiểu chưa cao cũng chính là ở những hạn chế của giáo viên Bỏ qua một số lỗi mang tính cá nhân như thiếu hụt kĩ năng đọc khiến đọc không hay, không đúng chính âm, thì việc giáo viên hiểu không đúng những điều được đọc từ cấp độ từ, đến câu, đoạn và cả nội dung, đích thông báo của toàn văn bản; khả năng cảm thụ văn học của nhiều giáo viên còn hạn chế là nguyên nhân dẫn dến kết quả không cao trong dạy đọc hiểu của giáo viên
Tôi nhận thấy, bên cạnh năng lực cảm nhận văn chương nếu người giáo viên nắm chắc và biết cách ứng dụng lí thuyết về nghĩa tường minh, nghĩa hàm ẩn vào việc dạy đọc hiểu các văn bản nghệ thuật sẽ cải thiện, nâng cao chất lượng dạy đọc hiểu ở tiểu học
Chính vì vậy, tôi đi sâu vào nghiên cứu việc ứng dụng lý thuyết nghĩa tường minh, nghĩa hàm ẩn để thiết kế hệ thống bài tập dạy đọc hiểu cho học sinh lớp 4
2 Mục đích nghiên cứu
Ứng dụng lí thuyết nghĩa tường minh, nghĩa hàm ẩn để thiết kế hệ thống bài tập dạy đọc hiểu nhằm giải quyết những khó khăn, vướng mắc của giáo viên và học sinh, nâng cao chất lượng của việc dạy đọc hiểu cho học sinh lớp 4 trường tiểu học Tân Thành A (chủ yếu ở lớp 43)
3 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Nghiên cứu lí luận dạy đọc hiểu ở tiểu học và lí thuyết nghĩa tường minh, nghĩa hàm ẩn
- Tìm hiểu thực trạng của việc dạy đọc hiểu ở học sinh lớp 4
- Đề xuất hệ thống bài tập dạy đọc hiểu ở lớp 4 thông qua lý thuyết nghĩa tường minh và nghĩa hàm ẩn
4 Khách thể và đối tượng nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
- Quá trình dạy đọc hiểu ở lớp 4 trường tiểu học Tân Thành A (chủ yếu ở lớp 43) 4.2 Khách thể nghiên cứu
- Quá trình dạy tập đọc ở lớp 4 trường tiểu học Tân Thành A
5 Giả thuyết khoa học
- Tôi giả định rằng, nếu vận dụng lí thuyết về nghĩa tường minh, nghĩa hàm
ẩn để xây dựng hệ thống bài tập dạy học đọc hiểu ở lớp 4 thì hiệu quả của việc dạy đọc hiểu sẽ được nâng cao
6 Phương pháp nghiên cứu
- Nhóm các phương pháp nghiên cứu lí luận nhằm phân tích tổng hợp các quan điểm khoa học trong các tài liệu có liên quan
- Nhóm các phương pháp nghiên cứu thực tiễn nhằm điều tra thực trạng dạy đọc hiểu để phát hiện những vấn đề cần nghiên cứu, cần tìm giải pháp
- Nhóm các phương pháp thống kê nhằm xử lí kết quả điều tra
Trang 3B GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ
1 Lịch sử vấn đề nghiên cứu
Ngay từ khi đất nước giành được độc lập, việc dạy đọc hiểu trong nhà
trường tiểu học đã được quan tâm gắn liền với dạy đọc chữ quốc ngữ Trước những năm 90 của thế kỉ XX nhóm tác giả Trịnh Mạnh, Đặng Anh, Nguyễn Đức Bảo đã đặt vấn đề nghiên cứu dạy đọc hiểu cùng với dạy đọc thành tiếng, đọc diễn cảm Tuy nhiên khoảng đầu thập kỉ chín mươi, lí thuyết về dạy đọc hiểu mới được đặt ra như một vấn đề độc lập cần được nghiên cứu, tiêu biểu là các tác giả Hoàng Hòa Bình (2), Nguyến Thị Hạnh (5,6), Lê Phương Nga (7,8), Phan Thiều (11), Cao Đức Tiến (12), Nguyễn Minh Thuyết (13)…
Các công trình nghiên cứu trên đây, dù đã có rất nhiều ý kiến sâu sắc và xác đáng về việc dạy đọc hiểu Đặc biệt một số công trình được đầu tư nghiên cứu trong thời gian dài và có tính bao trùm toàn bộ vấn đề dạy đọc hiểu ở tiểu học như của các tác giả Lê Phương Nga và Nguyễn Thị Hạnh
Tuy nhiên theo tôi xu hướng dạy đọc hiểu của các tác phẩm văn chương mà các tác giả đưa ra chịu ảnh hưởng sâu sắc của quan điểm dạy đọc hiểu là dạy văn,
là dạy phân tích, cảm nhận văn chương và kết quả của giờ dạy đọc hiểu phụ thuộc phần lớn vào khả năng cảm thụ văn chương của người giáo viên Trong đề tài nghiên cứu này, tôi muốn áp dụng một số lí thuyết về ngữ dụng học, đặc biệt là lí thuyết về nghĩa tường minh và nghĩa hàm ẩn vào việc dạy đọc hiểu ở lớp 4 nhằm giúp giáo viên thiết kế quy trình phân tích các bài tập đọc ở thể loại văn xuôi dễ dàng hơn, nhằm vào mục đích nâng cao hiệu quả giờ dạy tập đọc ở lớp 4
2 Bản chất của quá trình dạy đọc hiểu
2.1 Quá trình dạy đọc hiểu
Chúng ta đều biết, đọc không chỉ là sự “đánh vần” lên thành tiếng theo đúng các kí hiệu chữ viết, mà quan trọng hơn, đọc còn là qúa trình nhận thức để có khả năng thông hiểu những gì được đọc Chỉ khi biết cách hiểu sâu sắc, thấu đáo các văn bản được đọc thì học sinh mới có công cụ hữu hiệu để lĩnh hội những tri thức,
tư tưởng, tình cảm của người khác chứa đựng trong văn bản, có công cụ để lĩnh hội tri thức khi học các môn học khác trong nhà trường
Những nghiên cứu gần đây về đọc hiểu cho thấy đọc hiểu là một hoạt động
có tính quá trình rất rõ vì nó gồm nhiều hành động được trải ra theo tuyến tính thời gian Các hành động đó là:
- Hành động nhận diện ngôn ngữ của văn bản, tức là nhận đủ các tín hiệu ngôn ngữ mà người viết dùng để tạo ra văn bản
- Hành động làm rõ nghĩa của các chuỗi tín hiệu ngôn ngữ (nội dung của văn bản và ý đồ tác động của người viết đến người đọc)
- Hành động hồi đáp lại ý kiến của người viết nêu trong văn bản
Trang 4Việc sản sinh văn bản và tiếp nhận văn bản là hai quá trình của một hoạt động tương tác – hoạt động giao tiếp Trong quá trình sản sinh văn bản, trước tiên người viết phải có mục đích, động cơ giao tiếp Họ lập chương trình giao tiếp và triển khai ý đồ này một cách cặn kẽ, cho đến khi văn bản đó đạt được những mục đích đặt ra trong một hoàn cảnh cụ thể với những nhân tố giao tiếp cụ thể Ngược lại, trong quá trình tiếp nhận, người đọc phải hướng tới lĩnh hội nội dung và đích của văn bản Để đạt được mục tiêu này họ lại phải phân tích văn bản trên những gì đã được người viết triển khai, đó có thể là nghĩa của từ (cả nghĩa từ điển và nghĩa văn cảnh, cả nghĩa biểu vật và nghĩa hình thái), nghĩa miêu tả và nghĩa hình thái của câu, nghĩa của đoạn, nghĩa của bài, rồi mới đi đến mục đích thông báo của văn bản
Như vậy có thể nói bản chất của dạy đọc hiểu chính là đọc- phân tích những cái
được đọc.
Khác với giao tiếp thông thường bằng hội thoại mà ở đó có đủ sự hiện diện của cả người nói và người nghe, khi giao tiếp người nghe tiếp nhận đầy đủ các tín hiệu ngôn ngữ âm thanh và các yếu tố kèm ngôn (ánh mắt, cử chỉ, nét mặt, thái độ…) từ người nói, tức là người nghe hầu như nhận được chính xác nội dung ngôn bản Trong đọc hiểu, do sự vắng mặt của một nhân tố giao tiếp (khi viết thì vắng mặt người đọc, khi đọc thì vắng mặt người viết) nên hiện tượng giữa văn bản người viết phát đi và văn bản người đọc tiếp nhận không trùng nhau, giữa chúng có
độ lệch Thực tế dạy học cho thấy, độ lệch thường xảy ra khi đọc các văn bản nghệ thuật do tính biểu trưng hình ảnh cao, do sử dụng nghĩa liên cá nhân và các từ đa nghĩa, các biện pháp tu từ, bút pháp khác nhau…
Quá trình phân tích văn bản trong dạy đọc hiểu có thể diễn ra theo hai cách trái ngược nhau Việc lựa chọn cách phân tích nào là tùy thuộc vào vốn sống, trình
độ văn hóa và kĩ năng đọc Người đọc có trình độ văn hóa cao và có nhiều kinh nghiệm sống thường chọn cách phân tích đi từ nghĩa chung (nội dung tổng thể) của văn bản đến nghĩa của từng bộ phận trong văn bản rồi từ đó khái quát lên chủ đề,
tư tưởng của văn bản trong khi đó người đọc chưa có kinh nghiệm sống, vốn sống chưa nhiều thường chọn cách phân tích đi từng nghĩa của bộ phận nhỏ (từ, câu, đoạn) đến nghĩa chung của văn bản (đại ý, chủ đề, đích của văn bản…) Mặc dù vậy, dù chọn cách phân tích nào thì để hiểu văn bản, người đọc vẫn phải biết nghĩa của các bộ phận nhỏ trong văn bản và lấy đó làm căn cứ để xác định chủ đề, đích của văn bản
Khả năng đọc và vốn sống của học sinh tiểu học còn hạn chế nên về cơ bản dạy đọc ở trường tiểu học thường theo cách phân tích văn bản đi từ hiểu nghĩa bộ phận nhỏ đến hiểu nghĩa nội dung và đích của toàn văn bản Tuy nhiên, với sự thay đổi của sách giáo khoa Tiếng Việt, cuối chương trình lớp 4 có những bài tập đọc phù hợp với việc dạy phối hợp hai cách phân tích trên nhằm làm cho học sinh bắt đầu làm quen với kĩ năng quan sát toàn bài để đọc lướt, đọc quét, đọc đoán nghĩa
2.2 Đặc điểm của quá trình dạy đọc hiểu ở lớp 4
Việc dạy đọc hiểu ở lớp 4 là một sự nối tiếp công việc từ các lớp 1, 2, 3 đồng thời là sự chuẩn bị cho việc làm này ở lớp 5 và các lớp ở bậc trung học
Trang 5Xét về bản chất, dạy đọc hiểu ở lớp 4 là dạy một kĩ năng học tập Kĩ năng đó bao gồm kĩ năng nhận diện văn bản, kĩ năng làm rõ nghĩa và kĩ năng hồi đáp văn bản
Ngữ liệu dạy đọc hiểu ở lớp 4 là các văn bản được đưa vào giờ tập đọc, ngữ liệu khá phong phú về thể loại, trong đó có thơ, văn, các văn bản hành chính, truyền thông, …
Nội dung dạy đọc hiểu bao gồm cả các mẫu hành động và các chỉ dẫn hành động được thể hiện bằng hệ thống bài tập chi tiết, hợp lí
Cách thức dạy học chung là dựa trên sự phân giải kĩ năng lớn thành các kĩ năng bộ phận, phân giải từng kĩ năng bộ phận thành các thao tác để rồi qua đó lập
kế hoạch hình thành từng thao tác, từng kĩ năng bộ phận, tiến tới hình thành kĩ năng lớn – kĩ năng đọc hiểu
Có thể phân giải kĩ năng lớn thành các kĩ năng bộ phận như sau:
Kĩ năng nhận diện ngôn ngữ gồm:
- Kĩ năng nhận diện từ mới và phát hiện các từ quan trọng (từ chìa khóa) trong văn bản
- Kĩ năng nhận ra các câu khó hiểu, các câu quan trọng
- Kĩ năng nhận ra các đoạn, ý của văn bản: kĩ năng nhận biết cấu trúc văn bản, nhận ra mối quan hệ giữa các bộ phận cấu trúc trong bài, những chỗ được đánh dấu, nhận biết những phương tiện liên kết văn bản (phép thế, phép nối, phép liên tưởng…) thành một thể thống nhất, nhận biết được các kiểu cấu trúc của đoạn (diễn dịch, quy nạp, song song…)
- Kĩ năng nhận ra đề tài văn bản
+ Kĩ năng quan sát tên bài, chú ý dựa vào tên bài, các hình vẽ minh họa, sơ đồ
để phỏng đoán nội dung văn bản
+ Kĩ năng phán đoán nội dung bài đọc dựa vào kiến thức vốn có của chủ điểm
Kĩ năng làm rõ nghĩa gồm:
- Kĩ năng làm rõ nghĩa từ: bằng ngữ cảnh, bằng trực quan, bằng đồng nghĩa, bằng trái nghĩa…
- Kĩ năng làm rõ nội dung thông báo của câu
- Kĩ năng làm rõ ý của đoạn
- Kĩ năng làm rõ ý chính của văn bản
+ Kĩ năng đọc lướt tìm ý chung của bài, của đoạn để có thể xử lí bài đọc như một chỉnh thể trọn vẹn trước khi đi vào chi tiết
+ Kĩ năng khái quát hóa, tóm tắt nội dung đã đọc
- Kĩ năng làm rõ mục đích của người viết gửi vào văn bản, kĩ năng nhận biết những ẩn ý của tác giả
Trang 6Kĩ năng hồi đáp văn bản gồm:
- Kĩ năng đánh giá tính đúng đắn của văn bản
- Kĩ năng đánh giá tính đầy đủ của văn bản
- Kĩ năng đánh giá nguyên nhân, hiệu quả của văn bản
- Kĩ năng đánh giá tính cập nhật của nội dung văn bản
- Kĩ năng đánh gia tính hấp dẫn, thuyết phục của nội dung văn bản
- Kĩ năng liên hệ của cá nhân sau khi tiếp nhận văn bản
Phương pháp dạy đọc hiểu cần sử dụng cả hai hệ phương pháp trong đó coi phương pháp dạy của thấy là yếu tố “gốc” bởi vì phương pháp tác động của thầy sẽ dẫn tới việc lựa chọn và sử dụng phương pháp học của trò, rồi cùng với hoạt động của trò, hoạt động của thầy mang lại kết quả học tập cho học sinh Các phương pháp mà giáo viên thường sử dụng trong dạy đọc hiểu đó là: phương pháp chương trình hóa, phương pháp nêu vấn đề, phương pháp rèn luyện theo mẫu, phương pháp thực hành giao tiếp Học sinh cần được tổ chức và hướng dẫn học theo các phương pháp: phương pháp hoạt động, phương pháp thảo luận, phương pháp học truyền thống (học thuộc, làm theo mẫu, dùng sách giáo khoa)
* Mục tiêu chung khi dạy đọc hiểu ở lớp 4 được xác định trong chương trình như sau:
- Cho học sinh làm quen với các kiểu văn bản phổ biến, dạy học sinh cách tiếp cận để làm rõ nội dung văn bản, mục đích tác động của người viết và hồi đáp văn bản Thông qua việc làm quen và học cách tiếp cận trên, học sinh được mở rộng vốn tri thức, kinh nghiệm và tư duy
- Cung cấp cho học sinh một kĩ năng học tập – đọc hiểu – để học tốt các môn học khác trong nhà trường và học tập lâu dài
Xuất phát từ các mục tiêu đó, chương trình Mới đã xác định yêu cầu kiến thức và kĩ năng đọc hiểu ở lớp 4 một cách cụ thể như sau:
+ Xác định được đề tài, chia đoạn, lập được dàn ý của bài, tóm tắt bài văn, tìm đại ý
+ Nhận ra các mối quan hệ giữa các nhân vật, sự kiện, tình tiết trong bài (quan hệ nhân quả, đồng nhất, đối lập, bộ phận và toàn thể…)
+ Nhận xét, đánh giá một số hình ảnh, nhân vật, chi tiết và ngôn ngữ trong các bài đọc có giá trị văn chương
+ Sử dụng từ điển học sinh, dùng thư mục để chọn những quyển sách cần cho bài học, tập ghi chép các thông tin đã học
+ Đọc các kí hiệu, các dạng viết tắt, các số liệu trên sơ đồ, biểu đồ, bảng hiệu,
3 Lí thuyết nghia tường minh và nghĩa hàm ẩn
Lí thuyết ngữ dụng học chỉ ra rằng: “Một phát ngôn ngoài cái ý nghĩa được nói ra trực tiếp nhờ các yếu tố ngôn ngữ (âm, từ, kết cấu cú pháp…) còn có rất
Trang 7nhiều ý nghĩa khác nữa mà chúng ta phải dùng tới thao tác suy ý dựa vào ngữ cảnh, ngôn cảnh, vào các quy tắc điều khiển hành vi ngôn ngữ, điều khiển lập luận, điều khiền hội thoại…mới nắm được Ý nghĩa trực tiếp do các yếu tố ngôn ngữ đem lại được gọi là ý nghĩa tường minh (còn gọi là hiển ngôn hay ý nghĩa theo câu chữ của phát ngôn) Các ý nghĩa nhờ suy ý mới nắm bắt được gọi là nghĩa hàm ẩn
Như vậy, nghĩa tường minh là nghĩa trực tiếp do các yếu tố từ ngữ mang lại hay còn gọi là nghĩa câu chữ
Nghĩa hàm ẩn là nghĩa có được nhờ thao tác suy ý, hay còn gọi là nghĩa ngoài câu chữ
Ví dụ: “Em tưởng nước giếng sâu em nối sợi gàu dài
Ai ngờ giếng cạn, em tiếc hoài sợi dây”
(Ca dao)
Nghĩa tường minh trong ví dụ này là cô gái tưởng nước giếng sâu nên nối sợi gàu dài, nhưng thực tế lại không đúng
Nhưng rõ ràng, khi đọc câu ca dao này, người đọc không dừng lại ở tầng nghĩa thứ nhất đó, bởi vì ẩn phía sau nó còn có một tầng nghĩa khác, tầng nghĩa đích thực mà nhân vật cô gái trong câu ca dao muốn gửi tới mọi người Đó là sự than thở về sự ân hận, tiếc nuối của cô khi phát hiện ra mình nhầm lẫn, đặt quá nhiều hi vọng vào một người, một việc gì đó rồi chợt nhận ra rằng người đó, việc
đó không được như ý muốn của mình Tầng nghĩa thứ hai này chính là nghĩa hàm
ẩn của câu ca dao
Để xác định nghĩa tường minh, người ta thường dựa vào hai nhân tố:
+ Dựa vào các yếu tố từ ngữ trên bề mặt
+ Dựa vào cấu trúc câu và mục đích nói
Quay lại ví dụ trên, ta thấy nghĩa tường minh được nhận biết qua các từ ngữ:
em, ai (đại từ); nước giếng, giếng, sợi gàu (danh từ); sâu, cạn, dài (tính từ); tưởng, nối, tiếc (động từ)
Tuy nhiên, đôi khi trên bề mặt câu chữ giống nhau, nhưng mục đích nói khác nhau, nên việc xác định nghĩa tường minh còn phải quan tâm đến mục đích nói của
phát ngôn đó là gì Ví dụ: Anh đi, có thể là câu tường thuật, câu nghi vấn, hay câu
cầu khiến tùy thuộc mục đích nói thể hiện qua ngữ điệu (khi nói) hay dấu câu (khi viết)
Việc xác định nghĩa hàm ẩn do các thao tác suy ý điều khiển nên phức tạp hơn nhiều Trước tiên cần phải phân biệt thế nào là ý nghĩa tự nhiên và ý nghĩa không tự nhiên
Ví dụ một người nói: “Hôm qua tôi phải ngồi văn phòng cả ngày” Một người bạn của anh ta có thể nghĩ “Vậy người hôm qua tới tìm và chờ mình hai tiếng đồng
hồ ở cửa, không phải là anh này” Loại ý nghĩa suy ra này không nằm trong ý định
của người nói hướng đến người nghe Đó chính là nghĩa tự nhiên Tuy nhiên, với
một số người bạn khác của anh ta thì câu này có ý nghĩa là “Anh ta mệt mỏi vì công
Trang 8việc nhiều quá” hay “Dạo này công việc của anh ta quá bận rộn”…Đây chính là
những ý nghĩa thực sự mà anh ta muốn nói với mọi người, ý nghĩa không tự nhiên Như vậy, ý nghĩa không tự nhiên chính là các ý nghĩa được truyền đạt một cách có ý định của người nói đến người nghe Đây chính là nghĩa hàm ẩn mà tôi quan tâm đến khi viết sáng kiến kinh nghiệm này
Các công trình nghiên cứu của Đỗ Hữu Châu (3) và Đỗ Thị Kim Liên (10) đều thống nhất chia nghĩa hàm ẩn thành hai nhóm: tiền giả định và hàm ngôn
Tiền giả định là những tri thức, sự hiểu biết về từ ngữ hay những phát ngôn cụ thể mà đã được các nhân vật giao tiếp mặc nhiên thừa nhận, bất tất bàn cãi và họ đưa vào đó để nói lên ý nghĩa tường minh trong phát ngôn của mình
Hàm ngôn là những hiểu biết có thể suy ra từ ý nghĩa tường minh và tiền giả định, đây là ý nghĩa đích thực mà người nói hướng đến người nghe
Ví dụ: Nếu một người nói: “Sáng nay trời lại mưa” Bên cạnh nghĩa tường minh là “sáng nay trời mưa”, ta có thể suy ra các tiền giả định:
1 Hôm qua (có thể cả những hôm trước nữa) trời cũng mưa.
2 Trời mưa trước lúc người đó nói và khi người đó nói, trời vẫn chưa tạnh.
Tùy thuộc vào ngữ cảnh, hàm ngôn của câu đó có thể là:
3 Tôi ghét thời tiết này quá.
4 Trời mưa, tôi lại không đi chơi được.
5 Vậy là lại lỡ mất buổi hẹn
Dưới đây là một số ví dụ về nghĩa tường minh và nghĩa hàm ẩn trong các bài tập đọc sách giáo khoa Tiếng Việt lớp 4
Ví dụ 1:
… “Tôi xòe cả hai càng ra, bảo Nhà Trò:
- Em đừng sợ Hãy trở về cùng với tôi đây Đứa độc ác không thể cậy khỏe ăn
hiếp kẻ yếu”.
(Dế Mèn bênh vực kẻ yếu – TV 4, Tập 1)
Phát ngôn này có nghĩa tường minh là: đứa độc ác không thể cậy khỏe ăn hiếp
kẻ yếu Ngoài ra, dựa trên ngữ cảnh và phát ngôn đó có thể suy ra các nghĩa hàm
ẩn sau:
1 Có một cuộc đối thoại đang diễn ra, đây là tham thoại của một nhân vật (Dế Mèn) (tiền giả định)
2 Nhân vật kia (Nhà Trò) đang có sự lo lắng (tiền giả định)
3 Những kẻ thù của Nhà Trò không làm cho Dế Mèn khiếp sợ (tiền giả định)
4 Dế Mèn sẽ bảo vệ Nhà Trò khỏi kẻ thù là bọn nhện (hàm ngôn)
Ví dụ 2:
Trang 9“…Bị coi là tội phạm, nhà bác học già (Ga – li – lê) buộc phải thề từ bỏ ý kiến cho rằng trái đất quay Nhưng vừa bước ra khỏi cửa tòa án, ông đã bực tức nói to:
- Dù sao trái đất vẫn quay!”
(Dù sao trái đất vẫn quay – TV 4, Tập 1)
Nghĩa tường minh của phát ngôn này là trái đất luôn quay Bên cạnh đó, nó
có nghĩa hàm ẩn sau:
1 Trái đất quay là một chân lí khoa học (tiền giả định)
2 Dù các thế lực mạnh đến đâu, dù nhà khoa học bị bắt buộc nói điều gì thì cũng không thể thay đổi được chân lí đó (hàm ngôn).
Ngoài ra, qua phát ngôn này, ta còn thấy được sự bực tức của nhà khoa học khi bị bắt buộc làm điều trái với chân lí khoa học, đây chính là nội dung liên cá nhân của văn bản này
4 Thực trạng của việc dạy đọc hiểu ở lớp 4 hiện nay.
Đầu năm học 2008 – 2009 tôi được phân công làm giáo viên chủ nhiệm lớp
em nữ và 18 em nam Qua quá trình khảo sát chất lượng học tập kĩ năng đọc hiểu
của học sinh, tôi thu được kết quả sau:
Biểu 1: Khảo sát chất lượng học tập kĩ năng đọc hiểu của học sinh đầu năm học 2008-2009
Kết quả
lượng
Tỷ lệ %
Bước nhận diện ngôn
Làm rõ các sự kiện, thông tin bằng phân tích, suy diễn tìm ra nghĩa hàm
ẩn
Tóm lược đoạn, toàn văn bản và nêu ý
Bước làm rõ nội dung
văn bản và đích tác
động của người viết
Bước hồi đáp văn bản Bài học rút ra sau khi đọc, tìm hiểu
Trang 10Từ kết quả điều tra trên, tôi đi đến những nhận xét sau về chất lượng đọc hiểu của học sinh lớp 4 hiện nay:
- Thứ nhất, học sinh yếu về khả năng nhận diện ngôn ngữ trong văn bản, chưa biết cách đọc lướt để nắm được đề tài của bài và những từ ngữ cần tìm nghĩa để từ
đó hiểu nội dung văn bản
- Thứ 2: Khả năng phát hiện nghĩa hàm ẩn của học sinh còn rất yếu, chưa biết cách phân tích suy diễn để tìm ra nghĩa hàm ẩn của văn bản Phần đông học sinh chưa có bước hồi đáp văn bản, chỉ dừng lại ở tìm hiểu nội dung văn bản mà chưa biết tự rút ra bài học về nhận thức, về tình cảm, hành vi sau khi đọc Học sinh chưa biết suy nghĩ để phê phán hay khẳng định nội dung văn bản đưa ra, không biết quan tâm đến mong muốn mà người viết đặt vào họ Tóm lại, học sinh chỉ mới biết đọc đơn giản và thụ động, kĩ năng đọc hiểu mà nhà trường trang bị cho học sinh còn nhiều khiếm khuyết
Chính vì học sinh yếu về khả năng nhận diện ngôn ngữ trong văn bản và yếu
về khả năng phát hiện nghĩa hàm ẩn nên trong quá trình đọc hiểu các em gặp rất nhiều khó khăn kể cả về kiến thức và kĩ năng, khiến cho không khí lớp học căng thẳng, học sinh hoàn toàn thụ động trong quá trình học tập, dẫn đến hiệu quả của phân môn còn nhiều hạn chế Điều đó lí giải tại sao chất lượng của phần kiểm tra đọc hiểu của phân môn Tập đọc qua đợt kiểm tra khảo sát đầu năm qua biểu dưới đây còn nhiều yếu kém
Biểu 2: Điểm kiểm tra, khảo sát chất lượng đầu năm phần đọc hiểu của phân môn Tập đọc
Vấn đề được đặt ra là tại sao chất lượng phần đọc hiểu của phân môn Tập đọc lại có sự yếu kém như vậy Theo tôi, nhận thức của giáo viên về dạy học đọc hiểu chưa đúng mức, đặc biệt là chưa coi trọng và chưa biết cách khai thác nghĩa hàm
ẩn trong các văn bản nghệ thuật, dẫn đến kết quả dạy học đọc hiểu chưa cao, chưa phát huy được chất lượng và hiệu quả của phân môn Phương pháp dạy đọc hiểu vẫn chủ yếu nhằm củng cố các hoạt động của thầy như diễn giải, đàm thoại, làm mẫu,…Giáo viên hoặc là chưa nhận thức được, hoặc là nhận thức chưa đúng về vai trò quan trọng của kĩ năng đọc hiểu nên dạy giờ Tập đọc một cách qua loa Chưa vận dụng sáng tạo được các phương pháp dạy học mới nên thực tế giờ dạy Tập đọc vẫn là: thầy diễn giảng, áp đặt cách hiểu bài của mình cho trò; trò thừa nhận ý kiến của thầy, làm theo hành động của thầy, nhắc lại lời thầy, nhắc lại lời văn bản
Tìm hiểu thực trạng dạy đọc hiểu ở lớp 4 trong những năm gần đây, tôi thấy rằng việc dạy đọc hiểu chưa đáp ứng được mục tiêu, nhiệm vụ môn học “dạy Tập đọc ở tiểu học nhằm mục đích thông qua các bài văn chọn lọc, giúp học sinh cảm thụ cái hay, cái đẹp của văn chương và dần có một số kiến thức về văn học như: thể loại, nhân vật, bố cục…” Bỏ qua những thiếu sót, phiến diện của mục tiêu môn