1. Trang chủ
  2. » Trung học cơ sở - phổ thông

Giáo án tự chọn Ngữ văn 11 - Phạm Viết Cương

19 24 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 19
Dung lượng 5,81 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

[6] Với một số nhà nghiên cứu nước ngoài như Neil Jamieson thì văn chương Tự lực văn đoàn thực sự là một nguồn dữ liệu quan trọng để nghiên cứu các biến chuyển về chất trong xã hội Việt [r]

Trang 1

Ngày soạn : 22/8/2009

Tuần 2 Tiết 2

NGUYỄN KHUYẾN VÀ CHÙM THƠ THU

A Mục tiờu.

Giỳp học sinh :

- Hiểu thờm về chựm thơ thu của Nguyễn Khuyến

- Thấy được tõm hồn tinh tế của Nguyễn Khuyến trước những thời khắc chuyển động của mựa thu

B Phương tiện thực hiện.

Sỏch giỏo khoa, sỏch giỏo viờn, giỏo ỏn

C Cỏch thức tiến hành.

Sử dụng phương phỏp đọc sỏng tạo, gợi mở nờu vấn đề

D Tiến trỡnh dạy học.

? Suy nghĩ của anh (chị) về

tớnh ước lệ trong chựm thơ

thu của Nguyễn Khuyến ?

- Biểu hiện ?

- Cỏc hỡnh ảnh thơ ?

- Âm hưởng chung ?

1 Tính ước lệ trong chùm thơ thu:

- Đầu tiên là thi đề Mùa thu vốn là mùa của thi ca Thi ca cổ

kim nói rất nhiều đến mùa thu vì đây là thời gian dễ mang lại những cảm xúc cho thi nhân Chọn thi đề mùa thu là Nguyễn Khuyến đã chọn một thi đề quen thuộc đặt ra ở đây một thách thức đối với Nguyễn Khuyến nếu như ông không muốn sáng tạo của mình chìm vào sự lãng quên của người đọc

- Âm hưởng chung của thơ về mùa thu thường là buồn Chùm thơ thu đã không là một ngoại lệ Đọc kĩ cả ba bài thơ này, chúng ta rất dễ dàng nhận ra âm hưởng chung của chúng là buồn, một nỗi buồn man mác bâng khuâng và với rất nhiều những căn cớ, nguồn cơn

- Nói đến mùa thu thì các hình ảnh như trời thu, trăng thu, nước thu, gió thu, sương thu, lá mùa thu, khói thu, ngõ trúc, ngư ụng, tuý ụng đều đã trở nên quá quen thuộc và như là một

công thức cho người sáng tác Có thể coi đây là tính ước lệ của chùm thơ thu

- Tính ước lệ, quy phạm, công thức của chùm thơ thu còn phải

kể đến là việc tác giả đã sử dụng thành thạo những quy định thể

Trang 2

? Sự phỏ vỡ tớnh ước lệ trong

chựm thơ thu của Nguyễn

Khuyến ?

- Về thi đề ?

- Việc sỏng tạo cỏc hỡnh ảnh

thơ ?

- Về hệ thống ngụn từ nghệ

thuật ?

- Về con người trong thơ ?

loại của thể Đường luật bát cú: niêm, đối Điều này tạo cho các bài thơ một kết cấu chặt chẽ, mực thước, cổ điển

2 Sự phá vỡ tính ước lệ trong chùm thơ thu:

- Nguyễn Khuyến phá vỡ tính ước lệ ngay từ thi đề Nếu như thơ ca cổ kim nói đến mùa thu thì thường đó là hình ảnh của một bức tranh thu có tính chất khái quát, phổ quát với âm hưởng buồn sầu rất chung chung thì ở đây, qua ba thi phẩm, nhà thơ đã

đưa chúng ta về với không - thời gian của mùa thu đồng bằng Bắc Bộ, rất cụ thể và sinh động, không lẫn với bất kì bức tranh thu nào

- Tiếp theo là việc sáng tạo các hình ảnh thơ: trời thu xanh ngắt (xuất hiện ở cả ba bài), ngõ trúc quanh co, ao thu bé tẻo teo, ngõ tối, đóm lập loè, Nói chung các hình ảnh thơ ở đây

hiện lên với đặc điểm chung là rất sinh động, cụ thể, rất riêng của vùng đồng chiêm trũng nơi quê hương tác giả

- Phá vỡ tính ước lệ trong chùm thơ thu còn thể hiện rất rõ ở

hệ thống ngôn ngữ nghệ thuật Thấy rất rõ là trong chùm thơ này Nguyễn Khuyến đã sử dụng dày đặc những từ thuần Việt trong sáng, dể hiểu, giàu sức gợi: xanh ngắt, lơ phơ, hắt hiu, nước biếc, để mặc, thẹn, lạnh lẽo, trong veo, bé tẻo teo, gợn tí, vèo, lơ lửng, vắng teo, bèo, thấp, le te, lập loè, nhạt, làn ao, lóng lánh, loe Tất cả góp phần khắc hoạ bức tranh mùa thu

đồng bằng Bắc Bộ rất điển hình, rất riêng

- Bức tranh mùa thu sẽ là thiếu nếu không có hình ảnh của con người Chùm thơ thu của Nguyễn Khuyến hiện rõ lên hình

ảnh của con người thi nhân

- Tập trung thể hiện điều này là 3 cặp câu thơ kết của cả ba bài:

Nhõn hứng cuóng vừa toan cất bỳt, Nghĩ ra lại thẹn với ụng Đào.

Thu vịnh

Trang 3

Tựa gối, ôm cần lâu chẳng được, Cá đâu đớp động dưới chân bèo.

Thu điếu

Rượu tiếng rằng hay, hay chả mấy,

Độ dăm ba chén đã say nhè.

Thu ẩm Sáng tạo ở đây chính là tâm trạng thời thế, tâm sự đất nước rất riêng của Nguyễn Khuyến Đó là tâm trạng của một con người trĩu nặng suy tư về hạnh phúc, về độc lập tự do của quê hương

mà bản thân ông thì bất lực

Nỗi đớn đau ấy lớn vô cùng, nỗi đớn đau ấy là vĩnh viễn

Đấy là những sáng tạo chỉ có riêng ở thi hào Nguyễn Khuyến

Ngày soạn : 29/8/2009

Tuần 3 Tiết 3

TèM HIỂU THấM VỀ TRẦN TẾ XƯƠNG

A Mục tiờu.

Giỳp học sinh :

- Hiểu thờm về cuộc đời, sự nghiệp của Trần Tế Xương

- Thấy được tõm hồn tinh tế của Tỳ Xương trước những thời khắc chuyển động của lịch

sử dõn tộc

B Phương tiện thực hiện.

Sỏch giỏo khoa, sỏch giỏo viờn, giỏo ỏn

C Cỏch thức tiến hành.

Sử dụng phương phỏp đọc sỏng tạo, gợi mở nờu vấn đề

D Tiến trỡnh dạy học.

? Những hiểu biết của anh

(chị) về cuộc đời, con người

Trần Tế Xương ?

I Cuộc đời.

- Nhà thơ Tỳ Xương tờn thật là Trần Tế Xương, tự Mặc

Trai, hiệu Mộng Tớch, Tử Thịnh Tờn lỳc đầu là Trần Duy Uyờn ễng sinh ngày 5 thỏng 9 năm 1870 (tức ngày 10 thỏng 8 năm Canh Ngọ), ở làng Vị Xuyờn, huyện Mỹ Lộc, tỉnh Nam Định ễng mất ngày 29 thỏng 1 năm 1907

- Tỳ Xương lấy vợ năm 16 tuổi, vợ ụng là bà Phạm Thị Mẫn

- ễng đi thi từ lỳc 17 tuổi, đú là khoa Bớnh Tuất (1886) Cỏc

Trang 4

? Những nhận xét mà anh

(chị) biết về thơ văn Trần

Tế Xương ?

tài liệu khác chép nhầm là khoa Ất Dậu (1885)

- Cuộc đời ông chỉ gắn liền với thi cử, tính ra có tất cả 8 lần

Đó là các khoa: Bính Tuất (1886); Mậu Tý (1888); Tân Mão (1891); Giáp Ngọ (1894); Đinh Dậu (1897); Canh Tý (1990); Quý Mão (1903) và Bính Ngọ (1906) Sau 3 lần hỏng thi mãi đến lần thứ tư khoa Giáp Ngọ (1894) ông mới đậu tú tài, nhưng cũng chỉ là tú tài thiên thủ (lấy thêm) Sau đó không sao lên nổi

cử nhân, mặc dù đã khá kiên trì theo đuổi Khoa Quý Mão (1903) Trần Tế Xương đổi tên thành Trần Cao Xương tưởng rằng bớt đen đủi, nhưng rồi hỏng vẫn hoàn hỏng

II Vài nhận xét đánh giá về tác phẩm của Trần Tế Xương.

- Nói đến tài làm thơ của Tú Xương, nhiều người đã đặc biệt chú ý đến sự kết hợp hài hòa giữa các yếu tố hiện thực, trào phúng và chữ tình, trong đó chữ tình là gốc Với Tú Xương , vẫn chưa thấy chắc chắn có bài thơ chữ Hán nào, chỉ thấy thơ Nôm viết bằng các thể loại cổ điển: thơ luật Đường: thất ngôn bát cú, tứ tuyệt; phú; văn tế; câu đối; hát nói; lục bát Ở thể loại nào Tú Xương cũng tỏ ra là một nghệ sĩ bậc thầy

- Bức tranh hiện thực trong thơ Tú Xương là một bức tranh xám xịt, dường như chỉ có rác rưởi, đau buồn, vì hiện thực của

xã hội thực dân - nửa phong kiến là như vậy! Thi sĩ Tú Xương biết buồn đau trước vận nước vận dân Với giọng văn châm biếm sâu cay, thơ văn của ông đã đả kích bọn thực dân phong kiến, bọn quan lại làm tay sai cho giặc, bọn bán rẻ lương tâm chạy theo tiền bạc, bọn rởm đời lố lăng trong buổi giao thời

- Đề tài người vợ trong thơ của Tú Xương cũng rất được quan tâm và đón nhận Cuộc đời ông chỉ sống được có 37 năm, nhưng học hành thi cử đến 8 lần mới đỗ Tú Tài, mọi việc ở nhà đều là một tay của bà Tú gánh vác Chính vì vậy, Tú Xương rất trân trọng vợ mình, ông viết về vợ như một sự tri ân

Kiểm tra ngày / / 2009

Tổ trưởng

Lê Thị Thoa

Trang 5

Ngày soạn : 05/9/2009

Tuần 4 Tiết 4

TÌM HIỂU THÊM VỀ NGUYỄN CÔNG TRỨ

A Mục tiêu.

Giúp học sinh :

- Hiểu thêm về cuộc đời, sự nghiệp của Nguyễn Công Trứ

- Thấy được tâm hồn , khát vọng đi tới đỉnh của công danh sự nghiệp của Nguyễn Công Trứ trước những thời khắc chuyển động của lịch sử dân tộc

B Phương tiện thực hiện.

Sách giáo khoa, sách giáo viên, giáo án

C Cách thức tiến hành.

Sử dụng phương pháp đọc sáng tạo, gợi mở nêu vấn đề

D Tiến trình dạy học.

? Những hiểu biết của anh

(chị) về cuộc đời, con người

Nguyễn Công Trứ ?

? Những hiểu biết của anh

(chị) về sự nghiệp của

Nguyễn Công Trứ ?

- Về Quân sự ?

- Về Kinh tế ?

- Về thơ ca ?

I Cuộc đời.

- Nguyễn Công Trứ con quan Đức Ngạn hầu Nguyễn Công Tấn, quê ở làng Uy Viễn, nay là xã Xuân Giang huyện Nghi Xuân, tỉnh Hà Tĩnh Ngay từ thuở còn hàn vi ông đã nuôi lý tưởng giúp đời, lập công danh, sự nghiệp:

Làm trai đứng ở trong trời đất Phải có danh gì với núi sông.

- Năm 1820 khi đã 42 tuổi, ông mới đỗ Giải nguyên ở trường thi hương trấn Nghệ An Từ đây bắt đầu thời kỳ làm quan đầy sóng gió của ông Ông hoạt động trong nhiều lĩnh vực từ quân

sự, kinh tế tới thi ca

- Cuộc đời ông là những thăng trầm trong sự nghiệp Ông được thăng thưởng quan tước nhiều lần vì những thành tích, chiến công trong quân sự và kinh tế, tới chức thượng thư, tổng đốc; nhưng cũng nhiều lần bị giáng phạt, nhiều lần giáng liền

ba bốn cấp như năm 1841 bị kết án trảm giam hậu rồi lại được tha, năm 1843 còn bị cách tuột làm lính thú v.v

- Năm Tự Đức thứ nhất 1847 ông nghỉ hưu với chức vụ Phủ doãn tỉnh Thừa Thiên Ông đúng là một vị quan văn - võ song toàn đã đóng góp nhiều công lao cho đất nước

II Sự nghiệp

1 Quân sự

Do chính sách hà khắc của nhà Nguyễn dưới triều đại Gia Long và Minh Mạng nên đã xảy ra liên tiếp nhiều cuộc khởi nghĩa nông dân Nguyễn Công Trứ tuy là quan văn nhưng phải cầm quân, làm tướng, đánh đâu thắng đó: 1827 dẹp Khởi nghĩa Phan Bá Vành, 1833 dẹp Khởi nghĩa Nông Văn Vân, 1835 dẹp giặc Khách Đến đời vua Tự Đức thứ 11 (1858), khi Pháp tấn công Đà Nẵng, thì ông đã 80 tuổi nhưng vẫn xin vua cho đi

Trang 6

đánh giặc.

2 Kinh tế

Ông có sáng kiến chiêu mộ dân nghèo, đắp đê lấn biển, lập

ấp, khai sinh các huyện Kim Sơn (thuộc tỉnh Ninh Bình ngày nay), Tiền Hải (thuộc tỉnh Thái Bình ngày nay) vào những năm cuối thập niên 1820, đề xuất lập nhà học, xã thương ở nông

thôn nhằm nâng cao dân trí và lưu thông hàng hóa Những hoạt động của ông trong lĩnh vực kinh tế được nhân dân các vùng kể trên ghi nhớ Hiện nay còn rất nhiều từ đường thờ cúng ông ở hai huyện nói trên và quê hương ông Nhiều đình chùa tại các địa phương này cũng thờ ông và tôn ông làm thành hoàng làng

3 Thơ ca

- Nguyễn Công Trứ là người có tài Là một người của hành động, trải qua nhiều thăng trầm, Nguyễn Công Trứ hiểu sâu sắc nhân tình thế thái đương thời Ông khinh bỉ và ngán ngẩm nó

Thế thái nhân tình gớm chết thay Lạt nồng coi chiếc túi vơi đầy

- Trong xử thế ông cười nhạo sự thăng giáng, coi làm quan thì cũng như thằng leo dây và không giấu sự ngạo mạn:

Nào nào! Thằng nào sợ thằng nào

Đã sa xuống thấp lại lên cao.

- Chán chường với chốn quan trường nhưng ông không chán đời Ông vốn yêu đời, là người chịu chơi, với ông cái gì cũng

có thể đem chơi kể cả tài kinh bang tế thế

Trời đất cho ta một cái tài Giắt lưng dành để tháng ngày chơi.

- Nguyễn Công Trứ là người đào hoa, mê hát ả đào, ông viết nhiều bài ca trù đa tình Ngất ngưởng, ngông nghênh, về hưu đi chơi ông không dùng ngựa mà dùng bò Bảy mươi ba tuổi ông cưới vợ, trả lời cô dâu khi nàng hỏi tuổi:

Năm mươi năm trước, anh hai ba

Hoặc trong bài "Bỡn nhân tình":

Tao ở nhà tao, tao nhớ mi Nhớ mi nên phải bước chân đi Không đi mi nói rằng không đến Đến thì mi nói đến làm chi

Ngay lúc chua chát nhìn lại đời mình, ông vẫn là người đầy khí phách:

Kiếp sau xin chớ làm người Làm cây thông đứng giữa trời mà reo Giữa trời vách đá cheo leo

Ai mà chịu rét thì trèo với thông

- Đời ông đầy giai thoại, giai thoại nào cũng cho thấy bản lĩnh sống, bản lĩnh trí tuệ và mang tính bình dân sâu sắc Có thể nói thơ ông sinh động, giàu triết lý nhân văn nhưng hóm hỉnh, đó là chất thơ có được từ đời sống, lấy đời sống làm cốt lõi

Trang 7

Ngày soạn : 12/9/2009

Tuần 5 Tiết 5

NGUYỄN ĐÌNH CHIỂU - CUỘC ĐỜI VÀ SỰ NGHIỆP

A Mục tiêu.

Giúp học sinh :

- Hiểu thêm về cuộc đời, sự nghiệp của Nguyễn Đình Chiểu

- Thấy được lòng yêu nước, thương dân, khát vọng dựng xây một xã hội công bằng trong Lục Vân Tiên

- Thấy được nỗi lòng một nhà nho yêu nước

B Phương tiện thực hiện.

Sách giáo khoa, sách giáo viên, giáo án

C Cách thức tiến hành.

Sử dụng phương pháp đọc sáng tạo, gợi mở nêu vấn đề

D Tiến trình dạy học.

? Những hiểu biết của anh

(chị) về cuộc đời, con người

Nguyễn Đình Chiểu ?

- Bên cạnh một nhà Nho,

Nguyễn Đình Chiểu còn là

một thầy thuốc, một nhà văn,

một nhà yêu nước

- So sánh với nhân vật Lục

Vân Tiên, cuộc đời tác giả

có điểm gì trùng hợp ?

I Cuộc đời.

- Nguyễn Đình Chiểu tự Mạnh Trạch, hiệu Trọng Phủ, Hối Trai Sinh ngày 1 tháng 7 năm 1822, tại làng Tân Khánh, phủ Tân Bình, huyện Bình Dương, tỉnh Gia Định (thuộc Thành phố Hồ Chí Minh ngày nay).

- Cha ông tên Nguyễn Đình Huy, người xã Bồ Điền, huyện Phong Điền, tỉnh Thừa Thiên, (nay là xã Phong An, huyện Phong Điền, TT-Huế), là thư lại Văn hàn ty của Tổng trấn Lê Văn Duyệt Mẹ là Trương Thị Thiệt, người làng Thanh Ba, huyện Phước Lộc, huyện Cần Giuộc, tỉnh Gia Định.

- Tuổi niên thiếu, Nguyễn Đình Chiểu từng chứng kiến cảnh loạn lạc của xã hội lúc bấy giờ, đặc biệt là cuộc khởi nghĩa của Lê Văn Khôi tại Gia Định Cuộc nổi dậy này đã khiến cha ông bỏ trốn ra Huế rồi bị cách chức Năm 1833 cha ông trở vào Nam, đem ông ra gửi cho một người bạn ở Huế để tiếp tục việc học Nguyễn Đình Chiểu sống ở Huế

từ 12 đến 19 tuổi.

- Năm 1843 ông đỗ Tú tài ở trường thi Gia Định, đúng vào năm 21 tuổi Khi ấy, có một nhà họ Võ hứa gả con gái cho ông.

Năm 1847 ông ra Huế học để chờ thi khoa Kỷ Dậu 1849 Nhưng chưa kịp thi thì được tin mẹ mất tại Sài Gòn (1849) Trên đường trở về chịu tang mẹ, vì thời tiết thất thường, vất vả và khóc thương nhiều nên ông bị bệnh rồi mù cả đôi mắt Trong thời gian nghỉ lại Quảng Nam chữa bệnh, tuy

Trang 8

? Những hiểu biết của anh

(chị) về sự nghiệp của

Nguyễn Đình Chiểu ?

bệnh không hết, nhưng ông đã được vị danh y truyền dạy nghề thuốc.

- Đui mù, mất mẹ, hôn thê bội ước, cảnh nhà sa sút ông đóng cửa chịu tang cho đến năm 1851, ông mới mở trường dạy học và làm thuốc.

- Năm 1854, một người học trò tên là Lê Tăng Quýnh vì cảm phục và mến thương ông, nên đã xin gia đình gả cô

em gái thứ năm của mình tên là Lê Thị Điền (1835 - 1886), người Cần Giuộc (Long An), cho thầy.

- Kể từ đó, gần chục năm sau, ngoài đôi việc trên ông

còn sáng tác truyện thơ Lục Vân Tiên và Dương Từ - Hà

Mậu, để gửi gắm tình ý cùng hoài bão của mình.

- Ngày 17 tháng 2 năm 1859, Pháp chiếm thành Gia Định Ông cùng gia đình chạy về quê vợ ở làng Thanh Ba,

huyện Cần Giuộc Cũng tại nơi đây, ông đã sáng tác Văn tế

nghĩa sĩ Cần Giuộc, được nhiều người đánh giá cao.

- Khi 3 tỉnh miền Đông rơi vào tay quân Pháp, không chịu sống trong vùng bị chiếm đóng, Nguyễn Đình Chiểu cùng gia đình xuôi thuyền về làng An Đức, tổng Bảo An, tỉnh Vĩnh Long (nay là huyện Ba Tri, tỉnh Bến Tre) Tại đây, ông tiếp tục dạy học, bốc thuốc, đồng thời vẫn giữ mối liên hệ với những sĩ phu yêu nước như Phan Văn Trị, Nguyễn Thông và các lực lượng kháng chiến; từ chối trước mọi cám dỗ của đối phương.

- Thời gian này, Nguyễn Đình Chiểu sáng tác nhiều thơ văn bi tráng nhất, tiếc thương những đồng bào, bạn bè, nghĩa sĩ đã mất.

Ngày 3 tháng 7 năm 1888, ông mất tại Ba Tri, Bến Tre

Người ta kể lại rằng ngày đưa đi an táng, cả cánh đồng An Bình Đông, nay là An Đức, trắng xóa khăn tang của những người mến mộ ông.

II.Văn và Người

- Mô tả về nhân cách của Nguyễn Đình Chiểu, Nguyễn Văn Châu đã viết :"Nhân cách của Nguyễn Đình Chiểu là một minh chứng sống động về tính năng động của con người Cuộc đời dù nghiệt ngã, nhưng sự nghiệp của con người ấy không vì thế mà buông xuôi theo số phận Vượt qua số phận để đứng vững trước sóng gió của cuộc đời, chính là thái độ sống có văn hóa, là nhân cách cao đẹp của Nguyễn Đình Chiểu Trên cương vị của một nhà thơ, cái sâu sắc, thâm thúy trong thơ văn của Nguyễn Đình Chiểu chính là chỗ chê khen, biểu dương và phê phán, thương

Trang 9

ghét rõ ràng, chánh tà minh bạch, hợp đạo lý, thuận tình người, theo đúng chuẩn mực văn hóa Việt Nam."

- "Truyện Lục Vân Tiên dài 2.083 câu thơ mà nhiều nhà

nghiên cứu cho là có mang tính chất tự truyện đã nhanh

chóng được phổ biến rộng rãi trong nhân dân, nhất là ở

Nam Kỳ Truyện lên án bọn người độc ác, xấu xa, tráo trở, gian manh, bất nhân, bất nghĩa, đồng thời ngợi ca những tấm lòng nhân hậu, thủy chung."

- "Tác phẩm Dương Từ, Hà Mậu dài 3.448 câu thơ kịch

liệt công kích đạo Phật, đạo Thiên Chúa lúc bấy giờ như một mối nguy cơ cho đất nước Dựa vào trí tưởng tượng nhân gian (thiên đường, địa ngục), tác giả để cho nhân vật

tự “giải mê" qua cuộc hành trình dài đi tìm chân lý đầy

gian khổ, rồi trở về trong sự hòa hợp của gia đình, làng

nước."

- "Năm 1859, giặc Pháp đánh chiếm Gia Định Nhà thơ lánh về quê vợ ở Cần Giuộc (Long An) Âm vang của trận công đồn diệt bọn “Tây dương” tại nơi đây đã gợi lên cảm hứng để ông viết áng văn bất hủ ngợi ca những người nông

dân chân đất anh hùng xả thân vì sự nghiệp cứu nước: Văn

tế nghĩa dân chết trận Cần Giuộc "

"Ông là người mở đầu cho dòng văn chương yêu nước Việt Nam chống Pháp xâm lược ở nửa sau thế kỷ XIX Thơ văn ông gắn chặt với những biến cố lớn lao của đất nước lúc

bấy giờ Đó là:Chạy Tây (1859), Văn tế nghĩa dân chết

trận Cần Giuộc (1861), Cáo thị, Thảo thử hịch', Thư gửi

cho em, Mười hai bài thơ điếu Trương Định (1864), Mười hai bài thơ điếu Phan Tòng (1868), Văn tế nghĩa sĩ trận

vong Lục tỉnh (1874) và hai tập truyện thơ dài Dương Từ -

Hà Mậu và Ngư tiều y thuật vấn đáp "

- "Cảm hứng chủ đạo của thơ văn ông ở giai đoạn đầu là cảm hứng đạo lý và yếu tố này đã được nâng lên thành trữ tình đạo lý đầy nhân nghĩa, thảo ngay, đồng thời cũng giàu chất phê phán, phẫn nộ trước mọi điều bất nhân, bất nghĩa như ông đã tự bạch:"

Nói ra thì nước mắt trào,

Tấm lòng ưu thế biết bao giờ rồi

- "Những tác phẩm ở giai đoạn sau - thời kỳ đất nước bị

xâm lăng - của ông là những trang bất hủ ngợi ca cuộc

chiến đấu oanh liệt của nhân dân ta chống xâm lược

phương Tây ngay từ buổi đầu chúng đặt chân lên đất nước

ta (Phạm Văn Đồng)

Trang 10

=> Tóm lại, sáng tác của ông gồm nhiều thể loại, thể tài, trong đó thành công nghệ thuật nổi bật nhất là truyện thơ Nôm và văn tế Nôm Ngôn ngữ nghệ thuật bình dị, giàu

tính nhân dân cùng những hình tượng nhân vật sinh động trong nhiều thể loại, khiến chơ ngòi bút của ông có sức thu hút mạnh mẽ người đọc, nhất là đối với nhân dân miền

Nam Sáng tác của Nguyễn Đình Chiểu đã góp phần bồi

đắp tâm hồn dân tộc, nâng vị trí của văn học miền Nam lên ngang tầm văn học cả nước Ông là người kết thúc một

cách rực rỡ văn học của giai đoạn trước đó và mở đầu cho dòng văn chương yêu nước chống xâm lược.

III Tác phẩm chính

- Lục Vân Tiên sáng tác trước khi Pháp xâm lược Nam

Kỳ, có tính chất tự truyện

- Dương Từ Hà Mậu (chưa xác định thời điểm sáng tác)

- Ngư Tiều y thuật vấn đáp (chưa xác định thời điểm

sáng tác)

- Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc (1861)

- Mười hai bài thơ và bài văn tế Trương Định (1864)

- Mười bài thơ điếu Phan Tòng (1868)

- Văn tế nghĩa sĩ trận vong lục tỉnh (1874)

- Hịch kêu gọi nghĩa binh đánh Tây (chưa xác định thời điểm sáng tác)

- Hịch đánh chuột (chưa xác định thời điểm sáng tác)

Kiểm tra ngày / / 2009

Tổ trưởng

Lê Thị Thoa

Ngày đăng: 02/04/2021, 02:59

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w