HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM LÊ THỊ PHƯƠNG LAN NGHIÊN CỨU ĐẶC ĐIỂM BỆNH LÝ CHỦ YẾU CỦA VỊT TRỜI MẮC DỊCH TẢ DO GÂY NHIỄM THỰC... KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU BỆNH TÍCH VI THỂ MỘT SỐ CƠ QUAN CỦA V
Trang 1HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM
LÊ THỊ PHƯƠNG LAN
NGHIÊN CỨU ĐẶC ĐIỂM BỆNH LÝ CHỦ YẾU CỦA VỊT TRỜI MẮC DỊCH TẢ DO GÂY NHIỄM THỰC
Trang 2NHÀ XUẤT BẢN HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP - 2018
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi, các kết quả nghiên cứu được trình bày trong luận văn là trung thực, khách quan và chưa từng dùng để bảo
vệ lấy bất kỳ học vị nào
Tôi xin cam đoan rằng mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn đã được cám
ơn, các thông tin trích dẫn trong luận văn này đều được chỉ rõ nguồn gốc
Hà Nội, ngày… tháng… năm 2018
Tác giả luận văn
Lê Thị Phương Lan
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Trong suốt thời gian học tập, nghiên cứu và hoàn thành luận văn, tôi đã nhận được
sự hướng dẫn, chỉ bảo tận tình của các thầy cô giáo, sự giúp đỡ, động viên của bạn bè, đồng nghiệp và gia đình
Nhân dịp hoàn thành luận văn, cho phép tôi được bày tỏ lòng kính trọng và biết
ơn sâu sắc tới PGS.TS Nguyễn Hữu Nam bộ môn Bệnh lý, Khoa Thú y - Học viện Nông nghiệp Việt Nam đã tận tình hướng dẫn, dành nhiều công sức, thời gian và tạo điều kiện cho tôi trong suốt quá trình học tập và thực hiện đề tài
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành tới Ban Giám đốc, Ban Quản lý đào tạo, Bộ môn Bệnh lý, Khoa Thú y - Học viện Nông nghiệp Việt Nam đã tận tình giúp đỡ tôi trong quá trình học tập, thực hiện đề tài và hoàn thành luận văn
Nhân đây cho tôi gửi lời biết ơn tới gia đình, Ban lãnh đạo, anh chị em đồng nghiệp Trạm chăn nuôi và thú y huyện Tiền Hải; Chi cục Chăn nuôi và Thú y Thái Bình
cơ quan nơi tôi công tác và bạn bè đã luôn động viên, giúp đỡ, tạo mọi điều kiện tốt nhất cho tôi hoàn thành luận văn này
Hà Nội, ngày… tháng… năm 2018
Tác giả luận văn
Lê Thị Phương Lan
Trang 5
MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
MỤC LỤC iii
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT v
DANH MỤC BẢNG vi
DANH MỤC HÌNH vii
TRÍCH YẾU LUẬN VĂN viii
THESIS ABSTRACT x
PHẦN 1 MỞ ĐẦU 1
1.1 TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỂ TÀI 1
1.2 MỤC TIÊU CỦA ĐỀ TÀI 2
1.3 PHẠM VI NGHIÊN CỨU 2
1.4 NHỮNG ĐÓNG GÓP MỚI CỦA ĐỀ TÀI 2
PHẦN 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3
2.1 TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨUVỀ BỆNH DỊCH TẢ VỊT 3
2.1.1 Tình hình nghiên cứu về bệnh dịch tả vịt ở nước ngoài 3
2.1.2 Tình hình nghiên cứu về bệnh dịch tả vịt ở Việt Nam 6
2.2 VIRUS GÂY BỆNH DỊCH TẢ VỊT 8
2.2.1 Hình thái, kích thước 8
2.2.2 Sức đề kháng 9
2.2.3 Độc lực 9
2.2.4 Đặc tính nuôi cấy 10
2.2.5 Miễn dịch chống virus dịch tả vịt 11
2.3 BỆNH DỊCH TẢ VỊT 12
2.3.1 Truyền nhiễm học 13
2.3.2 Triệu chứng và bệnh tích 14
2.3.3 Chẩn đoán 15
2.3.4 Biện pháp can thiệp và phòng bệnh dịch tả vịt 19
PHẦN 3 VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 22
Trang 63.1 ĐỊA ĐIỂM NGHIÊN CỨU 22
3.2 THỜI GIAN NGHIÊN CỨU 22
3.3 ĐỐI TƯỢNG – VẬT LIỆU NGHIÊN CỨU 22
3.4 NỘI DUNG NGHIÊN CỨU 22
3.5 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 23
PHẦN 4 KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 29
4.1 KẾT QUẢ GÂY BỆNH THỰC NGHIỆM CHO VỊT TRỜI 29
4.2 KẾT QUẢ XÁC ĐỊNH TRIỆU CHỨNG LÂM SÀNG CỦA VỊT TRỜI MẮC BỆNH KHI TIẾN HÀNH GÂY NHIỄM 33
4.3 KẾT QUẢ XÁC ĐỊNH BIẾN ĐỔI ĐẠI THỂ CỦA VỊT MẮC DỊCH TẢ VỊT 35
4.4 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU BỆNH TÍCH VI THỂ MỘT SỐ CƠ QUAN CỦA VỊT TRỜI MẮC DỊCH TẢ 38
4.5 KẾT QUẢ XÁC ĐỊNH MỘT SỐ CHỈ TIÊU HUYẾT HỌC CỦA VỊT MẮC DỊCH TẢ VỊT 41
4.5.1 Chỉ tiêu hệ hồng cầu vịt trời mắc dịch tả 42
4.5.2 Số lượng bạch cầu và công thức bạch cầu 43
PHẦN 5 KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 46
5.1 KẾT LUẬN 46
5.2 ĐỀ NGHỊ 46
TÀI LIỆU THAM KHẢO 47
Trang 7DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
Chữ viết tắt Nghĩa tiếng Việt
Trang 8DANH MỤC BẢNG
Bảng 4.1 Kết quả theo dõi thân nhiệt của vịt trước khi gây nhiễm 29
Bảng 4.2a Kết quả theo dõi thân nhiệt của vịt gây nhiễm 30
Bảng 4.2b Kết quả theo dõi thân nhiệt của vịt đối chứng 31
Bảng 4.3 Kết quả xét nghiệm virus DTV bằng phương pháp PCR 32
Bảng 4.4 Triệu chứng lâm sàng của vịt trời mắc DEV 33
Bảng 4.5 Bệnh tích đại thể của vịt trời gây nhiễm dịch tả 36
Bảng 4.6a Kết quả nghiên cứu bệnh tích vi thể một số cơ quan của vịt trời mắc dịch tả 39
Bảng 4.6b Kết quả nghiên cứu bệnh tích vi thể một số cơ quan của vịt trời mắc bệnh dịch tả 40
Bảng 4.7 Kết quả khảo sát một số chỉ tiêu hệ hồng cầu của vịt trời gây bệnh dịch tả thực nghiệm 42
Bảng 4.8 Kết quả khảo sát chỉ tiêu bạch cầu của vịt trời gây bệnh dịch tả thực nghiệm 44
Trang 9
DANH MỤC HÌNH
Hình 4.1 Thân nhiệt của vịt trước gây nhiễm 30
Hình 4.2 Thân nhiệt của vịt gây nhiễm và đối chứng 31
Hình 4.3 Kết quả xác định triệu chứng lâm sàng của vịt trời mắc bệnh DEV 34
Hình 4.4 Vịt ủ rũ, sợ ánh sáng nằm tụm lại một chỗ 35
Hình 4.5 Vịt bị viêm giác mạc mắt 35
Hình 4.6 Vịt chết do mắc dịch tả 35
Hình 4.7 Kết quả xác định biến đổi đại thể của vịt trời mắc dịch tả vịt 36
Hình 4.8 Gan xuất huyết 38
Hình 4.9 Xuất huyết mỡ vành tim 38
Hình 4.10 Xuất huyết vùng hầu họng 38
Hình 4.11 Phổi viêm,tụ máu đỏ sẫm 38
Hình 4.12 Ruột xuất huyết hình vòng nhẫn 38
Hình 4.13 Khí quản xuất huyết 38
Hình 4.14 Kết quả nghiên cứu bệnh tích vi thể một số cơ quan của vịt trời mắc DEV 39
Hình 4.15 Kết quả nghiên cứu bệnh tích vi thể một số cơ quan của vịt trời mắc bệnh dịch tả 40
Hình 4.16 Tế bào gan thoái hóa mỡ và thâm nhiễm tế bào viêm xung quanh các mạch quản - HE.40x 45
Hình 4.17 Gan tụ máu và thoái hóa mỡ tế bào gan - HE.10x 45
Hình 4.18 Gan tụ máu - Hồng cầu tràn ngập trong tĩnh mạch - HE.20x 45
Hình 4.19 Phổi xuát huyết, hồng cầu tràn ngập các phế nang - HE.10x 45
Hình 4.20 Tế bào biểu mô khí quản bong tróc - HE.10x 45
Hình 4.21 Xuất huyết khí quản HE 20x 45
Trang 10TRÍCH YẾU LUẬN VĂN
Họ và tên học viên: Lê Thị Phương Lan
Tên đề tài: “Nghiên cứu đặc điểm bệnh lý chủ yếu của vịt trời mắc dịch tả do gây
nhiễm thực nghiệm”
Cơ sở đào tạo: Học Viện Nông Nghiệp Việt Nam
Mục đích nghiên cứu
Gây nhiễm thành công bệnh dịch tả trên vịt trời và xác định các đặc điểm bệnh
lý chủ yếu của vịt trời mắc bệnh dịch tả do virus
Phương pháp nghiên cứu
- Gây nhiễm bệnh dịch tả trên vịt trời bàng chủng virus VG-04
- Xác định triệu chứng lâm sàng chủ yếu của vịt trời mắc DEV
- Xác định bệnh tích đại thể chủ yếu của vịt trời mắc DEV
- Nghiên cứu bệnh tích vi thể của một số cơ quan của vịt trời mắc DEV
- Xác định một số chỉ tiêu huyết học của vịt trời bị bệnh do DEV gây ra
Phương pháp nghiên cứu chính đã sử dụng
Phương pháp gây bệnh thực nghiệm:
Tiến hành nghiên cứu trên 20 vịt con 14 ngày tuổi, giống vịt trời, chia làm hai lô: lô thí nghiệm 10 con nuôi ở khu nuôi động vật thí nghiệm đạt tiêu chuẩn an toàn sinh học cấp 2 của khoa Thú y
Phương pháp theo dõi và xác định bệnh:
- Phương pháp quan sát và khám lâm sàng bằng kiểm tra trực tiếp
Theo dõi và ghi chép các thông tin từ khi vịt xuất hiện những triệu chứng lâm sàng
Xác định các chỉ tiêu huyết học bằng máy phân tích huyết học tự động Celldyn 3700
Mổ khám theo Nguyễn Hữu Nam và cs.(2015)
Trang 11thı́ nghiê ̣m được xử lı́ bằng phương pháp thống kê sinh ho ̣c: sử dụng phần mềm Excel
2007 và Minitab 16
Kết quả chính và kết luận
- Vịt trời nuôi vẫn mắc bệnh dịch tả do virus, khi mắc bệnh vịt sốt cao 43 - 44 độ
C với triệu chứng chủ yếu lả: ủ rũ, mệt mỏi, sốt cao, chậm chạp, bỏ ăn, khó thở, mắt
sưng, chảy nước mắt, liệt chân, tiếng kêu khản đặc, ỉa phân xanh khắm …
- Bệnh tích đại thể chủ yếu của vịt trời mắc dịch tả là xác gầy, lông sù, xoang bao tim tích nước, vỡ trứng non, da tím tái, thận sưng…
- Bệnh tích vi thể của bệnh dịch tả chủ yếu là sung huyết, xuất huyết, thoái hóa
và hoại tử tế bào, thâm nhiễm tế bào viêm ở ruột, dạ dày tuyến, lách, gan, tim, phổi, thận và tăng sinh ống mật ở gan
- Số lượng hồng cầu, hàm lượng Hemoglobin, số lượng bạch cầu của vịt trời bệnh đều bị giảm thấp hơn so với vịt khỏe nhưng số lượng bạch cầu đa nhân trung tính
và bạch cầu ái toan lại tăng ở vịt mắc bệnh
Trang 12THESIS ABSTRACT
Master candidate: Le Thi Phuong Lan
Thesis title: Research some of main pathological characteristics of cholera infected in
duck-hawk
Educational Organigation: Vietnam National University of Agriculture (VNUA) Research Objectives
To infect successful cholera on duck-hawk and determine some of main pathological characteristics of duck-hawk infected with DEV
Materials and Methods
Infection of cholera on duck-hawk by Cholera virus strain VG-04
Determine some of main pathological characteristics of duck-hawk infected with DEV
Determine some of main macro pathological characteristics of duck-hawk infected with DEV
Research micro pathological characteristics of some organs of duck-hawk infected with DEV
The main research methods used
Experimental disease method
Study on 20 duck-hawk 14 days old, dun-bird, divided into two plots: experimental plots of 10 adopted animals in experimental animal feeding area meeting meets biosafety level 2 standards of the Veterinary Faculty
Method of monitoring and identification
- Method of observation and clinical examination by direct examination
- Follow up and record information from when ducks appear clinical symptoms
- Determination of hematological indices by automated blood analyzer Celldyn 3700
- Surgical examination by Nguyen Huu Nam et al (2015)
Method of microplate
We used the paraffin casting method according to Robert (1969), Burn (1974), cutting with special cutting machine, dyeing Hematoxylin - Eosin (HE)
Trang 13Method of data processing: The data collected during the survey, the experiment was processed by biological statistical methods: using Excel 2007 software and Minitab 16
Main finding and & Conclusions
The feeding duck-hawk is still infected by DEV, when infected the disease, duck-hawk is high fever 43-44 degrees C with major symptoms: cheerless, fatigue, high fever, sluggishness, lack of food, shortness of breath, swollen eyes, tears, paralysis of feet, thick throat, green fertilizer diarrhea
The macro pathological characteristics of duck-hawk infected with DEV are: skinny, furry, sinus-prone sinus, broken egg, purple skin, kidney swelling
The micro pathological characteristics of duck-hawk infected with DEV are: congested, hemorrhage, degeneration and necrosis cell, infectious inflammatory cells in the intestine, stomach, spleen, liver, heart, lungs, kidney, proliferate bile ducts in liver The number of red blood cells, hemoglobin content, white blood cell numbers of duck-hawk are lower than those of healthy duck-hawk but neutrophil counts and eosinophils increased in duck-hawk infected the disease
Trang 14PHẦN 1 MỞ ĐẦU
1.1 TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỂ TÀI
Việt Nam là một nước nông nghiệp đang phát triển, ngành chăn nuôi được chú trọng đầu tư, mục tiêu là số lượng đàn gia súc, gia cầm tăng cả về chất và lượng Hiện nay, ngành chăn nuôi gia cầm nói chung và chăn nuôi vịt nói riêng
đã và đang đóng góp đáng kể vào sự phát triển nền kinh tế Việt Nam
Trong những năm gần đây, sản xuất chăn nuôi ngày càng giữ một vị trí quan trọng, được xác định là lĩnh vực còn nhiều tiềm năng để nâng giá trị sản xuất trong cơ cấu ngành nông nghiệp Xuất phát từ những đặc điểm riêng biệt về địa hình, tập quán canh tác, điều kiện cho việc chăn thả tự nhiên nên vịt là loài thủy cầm được người nông dân nước ta ưa chuộng vì vịt là một trong những loài vật có nhiều đặc điểm quý, đặc biệt là khả năng lớn nhanh, đẻ nhiều trứng, kiếm mồi giỏi Với đặc tính của vịt là thích nghi với cuộc sống sông nước, ao hồ, đầm lầy, đồng lúa nên số lượng đàn vịt phân bố chủ yếu trên các vùng sinh thái có tiềm năng cho vịt tự kiếm mồi, đó là vùng đồng bằng, các vùng triền sông và vùng Duyên hải
Trong chăn nuôi thủy cầm, thời gian gần đây, dịch tả vịt với tỷ lệ chết cao
đã gây thiệt hại khá lớn đến chăn nuôi thuỷ cầm của các hộ chăn nuôi; Đây là bệnh truyền nhiễm cấp tính do một loại Herpes virus thuộc họ Herpesviridae gây bệnh, lây lan nhanh, mạnh ở vịt từ 15 ngày tuổi trở đi Bệnh thường xảy ra ở tuần đầu tiên, có đặc điểm tỷ lệ ốm rất cao và chết rất nhanh Nơi nhiễm nặng tỷ lệ chết có thể lên tới 100% nếu không can thiệp kịp thời
Trong thời gian gần đây bệnh cạnh các giống vịt truyền thống và các giống vịt nhập nội thì chăn nuôi vịt trời ngày càng phổ biến và phát triển nhanh chóng, tuy nhiên vịt trời có mắc dịch tả không? Đặc điểm bệnh lý của vịt trời mắc bệnh có khác biệt gì không với các giống vịt khác vẫn còn là một câu hỏi còn bỏ ngỏ
Theo Thông tư 07/2016/TT-BNNPTNT ngày 31 tháng 5 năm 2016 của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn về Danh mục các bệnh nguy hiểm ở động vật trong đó có bệnh Dịch tả vịt do virus
Cho tới nay, ở nước ta đã có rất nhiều công trình nghiên cứu về bệnh Dịch
tả vịt do virus nhưng vẫn còn ít công trình nghiên cứu sâu về các biến đổi bệnh lý của vịt trời bị Dịch tả do virus
Trang 15Vì vậy, để góp phần phòng chống dịch bệnh Dịch tả vịt có hiệu quả thì việc tiếp tục nghiên cứu sâu về các biến đổi bệnh lý của vịt trời mắc bệnh Dịch tả vịt do virus gây ra là những vấn đề cấp thiết hiện nay
Xuất phát từ thực tiễn trên, chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài:
“Nghiên đặc điểm bệnh lý chủ yếu của vịt trời mắc dịch tả do gây nhiễm thực nghiệm”
Nội dung của đề tài nhằm nghiên cứu triệu chứng lâm sàng và biến đổi bệnh lý đại thể, vi thể của bệnh Dịch tả vịt do virus để làm cơ sở cho công tác phòng chống dịch bệnh thích hợp, giảm bớt thiệt hại góp phần nâng cao hiệu quả kinh tế cho người chăn nuôi
1.2 MỤC TIÊU CỦA ĐỀ TÀI
Gây nhiễm thành công bệnh dịch tả trên vịt trời và xác định các đặc điểm
bệnh lý chủ yếu của vịt trời mắc bệnh dịch tả do virus
1.3 PHẠM VI NGHIÊN CỨU
Nghıên cứu các đặc điểm bệnh lý chủ yếu của vịt trời mắc bệnh dịch tả
do virus
1.4 NHỮNG ĐÓNG GÓP MỚI CỦA ĐỀ TÀI
Kết quả nghiên cứu của đề tài giúp cung cấp những thông tin mới có tính khoa học về đạc điểm bệnh lý của vịt trời mắc bệnh dịch tả do virus
Làm cơ sở cho các nhà khoa học, các cơ quan quản lý nghiên cứu ra loại vắc xin phù hợp
Trang 16PHẦN 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU
Vịt Trời (tên khoa học: Anas Bochas) thuộc họ Vịt (Anatidae) Họ Vịt bao gồm các loài vịt và các loài thủy điểu trông giống vịt, chẳng hạn như ngỗng
và thiên nga Chúng là các loài chim đã tiến hóa để thích nghi với việc bơi lội, nổi được trên mặt nước và đôi khi lặn xuống, ít nhất là trong các vùng nước nông Họ Vịt Anatidae bao gồm 3 phân họ: phân họ vịt (Anatinae), ngỗng (Anserinae) và thiên nga (Cygninae) Các loài trong họ này có kích thước rất khác nhau, có loài kích thước và khối lượng rất nhỏ, như Le Khoang cổ (chỉ dài 26,5 cm, cân nặng 164 gam) nhưng cũng có loài kích thước và khối lượng lớn: dài tới 183 cm và cân nặng 17,2 kg (ví dụ Thiên nga kèn) Đặc điểm chung của các loài trong họ vịt là chúng có các chân màng và mỏ dẹt nhiều hay ít Bộ lông
vũ của chúng chống thấm nước rất tốt nhờ một loại mỡ đặc biệt Họ Anatidae còn
có một điểm đáng chú ý ở chỗ, đây là một trong số ít các họ chim có dương vật, thích nghi với việc giao phối trong môi trường nước.Theo các nhà khoa học, vịt chỉ phân bố rộng rãi trên nửa phía Bắc địa cầu, không thấy vịt ở vùng Nam châu Phi Vịt trời dễ thích nghi với điều kiện thuần hóa và các nhà điểu học cho rằng, Trung Quốc được xem là nơi thuần hóa vịt sớm nhất từ giống vịt trời Anas Bochas do có nhiều ao hồ, sông rạch, ruộng lúa nước
gà nhưng vẫn được coi là một chủng virus cúm thích ứng trên vịt (aspecific duck
- adapted strain of fowl plague (influenza) virus) Sau đó, nhiều vụ dịch đã được ghi nhận tại Hà Lan
Năm 1930, DeZeuw đã một lần nữa chứng minh phát hiện của Baudet và khẳng định sự thích ứng gây bệnh của virus với vịt Một số loài thủy cầm hoang
dã được coi là nguồn mang bệnh
Năm 1942, Bos đã kiểm chứng lại những phát hiện của các tác giả trước
và tiến hành quan sát trong các ổ dịch mới Ông đã mô tả được triệu chứng lâm
Trang 17sàng, bệnh tích và đáp ứng miễn dịch của vịt được gây bệnh thực nghiệm ; tuy nhiên ông không thể gây bệnh được cho gà, bồ câu, thỏ, chuột lang, chuột bạch Ông đã kết luận nguyên nhân gây bệnh không là một loại virus cúm mà là một loại virus mới Trên cơ sở tính đặc hiệu cao của virus đối với vịt, ông đã đề nghị gọi virus là dịch tả vịt ‘duck plague ’
Năm 1949, tại Hội nghị Thú y thế giới lần thứ XIV, căn cứ vào những kết quả nghiên cứu của mình về chủng virus do Boss phân lập được, Jansen và Kunst
đã đề nghị gọi tên bệnh là Duck virus enteritis (DVE) (OIE, 2000) Bệnh dịch tả vịt còn có các tên gọi khác nhau như: Endenpest (Hà Lan), Pest du canard (Pháp), Enteupest (Đức)
* Phân bố bệnh
Tại Châu Âu, bệnh dịch tả vịt đã được Devos phát hiện ở Bỉ năm 1964 Năm 1970, Gaudry phát hiện bệnh dịch tả vịt ở Pháp; Asplin phát hiện bệnh ở Anh Bela Toth và Voxapeer Suwathanaviroij công bố bệnh dịch tả vịt xảy ra ở Đức Do sự lan rộng của virus cúm gia cầm nên chính phủ các nước châu Âu, đặc biệt là Đức đã đề cao biện pháp cách ly thuỷ cầm bằng lưới trong khoảng thời gian từ 20/10/2005 - 15/12/2005 Tuy nhiên tỷ lệ chết đã tăng đột biến trong những ngày này Tổng cộng có 17/124 (14%) loài chim trưởng thành và 149/184 (81%) loài chim 1 năm tuổi bị chết Phản ứng trung hoà sử dụng kháng huyết thanh dịch tả vịt đã phát hiện vịt và các loài chim chết do bệnh dịch tả vịt
Tại Châu Mỹ, bệnh dịch tả vịt được chẩn đoán lần đầu tiên ở tây bán cầu vào năm 1967 từ một vùng sản xuất vịt thương phẩm tập trung tại hạt Suffolk,
New York (Leibovitz and Hwang et al., 1967) Vụ dịch đầu tiên xảy ra trên đàn
thuỷ cầm hoang ở Mỹ xuất hiện vào tháng 1 và 2 năm 1973, tại hồ Andes, miền nam Dakota Vụ dịch này đã tấn công với sự tàn phá nhanh chóng và khốc liệt Gần 40% của 100.000 loài thuỷ cầm trú đông, hầu hết là vịt trời đã bị chết Vào thời kỳ cao điểm của dịch, mỗi ngày chết hơn 1000 chim Tất cả những loài thuỷ cầm đại diện tại hồ Andes đều bị gánh chịu bao gồm ngỗng Canada, vịt trời, vịt đen, vịt lai nhọn đuôi, vịt trời Mỹ, vịt gỗ, vịt mỏ nhọn Mỹ đầu đỏ mắt vàng, vịt Nga và vịt Bắc Kinh Những loài chim còn sống sau vụ dịch ở hồ Andes đã phân tán rộng khắp vùng Bắc Mỹ Những mẫu máu được lấy từ những vịt sống sót ở
hồ Andes đã chỉ ra rằng có tới 30% số vịt đã bị phơi nhiễm virus Tại tiểu bang Michigan (Mỹ) bệnh dịch tả vịt đã được báo cáo vào năm 1979 trên vịt Nga và
Trang 18vịt trời Brand C.J., and D.E Docherty (1984) đã xác nhận bệnh dịch tả vịt xảy ra
ở Mỹ Năm 1993 bệnh dịch tả vịt lại tái phát ở hồ Finger (Mỹ)
Tại Châu Á, năm 1944 bệnh xảy ra ở ấn Độ và tái phát vào năm 1963 Năm 1968, Jansen công bố bệnh xảy ra ở Trung Quốc Khi nghiên cứu về bệnh này, Mukerji xác nhận chủng virus của ấn Độ và chủng virus của Hà Lan có cùng tính chất kháng nguyên Năm 1976, 1977 bệnh đã phát ra ở Thái Lan gây thiệt
hại tới 650.000 vịt (Voxapeer Suwathanaviroij et al., 1978) Năm 1979 đã có báo
cáo về sự xuất hiện bệnh dịch tả vịt ở đàn vịt trời và vịt Muscovy
Ở nước ngoài, bệnh dịch tả vịt đã được nghiên cứu về triệu chứng và bệnh tích từ lâu Cho đến nay, những hiểu hiết về virus dịch tả vịt là rất sâu và đều được các tác giả tập trung vào lĩnh vực sinh học phân tử của virus
Năm 2000, người ta đã tiến hành nghiên cứu về tế bào đích của virus dịch
tả vịt trong các cơ quan lâm ba Các tác giả cho biết kháng nguyên dịch tả vịt được tìm thấy ở trong lách, tuyến ức, và túi Fabricius vào ngày thứ 3, 6 và thứ 8 sau khi gây nhiễm Kháng nguyên được xác định trong tế bào biểu mô của tất cả các cơ quan Lympho được kiểm tra Tế bào B di chuyển ra từ túi Fabricius và không thể tuần hoàn ngược về, sự di chuyển của tế bào B tới lách chỉ xuất hiện vào ngày thứ 8 sau khi gây nhiễm Các tác giả kết luận, tế bào đích của virus dịch tả vịt là
tế bào biểu mô và tế bào B (Jansen J (1968) Năm 2007, người ta đã nghiên cứu tính tương đồng về mặt phân tử của herpes simplex virus 1 (HSV-1), UL25 và
UL30 trong virus dịch tả vịt (Kaleta E.F et al., 2007) Đến năm 2007, người ta đã
phân tích định lượng virus dịch tả vịt ở đàn vịt bị công cường độc và cho biết tỷ
lệ nhiễm của virus dịch tả vịt ở túi Fabricius và ruột non là rất cao Li H.,et al
(2006) Năm 2008, người ta tiếp tục nghiên cứu về sự phát sinh loài của virus
dịch tả vịt và quan hệ tiến hoá trong họ Herpesviridae Từ phân tích phả hệ các
tác giả cho biết virus dịch tả vịt và những herpesvirus khác đều bắt nguồn từ một nhánh và virus gây bệnh dịch tả vịt thuộc phân nhóm dưới họ
Alphaherpesvirinae Trong hầu hết các trường hợp, virus gây bệnh dịch tả vịt có
quan hệ gần với chi Mardivirus, nhưng tách ra một nhánh riêng (Leibovitz L & Hwang J et al.1967) Năm 2000, một nghiên cứu đã chỉ ra rằng vịt trắng Bắc
Kinh bị gây nhiễm bởi chủng DEV-97, 3 tuần sau khi gây nhiễm, không thể xác
định được virus ở các mô và swab ổ nhớp (cloacal swabs (CSs) (Yufeng Li; et al
2009) Từ 7 đến 9 tuần sau khi gây nhiễm, DNA của virus được xác định bằng phương pháp PCR trong hạch thần kinh Tác giả cho rằng đây là hiện tượng virus
Trang 19ở thể ẩn DNA virus được xác định trong hạch lâm ba ngoại vi, lách, tuyến ức, túi
Fabricius và hạch thần kinh trong điều kiện in vitro Năm 2009, người ta đã tiến
hành dòng hoá, giải trình tự, tinh sạch và tìm hiểu đặc tính sinh học của phân
đoạn protein UL24 của virus dịch tả vịt (Fenner F et al.,1974) Cũng trong năm
2009, người ta đã định vị phân bố protein UL51 của virus dịch tả vịt trong tế bào bằng sử dụng phản ứng miễn dịch huỳnh quang gián tiếp (Burgess, E.C & T.M
Yuill et al 1981) Năm 2009, người ta đã nghiên cứu về đáp ứng miễn dịch ở
niêm mạc ruột với sự gây nhiễm virus dịch tả vịt cường độc bằng phương pháp tinh sạch IgA (OIE, 2000) Kết quả cho thấy các mức độ DNA của dịch tả vịt tiếp tục tăng trong máu và nhiều cơ quan khác Hơn nữa, IgA và IgG đặc hiệu dịch tả vịt tăng lên trong mật, huyết thanh và ruột Mật độ IgA trong ruột được xác định
từ 1-12 ngày sau khi gây nhiễm Các tác giả kết luận gây nhiễm virus dịch tả vịt
có thể kích thích cả IgA trong ruột và IgG trong huyết thanh Năm 2009, người ta
đã công bố công trình nghiên cứu về đặc tính sinh học phân tử của hệ gen virus dịch tả vịt OIE (2006) Các tác giả đã xác định toàn bộ trình tự gen của virus dịch
tả vịt Theo các tác giả, hệ gen của virus có độ dài là 158.091 bp, mã hoá 78
protein và có sự tương đồng với những virus thuộc họ Alphaherpesvirinae về
mặt tổ chức và kết hợp gen Hệ gen của virus bao gồm các vùng gen unique long (UL), unique short (US), unique short internal repeat (IRS) và unique short terminal repeat (TRS) Cách thức sắp xếp hệ gen (UL-IRS-US-TRS) tương ứng
với D-type herpesvirus và phù hợp với những thành viên của Varicellovirus và
Iltovirus Phân tích trình tự cho thấy hệ gen của virus chứa 67 gen tương đồng
với những virus thuộc họ Alphaherpesvirinae Ngoài những gen này ra, có một gen tương đồng với herpesvirus 8 ở loài linh trưởng, là virus thuộc họ
Betaherpesvirinae, và 5 gen tương đồng với herpesviruse ở gia cầm Mặt khác,
hệ gen có 3 gen duy nhất không tương đồng với bất cứ một loại herpesviruse nào Giống hầu hết các thành viên thuộc họ Alphaherpesvirinae, những gen
thuộc vùng gen UL có tính bảo tồn cao, trong khi trình tự sắp xếp gen IRS-US
lại tương tự với virus gây bệnh Marek và herpesviruses 1 gây bệnh trên ngựa
Do vậy, từ những dữ liệu phân tích hệ gen, các tác giả đề nghị xếp virus gây
bệnh dịch tả vịt vào họ Alphaherpesvirinae
2.1.2 Tình hình nghiên cứu về bệnh dịch tả vịt ở Việt Nam
Năm 1963, tại Cao Bằng, bác sỹ thú y Đặng Trần Dũng cho biết bệnh dịch
tả vịt đã xuất hiện làm thiệt hại trên 3000 vịt
Trang 20Tháng 5 năm 1969, trong vòng 3 tháng bệnh dịch tả vịt đã làm thiệt hại tới 15000 vịt ở 4 huyện ngoại thành Hà Nội Chính từ ổ dịch này đã phân lập
ra virus và có thể nuôi cấy virus này trên màng niệu và xoang niệu phôi vịt 10 ngày tuổi (Trần Minh Châu, 1980) Qua nghiên cứu thấy virus gây bệnh điển hình cho vịt và không có đặc tính ngưng kết hồng cầu gà Vũ Đình Tiếu và Mai Anh cho biết dùng vacxin dịch tả vịt để tiêm cho vịt có thể ngăn chặn được dịch Từ đó bệnh dịch tả vịt chính thức được công nhận có tại Việt Nam Tiếp theo, dịch đã phát ra ở Hà Nội, Thanh Hoá, Ninh Bình, Vĩnh Phúc, Hà Tây, Nam Hà (cũ), Thái Bình, Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Bình, Cao Bằng, Hải Hưng (cũ)
Năm 1971, dịch lại phát ra ồ ạt ở các tỉnh Ninh Bình, Quảng Ninh, Lạng Sơn,
Hà Bắc (cũ) và thành phố Hải Phòng Nhờ có tiêm phòng vacxin nên diện dịch đã bị thu hẹp lại, chỉ còn âm ỉ ở một số cơ sở chăn nuôi phân tán
Năm 1980, dịch phát ra mạnh mẽ ở Hà Nam Ninh (cũ), Thanh Hoá và đồng bằng sông Cửu Long Từ đó dịch lan ra tới tận Nghệ Tĩnh, Kiên Giang, Hậu Giang, Đồng Tháp
Năm 1989, Phạm Thị Lan Thu, Thân Thị Hạnh cho biết đàn vịt của Phú Khánh trong những năm 1980-1986 thường phát bệnh và lây lan nhanh ở nhiều nơi Các tác giả đã tiến hành phân lập virus dịch tả vịt trên đàn vịt ở Phú Khánh
Năm 1991, người ta đã tiến hành nghiên cứu đặc tính sinh học của virus văc xin dịch tả vịt chủng Jansen và cho biết virus văc xin có tính ổn định khi nuôi cấy trên phôi gà và tế bào xơ phôi gà 1 lớp; chỉ số ELD50 biến động trong khoảng
từ 10-3,31/0,2 ml đến 10-3,36/0,2 ml; CPE50 biến động từ 10-4,36 đến 10-4,54 Văc xin
an toàn cho mọi lứa tuổi vịt, hiệu lực của văc xin cao Văc xin được chế biến dưới 2 dạng là văc xin tươi và văc xin đông khô (Nguyễn Ngọc Huân (2006) Văc xin tươi thường được đóng ở ampoul 100 liều, chỉ bảo quản tối đa là
4 tháng ở kho lạnh và phải dùng không quá 6 giờ khi đã pha loãng văc xin bằng nước sinh lý Văc xin đông khô thì thời gian bảo quản dài hơn (khoảng 1 năm)
và ít bị mất hiệu lực khi gặp điều kiện bất lợi Văc xin đông khô có thể đóng
ampoul 100 liều hoặc chai có từ 500-1000 liều (Shawky S.A et al (1997) Tuỳ
theo liều đóng văc xin mà pha loãng với nước sinh lý đủ cho 0,2ml/vịt con và 0,3-0,5ml/vịt lớn Đường tiêm chủ yếu là dưới da hoặc bắp lườn
Trang 21Năm 1999, Nguyễn Đức Hiền đã chẩn đoán xác định virus gây bệnh dịch
tả vịt ở Cần Thơ và theo kết quả chẩn đoán lâm sàng bệnh dịch tả vịt vào năm
2000 - 2002 của chính tác giả và cộng sự thì trên 1176 vịt được mổ khám có 455 vịt được chẩn đoán là mắc bệnh dịch tả vịt
Năm 2006, người ta đã khuyến cáo sử dụng văc xin dịch tả vịt đông khô của Navetco trong quy trình thú y an toàn dịch bệnh áp dụng cho vịt nuôi ở nông
hộ (Nguyễn Đức Hiền, 1999)
Theo Thông tư số 19/2009/TT-BNN, ngày 30 tháng 03 năm 2009 công
bố danh mục văc xin, chế phẩm sinh học, vi sinh vật, hoá chất dùng trong thú
y được phép lưu hành tại Việt Nam thì tại Việt Nam đang lưu hành 2 dòng sản phẩm văc xin phòng bệnh dịch tả vịt đều ở dạng đông khô đóng lọ từ 100 đến
1000 liều mang số đăng ký TW-XI-14 và TW-IV-5
Theo thống kê mới nhất của OIE (2006); Việt Nam là một trong những nước bị bệnh dịch tả vịt gây thiệt hại nặng nề nhất Năm 1999, bệnh đã làm chết 51.752 trong tổng số 123.851 vịt Năm 2000, có 2.964 vịt chết vì bệnh dịch tả vịt trong tổng số 6.747 vịt Năm 2001 phát hiện có 24.478 vịt chết trong 46.993 vịt Năm 2002, bệnh xảy ra ở 33.831 vịt gây chết 15.680 con và năm 2004 số vịt chết
có độc lực khác nhau tồn tại trong tự nhiên (Nguyễn Như Thanh, 2001) Theo Li
H., Liu S., et al (2006) virus gây bệnh dịch tả vịt có thể được phân loại vào phân
họ Alphaherpesvirinae trong họ Herpesviridae
Trang 22được hoàn thiện Ở những tế bào được gây nhiễm virus, sau 24 giờ thấy các hạt vùi trong nhân và nguyên sinh chất Đó là những tập hợp không có hình thù, trông giống như bụi Trong nhân, hạt virus có đường kính là 93,5 nm; trong nguyên sinh chất có đường kính là 136 nm và thành thục ở không bào với đường kính 250 nm
Theo Trần Minh Châu (1980), ở Việt Nam, virus dịch tả vịt cường độc chủng 769 có hình thái và cấu trúc giống như virus
Virus dịch tả vịt có hệ gen là DNA sợi đôi gồm 180 Kbp Trọng lượng phân tử 19 nhân 10 mũ 6 Dalton Virus có vỏ bọc ngoài
Với nhiệt độ lạnh virus tồn tại lâu hơn: ở 4˚C virus sống được đến 60 ngày; ở - 10˚C đến - 20˚C virus tồn tại hàng năm Trong điều kiện đông khô và bảo quản lạnh, virus có thể tồn tại nhiều năm
Năm 2006, tác giả Nguyễn Ngọc Điểm (2006) cũng đã phân lập thành công chủng virus cường độc dịch tả vịt VG-04 Qua bước đầu khảo sát đặc tính sinh học của chủng virus này tác giả cho biết virus dịch tả vịt chủng VG-
04 có độc lực mạnh hơn virus dịch tả vịt chủng 769 do tác giả Trần Minh Châu phân lập
Trang 232.2.4 Đặc tính nuôi cấy
Virus dịch tả vịt không có khả năng gây ngưng kết hồng cầu, không hấp thụ hồng cầu Trong tế bào phôi gà, vịt bị nhiễm virus, virus hình thành tiểu thể bao hàm Trong môi trường nuôi cấy tế bào, virus có khả năng hình thành Plague Khi có mặt bổ thể, kháng thể dịch tả vịt có khả năng làm tan tế bào xơ phôi vịt bị nhiễm virus
* Nuôi cấy trên phôi
Theo Jansen (1968) virus dịch tả vịt sau khi đã tiêm truyền trên phôi vịt sẽ
dễ dàng thích nghi trên phôi gà
Tuy vậy, khi nuôi cấy trên phôi vịt, tỷ lệ chết của phôi không cao và theo kinh nghiệm thì virus dịch tả vịt của Việt Nam có vẻ như khó nuôi cấy trên phôi gà
Về khả năng nhân lên trên phôi của virus dịch tả vịt, Trần Minh Châu (1980) cho rằng màng nhung niệu là đường tiêm truyền tốt nhất Theo Nguyễn Như Thanh (2001), nuôi cấy virus trên màng niệu đệm hoặc xoang niệu mô của thai vịt ấp 12 ngày, thai sẽ chết sau 4 - 6 ngày với các bệnh tích xuất huyết trên
da vùng lưng, rìa cánh, đầu; gan và quả tối có điểm xuất huyết và hoại tử Một số phôi có biểu hiện phù, một số phôi có hiện tượng màng nhung niệu sưng dày Virus dịch tả vịt có thể cảm nhiễm với phôi ngỗng ấp 12 ngày tuổi và giết chết phôi sau 3 - 5 ngày Virus cường độc dịch tả vịt ít mẫn cảm ở những lần cấy truyền đầu tiên trên phôi gà Đối với phôi gà 9 - 10 ngày tuổi phải tiếp truyền virus sau ít nhất 12 đời liên tiếp virus mới thích nghi
Qua nhiều lần cấy truyền virus trên phôi vịt, phôi gà độc lực của virus sẽ giảm dần với vịt Người ta sử dụng những chủng virus nhược độc này qua phôi
gà, phôi vịt để chế tạo vacxin
* Nuôi cấy trên tế bào
Virus dịch tả vịt có thể nuôi cấy trên môi trường tế bào phôi vịt, phôi gà một lớp và gây ra biến đổi bệnh lý cho tế bào (Jansen, 1968) Theo Ronald Atlanasio thì không quan sát thấy biến đổi bệnh lý tế bào khi nuôi cấy virus trên tế bào thận lợn dòng PK 15, tế bào WI-38, RD Hela, Hep-2, Vero, LleMK, BGM và BD (Trần Minh Châu, 1987)
Ở Việt Nam, khi nghiên cứu nuôi cấy virus cường độc trên tế bào xơ phôi
Trang 24vịt, sau 36 giờ có hiện tượng tế bào co tròn lại, thoái hoá và rụng khỏi thành bình tạo thành khoảng trống, xung quanh là những hợp bào (synciticum) như những dải đăng ten Lớp tế bào này sẽ bị phá huỷ hoàn toàn vào ngày thứ 4 Trong các bình nuôi cấy virus ở nồng độ loãng, có thể phát hiện được Plague (những ổ tế bào bị virus gây thoái hoá) bằng cách nhuộm lớp tế bào với dung dịch fushin kiềm hoặc đỏ trung tính hoặc tím kết tinh (Nguyễn Lân Dũng, 1972) Nếu nhuộm bằng fushin kiềm trong vài giây, sẽ quan sát thấy Plague hiện ra trên nền đỏ, hình tròn, bờ không gọn và có đường kính 1 - 2 mm (Trần Minh Châu, 1987)
Theo Dardini và Hess (1968) Plague của virus dịch tả vịt cường độc hình tròn, to nhỏ không đều, có đường kính từ 1 - 8 mm Plague của virus dịch
tả vịt nhược độc thì đều hơn, có bờ gọn và sáng, đường kính là 3 - 4 mm Nguyễn Như Thanh (2001) mô tả, với các chủng virus nhược độc, Plague đều, gọn và sáng rõ, ở ngày thứ 3 có đường kính 3 mm, sau 6 ngày là 4 - 7 mm và sau 14 ngày sẽ là 10 mm
Sự xuất hiện Plague trên các môi trường nuôi cấy khác nhau là khác nhau Virus cường độc thì nhân lên và hình thành các Plague đẹp theo thứ tự các môi trường sau: tế bào xơ phôi ngan và uyên ương, xơ phôi vịt Bắc Kinh, vịt đen, vịt đầu đỏ; còn Plague trên tế bào xơ phôi vịt mốc và vịt bãi là kém nhất Virus dịch tả vịt nhược độc của Hà Lan lại có thứ tự các môi trường thích hợp khác: tế bào xơ phôi vịt Bắc Kinh, tế bào xơ phôi gà, trĩ Mông Cổ, cun cút (Ronald Atlanasio, Robert Olson, James C Johnson, 1980) (Trần Minh Châu, 1987) Đối với virus nhược độc chủng Jansen, virus rất thích ứng trên môi trường tế bào xơ phôi gà Chỉ sau 24 giờ nuôi cấy virus, tế bào đã bắt đầu có hiện tượng huỷ hoại Tế bào bị biến dạng, co tròn, phình to ra, tập trung thành từng đám và có thể nhìn rõ dưới kính hiển vi quang học (Nghiên cứu của bộ môn VSV-TN trường ĐHNN Hà Nội)
* Nuôi cấy trên động vật cảm thụ
Có thể dùng vịt con 1 ngày tuổi để nuôi cấy virus 3 - 12 ngày sau vịt chết với triệu chứng, bệnh tích điển hình của bệnh Ngoài vịt con có thể dùng ngan
con ngỗng con, gà con mới nở để gây bệnh
2.2.5 Miễn dịch chống virus dịch tả vịt
Khả năng đáp ứng miễn dịch không đặc hiệu của vịt đối với virus dịch tả
vịt thể hiện bằng sự sản sinh các chất miễn dịch không đặc hiệu, bao gồm:
Interferon, Tế bào NK và các loại bổ thể có vai trò khởi phát viêm và opsonin
Trang 25hoá các yếu tố gây bệnh Từ đó tạo điều kiện cho các tế bào thực bào bắt nuốt, tiêu diệt và trình diện kháng nguyên
Sự hình thành kháng thể kháng virus dịch tả vịt
Miễn dịch chủ động tự nhiên
Sau khi vịt mắc bệnh dịch tả vịt và đã khỏi bệnh thì vịt sẽ có kháng thể kháng virus dịch tả vịt trong cơ thể Theo kết quả nghiên cứu của một số tác giả thì vịt khỏi bệnh có thể bị mắc trở lại Bệnh tái phát thường ở thể ẩn, không có triệu chứng rõ Nếu khám vịt ốm, chỉ thấy bên dưới lưỡi có nốt rộp, từ nốt rộp có tác giả đã phân lập được virus dịch tả vịt
Miễn dịch chủ động nhân tạo
Vịt có được khả năng miễn dịch này nhờ được tiêm văc xin Hiệu lực và
độ dài đáp ứng miễn dịch phụ thuộc vào nhiều yếu tố như loại văc xin, đường đưa văc xin vào cơ thể, Trên thực tế, khả năng đáp ứng miễn dịch của đàn vịt khi sử dụng văc xin dịch tả vịt vô hoạt thấp hơn khi dùng văc xin nhược độc Việc tiêm nhắc lại nhiều lần hoặc tiêm nhắc lại với số lượng lớn kháng nguyên làm sản sinh ra một lượng kháng thể lớn hơn Trần Minh Châu, Lê Thị Thiện (1986)
Miễn dịch bị động tự nhiên
Kháng thể của vịt mẹ được truyền cho vịt con qua lòng đỏ trứng Ở những vịt con một ngày tuổi, hàm lượng kháng thể dịch tả vịt trong máu xấp xỉ bằng hàm lượng kháng thể trong lòng đỏ Theo thời gian, hàm lượng kháng thể sẽ giảm dần và chỉ tồn tại ở vịt con tối đa là tới ngày 21 Dù vịt con có được hưởng kháng thể từ vịt
mẹ, nhưng nếu bị nhiễm nhiều virus thì vẫn có thể bị chết vì bệnh dịch tả vịt Như vậy, kháng thể do vịt mẹ truyền cho chỉ bảo vệ được vịt con trong những ngày đầu sau khi nở nếu chúng bị nhiễm một lượng virus rất ít
Miễn dịch bị động nhân tạo
Là trường hợp can thiệp vào đàn vịt (đã bị mắc bệnh dịch tả vịt tự nhiên) bằng kháng thể dịch tả vịt Tuy nhiên, việc tạo miễn dịch dạng này không tồn tại lâu trong cơ thể và cũng không mang lại nhiều ý nghĩa trong thực tiễn
2.3 BỆNH DỊCH TẢ VỊT
Dịch tả vịt (Pestisanatum) là một bệnh truyền nhiễm cấp tính, có tính lây lan mạnh của loài thuỷ cầm do một loại Herpesvirus thuộc họ Herpesvirideae gây ra với đặc điểm là xuất huyết nội tạng và ỉa chảy nặng nề (Nguyễn Như Thanh, 2001)
Trang 26Loài mắc bệnh
Bệnh dịch tả vịt là bệnh của nhiều loài vịt: vịt trời, vịt mỏ nhọn, vịt đầu đỏ… Các loài thuỷ cầm khác như ngan, ngỗng, thiên nga và một số loài chim hoang dã cũng cảm nhiễm bệnh (Friend, 1973) Vịt là loài cảm nhiễm nhất, các giống vịt ở mọi lứa tuổi đều có thể mắc bệnh Tỷ lệ vịt mắc bệnh và chết có thể lên tới 100% Mức độ cảm nhiễm có thể khác nhau tùy theo giống vịt Loài vịt nhọn đuôi được coi là ít cảm nhiễm nhất đối với bệnh Các động vật khác như bồ câu, công và động vật có vú không cảm thụ với bệnh
Kaleta EF., et al (2007) cho biết tại vụ dịch ở châu Âu vào năm 2005,
ngoài 34 loài thuộc bộ Anseriformes còn có thêm 14 loài thuỷ cầm cảm nhiễm với bệnh dịch tả vịt
Trong phòng thí nghiệm, vịt con là động vật thí nghiệm cảm nhiễm nhất đối với bệnh Virus dịch tả vịt có khả năng nhân lên ở gà nhỏ hơn 2 tuần tuổi (Jansen, 1968)
2.3.1 Truyền nhiễm học
Mùa vụ phát bệnh
Bệnh dịch tả vịt xảy ra nhiều nhất vào tháng 4 - 6 Sự bùng nổ dịch bệnh phụ thuộc vào điều kiện thời tiết, mùa sinh sản của vịt và ảnh hưởng của nhân tố stress Theo Phạm Sỹ Lăng (2002), ở Việt Nam, bệnh dịch tả vịt xảy ra quanh năm nhưng phát triển mạnh vào thời vụ chăn nuôi vịt và trùng với thời vụ thu hoạch lúa: Vụ chiêm tháng 5 - 6, vụ mùa tháng 10 - 11
Lứa tuổi mắc bệnh
Bệnh xảy ra ở vịt mọi lứa tuổi, tuy nhiên vịt từ 15 ngày tuổi trở đi bị nhiễm nhiều nhất (Nguyễn Xuân Bình, 2006)
Chất chứa virus
Ở vịt bị nhiễm bệnh, virus có trong máu, các cơ quan phủ tạng, nhiều nhất là
ở gan, lách và óc Tại Việt Nam đã nghiên cứu sự nhân lên của virus ở cơ thể vịt bị gây nhiễm nhân tạo Sau khi gây nhiễm virus 24 giờ, virus đã nhân lên, xâm nhập vào máu nhưng số lượng còn ít Đến 48 giờ, virus đã xuất hiện trong nước mắt, nước mũi Và đến 72 giờ, khi vịt bị bệnh nặng, bắt đầu ỉa chảy thì tế bào niêm mạc đường tiêu hoá do tác động của virus bị huỷ hoại, tróc ra cùng với dịch tiết có nhiều virus, theo phân bài xuất ra ngoài (Trần Minh Châu, 1987) Vịt bệnh mang virus rất lâu và
Trang 27có thể tái phát bệnh ở thể ẩn tính Người ta có thể phát hiện bệnh bằng kiểm tra nốt rộp ở mặt dưới của lưỡi vịt
Shawky S., Schat K.A (2002) cho biết virus dịch tả vịt có thể tiềm tàng trong cơ thể vịt và có khả năng tái hoạt động trở lại Sau 3 tuần gây nhiễm không tìm thấy virus dịch tả vịt trong lỗ huyệt nhưng 7 - 9 tuần sau gây nhiễm, bằng phản ứng PCR, tác giả đã phát hiện thấy DNA virus dịch tả vịt trong thần kinh trung ương, hạch lâm ba ngoại vi, lách, tuyến ức và túi Bursa
Đường xâm nhập và cách lây lan
Trong thí nghiệm, có thể gây bệnh bằng cách tiêm dưới da, bắp thịt, tiêm tĩnh mạch hoặc nhỏ mũi
Trong tự nhiên, đường xâm nhập chủ yếu của virus dịch tả vịt là đường tiêu hoá Vịt bệnh bài xuất căn bệnh theo phân, nước mắt, nước mũi làm ô nhiễm thức ăn nước uống và bệnh lây lan sang vịt khoẻ và các động vật cảm nhiễm khác Jansen (1964) cho biết, nguồn nước và các động vật thuỷ sinh trong đó cũng đóng vai trò nhất định trong việc truyền lây căn bệnh Khi dịch xảy ra, việc bán chạy vịt bệnh, mổ thịt vịt ốm đều làm cho bệnh lan đi rất nhanh và xa Bệnh lây lan rất nhanh và mạnh theo phương thức truyền lây gián tiếp nhưng phương thức truyền lây trực tiếp từ mẹ sang con cũng có thể xảy ra (Burgess E.C and TM Yuill, 1981)
2.3.2 Triệu chứng và bệnh tích
Triệu chứng
Thời gian nung bệnh đối với bệnh dịch tả vịt là 3 - 4 ngày, có thể dài hơn hoặc ngắn hơn phụ thuộc vào bệnh lần đầu tiên xảy ra hay đã từng xảy ra đối với đàn vịt
Ở đàn vịt con bệnh thường bắt đầu bằng những dấu hiệu: Nhiều con tự nhiên lờ đờ, không thích vận động, không muốn xuống nước Ở vịt lớn khi lùa ăn một số con rớt lại sau đàn Bắt xem thấy chân có dấu hiệu liệt, thân nhiệt cao Ở đàn vịt đẻ khi bệnh xuất hiện sản lượng trứng giảm xuống, có khi ngừng đẻ hẳn Vịt bệnh thường ủ rũ, bỏ ăn, đứng một chân, đầu rúc vào cánh Trong đàn vịt nhiều con có tiếng kêu khản đặc Vịt thường sưng mi mắt, niêm mạc mắt đỏ Lúc đầu chảy nhiều nước mắt làm ướt cả vùng lông dưới mi mắt Sau nước mắt đặc lại có màu vàng như mủ đóng đầy khoé mắt và có khi làm 2 mi mắt dính lại với nhau Vịt bệnh có khi khó thở, tiếng thở khò khè Từ mũi chảy ra chất niêm dịch lúc đầu
Trang 28trong, sau đặc lại Nước mũi khô, quánh lại quanh khoé mũi Nhiều con đầu sưng
to, sờ nắn có cảm giác đầu mềm như quả chuối chín Hầu, cổ cũng có thể sưng do
tổ chức liên kết dưới da bị phù thũng Lúc mới bị bệnh, vịt khát nên uống nhiều nước Sau vài ngày vịt ỉa chảy, phân rất loãng, có mùi khắm và có màu trắng xanh Hậu môn bẩn, lông dính bết đầy phân (Nguyễn Như Thanh, 2001)
Ngoài ra, bệnh dịch tả vịt còn có một số triệu chứng khác đáng chú ý như: Vịt sợ ánh sáng, có biểu hiện thần kinh Vịt tì mỏ xuống đất Vịt đực bị sa dương vật, niêm mạc có những vết loét Vịt đẻ giảm sản lượng trứng mạnh (Phạm Quang Hùng, 2003) Sau khi xuất hiện triệu chứng được 5 - 6 ngày, vịt bệnh gầy rạc, tứ chi liệt, nằm một chỗ, rũ cánh, thân nhiệt giảm dần rồi chết
Bệnh tích
Xác chết gầy, bẩn; da vùng đầu, cổ, ngực, bụng, đùi xuất huyết lấm tấm
Tổ chức liên kết dưới da vùng đầu, cổ thuỷ thũng, có dịch trong suốt hơi hồng hoặc hơi vàng Mổ khám các cơ quan nội tạng như gan, lách, thận, cơ tim thì thấy
ở các cơ quan này đều biểu hiện bệnh tích sưng, tụ huyết hoặc xuất huyết, ở gan
có những điểm hoại tử màu trắng đục, to bằng đầu đinh ghim hoặc to hơn (Trần Kim Anh, 2004)
Bệnh tích của bệnh dịch tả vịt đặc trưng là ở đường tiêu hoá có những chấm xuất huyết, nhiều nhất là ở cuống mề và trực tràng, bên trên phủ lớp màng giả khó bóc Ruột non xuất huyết thành những vòng nhẫn nhìn từ ngoài vào thấy
có màu nâu hoặc tím rất đặc trưng (Trần Minh Châu, 1996)
Phạm Quang Hùng (2003) cho biết ở mỗi lứa tuổi vịt, bệnh lại thể hiện những đặc trưng riêng: Vịt bố mẹ bệnh tích chủ yếu là ở tuyến ức, xuất huyết mô và tổn thương bộ máy sinh sản Còn ở vịt con thì bệnh tích chủ yếu ở các Lymphoid Nguyễn Đức Hiền (2005) công bố tỷ lệ bệnh tích đặc trưng trên vịt thực nghiệm, trong đó: Niêm mạc mắt xuất huyết (95,45%); phổi viêm, tụ máu, thuỷ thũng (95,45%); dạ dày tuyến xuất huyết (100%); ruột non xuất huyết viêm loét (100%); ruột già xuất huyết viêm loét (97,73%); lách tụ máu có nốt hoại tử và gan xuất huyết có nốt hoại tử (100%)
2.3.3 Chẩn đoán
Chẩn đoán lâm sàng
Kiểm tra một số đặc điểm dịch tễ học, bệnh sử và truyền lây của bệnh
Trang 29như: Bệnh xảy ra ở vịt, ngan, ngỗng mọi lứa tuổi; bệnh lây lan nhanh và trầm
trọng trong khoảng 2 - 3 ngày
Kiểm tra triệu chứng: Vịt giảm ăn, mất thăng bằng, ỉa phân loãng, xù lông Mắt vịt có dử, mí mắt sưng, sợ ánh sáng, chảy nước mũi
Kiểm tra bệnh tích: Vịt trưởng thành có hiện tượng gan bị bạc màu Con đực trưởng thành có thể xảy ra hiện tượng dương vật bị thay đổi vị trí Ở con cái quan sát thấy các nang trứng bị xuất huyết Mạch máu bị tổn thương, tổn thương
hệ bạch huyết, thoái hoá nhu mô, ống tiêu hoá có nhiều chất nhờn Đối với bệnh tích vi thể thấy xuất hiện các thể vùi nội nhân, thể vùi tế bào chất trong các biểu
mô của hệ thống tiêu hoá
Chẩn đoán phân biệt bệnh dịch tả vịt với một số bệnh sau:
- Bệnh viêm gan do virus: Bệnh chỉ tập trung ở vịt con từ 1 - 3 tuần tuổi Gan chủ yếu bị viêm, xuất huyết thành điểm, thành vệt, ít có hiện tượng hoại tử
- Bệnh tụ huyết trùng và phó thương hàn: Do Pasteurella và Salmonella gây nên Đây là những vi khuẩn thường trú trong cơ thể vịt, ngay cả ở vịt khoẻ Cho nên bệnh dịch tả vịt dễ ghép với hai bệnh này và gây khó khăn cho công việc chẩn đoán bệnh Tuy nhiên nếu là ổ dịch tụ huyết trùng hoặc phó thương hàn đơn thuần thì khi điều trị bằng kháng sinh đặc hiệu có thể nhanh chóng dập tắt dịch
- Ly tâm 2.000 vòng/15ph
- Lấy dịch trong ở trên
- Kiểm tra vô trùng: Trên môi trường nước thịt BHI, hoặc trên môi trường thạch máu
b Phân lập virus
* Phân lập trên vịt con
Tiêm huyễn dịch bệnh phẩm đã được xử lý như trên cho vịt con (0,7 - 1
Trang 30kg) với liều 0,5 ml/con vào dưới da hay bắp lườn Nếu bệnh phẩm có virus dịch
tả vịt, vịt sẽ biểu hiện triệu chứng, bệnh tích đặc trưng của bệnh dịch tả vịt giống như đã mô tả ở phần 2.1.3
* Phân lập trên trứng vịt có phôi
- Tiêm 0,2ml huyễn dịch bệnh phẩm đã xử lý vào xoang niệu mô hoặc màng nhung niệu phôi vịt 11 - 12 ngày: 5 phôi/mẫu bệnh phẩm
- Trứng được ấp tiếp ở tủ ấp 370C Soi trứng Loại bỏ những phôi chết trong khoảng 24h sau khi tiêm
- Virus dịch tả vịt gây chết phôi sau 4 - 10 ngày với đặc trưng: Xuất huyết lan rộng
- Thu hoạch gan phôi và nước niệu để giám định virus
* Phân lập trên tế bào xơ phôi vịt (Duck Embryo Fibroblast-DEF)
- Cấy tế bào DEF trên các lọ nuôi cấy T25 hoặc đĩa nuôi cấy (đĩa nuôi cấy
6 lỗ, 24 lỗ), sau 2 - 3 ngày tế bào mọc thành thảm (khoảng 70%) thì gây nhiễm huyễn dịch bệnh phẩm đã xử lý: 500µl/lỗ hoặc lọ Việc cấy chuyển 2 lần là cần thiết trong quá trình phân lập
- Quan sát bệnh tích tế bào (CPE-Cytopathic pathogene effect): đặc trưng với đám tế bào to, tròn và trở nên hoại tử sau 2 - 4 ngày sau đó
- Thu hoạch hỗn dịch tế bào, đông tan, ly tâm và thu phần nước trong cho giám định virus
c Phương pháp giám định virus
* Phương pháp trung hoà trên trứng vịt có phôi (VN-Virus Neutralization):
- Chuẩn bị:
+ Pha loãng virus phân lập: Nồng độ 10-1 - 10-9 với dung dịch PBS
+ Lô đối chứng dương: Trộn kháng huyết thanh dương tính dịch tả vịt với các nồng độ virus đã pha loãng theo tỷ lệ 1:1
+ Lô đối chứng âm: Trộn huyết thanh âm tính với các nồng độ virus đã pha loãng theo tỷ lệ 1:1
+ Ủ hỗn hợp trên ở nhiệt độ 370C/1h
- Tiến hành:
+ Tiêm hỗn hợp trên vào xoang niệu mô phôi trứng (0,2ml/phôi), 5
Trang 31* Phương pháp trung hoà trên tế bào xơ phôi vịt (DEF):
- Chuẩn bị:
+ Tế bào DEF trên đĩa nuôi cấy tế bào 96 lỗ đã nuôi cấy được 2 - 3 ngày + Pha loãng virus phân lập: Các nồng độ 10-1-10-9 với môi trường nuôi cấy MEM + Lô đối chứng dương: Trộn kháng huyết thanh dương tính dịch tả vịt với các nồng độ virus đã pha loãng theo tỷ lệ 1:1
+ Lô đối chứng âm: Trộn huyết thanh âm tính với các nồng độ virus đã pha loãng theo tỷ lệ 1:1
- Tiến hành:
+ Gây nhiễm hỗn hợp trên vào đĩa đã nuôi cấy tế bào DEF (đĩa 96 lỗ), 100µl/lỗ, 8 lỗ/nồng độ
+ Ủ đĩa nuôi cấy ở tủ ấm CO2 ở 370C/1h
+ Đổ bỏ hỗn hợp trên, cho môi trường nuôi cấy MEM 100µl/lỗ
+ Tiếp tục ủ đĩa nuôi cấy ở tủ ấm CO2 ở 370C
+ Kiểm tra bệnh lý tế bào (CPE) trong 3 - 7 ngày với biểu hiện tế bào co tròn và tụ lại thành đám, thời gian lâu tế bào có hiện tượng hoại tử
- Đánh giá kết quả:
+ Tính toán chỉ số trung hoà NI (neutralization index) Nếu thuỷ cầm chưa tiêm phòng, phát hiện có kháng thể dịch tả vịt (bằng phương pháp trung hoà S N), kết luận thủy cầm đã nhiễm virus dịch tả vịt
Chẩn đoán bằng phương pháp PCR
Kỹ thuật PCR có khả năng phat hiện ADN của virus dịch tả vịt có trong