HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM NGÔ THỊ HÀO NGHIÊN CỨU DỊCH TỄ BỆNH DO TRÙNG BÀO TỬ SỢI MYXOSPOREA SPP KÍ SINH TRÊN CÁ CHÉP CYPRINUS CAPRIO TẠI TỈNH HẢI DƯƠNG VÀ THỬ NGHIỆM THUỐC ĐIỀU TR
Trang 1HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM
NGÔ THỊ HÀO
NGHIÊN CỨU DỊCH TỄ BỆNH DO TRÙNG BÀO TỬ
SỢI (MYXOSPOREA SPP) KÍ SINH TRÊN CÁ CHÉP (CYPRINUS CAPRIO) TẠI TỈNH HẢI DƯƠNG VÀ
THỬ NGHIỆM THUỐC ĐIỀU TRỊ BỆNH TẠI CÁC
AO THUỘC TỈNH HẢI DƯƠNG
Người hướng dẫn khoa học: TS Trần Thị Đức Tám
PGS.TS Kim Văn Vạn
NHÀ XUẤT BẢN HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP - 2018
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi, các kết quả nghiên cứu được trình bày trong luận văn là trung thực, khách quan và chưa từng dùng để bảo
vệ lấy bất kỳ học vị nào
Tôi xin cam đoan rằng mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn đã được cám
ơn, các thông tin trích dẫn trong luận văn này đều được chỉ rõ nguồn gốc
Hà Nội, ngày 20 tháng 9 năm 2018
Tác giả luận văn
Ngô Thị Hào
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Trong suốt thời gian học tập, nghiên cứu và hoàn thành luận văn, tôi đã nhận được
sự hướng dẫn, chỉ bảo tận tình của các thầy cô giáo, sự giúp đỡ, động viên của bạn bè, đồng nghiệp và gia đình
Nhân dịp hoàn thành luận văn, cho phép tôi được bày tỏ lòng kính trọng và biết
ơn sâu sắc TS Trần Thị Đức Tám đã tận tình hướng dẫn, dành nhiều công sức, thời
gian và tạo điều kiện cho tôi trong suốt quá trình học tập và thực hiện đề tài
Tôi cũng xin gửi lời cảm ơn PGS.TS Kim Văn Vạn đã giúp đỡ tôi trong quá trình làm luận văn tốt nghiệp
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành tới Ban Giám đốc, Ban Quản lý đào tạo, Bộ môn Tổ chức – Giải phẫu – Phôi thai, Khoa Thú y - Học viện Nông nghiệp Việt Nam đã tận tình giúp đỡ tôi trong quá trình học tập, thực hiện đề tài và hoàn thành luận văn
Cảm ơn tới các bác, các cô, các chú nuôi cá tại các huyện Bình Giang, Cẩm Giàng, Ninh Giang, Thanh Miện nơi tôi thực hiện khóa luận tốt nghiệp
Cảm ơn Phòng Nông Nghiệp và Phát triển nông thôn, Chi cục thống kê của các huyện Bình Giang, Cẩm Giàng, Ninh Giang, Thanh Miện đã cung cấp số liệu cho tôi trong quá trình làm báo cáo khóa luận
Xin chân thành cảm ơn gia đình, người thân, bạn bè, đồng nghiệp đã tạo mọi điều kiện thuận lợi và giúp đỡ tôi về mọi mặt, động viên khuyến khích tôi hoàn thành luận văn./
Hà Nội, ngày 20 tháng 9 năm 2018
Tác giả luận văn
Ngô Thị Hào
Trang 4MỤC LỤC
Lời cam đoan Error! Bookmark not defined
Lời cảm ơn ii
Mục lục iii
Danh mục chữ viết tắt v
Danh mục bảng vi
Danh mục hình vii
Trích yếu luận văn viii
Thesis abstract x
Phần 1 Mở đầu 1
1.1 Đặt vấn đề 1
1.2 Mục tiêu nghiên cứu 2
1.3 Phạm vi nghiên cứu 2
1.4 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn 2
Phần 2 Tổng quan tài liệu 3
2.1 Tổng quan về bệnh trùng bào tử sợi (Myxosporea spp.) 3
2.1.1 Tác nhân gây bệnh 3
2.1.2 Dấu hiệu bệnh lý 4
2.2 Tình hình nghiên cứu về trùng bào tử sợi (Myxosporea spp) ở cá trên thế giới và Việt Nam 5
2.2.1 Tình hình nghiên cứu về trùng bào tử sợi trên thế giới 5
2.2.2 Tình hình nghiên cứu về trùng bào tử sợi (Myxosporea) ở Việt Nam 6
2.3 Tình hình nghiên cứu kst ở cá chép trên thế giới và Việt Nam 6
2.3.1 Tình hình nghiên cứu KST ở cá chép trên thế giới 6
2.3.2 Tình hình nghiên cứu KST trên cá chép tại Việt Nam 7
2.4 Tổng quan về cá chép và tình hình nuôi cá chép tại tỉnh Hải Dương 10
2.4.1 Đặc điểm của Cá Chép 10
2.4.2 Tổng quan về tỉnh Hải Dương 14
2.5 Thuốc và hóa chất dùng trong nuôi trồng thủy sản 18
2.5.1 Các thuốc khử trùng 18
2.5.2 Các loại thuốc điều trị kí sinh trùng 20
Phần 3 Vật liệu và phương pháp nghiên cứu 24
Trang 53.1 Địa điểm nghiên cứu 24
3.2 Thời gian nghiên cứu 24
3.3 Đối tượng/vật liệu nghiên 24
3.3.1 Đối tượng nghiên cứu 24
3.3.2 Vật liệu nghiên cứu 24
3.4 Nội dung nghiên cứu 24
3.5 Phương pháp nghiên cứu 25
3.5.1 Phương pháp thu mẫu và mổ khám Cá Chép 25
3.5.2 Phương pháp nghiên cứu hình thái của trùng bào tử sợi 26
3.5.3 Phương pháp nghiên cứu triệu chứng và bệnh tích 27
3.5.4 Phương pháp nghiên cứu dịch tễ bệnh do Trùng bào tử sợi gây ra trên cá Chép (Cyprinus Caprio) 27
3.5.5 Phương pháp điều trị thử nghiệm bệnh cho Cá Chép bị bệnh Trùng bào tử sợi tại các ao 28
Phần 4 Kết quả và thảo luận 29
4.1 Đặc điểm dịch tễ bệnh trùng bào tử sợi kí sinh ở cá chép 29
4.1.1 Tình hình bệnh do trùng bào tử sợi kí sinh trong ruột của cá chép 29
4.1.2 Bệnh Trùng bào tử sợi kí sinh trên cá chép 34
4.2 Kết quả nghiên cứu bào tử của trùng bào tử sợi trên cá chép 40
4.2.1 Hình thái và kích thước bào tử của trùng bào tử sợi kí sinh trên cá chép 40
4.2.2 Mô bệnh học của mang cá chép nhiễm trùng bào tử sợi 45
4.3 Kết quả thử nghiệm thuốc điều trị bệnh trùng bào tử sợi kí sinh trên cá chép 45 Phần 5 Kết luận và kiến nghị 48
5.1 Kết luận 48
5.1.1 Dịch tễ học bệnh do Trùng bào tử sợi 48
5.1.2 Triệu chứng, bệnh tích bệnh do Trùng bào tử sợi 48
5.1.3 Mầm bệnh Trùng bào tử sợi 49
5.1.4 Hiệu quả điều trị thử nghiệm 4 loại thuốc NOVA-PARASITE, HAN-DERTIL B, FASIO-PHARM, PRAZIQUANTEL 49
5.2 Kiến nghị 49
Tài liệu tham khảo 51
Phụ lục 55
Trang 6DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
Chữ viết tắt Nghĩa tiếng Việt
ATS Ấu trùng sán ATSL Ấu trùng sán lá ĐVTS Động vật thủy sản KTS Kí sinh trùng HTX Hợp tác xã
NTTS Nuôi trồng thủy sản TBTS Trùng bào tử sợi
Trang 7DANH MỤC BẢNG
Bảng 2.1 Diện tích, sản lượng NTTS của tỉnh Hải Dương giai đoạn 2010-2015 15
Bảng 2.2 Diện tích và sản lượng NTTS của huyện Bình Giang giai đoạn 2010-2016 16
Bảng 2.3 Diện tích và sản lượng NTTS của huyện Cẩm Giàng giai đoạn 2010-2016 17 Bảng 2.4 Diện tích và sản lượng NTTS của huyện Ninh Giang, giai đoạn 2011-2015 17
Bảng 2.5 Diện tích và sản lượng NTTS của huyện Thanh Miện, giai đoạn 2010-2015 18
Bảng 3.1 Số lượng ao được khảo sát tại 4 huyện của tỉnh Hải Dương 28
Bảng 3.2 Các phác đồ điều trị thử nghiệm bệnh do TBTS 28
Bảng 4.1 Diện tích và hình thức nuôi của các ao các huyện 29
Bảng 4.2 Tỉ lệ của các loài cá nuôi trong ao 29
Bảng 4.3 Số ao có cá chép bị bệnh TBTS kí sinh trong ruột 30
Bảng 4.4 Diễn biến thời gian diễn ra bệnh TBTS kí sinh ở ruột cá chép 30
Bảng 4.5 Trọng lượng cá chết do bị bệnh TBTS 31
Bảng 4.6 Ảnh hưởng của thời gian đưa vào sử dụng của các ao đến sự xuất hiện bệnh TBTS 31
Bảng 4.7 Ảnh hưởng của nguồn nước cấp đến sự xuất hiện của bệnh 32
Bảng 4.8 Ảnh hưởng của yếu tố nguy cơ đến sự xuất hiện bệnh TBTS 33
Bảng 4.9 Sự xuất hiện bệnh trên các loài cá khác 33
Bảng 4.10 Triệu chứng của cá chép bị TBTS 34
Bảng 4.11 Bệnh tích của cá chép bị bệnh do TBTS 36
Bảng 4.12 Số lượng và kích thước bào nang trong ruột của cá Chép bị bệnh 39
Bảng 4.13 Sự xuất hiện bệnh trên các loài cá khác 40
Bảng 4.14 Kích thước bào tử của TBTS kí sinh trong ruột cá chép 41
Bảng 4.15 Kích thước bào tử của loài Thelohanellus kitauei 42
Bảng 4.16 Kích thước của bào tử TBTS kí sinh ở mang cá Chép 44
Bảng 4.17 Công tác phòng bệnh TBTS của người nuôi tại các ao 46
Bảng 4.18 Công tácđiều trị bệnh của người nuôi tại các ao bị bệnh TBTS 46
Bảng 4.19 Kết quả điều trị thử nghiệm của các phác đồ 47
Trang 8DANH MỤC HÌNH
Hình 2.1 Thelohanellus kitauei 3
Hình 2.2 Cá chép (Cyprinus carprio) 10
Hình 2.3 Phân bố của cá Chép (Cyprinus caprio) trên thế giới 11
Hình 2.1 Tỉnh Hải Dương 14
Hình 2.5 Triclabendazole 20
Hình 2.6 Albendazole 21
Hình 4.1 Cá chép bị bệnhTBTS, bụng trướng to, bong vảy phần bụng 35
Hình 4.2 Hậu môn cá chép bị bệnh do TBTS 35
Hình 4.3 Cá chép bị bệnhTBTS khi đã chết 36
Hình 4.4 Ruột cá Chép bị bệnh TBTS 37
Hình 4.5 Bào nang của TBTS 37
Hình 4.6 Dịch nhày trong ruột cá chép bị bệnhTBTS 38
Hình 4.7 Ruột cá chép bệnhTBTS bị vỡ 38
Hình 4.8 Bào tử của TBTS kí sinh ở ruột cá chép (1000X) 40
Hình 4.9 Bào tử cuả TBTS kí sinh trong ruột cá chép 41
Hình 4.10 Bào tử của Thelohanellus kitauei 42
Hình 4.11 Bào tử TBTS kí sinh ở mang cá Chép (1000X) 43
Hình 4.12 Bào tử TBTS kí sinh ở mang cá chép giống cấp 1 (50g/con) 43
Hình 4.13 Sự khác biệt giữa hình thái và kích thước của 2 loài TBTS kí sinh ở cá chép 44
Hình 4.14 Mô mang cá Chép bị bệnhTBTS 45
Trang 9TRÍCH YẾU LUẬN VĂN
Tên tác giả: Ngô Thị Hào
Tên luận văn: “Nghiên cứu dịch tễ bệnh do trùng bào tử sợi (Myxosporea spp) kí sinh
trên cá Chép (Cyprinus caprio) tại tỉnh Hải Dương và thử nghiệm thuốc điều trị bệnh tại
các ao thuộc tỉnh Hải Dương.”
Chỉ ra được sự khác biệt giữa hình dạng và kích thước bào tử của TBTS kí sinh
ở ruột của cá Chép thương phẩm và TBTS kí sinh ở mang cá Chép giống cấp 1
Từ việc thử nghiệm các thuốc điều trị, đưa ra được loại thuốc điều trị và biện pháp điều trị có hiệu quả
Phương pháp nghiên cứu :
Những phương pháp chủ yếu đã sử dụng bao gồm : phương pháp thu thập thông tin, phương pháp chẩn đoán lâm sàng, phương pháp dịch tễ học mô tả, phương pháp dịch tễ học phân tích, phương pháp chia nhóm thử nghiệm một số phác đồ điều trị
Kết quả chính và kết luận :
1 Triệu chứng điển hình khi cá bị bệnh gồm có: Cá nổi vật vờ trên mặt nước, hay dạt vào rìa bờ; bụng trướng to chiếm tỉ lệ 100% số cá được kiểm tra và cá có biểu hiện quẫy mạnh, nhảy khỏi mặt nước chiếm 88,57% Ngoài ra một số triệu chứng khác như: khi cá chết cơ thể vẫn dựng như đang bơi chiếm 37,14%; bong vảy bụng chiếm 20%, lỗ hậu môn giãn rộng chiếm 14,29%
2 Biểu hiện về bệnh tích điển hình khi cá bị bệnh bao gồm: Thành ruột mỏng; bên trong ruột có chứa các bào nang màu trắng đục hoặc trắng sữa, kích thước to bằng hạt đỗ, hạt đậu hoặc hạt mít; các cơ quan nội tạng khác bị sưng hoặc bị phá hủy chiếm tỉ
lệ 100% số cá được kiểm tra Trong ruột chứa dịch nhày dạng thạch trong suốt hoặc vàng ngạt chiếm 82,86% số cá được kiểm tra
3 Ngoài ra, còn có bệnh tích khác: cá chép bị vỡ ruột, tỉ lệ này không cao, chỉ đạt 8,57% số cá được kiểm tra
4 Kết quả của mổ khám và đếm số lượng bào nang có trong ruột của cá chép, số lượng bào nang lớn nhất trong ruột cá lên tới 92 bào nang và nhỏ nhất là 7 Trung bình trong ruột của 1 con cá chép bị bệnh có 16,74 13,99 bào nang
Trang 105 Kết quả thu được khi đo kích thước của 30 bào nang, chiều dài lớn nhất của bào nang có thể đạt được là 5,3 cm; nhỏ nhất là 0,4cm Chiều rộng lớn nhất của bào nang là 3,7 cm và nhỏ nhất là 0,3 cm Kích thước trung bình của 1 bào nang có chiều dài là 2,65 1,39 cm và chiều rộng là 2,04 0,87cm
6 Kích thước và hình thái của bào tử TBTS kí sinh trong ruột và mang cá chép
có sự khác biệt Kích thước bào tử của TBTS kí sinh trong ruột cá chép thương phẩm lớn hơn bào tử của TBTS kí sinh ở mang cá chép giống cấp 1
7 Qua điều trị thử nghiệm 15 ao với 4 phác đồ, cho thấy phác đồ sử dụng Praziquantel không đem lại hiệu quả
Trang 11THESIS ABSTRACT
Master candidate: Ngo Thi Hao
Thesis title: “Research on some epidemiological characteristics of Myxosporea spp
parasitizes on Cyprinus carpio in Hai Duong province and test drug treatment in ponds
in Hai Duong province.”
Major: Veterinary Code: 8640101
Education organization: Vietnam National University of Agriculture (VNUA)
From the testing of the drug treatment, given the suggestion about the effective drugs and methods treatment
Research methods:
The main methods were used include data collection methods, clinical diagnostic methods, epidemiological description methods, analytic epidemiological methods, grouping method tests some treatment regimens
Research results and conclusion:
1 Symptoms typical of the diseased fish include: floating on the water, or drifted to shore; 100% of fish was examined showed a strong wave and 88.57% leapt out of the water surface In addition, some other symptoms such as: when the fish died the body look like still alive about 37.14%; abdominal scales fall out accounted for 20%, anal enlargement hole accounted for 14.29%
2 Typical lesions of diseased fish include: thin intestinal wall; inside the intestine contains white or opaque white cysts, the large size like beans, peas or
jackfruit; other organs are swollen or destroyed accounting for 100% of the fish
examined In the intestine contain clear or pale yellow jelly mucus accounted for 82.86% of the fish were examined
3 In addition, there are other lesions: Carps are broken intestines, the rate is not high, only 8.57% of the fish was tested
4 The results of surgical examination and counting of the number of cysts present
in the gut of the carp, the largest number of cysts in the stomach were 92 cysts and the
Trang 12smallest was 7 The average in the gut of a diseased carp about 16.74 ± 13.99 cysts
5 The results obtained when measuring the size of the 30 cysts, the maximum length of the cyst can be achieved is 5.3 cm and the smallest is 0.4cm The maximum width of the cyst is 3.7 cm and the smallest is 0.3 cm The average size of a cyst is 2.65
± 1.39 cm in length and 2.04 ± 0.87 cm in width
6 Size and shape of Myxosporea parasitizes in the gut and the gill carps are different The spore size of Myxosporea parasitizes in the gut of commercial carps is larger than and Myxosporea parasitizes in gill of level 1 breed carps
7 Through the trial treatment at 15 ponds with 4 regimens, concluded that Praziquantel regimen wasn’t effective
Trang 13PHẦN 1 MỞ ĐẦU
1.1 ĐẶT VẤN ĐỀ
Cá Chép (Cyprinus caprio) là một trong những loài cá được nuôi truyền
thống Với nhiều ưu điểm như: Dễ nuôi; ăn được nhiều loại thức ăn; chịu đựng được ngưỡng oxy hòa tan trong nước thấp; là loài rộng nhiệt, có thể chịu được nhiệt độ từ 0-40oC, hàm lượng chất dinh dưỡng trong thịt khá cao Cụ thể: trong
1 miếng fillet tươi (170g) có chứa: 275 calories; 38,87 g protein, 12,21g chất béo Trong thịt cá Chép còn chứa rất nhiều các nguyên tố đa lượng và vi lượng như:
Ca, Na, K, Fe, Mg, Zn, Cu Ngoài ra, nó còn là nguồn cung cấp vitamin dồi dào, với các vitamin như: các vitamin nhóm B (B1, B2, B3, B5, B6, B9, B12), các vitamin tan trong dầu (A,D,K,E) (Lợi ích của cá chép và thông tin dinh dưỡng,
Lợi ích sức khỏe)
Với những ưu điểm nêu trên, cá Chép đang được nuôi phổ biến tại nhiều vùng miền Theo nghiên cứu gần đây, cá Chép là loài nuôi chiếm ưu thế, chiếm
30,1% số lượng cá trong những ao nuôi ghép (Austin et al., 2007)
Tuy nhiên, bệnh trên cá Chép lại khá nhiều, gây khó khăn cho người nuôi
Trong đó phải kể đến bệnh do Trùng bào tử sợi (Myxosporea spp.), bệnh gây
thiệt hại khá lớn
Trên thế giới, bệnh do Myxosporae spp là một trong những loài ký sinh
trùng gây nhiều thiệt hại cho ngành thủy sản thế giới (Lom and Dykova, 2006)
Ở Việt Nam, Cá Chép kính Hungari nhập nội ở giai đoạn cá hương, cá giống thường mắc bệnh Bào tử sợi với tỷ lệ nhiễm cao (có trường hợp tới 96%), cường độ nhiễm rất cao, bào nang bám đầy ở các cung mang, làm kênh mang,
cá không khép nổi nắp mang (Bùi Quang Tề và cs., 1985)
Từ năm 1975 – 1984, Myxobolosis, Thelohanellosis thường xuyên gây
bệnh cho cá Chép Hungari nhập nội ở Viện Nghiên cứu Nuôi trồng thủy sản 1, trại cá Lạng Giang – Bắc Giang, trại cá Tiền Phong – Quảng Ninh, bệnh làm kênh nắp mang của cá Chép giống và gây chết hàng loạt (Bùi Quang Tề, 2001)
Do tính chất nguy hiểm và những thiệt hại bệnh gây ra, tôi quyết định
chọn đề tài: “Nghiên cứu dịch tễ bệnh do trùng bào tử sợi (Myxosporea spp.)
kí sinh trên cá Chép (Cyprinus caprio) tại tỉnh Hải Dương và thử nghiệm
thuốc điều trị bệnh tại các ao thuộc tỉnh Hải Dương ”
Trang 141.2 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU
Xác định được đặc điểm dịch tễ của bệnh do Trùng bào tử sợi (TBTS) gây
ra trên cá Chép tại địa bàn tỉnh Hải Dương
Xác định được loại thuốc điều trị và biện pháp điều trị có hiệu quả
1.3 PHẠM VI NGHIÊN CỨU
Điều tra tình hình bệnh do TBTS gây ra trên cá Chép tại tỉnh Hải Dương,
và cụ thể là ở 4 huyện: Bình Giang, Cẩm Giàng, Ninh Giang, Thanh Miện trên hệ thống nuôi ghép
Tiến hành xác định hình thái và kích thước bào tử của loài TBTS kí sinh ở ruột và mang
Điều trị thử nghiệm tại một số ao bị bệnh bằng 4 loại thuốc: Parasite, HAN-DERTIL B, FASIO-PHARM, PRAZIQUANTEL
NOVA-1.4 Ý NGHĨA KHOA HỌC VÀ THỰC TIỄN
Đề tài có ý nghĩa trong việc nêu ra những dấu hiệu bệnh lý điển hình về bệnh do TBTS gây ra trên cá Chép giúp người dân bước đầu nhận biết về bệnh Tìm ra các yếu tố nguy cơ có liên quan đến bệnh, từ đó loại bỏ các yếu tố nguy
cơ để giảm thiểu tình trạng mắc bệnh
Trong nghiên cứu này có thử nghiệm thuốc điều trị,từ đó tìm ra loại thuốc hiệu quả trong điều trị bệnh Điều này mang lại giá trị thực tiễn trong công tác phòng và chữa bệnh TBTS
Trang 15PHẦN 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU
2.1 TỔNG QUAN VỀ BỆNH TRÙNG BÀO TỬ SỢI (MYXOSPOREA SPP.)
Bào tử Myxosporea spp có cấu tạo gồm: các mảnh vỏ, các cực nang có
chứa sợi thích ty, phần nguyên sinh chất có chứa các nhân và không bào, bào tử rất đa dạng về kích thước và hình dạng Tùy theo loài mà một bào tử có cấu tạo
từ 2 đến 7 mảnh vỏ dính nhau ở đường nối, 1 đến 7 cực nang và nhân gồm một nhân đôi hay hai nhân đơn trong nguyên sinh chất Ngoài ra, một số loài trong nguyên sinh chất còn có không bào ưa iod chứa β_glycogen (Lom and Dyková, 1992) TBTS ký sinh trên cả động vật không xương sống và có xương sống bậc thấp như cá, bò sát, lưỡng cư, cũng có thể gặp ở chim, thú và người (Lom and Dyková, 2006)
Vòng đời của Myxosporea spp trải qua các vật chủ khác nhau, theo Wolf
và Markiw (1984) vòng đời của Myxosporea spp xảy ra trên hai ký chủ chia làm
Trang 162 giai đoạn là myxospore và actinospore Giai đoạn Myxospore xảy ra ở ký chủ trung gian là động vật có xương sống bậc thấp như cá, giai đoạn Actinospore ký
sinh ở động vật không xương sống thường là giun nhiều tơ nhằm phục vụ cho sự sinh sản hữu tính Giai đoạn ký sinh trong cá có thể tồn tại trong cơ thể vật chủ dưới dạng hợp bào, có thể là giả hợp bào (thể dinh dưỡng) hay bào nang, đặc trưng của giai đoạn này là trạng thái tế bào trong tế bào, khi những tế bào con
được sinh sản nội sinh vẫn còn tồn tại trong tế bào mẹ
Ở cá, chúng ký sinh trong xoang cơ thể hay ký sinh trong các mô Những loài
ký sinh trong xoang cơ thể thường ở trạng thái bám vào biểu mô hay trôi nổi trong dịch của các xoang cơ thể như mật, ống dẫn mật Những loài ký sinh trong mô có thể ký sinh trong hay ngoài tế bào ở nhiều mô khác nhau, thường tạo ra các dạng
bào nang ký sinh ở mang, da có kích thước lớn dễ quan sát bằng mắt thường
Myxosporea spp ký sinh trong cơ thể vật chủ, lấy dinh dưỡng bằng thẩm
thấu và vận chuyển chủ động các chất dinh dưỡng, với dạng bào nang có hoạt động ẩm bào cao, là những sinh vật kỵ khí bắt buộc hoặc hiếu khí bắt buộc (Lom
and Dyková, 1992)
Khi kí sinh vào cơ thể vật chủ, các thể dinh dưỡng lấy chất dinh dưỡng để phát triển, sau đó hoặc chúng phân phối các bào tử trưởng thành vào trong các cơ
quan vật chủ hoặc ra ngoài môi trường trở thành bào nang và hủy hoại vật chủ
Khi một bào tử trong môi trường nước, chúng sẽ xâm nhập trở lại cá hay xâm nhập vào ký chủ cuối cùng, có thể xâm nhập trực tiếp qua da, mang, vây cá khỏe, hay nhiễm vào ruột khi có trong thức ăn của cá Khi tiếp xúc với cơ thể cá, bào tử bị kích thích bởi cơ thể cá, sẽ phóng sợi thích ty, cắm vào tổ chức cơ thể, hai mảnh vỏ tách ra, tế bào chất di chuyển, xâm nhập vào các tế bào tổ chức của
ký chủ, hoặc theo máu đến ký sinh ở các tế bào tổ chức của các cơ quan và dừng
lại ở đó lấy chất dinh dưỡng để sinh trưởng và phát triển Myxosporea spp tồn tại
lâu ngoài môi trường, bào tử có thể tồn tại trong nước lạnh với hình thái bình thường hơn một năm (Lom and Dyková, 1992)
2.1.2 Dấu hiệu bệnh lý
Cá hoạt động không bình thường
Với cá bị bệnh TBTS kí sinh ở ruột: Cá có khi quẫy mạnh nhảy vọt cả lên trên mặt nước, có khi bơi lờ đờ gần mặt nước, dạt gần bờ Bụng trướng to, vảy bụng có thể bong nếu kích cỡ bụng quá lớn Hậu môn giãn rộng hơn bình
Trang 17thường Thành ruột mỏng, căng, bên trong ruột cá có chứa các bào nang màu trắng sữa hoặc trắng đục, kích cỡ bằng hạt đỗ, hạt lạc hay thậm chí to bằng hạt mít Kèm theo đó là dịch nhày dạng thạch trong suốt hoặc vàng nhạt Khi số lượng bào nang trong ruột và dịch nhày nhiều có thể gây vỡ ruột, dịch và bào nang tràn ra ngoài xoang bụng Lúc này, cơ thịt phía trong bụng sẽ dần bị hoại tử Với cá bị bệnh TBTS kí sinh ở mang: Nắp mang bị kênh, không khép lại được, có các bào nang màu trắng sữa hoặc màu hồng nhạt bám trên các tơ mang, cung mang và có khi cả mặt trong xương nắp mang
2.2 TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VỀ TRÙNG BÀO TỬ SỢI
(MYXOSPOREA SPP) Ở CÁ TRÊN THẾ GIỚI VÀ VIỆT NAM
2.2.1 Tình hình nghiên cứu về trùng bào tử sợi trên thế giới
Nghiên cứu bệnh do Myxosporea spp trên thế giới đã có lịch sử dài, từ những khám phá đầu tiên về Myxosporea spp những năm 1980 bởi Jurine (1825),
đến nay các nhà khoa học đã phát hiện ra 2180 loài và nhiều loài mới còn đang được
nghiên cứu (Lom và Dyková, 2005) Những loài Myxosporea spp mới vẫn đang là
mối nguy đe dọa sự phát triển của nghề NTTS thế giới (Lom and Dyková, 2006)
Hiroshi Yokoyama et al (1997) đã nghiên cứu về kích thước bào tử và bào nang của loài Myxobolus koi
Dyková et al (2003) đã đưa ra dữ liệu về loài Myxobolus longisporus, nhiễm ở mang cá chép (Cyprinus carpio haematopterus), ở hồ của Trung Quốc
Kálmán MOLNÁR (2002) nghiên cứu về dấu hiệu bệnh lí và mô bệnh học
của ruột cá chép bị nhiễm Myxobolus cyprinicola
Jung Soo Seo et al (2012) nghiên cứu về phương pháp PCR và Real time
PCR trong việc phát hiện nhanh “bệnh bào nang khổng lồ” ở cá chép do loài
Thelohanellus kitauei gây ra bằng cách giải trình tự gen 18S rRNA
YE Lingtong et al (2016) đã nghiên cứu về bệnh do Thelohanellus kitauei gây ra trên cá chép gương và hình thái của Myxosporean từ tỉnh Tứ Xuyên, Tây
Nam Trung Quốc
Dandan Zhao et al (2016) đã nghiên cứu vòng đời của Thelohanellus
kitaueicó liên quan đến Branchiura sowerbyi
Cơ quan kiểm dịch động vật và thực vật của Hàn Quốc (Animal and Plant
Quarantine Agency) có đưa ra những hình ảnh của bệnh do Thelohanellus kitauei
gây ra trên cá chép
Trang 182.2.2 Tình hình nghiên cứu về trùng bào tử sợi (Myxosporea) ở Việt Nam
Trong cuốn ”Kí sinh trùng cá nước ngọt Việt Nam” của tác giả Hà Ký và Bùi Quang Tề (2007), cho thấy có đã phát hiện hơn 40 loài thuộc 6 giống trên cá nước ngọt Việt Nam, 2 tác giả đã mô tả đặc điểm về bào tử và bào nang của hơn
40 loài TBTS
Ví dụ hai loài Myxobolus koi và Myxobolus toyamai đã gây thành dịch
bệnh ở cá chép hương từ giai đoạn hương sang giống Khi ca nhiễm bệnh nặng (nhất cá là cá chép Hungari nhập nội) trong mang phát triển dày đặc các bào nang như những hạt tấm, mắt thường có thể thấy được Các không đóng nổi nắp mang Trong thời gian ngắn (2-7 ngày) cá chết hàng loạt Dịch bệnh đã xảy ra ở các ao ương nuôi cá tại trại cá Nhật Tân (Hà Nội), ao của viện Nghiên cứu NTTS
1, trại cá Lạng Giang ( Bắc Giang), trại cá Tiền Phong (Quảng Ninh)
Cá chép kính Hungari nhập nội ở giai đoạn cá giống thường bị bệnh TBTS
(Myxobolus koi, M toyamai ) tỷ lệ nhiễm tới 96%, cường độ nhiễm rất cao có
rất nhiều bào nang trên la men kiểm tra bào nang dày đặc trên cung mang làm cá khôngkhép nổi mang lại được (Bùi Quang Tề, 1984) Ở nhiệt độ nước 30-32oC đàn cá chép giống bị bệnh thường có tỷ lệ tử vong rất cao
Kim Văn Vạn (2014) nghiên cứu về phân biệt bệnh kênh mang cá chép do
ấu trùng sán lá Centrocestus formosanus và do thích bào tử trùng (Myxobolus sp.)
gây ra
2.3 TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU KST Ở CÁ CHÉP TRÊN THẾ GIỚI VÀ VIỆT NAM
2.3.1 Tình hình nghiên cứu KST ở cá chép trên thế giới
Theo Chen Chin Leu (1973) nghiên cứu KST trên cá chép (Cyprinus carpio)
đã xác định được 61 loài KST gồm: Protozoa có 30 loài, Monogenea có 9 loài,
Cestoidea có 4 loài, Trematoda có 7 loài, Nematoda có 4 loài, Acanthocephala có 2
loài, Bivalvia có 2 loài, Crustacea có 4 loài
Laboratorio (1999) giới thiệu và cảnh báo về sự nhiễm Centrocestus
fomosanus trên cá trong NTTS ở Mexico Tác giả cho biết ký chủ đầu tiên của Centrocestus fomosanus là ốc Melanoides tubercularus Châu Á đã được giới
thiệu ở nước ông từ năm 1979 đến năm 1985 khi người ta nhập cá chép từ Trung
Quốc Centrocestus fomosanus đã được phát hiện ở cá hương tại tất cả các loài cá khác ở một trang trại ở Mexico Từ thời điểm đó, sán lá song chủ Centrocestus
Trang 19fomosanus đã nhanh chóng phát triển khắp đất nước Mexico và lan ra cả những
vùng lân cận như Đại Tây Dương, Thái Bình Dương Cũng tại đây, tác giảđã
nghiên cứu và phát hiện loài Diệc Butoridae stritus là ký chủ cuối cùng của sán
lá song chủ Centrocestus fomosanus
Bệnh trùng quả dưa do Ichthyophthyrius multifiliis gây ra, trùng ký sinh
trên da, mang, vây cá Bệnh lưu hành rộng trên khắp các châu lục trên thế giới Ở
Đông Nam Á Ichthyophthyrius multifiliis đã gây bệnh trên nhiều loài cá trong đó
có 2 loài thuộc nhóm cá chép Ấn Độ (Labeo rohita and Cirrhina mrigala) Sự
mẫn cảm đối với bệnh này khác nhau tùy thuộc vào vị trí địa lý, với mức độ cảm nhiễm thấp cá trở thành vật mang bệnh (Paperna,1961)
Tại Bangladet, 5 loài cá chép (Hypophthalmichthys molitrix, Cyprinus
carpio var specularis, Cyprinus idellus, Cyprinus carpio var communis và Puntius gonionotus) được kiểm tra bệnh ký sinh trùng đã cho thấy có 793 loài cá
bị nhiễm bệnh do 3 loài sinh vật đơn bào (Trichodina sp, Ichthyophthirius sp và
Chilodonella sp), 2 Monogenean (Gyrodactylus sp, Dactylogyrus sp), 2Trematoda
(Gorgotrema sp, Metadena sp), 4 Cestoda (Rhopalothyrax sp, Marsipometra sp,
Lytocestus sp và Senga sp), 2 Nematoda (Camallanus sp, Procamallanus sp), 3
giáp xác (Argulus sp, Alitropus sp và Lamproglena sp) và côn trùng 1 (ấu trùng
Dipteran) ký sinh Những ký sinh trùng được phân lập từ nhớt trên cơ thể, mang
và ruột của cá bị nhiễm bệnh Trong các loài ký sinh, nói chung tỷ lệ trung bình
nhiễm cao nhất là Argulus sp (20,07%) ở H molitrix và thấp nhất là Metadena
sp (2,85%) ở Cyprinus carpio var communis Mật độ trung bình nhiễm cao
nhất là Chilodonella sp (10,00) trong Cyprinus carpio var specularis và thấp nhất là Procamallanus sp (2,08) trong Cyprinus carpio var communis (Ahmed
and Ezaz, 1997)
Theo J.Richard (1997) cá Chép ở Philipin gặp 20 loài kí sinh trùng trong
đó có 4 loài bào tử sợi
2.3.2 Tình hình nghiên cứu KST trên cá chép tại Việt Nam
Khi nghiên cứu thành phần giống loài ký sinh trùng trên 6 loại hình cá chép ở Việt Nam, tác giả Bùi Quang Tề (1981 – 1985) đã phát hiện 41 loài ký sinh trùng thuộc 23 giống, 21 họ, 14 bộ, 9 lớp ở cá chép trắng Việt Nam, cá chép vàng, chép kính hung, chép vảy hung, chép lai 1, chép lai 2 Hầu hết các loài ký sinh trùng có chu kỳ phát triển trực tiếp không qua ký chủ trung gian (32 loài
Trang 20chiếm 75%) Trong đó chú ý nhất là lớp bào tử trùng (Chidosporidia) 10 loài và lớp sán lá đơn chủ (Monogenoidea) 9 loài Thành phần giống loài ký sinh trùng ở
từng loài cá chép khác nhau: chép trắng Việt Nam gặp 29 loài, chép vàng gặp 19 loài, chép kính hung gặp 25 loài, chép vảy hung gặp 16 loài, chép lai 1 gặp 37 loài, chép lai 2 gặp 11 loài Tuy nhiên, cá chép trắng Việt Nam và chép lai 1 có thành phần giống loài ký sinh trùng phong phú nhưng mức độ cảm nhiễm thấp Ngược lại, cá chép kính hung và cá chép vảy hung số loài ký sinh trùng không nhiều nhưng mức độ cảm nhiễm một số loài ký sinh trùng rất cao đã gây thành
dịch bệnh làm cá chết hàng loạt Đáng chú ý nhất là loài: Myxobolus spp chúng
thường gây bệnh cho cá chép Hungari, hao hụt rất lớn trong giai đoạn ương từ bột lên giống Các nhóm tuổi khác nhau thì thành phần loài ký sinh trùng cũng khác nhau như ở cá chép trắng Việt Nam số loài ký sinh trùng có chu kỳ phát triển phức tạp qua ký chủ trung gian tăng dần ở giai đoạn cá giống và cá thịt Nguyên nhân chủ yếu là sự thay đổi tính ăn của cá chép, cá hương ăn sinh vật phù du sang cá giống và cá thịt ăn sinh vật đáy
TBTS ký sinh trên da, mang, vây, thành ruột và cơ cá Theo Bùi Quang Tề (1981-1985) cho biết cá chép kính Hungari nhập nội ở giai đoạn cá hương, cá giống thường mắc bệnh TBTS với tỷ lệ cảm nhiễm cao (có trường hợp tới 96%), cường độ cảm nhiễm rất cao, bào nang bám dày đặc trên các cung mang làm cá
không khép nổi nắp mang
Theo Hà Ký và Bùi Quang Tề (2007), trùng bánh xe phân bố rộng với tỷ lệ cảm nhiễm và cường độ cảm nhiễm cao gây tác hại lớn cho cá hương và cá giống ở Việt Nam Tại Đông Nam Á, người ta phát hiện một số loài trùng bánh xe như
Trichodina acuta, T nobilis, T nigra, T pediculus, T domerguei, Tripartiella bulbosa, Trichodinella epizootica ký sinh trên da, vây, mang 2 loài cá chép Ấn Độ
Ở cá, ấu trùng sán lá song chủ Centrocestus fomosanus ký sinh chủ yếu trên
mang Số lượng các loài cá nhiễm ấu trùng sán lá song chủ khá đa dạng, hầu hết là
các loài cá nước ngọt, phổ biến là cá chép (Cyprinus carpio), cá Mè trắng Việt Nam (Hypophthalmichthys harmandi), cá Chim Trắng (Colossoma macropomum)… nuôi
ở Bắc Ninh, Bắc Giang, Hà Nội, Hải Dương, Hưng Yên, Thái Nguyên, Bắc Cạn, Đồng Bằng sông Cửu Long Theo Bùi Quang Tề điều tra ký sinh trùng trên cá Rô
hu và Mrigal cho thấy tỷ lệ nhiễm: 22,88% (Hà Ký và Bùi Quang Tề, 2007)
Trang 21Trong những năm gần đây, tỷ lệ và cường độ cá nhiễm ấu trùng sán lá song
chủ Centrocestus fomosanus trong các ao hồ nuôi miền Bắc rất cao, làm giảm chất
lượng đàn cá nuôi, đặc biệt là cá chép ở giai đoạn cá giống Đã có nhiều nghiên cứu
về sán lá song chủ, song phạm vi nghiên cứu còn chưa rộng, hầu hết tập trung vào nghiên cứu tỷ lệ nhiễm ở các địa phương (Nguyễn Thị Hà, 2007)
Ngoài ra đối với cá tự nhiên, hầu như bị nhiễm các loại ấu trùng sán lá, trong
đó ấu trùng sán lá song chủ với tỷ lệ nhiễm rất cao, có thể lên tới 100% (Kim Văn
Vạn và Đinh Thị Thúy, 2008)
Theo nghiên cứu của tác giả Hà Ký và Bùi Quang Tề (2007) cho biết hiện
cá chép ở nước ta bị nhiễm 23 loài Protozoa, 9 loài Monogenea, 2 loài Cestoidea,
11 loài Trematoda, 2 loài Nematoda, 3 loài Acanthocephala, 1 loài Bivalvia, 14 loài Crustacea
Các tác giả Nguyễn Hữu Thọ và cs (2012, 2013) đã nghiên cứu về dịch tễ
ấu trùng sán truyền lây trên cá chép Các nghiên cứu bao gồm dịch tễ ấu trùng
sán truyền lây trên cá chép bột, Chép hương (Cyprinus caprio), trong nghiên cứu
chỉ ra rằng không có ấu trùng sán (ATS) nhiễm ở giai đoạn Chép bột và cũng không có sự truyền lây ATS từ cá bố mẹ sang cá bột Không có ATS nhiễm ở giai đoạn cá Chép hương dưới 2 tuần tuổi, tỷ lệ nhiễm và cường độ nhiễm ATS truyền lây tăng theo thời gian phát triển của Chép hương Trong số các loại ATS
truyền lây kí sinh trên Chép hương thì sán lá ruột nhỏ Centrocestus formosanus chỉ kí sinh trên mang cá, sau đó đến loài Haplorchis pumilio và đã thấy có nhiễm
ấu trùng sán lá (ATSL) gan nhỏ Clonorchis sinensis Tiếp đó là nghiên cứu dịch
tễ ấu trùng sán lá truyền lây qua cá Chép giống (Cyprinus caprio) theo mùa
Nghiên cứu chỉ ra rằng, trong các hệ thống nuôi kết hợp và trong tự nhiên có tỷ lệ nhiễm và cường độ nhiễm cao hơn trong hệ thống nuôi sử dụng nước xả khí sinh học và nuôi sử dụng thức ăn công nghiệp Tỷ lệ nhiễm và cường độ nhiễm trong
vụ xuân-hè cao hơn vụ thu-đông; các loài sán lá Centrocestus formosanus,
Haplorchis pumilio cao hơn loài Haplorchis taichui và Clonorchis sinensis.Và
cuối cùng là nghiên cứu về dịch tễ ấu trùng sán lá truyền lây qua cá Chép thương phẩm Nghiên cứu chỉ ra có 4 loài ATS trong đó 3 loài ATSL ruột nhỏ
(Centrocestus formosanus, Haplorchis pumilio, Haplorchis taichui) và 1 ATSL gan nhỏ (Clonorchis sinensis) được tìm thấy Trong đó tỷ lệ nhiễm cao nhất là
H pumilio (20,47%) và thấp nhất là C sinensis (2,76%) Tỷ lệ nhiễm ATS cao
Trang 22nhất ở cá Chép thương phẩm nuôi ruộng lúa và cá đánh bắt trong tự nhiên
(29,17-30%), thấp nhất là cá Chép giòn nuôi lồng (20%)
Kim Văn Vạn và cs (2012) đã tiến hành nghiên cứu điều trị kênh mang
của cá Chép (Cyprinus caprio) do ấu trùng sán lá (Centrocestus formosanus) gây
ra Nghiên cứu chỉ ra rằng bệnh này điều trị thành công khi sử dụng Praziquantel với liều 50-75mg/kg thức ăn, cho ăn 5 ngày liên tục
2.4 TỔNG QUAN VỀ CÁ CHÉP VÀ TÌNH HÌNH NUÔI CÁ CHÉP TẠI TỈNH HẢI DƯƠNG
Trang 23bụng, gần mõm hơn tới gốc vây đuôi, gốc vây lưng dài, viền sau hơi lõm, tia đơn cuối là gai cứng, rắn chắc và phía sau có răng cưa Vây ngực, vây bụng và vây hậu môn ngắn chưa tới các gốc vây sau nó Vây hậu môn viền sau lõm, tia đơn cuối hoá xương rắn chắc và phía sau có răng cưa Hậu môn ở sát gốc vây hậu môn Vây đuôi phân thuỳ sâu, hai thuỳ hơi dầy và tương đối bằng nhau Vẩy tròn lớn Đường bên hoàn toàn, chạy thẳng giữa thân và cuống đuôi Gốc vây bụng có vẩy nách nhỏ dài Lưng xanh đen, hai bên thân phía dưới đường bên vàng xám, bụng trắng bạc Gốc vây lưng và vây đuôi hơi đen Vây đuôi và vây hậu môn đỏ
da cam (Nguyễn Văn Hảo, Ngô Sỹ Vân, 2001)
Hình 2.3 Phân bố của cá Chép (Cyprinus caprio) trên thế giới
Nguồn: FAO (2006)
Trang 242.4.1.3 Về tập tính sống và dinh dưỡng
Cá chép sống ở tầng giữa và tầng đáy là chủ yếu, nơi có nhiều mùn bã hữu
cơ, thức ăn đáy và cỏ nước trong các loại mặt nước ao, hồ, đầm, sông, ruộng…
Cá chịu được nhiệt độ từ 0 – 40oC, thích hợp ở 20 – 27oC Cá có thể sống trong diều kiện khó khăn khắc nghiệt Cá chép chịu được ngưỡng oxy thấp, do đó có thể nuôi với mật độ cao Cá chép ăn tạp, thiên về động vật không xương sống ở đáy Trong ống tiêu hóa của cá chép, thức ăn khá đa dạng như mảnh vụn thực vật, hạt, rễ cây, các loài giáp xác, ấu trùng muỗi, ấu trùng côn trùng, thân mềm Tùy theo kích thước cá và mùa vụ dinh dưỡng mà thành phần thức ăn có thay đổi nhất định Cá 3 – 4 ngày tuổi dài 6 – 7,2mm, sống phổ biến ở tầng nước trên là chính Cá được 4- 6 ngày tuổi dài 7,2 - 7,5 mm, sống ở tầng nước giữa, thức ăn chủ yếu là sinh vật phù du Cá 8 – 10 ngày tuổi dài 14,3 – 19mm, các vây bắt đầu hoàn chỉnh, có vẩy, râu, thức ăn chủ yếu là sinh vật đáy cỡ nhỏ Cá
20 – 28 ngày tuổi dài 19 – 28mm, chủ yếu sống ở tầng đáy, ăn sinh vật đáy, mùn bã hữu cơ và một ít sinh vật phù du Khi trưởng thành, cá chép ăn sinh vật đáy là chính: giun, ấu trùng, côn trùng, nhuyễn thể, giáp xác… Ngoài ra cá còn
ăn thêm hạt, củ, mầm thực vật… nuôi trong ao cá ăn tạp Trong NTTS có thể sử dụng các thức ăn chế biến, thức ăn công nghiệp để nuôi cá chép (Nguyễn Văn Hảo và Ngô Sỹ Vân, 2001)
Cá chép là loài cá có kích thước trung bình Sinh trưởng chiều dài hàng năm của cá chép như sau: 1 tuổi là 17,3 cm; 2 tuổi là 20,6 cm; 3 tuổi là 30,2 cm;
4 tuổi là 35,4 cm; 5 tuổi là 41,5 cm và 6 tuổi là 47,5 cm Tốc độ tăng trưởng giảm dần theo chiều dài nhưng lại tăng đều về khối lượng Sinh trưởng của cá chép phụ thuộc nhiều vào mật độ và thức ăn Cá lớn khá nhanh sau một năm nuôi, có thể đạt 1,5 – 2kg Cá chép nội địa tăng 0,3 – 0,5kg ở năm đầu tiên và 0,7 – 1,0kg
ở năm thứ hai Cá sinh trưởng tốt ở các vùng ruộng trũng và các vực nước nông (Nguyễn Văn Hảo và Ngô Sỹ Vân, 2001)
Cá chép thành thục và sinh sản sau một năm tuổi, chúng có thể sinh sản nhiều lần trong năm Trong ao nuôi, cá chép có thể sinh sản tự nhiên vào mùa xuân và đầu mùa hạ Khi gặp điều kiện thuận lợi, cá chép cặp đôi tìm bãi có nhiều cây cỏ thủy sinh để đẻ trứng Ở miền Bắc, mùa sinh sản của cá chép thường có hai vụ: Vụ Đông – Xuân từ tháng 2 – 5 và vụ Thu từ tháng 8 – 9 Ở
Trang 25các sông, cá thường di cư vào các bãi ven sông có nhiều cỏ nước Cá chép thường đẻ trứng vào lúc sáng sớm, số lượng trứng phụ thuộc vào kích thước cá
bố mẹ và giống loài, khoảng 15 – 20 vạn trứng/1kg cá cái Cá chép thành thục có thể đẻ tự nhiên trong ao khi có đủ 3 điều kiện: Trong ao có cả cá đực và cá cái trong giai đoạn thành thục; Có giá thể để cá đẻ trứng lên như rễ bèo, các cây thủy sinh…; có điều kiện môi trường thay đổi như: nước chảy, mưa rào…
Trứng cá chép có hình cầu, hơi vàng đục, đường kính trứng 1,2 – 1,8mm Trứng cá chép thuộc loại trứng dính, bám vào các giá thể: cây cỏ, thực vật thủy sinh Nhiệt độ đẻ trứng thích hợp từ 20 – 22oC (Nguyễn Hữu Thọ và Đỗ Đoàn Hiệp, 2004)
Cá chép bột: cá Chép bột là cá Chép được nở từ trứng cho đến khi tiêu
hết noãn hoàng khoảng từ 1-3 ngày tuổi tùy theo nhiệt độ của môi trường, cá bột thường được giữ trong cá bể ấp (bình Weis đối với cá đẻ vuốt nhân tạo; bể xi măng đối có bèo với đẻ bán nhân tạo)
Cá chép hương: Cá Chép hương là khái niệm của dân gian thể hiện kích
cỡ cá như chân hương, còn về khoa học là khái niệm thể hiện cá Chép ở giai đoạn nhỏ được ương từ cá bột trong khoảng 1 tháng
Cá chép giống: cá Chép giống là cá được ương lên từ cá Chép hương, cá
có độ tuổi từ 1,5 tháng trở lên, tùy theo kích thước mà có khái niệm cá Chép giống cấp 1, 2 và 3 tương đương cá giống nhỏ 5-10g/con, cá giống cỡ 20-50g/con
Trong giai đoạn bột lên cá hương, cá được ương nuôi trong ao, nguồn thức
ăn được tạo ra bằng cách gây màu tự nhiên, bột đậu tương hoặc thức ăn công nghiệp Ở giai đoạn này, không thả ghép với các loại cá khác
Trang 26Trong giai đoạn cá giống, cá được thả ghép với các loài cá khác như: cá Trắm, cá Trôi, cá Mè, Ở giai đoạn này, cá ăn thức ăn đặc trưng theo loài, cá ăn động vật đáy, cám công nghiệp Việc nuôi ghép này để tận dụng được diện tích mặt nước và nguồn thức ăn
Trong giai đoạn nuôi thương phẩm, cá có thể được nuôi dưới hình thức nuôi đơn hoặc nuôi ghép Hiện nay, hình thức nuôi ghép vẫn chiếm đa số, cá được nuôi ghép với các loài cá: Mè, Trôi, Trắm…Bên cạnh đó, hình thức nuôi đơn theo hướng thâm canh đang dần phát triển
2.4.2 Tổng quan về tỉnh Hải Dương
Hải Dương nằm ở vị trí trung tâm Đồng bằng sông Hồng, thuộc tam giác kinh tế trọng điểm phía Bắc Hà Nội - Hải Phòng - Quảng Ninh, tiếp giáp với các tỉnh Bắc Ninh, Bắc Giang, Quảng Ninh, Thái Bình, Hưng Yên và thành phố cảng Hải Phòng (Hình 2.1)
Hình 2.1 Tỉnh Hải Dương
Nguồn: UBND tỉnh Hải Dương (2018)
Trang 27Tình hình nuôi trồng thủy sản trên địa bàn tỉnh
Hải Dương được biết đến như một địa phương có phong trào nuôi trồng thủy sản (NTTS) khá phát triển của miền Bắc Từ những năm 1993, Hải Dương
có chính sách chuyển đổi từ đất trồng lúa sang đào ao thả cá Ban đầu chỉ là những khu chuyển đổi tự phát, không theo quy hoạch, dẫn đến nhiều vùng nuôi thủy sản không có hệ thống nước cấp, nước thải, hệ thống giao thông và điện lưới chưa đáp ứng được nhu cầu sản xuất
Sau nhiều năm nỗ lực, hiện nay trên địa bàn tỉnh có các vùng NTTS đã đi vào khai thác hiệu quả cao gồm xã Đoàn Kết (huyện Thanh Miện), xã Minh Hòa (huyện Kinh Môn); xã Tiên Động, (huyệnTứ Kỳ); xã Tam Kỳ và xã Đại Đức (huyện Kim Thành); Bắc sông Cửu An (huyện Ninh Giang); xã Cẩm Hoàng (huyện Cẩm Giàng)…Qua thực tế cho thấy những năm gần đây vùng NTTS đi vào khai thác đã thành lập Hợp tác xã (HTX) thủy sản điều hành chung cho vùng, có hệ thống điện lưới riêng cho vùng, một số HTX được hưởng chính sách miễn giảm thủy lợi phí, hệ thống cấp thoát nước riêng biệt, tiếp thu khoa học kĩ thuật thuận lợi đó là tổ chức các lớp tập huấn, chuyển giao kỹ thuật tại HTX; hệ thống dịch vụ cá giống, thức ăn thuốc hóa chất tập trung, trao đổi kỹ thuật thuận lợi, giúp đỡ nhau trong sản xuất, tiêu thụ sản phẩm tập trung hạn chế bị ép giá
Về năng suất cá nuôi nâng cao có nhiều hộ nuôi đạt từ 25 - 30 tấn/ha/năm;
có thể thu hoạch được từ 2 - 3 vụ/năm do đó việc thu hồi vốn nhanh, lãi suất cao, rủi ro trong sản xuất được hạn chế và khắc phục nhanh, chất lượng sản phẩm đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm
Diện tích mặt nước và sản lượng NTTS của tỉnh không ngừng tăng lên trong những năm qua, được thể hiện qua những con số thống kê giai đoạn 2010-
Trang 282.4.2.2 Tổng quan về huyện Bình Giang
Vị trí địa lý
Bình Giang nằm ở phía Tây Nam thành phố Hải Dương, diện tích tự nhiên
là 10.478,72 ha Phía Bắc giáp huyện Cẩm Giàng, phía Nam giáp huyện Thanh Miện, phía Đông giáp huyện Gia Lộc, phía Tây giáp huyện Ân Thi và Mỹ Hào của tỉnh Hưng Yên
Bốn mặt huyện Bình Giang đều có sông: sông Kẻ Sặt ở phía Bắc, sông Đình Hào ở phía Đông, sông Cửu An ở phía Tây, sông Cầu Lâm, Cầu Cốc ở phía Nam Trong đó, sông Kẻ Sặt bắt nguồn từ sông Hồng, qua cống Xuân Quan, qua cầu Lực Điền, cầu của đường 38, nối quốc lộ 5A với thành phố Hưng Yên, tiếp cận với huyện Bình Giang tại vị trí sát làng Tranh Ngoài, xã Thúc Kháng Đến đây sông có nhánh chạy dọc theo phía Tây huyện, gọi là sông Cửu An; một nhánh chạy dọc phía Bắc huyện gọi là sông Kẻ Sặt, thông với sông Thái Bình, qua Âu Thuyền, thành phố Hải Dương
Về tình hình nuôi trồng thủy sản tại huyện Bình Giang
Huyện Bình Giang có tình hình NTTS khá phát triển, một số xã có phong trào NTTS phát triển như: Hùng Thắng, Cổ Bì, Hồng Khê Sự phát triển cả về quy mô và diện tích lẫn sản lượng NTTS, được thể hiện ở bảng 2.2
Bảng 2.2 Diện tích và sản lượng NTTS của huyện Bình Giang giai đoạn
2010-2016
Năm 2010 2013 2014 2015 2016
Diện tích (ha) 795 780,5 775 789,1 806
Sản lượng (tấn) 4413 4617 4587 4610 4812
Nguồn: Niên giám thống kê huyện Bình Giang (2016)
Vị trí địa lý
Huyện Cẩm Giàng nằm ở phía tây- bắc tỉnh Hải Dương, phía bắc giáp huyện Lương Tài (tỉnh Bắc Ninh); phía đông giáp huyện Nam Sách và TP.Hải Dương; phía nam giáp huyện Bình Giang và huyện Gia Lộc; phía tây giáp huyện
Mỹ Hào (tỉnh Hưng Yên) và huyện Thuận Thành (tỉnh Bắc Ninh)
Trang 29Tình hình NTTS của huyện Cẩm Giàng
Huyện Cẩm Giàng là 1 trong những huyện phong trào nuôi thủy sản rất phát triển của tỉnh Hải Dương Với nhiều thuận lợi về vị trí địa lý, có sông lớn chảy qua nên tình hình NTTS của huyện ngày càng lớn mạnh cả về diện tích và sản lượng, cụ thể được thể hiện ở bảng 2.3
Bảng 2.3 Diện tích và sản lượng NTTS của huyện Cẩm Giàng giai đoạn
2010-2016
Năm 2010 2013 2014 2015 2016
Diện tích (ha) 1179 1210 1213 1369 1311
Sản lượng (tấn) 6280 7251 6894 8118 7769
Nguồn: Niên giám thống kê huyện Cẩm Giàng (2016)
Vị trí địa lý
Ninh Giang là một huyện phía Đông Nam của tỉnh Hải Dương, nằm bên
bờ sông Luộc và tiếp giáp với các tỉnh Thái Bình, Hải Phòng Vị trí khoảng
20o 43’vĩ Bắc,106o 24’ kinh Đông Ninh Giang phía Nam giáp xã Thắng Thủy (Hải Phòng) bằng con sông Luộc , phía Bắc giáp xã Đồng Tâm, Tây Giáp
xã Hiệp Lực, phía Tây Nam giáp xã An Khê, phía Đông Giáp xã Hà Kỳ Theo đường bộ Ninh Giang cách thành phố Hải Dương 29km, Hà Nội 87 km Về
đường bộ tiếp giáp và có các con đường chạy qua 17A, 17B, 217
Tình hình nuôi trồng thủy sản của huyện Ninh Giang
Kết quả về sản xuất thủy sản của huyện Ninh Giang giai đoạn 2011-2015 được thể hiện ở Bảng 2.4
Bảng 2.4 Diện tích và sản lượng NTTS của huyện Ninh Giang, giai đoạn
Trang 302.4.2.5 Tổng quan về huyện Thanh Miện
Vị trí địa lý
Thanh Miện là huyện đồng bằng nằm ở phía tây nam của tỉnh Hải Dương Tổng diện tích tự nhiên toàn huyện là 122,321 km² trải dài từ 106°7′50″ đến 160°16′20″ kinh Đông và từ 20°40′45″ đến 20°50′55″ vĩ Bắc Phía Tây bắc giáp huyện Bình Giang, Đông bắc giáp huyện Gia Lộc, Đông Nam giáp huyện Ninh Giang, Nam giáp tỉnh Thái Bình, Tây giáp tỉnh Hưng Yên
Tình hình nuôi trồng thủy sản của huyện Thanh Miện
Huyện Thanh Miện là một trong những huyện trọng điểm về NTTS của tỉnh Hải Dương, với diện tích NTTS lớn, sản lượng hằng năm đạt ở mức cao Những khu vực NTTS tập trung theo quy hoạch của tỉnh đã và đang hoạt động có hiệu quả, trong đó phải kể đến HTX Thủy sản thôn Tòng Hóa (Đoàn Kết – Thanh Miện), kết quả về diện tích và sản lượng NTTS của huyện được thể hiện ở bảng 2.5
Bảng 2.5 Diện tích và sản lượng NTTS của huyện Thanh Miện, giai đoạn
Nguồn: Niên giám thống kê huyện Thanh Miện (2015)
2.5 THUỐC VÀ HÓA CHẤT DÙNG TRONG NUÔI TRỒNG THỦY SẢN 2.5.1 Các thuốc khử trùng
Thành phần: AlkylDimethyl Benzyl Ammonium Chloride solution
(C6H5CH2N(CH3)2 RCl và Inert Ingredients (chất trơ)
Alkyl Dimethyl Benzyl Ammonium Chloride solution tên gọi tắt là BKC
Cơ chế gây độc chính xác của BKC lên sinh vật đến nay vẫn chưa được nghiên cứu đầy đủ Tuy nhiên, cơ chế được biết đến là sự ngăn chặn hoạt tính của một số enzyme trong tế bào Cơ chế gây độc của BKC là sự xâm nhập của nhóm lipophilic alkyl vào trong màng tế bào, làm thay đổi tầng kép của phân tử phospholipid, dẫn đến sự suy yếu của màng tế bào và phá hủy màng tế bào Kết
Trang 31quả của quá trình này là làm ngưng trệ quá trình điều khiển các enzyme điều tiết quá trình hô hấp và trao đổi chất của tế bào
Hoạt tính của BKC ít bị ảnh hưởng bởi pH của môi trường ao nuôi, nhưng
về cơ bản hoạt tính sẽ gia tăng khi nhiệt độ và pH tăng, cũng như thời gian tiếp xúc của BKC lên sinh vật Hoạt tính hóa học của BKC sẽ bị giảm hoặc không có tác dụng khi sử dụng với các hợp chất hữu cơ như xà phòng, các hợp chất tẩy rửa
bề mặt tích điện âm như sodium laurisulfate hay sodium dodecyl sulfate (SDS), sodium lauryl ether sulfate (SLES), Hơn nữa, nước có độ cứng và độ đục cao cũng sẽ làm giảm tác dụng của BKC
Công dụng: Tiêu diệt các loại vi khuẩn gây bệnh trong nguồn nước nuôi
cá như: Aeromonas, Pseudomonas, Flexibacter, Streptococcus, Vibrio, các loại
nấm, nguyên sinh động vật gây ra bệnh: lở loét toàn thân, gan thận có mủ, đỏ mang, thối vây, sưng chướng bụng đồng thời diệt bớt tảo khi mật độ quá dày
Cách dùng: Diệt mầm bệnh lúc chuẩn bị ao: pha 0,5cc/ lít nước, phun lên
mặt ao, hoặc dụng cụ ương cá Diệt mầm bệnh trong quá trình nuôi: 1lít/ 2.500
m3 nước, 2 tuần xử lý nước 1 lần Diệt bớt tảo khi mật độ quá dày: 1lít/ 3.000 m3 nước Xử lý nước ao khi cá mắc bệnh: 1lít/ 2.000 m3 nước, 3 ngày xử lý 1 lần
Thành phần: Trichloroisocyanuric acid (TCCA)
VICATO khử trùng – TCCA là một loại thuốc khử trùng, sát trùng chứa nhóm halogen, là một thuốc thông dụng nhất, khi hòa tan trong nước nó hình thánh HClO
H2O
TCCA HClO
Trong môi trường axit mạng hoặc trung tính, HClO không phân ly mà có khả năng phân hủy, giải phóng oxy và clo nguyên tử Oxy này có tác dụng oxy hóa và đông vón protein của vi khuẩn Clo tham gia kết hợp với nhóm amin của protit, thay thế hydro trong nhóm này và vì thế vi khuẩn không thực hiện được việc tạo nên các liên kết hydro giữa các chuỗi polypetit
HCl HCl + O
R – CO – NH – R R – CO – NCl – R
Trong môi trường kiềm HClO phân ly tạo ra các ion hydroclorit (ClO-) cũng có tính oxy hóa nhưng kém hơn oxy nguyên tử và clo nguyên tử pH càng
Trang 32tăng thì tác dụng khử trùng của các chất chứa clo càng giảm Trong môi trường mùn bã hữu cơ hoạt tính của VICATO khử trùng – TCCA giảm, do HClO có tác dụng khử NH3, H2S nên chống hôi thối
Trong NTTS, VICATO khử trùng – TCCA được ứng dụng: khử trùng cho
ao đầm nuôi, khử trùng triệt để nguồn nước ao nuôi tôm cá, có tác dụng tiêu độc của Clo hoạt tính lẫn oxy nguyên tử, vừa có tác dụng tăng oxy trong thủy vực VICATO khử trùng – TCCA có thể dùng ở cả nước ngọt lần nước mặn, diệt hết thủy sinh vật có hại trong ao nuôi tôm, cá, hiệu quả trong phòng chữa bệnh cao
2.5.2 Các loại thuốc điều trị kí sinh trùng
Thành phần: 22,23-Dihydro C- 076 B1 và Sodium benzoate
Công dụng: Tẩy sạch các loại giun sán kí sinh ở ruột, bao tử, ống mật, túi
mật gây tắc ruột, sưng mật Tẩy sạch các loại ngoại kí sinh sống bám ở da, mang
cá như rận cá, trùng mỏ neo, trùng bánh xe, trùng quả dưa, sán lá mang
Cách dùng: 100g/ 1000 kg cá Cho ăn 2-3 ngày liên tiếp
Lưu ý: xổ lần đầu lúc cá 2 tháng tuổi, mỗi tháng nên định kì xổ 1 lần
Ngưng sử dụng thuốc 10 ngày trước khi thu hoạch Loại bỏ túi hút ẩm khi sử dụng.Bảo quản: nơi khô mát không quá 30oC Tránh ánh sáng trực tiếp
Trang 333 ngày sau khi dùng thuốc Cả hai chất này liên kết mạnh với protein huyết tương, chủ yếu là albumin Sulfoxide liên kết ngược với albumin, một phần sẽ được giải phóng trở lại các mô gan, làm tăng khả dụng sinh học của nó và kéo dài hiệu quả của nó Sulfoxide và sulfone thường được phát hiện trong mô và sữa
Sự thải trừ chủ yếu là do mật và phân (>90%), nước tiểu (gần 2%), sữa (gần 1%) Khoảng 50% liều dùng sẽ được thả trừ sau 6 ngày điều trị
Ở động vật nhai lại, thuốc đi chậm qua dạ dày kép sẽ kéo dài thời gian được hấp thu của thuốc
Cơ chế tác dụng:
Triclabendazole cũng giống như các chất thuộc nhóm Benzimidazoles: gắn kết với tubulin, tubulin là một protein cấu trúc của các ống nhỏ Những vi ống này là những cơ quan quan trọng liên quan đến sự di chuyển, phân chia và các quá trình bài tiết của tế bào ở tất cả các sinh vật sống
Ở giun sán, việc ngăn chặn các vi chất cản trở sự hấp thu glucose và cuối cùng sẽ làm cạn lượng glucogen dự trữ Điều này dẫn đến cơ chế điều hòa năng lượng của giun sán bị tê liệt Giun sán sẽ chết đói hoặc bị đào thải ra ngoài Tuy nhiên, Triclabendazole liên kết với một receptor “tubulozole”, cụ thể trong các ống nhỏ của sán, gây trở ngại chủ yếu đến vận chuyển nội bào trong tế bào chứ không phải sự phân chia tế bào Vì lý do này, nó không có tác dụng gây quái thai như các Benzimidazoles khác Triclabendazole ức chế tổng hợp protein trong sán lá gan, ảnh hưởng đến sản xuất enzyme (Nguyễn Văn Chương và Huỳnh Hồng Quang (2014)
Công thức hóa học
Hình 2.6 Albendazole
Nguồn: Cục bảo vệ thực vật (2005)
Trang 34Dược động học
Sau khi uống Albendazole, 45% lượng thuốc được hấp thu vào máu Ở
động vật nhai lại, thuốc đi chậm qua dạ dày kép kéo dài thời gian hấp thu
Albendazole nhanh chóng được chuyển hóa tại gan để tạo thành dẫn xuất của nó là sulfulxide Hầu hết các “phân tử mẹ” đều không còn được phát hiện trong máu sau khi dùng thuốc Trong bước chuyển hóa thứ hai, sulfulxide được chuyển hóa thành sulfone Nồng độ Albendazole sulfulxide trong huyết tương cao làm nó có hiệu quả chống lại giun sán ở giai đoạn trưởng thành và chưa
trưởng thành trong các mô và các cơ quan bên ngoài đường tiêu hóa
Một phần sulfoxide được giải phóng lại dạ cỏ, ở đây hệ vi sinh vật dạ cỏ lại làm nó trở thành Albendazole Điều này, làm tăng khả dụng sinh học của
Albendazole ở động vật nhai lại
Thải trừ thuốc thông qua mật, phân và nước tiểu Ở động vật nhai lại, 70% liều dùng được bài tiết qua nước tiểu dưới dạng các chất chuyển hóa khác nhau, chất chỉ yếu là sulfoxide Ở cừu, khoảng 14% liều đã được sử dụng thải
60-qua mật, một phần là dưới dạng các chất chuyển hóa có hoạt tính khác nhau
Đối với chó, mèo, gia cầm, không có dạ cỏ làm giảm hiệu quả hấp thu Điều này, đòi hỏi khi sử dụng thuốc cần liều cao hơn hoặc thường xuyên hơn để đạt hiệu quả mong muốn Ở cừu và dê Albendazole sulfoxide có thể phát hiện
được trong huyết tương trong khoảng 3 ngày, ở chó là dưới 12 giờ
Ảnh hưởng của chế độ ăn uống: ở động vật nhai lại, việc giảm lượng thức
ăn làm chậm quá trình di chuyển của thức ăn trong dạ cỏ và kéo dài thời gian hấp thu thuốc Do đó nên hạn chế việc tiếp xúc với thức ăn của động vật 24 giờ trước khi cho uống thuốc và 6 giờ sau khi uống thuốc Ở bò, chế độ dinh dưỡng giàu
chất xơ làm tăng sinh khả dụng của thuốc
Trái với động vật nhai lại, dùng Albendazole với thức ăn lại làm tăng sinh
khả dụng của thuốc với động vật ăn thịt (bao gồm cả chó và mèo)
Ảnh hưởng của KST: sự phá hoại của giun dạ dày – ruột làm giảm sinh khả dụng sinh học của thuốc ở động vật nhai lại Do niêm mạc viêm không điều chỉnh được độ pH trong dạ dày và ruột, điều này ảnh hưởng tiêu cực đến độ tan, sự hấp thu của thuốc và sự phân bố chuyển hóa của thuốc Ngoài ra, thức ăn qua dạ dày và ruột
cũng nhanh hơn làm giảm sinh khả dụng của thuốc (Cục bảo vệ thực vật, 2005)
Trang 35Cơ chế tác dụng:
Albendazole gắn kết với tubulin, một protein cấu trúc của các vi ống Những vi ống này là những cơ quan quan trọng liên quan đến sự di chuyển, phân
chia và các quá trình bài tiết của tế bào ở tất cả các sinh vật sống
Ở giun sán, việc ngăn chặn các vi chất cản trở sự hấp thu glucose, và cuối cùng sẽ làm cạn lượng glucogen dự trữ Điều này dẫn đến cơ chế điều hòa năng
lượng của giun sán bị tê liệt Giun sán sẽ chết đói hoặc bị đào thải ra ngoài
Do sự phân chia tế bào bị xáo trộn, tăng sinh nhiều, sự phát triển của trứng
giun sán cũng bị hạn chế bởi thuốc
Thuốc cũng ức chế men reductase fumarate đặc hiệu của giun sán, một enzyme tham gia vào việc điều hòa năng lượng của các tế bào giun (Cục bảo vệ thực vật, 2005)
Trang 36PHẦN 3 VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.1 ĐỊA ĐIỂM NGHIÊN CỨU
Các ao có nuôi cá Chép tại 4 huyện: Bình Giang, Cẩm Giàng, Ninh Giang
và Thanh Miện của tỉnh Hải Dương Cụ thể, điều tra 257 ao nuôi trên địa bàn 4 huyện nêu trên
3.2 THỜI GIAN NGHIÊN CỨU
Nghiên cứu được thực hiện từ tháng 09/2017 đến tháng 06/2018
3.3 ĐỐI TƯỢNG/VẬT LIỆU NGHIÊN
3.3.1 Đối tượng nghiên cứu
Trùng bào tử sợi gây bệnh trên Cá Chép tại các ao nuôi thuộc tỉnh Hải Dương
3.3.2 Vật liệu nghiên cứu
Nghiên cứu trùng bào tử sợi trên cá chép
Bộ dụng cụ giải phẫu cá, ống falcon 50ml, cối, chày sứ và các cốc đong, micropipet, lam kính, đèn cồn.Bộ thuốc nhuộm Gram Kính hiển vi điện
Mẫu bào nang TBTS kí sinh ở ruột của cá chép thương phẩm và bào nang TBTS kí sinh ở mang cá chép giống cấp 1 (50g/con)
Điều trị thử nghiệm cho Cá Chép nhiễm bệnh Trùng bào tử sợi tại các ao
Tiến hành ngay tại các ao có cá chép bị bệnh TBTS (ở ruột hoặc mang) trên địa bàn Hải Dương (Bình Giang và Ninh Giang)
Thuốc điều trị được sử dụng gồm: NOVA-Parasite, HAN-DERTIL B, FASIO PHARM, PRAZIQUANTEL
HAN – DERTIL B: thành phần của thuốc gồm Triclabendazole và Albendazole được phối hợp theo tỉ lệ 1:1
FASIO – PHARM: thành phần của thuốc là Triclabendazole
Các thuốc khử trùng được dùng bao gồm: VICATO, BKC 800 của ANOVA
3.4 NỘI DUNG NGHIÊN CỨU
- Khảo sát tình hình cá Chép nghi mắc bệnh Trùng bào tử sợi tại các ao thuộc tỉnh Hải Dương