Phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu sử dụng phương pháp thu thập số liệu thứ cấp để thu thập thông tin về thực trạng phát triển trang trại chăn nuôi và thủy sản huyện Quế Võ; Kết hợp phư
Trang 1HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM
VŨ HẢI DƯƠNG
GIẢI PHÁP PHÁT TRỂN TRANG TRẠI CHĂN NUÔI
VÀ THỦY SẢN TRÊN ĐỊA BÀN HUYÊN QUẾ VÕ,
TỈNH BẮC NINH
Người hướng dẫn khoa học: TS Vũ Thị Phương Thụy
NHÀ XUẤT BẢN HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP - 2018
Trang 2L ỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan rằng đây là công trình nghiên cứu của tôi Số liệu và kết
quả nghiên cứu là trung thực và chưa từng được sử dụng để bảo vệ một học vị nào
Tôi xin cam đoan rằng mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn này đã được cảm
ơn và các thông tin trích dẫn trong luận văn đều đã được ghi rõ nguồn gốc
Tác gi ả luận văn
Vũ Hải Dương
Trang 3L ỜI CẢM ƠN
Trước hết, tôi xin chân thành cảm ơn Ban Giám hiệu Nhà trường, cùng toàn thể các thầy cô giáo Khoa Kinh tế và Phát triển nông thôn, Bộ môn Kinh tế Tài Nguyên và Môi trường, Học viện Nông Nghiệp Việt Nam đã trang bị cho tôi những kiến thức cơ
bản và tạo điều kiện giúp tôi hoàn thành luận văn này
Đặc biệt, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến TS Vũ Thị Phương Thụy đã dành nhiều thời gian tâm huyết, trực tiếp hướng dẫn tận tình, chỉ bảo và tạo điều kiện thuận lợi cho tôi trong suốt quá trình thực hiện nghiên cứu đề tài và hoàn chỉnh bản Luận văn Thạc sĩ chuyên ngành Kinh tế Nông nghiệp
Qua đây, tôi cũng xin gửi lời cảm ơn tới Cục thống kê tỉnh Bắc Ninh, các đồng chí lãnh đạo của UBND huyện Quế Võ, các đồng chí làm việc tại Phòng Nông nghiệp, trạm Khuyến nông, chi cục thống kê huyện Quế Võ, UBND các xã Chi Lăng, Đào Viên, Đại Xuân, Phù Lương, Phương Liễu, Châu Phong, cán bộ công chức và những người dân địa phương đã cung cấp những thông tin cần thiết và giúp đỡ tôi trong suốt quá trình nghiên cứu khoa học tại địa bàn
Cuối cùng, tôi xin cảm ơn đến gia đình, đồng nghiệp, bạn bè và những người thân
đã quan tâm, giúp đỡ, động viên, tạo điều kiện và luôn sát cánh bên tôi trong suốt quá trình học tập và hoàn thành luận văn này
Xin chân thành cảm ơn!
Tác gi ả luận văn
Vũ Hải Dương
Trang 4M ỤC LỤC
Lời cam đoan i
Lời cảm ơn ii
Mục lục iii
Danh mục chữ viết tắt vi
Danh mục bảng vii
Danh mục hình, biểu đồ viii
Trích yếu luận văn ix
Thesis abstract xi
Ph ần 1 Mở đầu 1
1.1 Tính cấp thiết của đề tài 1
1.2. Mục tiêu nghiên cứu của đề tài 2
1.2.1 Mục tiêu chung 2
1.2.2 Mục tiêu cụ thể 2
1.3 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu 3
1.3.1 Đối tượng nghiên cứu 3
1.3.2 Phạm vi nghiên cứu 3
Ph ần 2 Cơ sở lý luận và thực tiễn về giải pháp phát triển trang trại chăn nuôi và th ủy sản 4
2.1 Cơ sở lý luận 4
2.1.1 Một số khái niệm liên quan 4
2.1.2 Tiêu chí xác định trang trại 8
2.1.3 Vai trò của phát triển trang trại chăn nuôi và thủy sản 9
2.1.4 Nội dung nghiên cứu phát triển trang trại chăn nuôi và thủy sản 10
2.1.5 Các yếu tố ảnh hưởng đến phát triển trang trại chăn nuôi và thủy sản 13
2.2 Cơ sở thực tiễn 17
2.2.1 Phát triển trang trại chăn nuôi và thủy sản ở một số nước trên thế giới 17
2.2.2 Phát triển trang trại chăn nuôi và thủy sản ở một số địa phương trong nước 20
2.2.3 Một số bài học kinh nhiệm đối với phát triển trang trại chăn nuôi và thủy sản ở huyện Quế Võ, Tỉnh Bắc Ninh 22
Ph ần 3 Phương pháp nghiên cứu 24
Trang 53.1. Đặc điểm địa bàn nghiên cứu 24
3.1.1 Điều kiện tự nhiên 24
3.1.2 Đặc điểm kinh tế xã hội 26
3.1.3 Tiềm năng, lợi thế và những khó khăn trong phát triển nông nghiệp 34
3.2 Phương pháp nghiên cứu 35
3.2.1 Phương pháp chọn điểm nghiên cứu 35
3.2.2 Phương pháp thu thập số liệu 36
3.2.3 Phương pháp xử lý số liệu 37
3.2.4 Phương pháp phân tích số liệu 38
3.2.5 Hệ thống các chỉ tiêu nghiên cứu 38
Ph ần 4 Kết quả nghiên cứu và thảo luận 40
4.1 Đánh giá thực trạng phát triển trang trại chăn nuôi và thủy sản trên địa bàn huyện Quế Võ Tỉnh Bắc Ninh 40
4.1.1 Đánh giá thực trạng phát triển về số lượng trang trại chăn nuôi và thủy sản trên địa bàn huyện Quế Võ 40
4.1.2 Đánh giá nguồn lực trong phát triển trang trại chăn nuôi và thủy sản 42
4.1.3 Thực trạng về liên kết tiêu thụ sản phẩm nông nghiệp của trang trại trên địa bàn huyện Quế Võ 49
4.1.4 Nâng cao trình độ quản lý kỹ thuật cho chủ trang trại 50
4.1.5 Thực trạng về phát triển khoa học kỹ thuật và phòng trừ dịch bệnh trong các trang trại tại huyện Quế Võ 54
4.1.6 Đánh giá kết quả và hiệu quả phát triển trang trại chăn nuôi và thủy sản trên địa bàn huyện Quế Võ Tình Bắc Ninh 56
4.1.7 Những khó khăn và định hướng sản xuất kinh doanh của trang trại trong thời gian tới 61
4.2 Phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến phát triển trang trại chăn nuôi và thủy sản của huyện Quế Võ 63
4.2.1 Thị trường tiêu thụ sản phẩm 63
4.2.2 Trình độ của chủ trang trại 65
4.2.3 Cơ sở hạ tầng 65
4.2.4 Ảnh hưởng của chính sách nhà nước 66
4.2.5 Các yếu tố về thời tiết, khí hậu, dịch bệnh 68
Trang 64.3 Giải pháp phát triển trang trại chăn nuôi và thủy sản trên địa bàn huyện
Quế Võ trong thời gian tới 69
4.3.1 Những nguyên nhân, căn cứ đề ra giải pháp phát triển trang trại chăn nuôi và thủy sản trên địa bàn huyện Quế Võ, Tỉnh Bắc Ninh trong thời gian tới 69
4.3.2 Một số giải pháp phát triển trang trại chăn nuôi và thủy sản trên địa bàn huyện Quế Võ, Tỉnh Bắc Ninh trong thời gian tới 74
Ph ần 5 Kết luận và kiến nghị 83
5.1 Kết luận 83
5.2 Kiến nghị 84
5.2.1 Đối với nhà nước 84
5.2.2 Đối với địa phương 85
5.2.3 Đối với chủ trang trại 85
Tài liệu tham khảo 87
Phụ lục 89
Trang 7DANH M ỤC CHỮ VIẾT TẮT
NN&PTNT Nông nghiệp và phát triển nông thôn
Trang 8DANH M ỤC BẢNG
Bảng 3.1 Tình hình phân bổ và sử dụng đất đai huyện Quế Võ từ năm 2014 đến
năm 2016 27
Bảng 3.2 Tình hình dân số và lao động huyện Quế Võ qua 3 năm (2014-2016) 29
Bảng 3.3 Kết cấu hạ tầng nông thôn huyện Quế Võ qua 2 thời kỳ tổng điều 30
Bảng 3.4 Cơ cấu các ngành kinh tế qua 3 năm (2014 – 2016) 33
Bảng 3.5 Phương pháp thu thập số liệu thứ cấp 36
Bảng 4.1 Tình hình phát triển số lượng, quy mô trang trại trên địa bàn huyện Quế Võ trong 3 năm gần đây (2014 - 2016) 40
Bảng 4.2 Số lượng trang trại chia theo đơn vị xã, thị trấn tính đến năm 2016 41
Bảng 4.3 Quy hoạch sử dụng đất huyên Quế Võ đến năm 2020 43
Bảng 4.4 Quy hoạch chuyển mục đích sử dụng đất đến năm 2020 44
Bảng 4.5 Nguồn gốc đất đai của các trang trại 45
Bảng 4.6 Cơ cấu nguồn hình thành vốn trang trại 46
Bảng 4.7 Tình hình sử dụng lao động của trang trại năm 2016 48
Bảng 4.8 Một số thông tin về chủ trang trại ở huyện Quế Võ 51
Bảng 4.9 Tình hình tập huấn kỹ thuật chăn nuôi và thủy sản trên địa bàn 52
Bảng 4.10 Tình hình tham gia các lớp tập huấn của chủ trang trại 53
Bảng 4.11 Tình hình áp dụng KHKT tại các trang trại hiện nay 54
Bảng 4.12 Thực trạng sử dụng thuốc phòng bệnh trong các trang trại 55
Bảng 4.13 Chi phí của các trang trại huyện Quế Võ 56
Bảng 4.14 KQ sản xuất kinh doanh của các trang trại chăn nuôi và thủy sản 57
Bảng 4.15 Giá trị tăng thêm và thu nhập hỗn hợp các trang trại 58
Bảng 4.16 Hiệu quả 1 đồng chi phí của các trang trại 59
Bảng 4.17 Tổng hợp những khó khăn của chủ trang trại 61
Bảng 4.18 Định hướng chăn nuôi và nuôi trồng thủy sản trong những năm tiếp theo 63
Bảng 4.19 Tình hình dịch bệnh trong trang trại chăn nuôi và thủy sản tại huyện Quế Võ 68
Trang 9DANH M ỤC HÌNH, BIỂU ĐỒ
Hình:
Hình 3.1 Bản đồ hành chính huyện Quế Võ 2017 25Hình 4.1 Kênh tiêu thụ sản phẩm của các trang trại huyện Quế Võ 49
Bi ểu đồ:
Biểu đồ 4.1 Cơ cấu hình thành nguồn vốn trang trại 47Biểu đồ 4.2 Đối tượng tiêu thụ sản phẩm 50
Trang 10
TRÍCH Y ẾU LUẬN VĂN
Tên tác gi ả: Vũ Hải Dương
Tên lu ận văn: Giải pháp phát triển trang trại chăn nuôi và thủy sản trên địa bàn huyện
Quế Võ, tỉnh Bắc Ninh
Tên cơ sở đào tạo: Học Viện Nông Nghiệp Việt Nam
M ục tiêu nghiên cứu: Trên cơ sở đánh giá thực trạng phát triển trang trại chăn
nuôi, thủy sản trên địa bàn huyện Quế Võ tỉnh Bắc Ninh, từ đó đề xuất các giải pháp phát triển trang trại trên địa bàn trong thời gian tới
Phương pháp nghiên cứu:
Nghiên cứu sử dụng phương pháp thu thập số liệu thứ cấp để thu thập thông tin về
thực trạng phát triển trang trại chăn nuôi và thủy sản huyện Quế Võ; Kết hợp phương pháp thu thập số liệu sơ cấp thông qua điều tra trực tiếp 16 trang trại nhằm thu thập thông tin phục vụ nghiên cứu và điều tra lấy số liệu 24 gia trại nhằm so sánh các chỉ tiêu
với trang trại để thấy được những lợi ích, hiệu quả trong kinh doanh chăn nuôi, nuôi trồng thủy sản của trang trại so với kinh doanh chăn nuôi hộ gia đình Nghiên cứu sử dụng một số phương pháp phân tích số liệu truyền thống như phương pháp thống kê mô
tả, phân tích so sánh nhằm làm rõ nội dung nghiên cứu
K ết quả nghiên cứu chính và kết luận:
Nghiên cứu đã góp phần hệ thống hóa một số cơ sở lý luận, quá trình hình thành
và phát triển của trang trại chăn nuôi và thủy sản trên địa bàn huyện Quế Võ, tỉnh Bắc Ninh Trang trại là loại hình sản xuất đã trải qua quá trình lịch sử lâu dài và phát triển theo quy luật khách quan của nền sản xuất hàng hóa trong lĩnh vực nông - lâm - ngư nghiệp, là xu hướng phát triển tất yếu của kinh tế hộ sản xuất hàng hóa trên thế giới cũng như ở Việt Nam Mặc dù mới xuất hiện mấy năm gần đây nhưng trang trại chăn nuôi và nuôi trồng thủy sản ở huyện Quế Võ, tỉnh Bắc Ninh đã có những bước phát triển về số lượng, quy mô cũng như các loại hình sản xuất ở hầu khắp các địa phương với những tiến bộ về nhiều mặt so với sản xuất hộ gia đình Vốn trang trại chủ yếu là vốn tự có chiếm 53,47% trong tổng số vốn Đối tượng chủ yếu tiêu thụ sản phẩm trang trại là thương lái chiếm 77,06% Số lớp tập huấn bình quân mỗi năm tăng 17,84% Hầu hết các trang trại hoạt động sản xuất kinh doanh đều tạo ra năng xuất và sản lượng lớn
và mang lại hiệu quả kinh tế cao hơn so với sản xuất hộ gia đình
Sự phát triển của trang trại chăn nuôi và thủy sản ở Quế Võ đã góp phần rất lớn
Trang 11vào việc huy động, khai thác tốt lượng vốn trong dân để đầu tư phát triển, đặc biệt hơn nữa nó đã thúc đẩy tình hình sử dụng đất đai có hiệu quả hơn Điều này được thể hiện ở chỗ các trang trại đã tích cực đầu tư thâm canh, khai phá đất hoang hóa, diện tích mặt nước, đất thầu khoán để phát triển sản xuất Phát triển trang trại đã thúc đẩy quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp nông thôn, thúc đẩy ngành công nghiệp chế
biến nông - lâm - thủy sản phát triển, tăng nhanh khối lượng sản phẩm hàng hóa, giải quyết việc làm, tăng thu nhập cho lao động nông thôn Phát triển trang trại chăn nuôi và
thủy sản đã và đang là phương thức tổ chức sản xuất kinh doanh điển hình ở khu vực nông thôn, là loại hình sản xuất hiệu quả phù hợp với tình hình đất nước trong giai đoạn hiện nay Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đạt được, sự phát triển trang trại ở Quế Võ đang phải đối mặt với nhiều vấn đề cần phải được quan tâm giải quyết như vị trí pháp lý của trang trại chưa rõ ràng, hầu hết các trang trại được hình thành và phát triển một cách
tự phát, thiếu định hướng nên gặp nhiều khó khăn trong việc quy hoạch và đầu tư kết
cấu hạ tầng, trong tập huấn và chuyển giao tiến bộ khoa học kỹ thuật cũng như trong giao quyền sử dụng đất lâu dài, phù hợp với quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất đai của địa phương Cơ sở vật chất kỹ thuật trong các trang trại đều thô sơ, thiếu vốn, trình độ văn hóa chuyên môn, quản lý của các chủ trang trại còn thấp, sản xuất chủ yếu dựa vào kinh nghiệm trong khi đó thị trường, giá cả đầu vào, đầu ra bấp bênh, thiếu ổn định, tiêu
thụ sản phẩm gặp nhiều khó khăn
Nghiên cứu phân tích các yếu tố ảnh hưởng tới sự phát triển của trang trại chăn nuôi
và thủy sản huyện Quế Võ từ đó đưa ra được các thuận lợi và khó khăn, nguyên nhân dẫn đến sự chậm phát triển của các trang trại huyện Quế Võ như: Thiếu vốn để sản xuất, trình
độ của chủ trang trại còn hạn chế, cơ chế chính sách còn chưa đồng bộ, thiếu quy hoạch tổng thể của địa phương, vấn đề thị trường chưa được quan tâm
Đề ra một số giải pháp nhằm phát triển trang trại chăn nuôi và thủy sản trên địa bàn huyện Quế Võ, tỉnh Bắc Ninh Để trang trại ở Quế Võ phát triển một cách bền vững trong thời gian tới, thì những giải pháp chung và giải pháp cụ thể cho từng loại trang
trại đã được đề cập một cách có hệ thống, nhưng trước hết cần chú trọng hai giải pháp
cốt lõi đó là: Tổ chức đào tạo, bồi dưỡng kiến thức cho chủ trang trại; xác định rõ vị trí pháp lý cho trang trại như quyền sử dụng đất lâu dài, tư cách pháp nhân của trang trại để giúp họ được hưởng các chính sách ưu đã mà nhà nước quy định Các giải pháp nhằm nâng cao kinh tế xã hội và phát triển trang trại ở địa phương gồm các giải pháp vĩ mô và
vi mô
Trang 12THESIS ABSTRACT
Master Candidate: Vu Hai Duong
Thesis Title: Solutions for the Development of Livestock and Aquaculture Farms in
Que Vo District, Bac Ninh Province
Major: Economic Management Code: 8340410
Educational Organization: Vietnam National University of Agriculture (VNUA) Objectives of the study: Based on the assessment of the current situation of the
development of livestock and aquaculture farms in Que Vo district of Bac Ninh province, the study proposed solutions to develop farms in this area in the future
Research Methodology: The study used secondary data collection method to
gather information on the status of the development of livestock and aquaculture farms
in Que Vo; Combining the primary data collection method through a direct field survey
of 16 farms to collect data for research and collect the information from 24 family farms
to compare returns to benefit, efficiency in livestock business, aquaculture of the farms with business of household production The research used a number of traditional data analysis methods such as descriptive statistical and comparative analysis methods to clarify the research contents
Main results and Conclusion:
The research systematized a number of theoretical foundations, the formation and development of livestock and aquaculture farms in Que Vo district, Bac Ninh province Farms are the type of production that has gone through a long history and developed in accordance with the objective rules of commodity production in agro-forestry-fishery, which is the trend of economic development in the world as well as in Vietnam Although livestock and aquaculture farms have been established in recent years in Que
Vo district, Bac Ninh province, these farms have developed in terms of quantity, scale
as well as types of production in most localities with advances in many aspects compared to household production Most of these farms produce bigger quantity and productivity than those of household production
The development of livestock and aquaculture farms in Que Vo contributed greatly to the mobilization and exploitation of residents’ capital for investment and development, more specifically it promoted the land use more effectively This is reflected in the fact that these farms have actively invested in intensive farming, clearing waste land, water surface, contracted land to develop production
Trang 13Farm development has accelerated the process of restructuring the agricultural and rural economy, promoted the development of agro-forestry-fishery processing industry; increased the volume of commodities; create jobs; increased income for rural workers The development of livestock and aquaculture farms has been a typical way of organizing production and business activities in rural areas, which are effective and suitable production models with the current situation of country’s development However, besides the achievements, the development of farms in Que Vo is facing many issues that need to be addressed such as legal status of the farm is unclear, most of the farms have been established and developed by themselves, the lack of orientation leads to many difficulties in planning and investing in infrastructure, in training and transfer of scientific and technical progress as well as in the transfer of rights in order to use land in long-term, and in conformity with the land use planning of the local government Technological facilities in the farms are rudimentary, lack of capital, low level of education and management of the farm owners, production is based mainly on experience while the market price of inputs and outputs is unstable, product consumption is difficult
The research has pointed out the factors affecting the development of livestock and aquaculture farms in Que Vo district; then showed the advantages and disadvantages which led to the slow development of farms in Que Vo district: lack of capital for production; the education level of farm owners is limited; mechanisms and policies are not synchronous; lack of overall planning of the local government; market issues have not been paid attention yet
This research also proposed solutions to develop livestock and aquaculture farms
in Que Vo district, Bac Ninh province In order to develop sustainable farms in Que Vo, general solutions and specific solutions for each type of farm have been systematically addressed, but first of all it is important to focus on these two core solutions are: training for farm owners; Clearly define the legal position of the farm such as long-term land use rights, the legal status of the farm owners to help them enjoy the government-provided preferential policies Therefore, solutions to local socio-economic development and farm development need including macro and micro-solutions
Trang 14PH ẦN 1 MỞ ĐẦU
Trên thế giới, các trang trại đã hình thành và phát triển từ rất lâu, bởi vì nó
là xu hướng của hầu hết các nền nông nghiệp thế giới Phát triển trang trại không
những phù hợp với yêu cầu của nền nông nghiệp sản xuất hàng hóa hiện đại trong nền kinh tế thế giới mà còn đáp ứng yêu cầu khai thác ngày càng hiệu quả các nguồn lực tự nhiên
Đối với Việt Nam, nhờ thực hiện đường lối đổi mới trong lĩnh vực nông
nghiệp, nông thôn, cùng với chương trình xây dựng nông thôn mới, trong những năm gần đây hầu hết tất cả các địa phương đã hình thành và phát triển nhiều mô hình sản xuất đa dạng, phong phú trên nhiều lĩnh vực nông - lâm - ngư nghiệp, với nhiều thành phần kinh tế tham gia Trước đây mô hình kinh tế hộ gia đình vẫn là
mô hình sản xuất chủ yếu, tuy nhiên cùng với với sự phát triển của khoa học công nghệ và quá trình tích tụ, tập trung ruộng đất, mô hình kinh tế trang trại bước đầu
đã và đang phát triển mạnh mẽ và cho thấy hiệu quả rõ rệt Đặc biệt, việc phát triển trang trại chăn nuôi và thủy sản giúp khai thác tối đa nguồn vốn trong dân, giải quyết vấn đề việc làm, nâng cao thu nhập cho người dân, cải thiện bộ mặt nông nghiệp, nông thôn, góp phần thực hiện tốt chương trình xây dựng nông thôn mới
Bắc Ninh là một tỉnh thuộc vùng đồng bằng Sông Hồng, là cửa ngõ phía
Bắc của Thủ đô Hà Nội, gần sân bay Quốc tế Nội Bài, nằm trong vùng kinh tế
trọng điểm: Hà Nội, Hải Phòng, Quảng Ninh Bắc Ninh có các trục đường giao thông lớn quan trọng chạy qua, nối liền tỉnh với các Trung tâm kinh tế, văn hoá
và thương mại của phía Bắc (Cổng thông tin điện tử tỉnh Bắc Ninh, 2015)
Toàn tỉnh hiện có 3.300 trang trại, gia trại, trong đó 167 trang trại đạt các tiêu chí mới theo quy định của Bộ Nông nghiệp và PTNT, có 15 trang trại trồng
trọt (chiếm 9%); 83 trang trại chăn nuôi (chiếm 55,7%); 30 trang trại nuôi trồng
thủy sản (chiếm 18%); 29 trang trại sản xuất kinh doanh tổng hợp (chiếm 17,3%) Hệ thống các trang trại, gia trại cung cấp khối lượng hàng hoá lớn, giá trị
sản xuất chiếm xấp xỉ 35% tổng giá trị của ngành nông nghiệp tỉnh, giải quyết
việc làm cho gần 40.000 lao động nông thôn (Việt Anh, 2016)
Huyện Quế Võ nằm ở phía Đông tỉnh Bắc Ninh, thuộc vùng đồng bằng châu thổ Sông Hồng Trên địa bàn huyện Quế Võ, các trang trại chăn nuôi và
Trang 15thủy sản đã và đang phát triển theo hướng rất tích cực, cải thiện đời sống cho người dân nông thôn và góp phần xóa đói giảm nghèo Sự phát triển của trang
trại chăn nuôi và thủy sản đã từng bước giúp người dân phát huy được lợi thế so sánh, mở rộng quy mô sản xuất nông nghiệp hàng hoá, nâng cao năng suất, hiệu
quả và sức cạnh tranh trong cơ chế thị trường, góp phần không nhỏ vào sự phát triển không ngừng của ngành nông nghiệp toàn huyện
Tuy nhiên, việc phát triển trang trại chăn nuôi và thủy sản ở Quế Võ còn
bộc lộ một số hạn chế và khó khăn nhất định như: Do thiếu vốn cho sản xuất kinh doanh nên nguồn vốn của các trang trại phần lớn là do các gia đình tự tích lũy,
kết hợp vay của người thân Nguồn vốn vay ngân hàng còn hạn chế, do thời gian và lãi suất cho vay chưa phù hợp với chu kỳ kinh doanh của trang trại dẫn đến khó khăn trong việc đầu tư sản xuất Trình độ chuyên môn của chủ trang trại
thấp dẫn đến hiệu quả ứng dụng khoa học, kỹ thuật chưa cao Cơ sở hạ tầng tuy được đầu tư và được hưởng nhiều chính sách hỗ trợ của Nhà nước về cơ sở hạ
tầng, khoa học kỹ thuật, giống , song về tổng thể cơ sở hạ tầng của các trang trại chưa đảm bảo so với yêu cầu áp dụng tiến bộ công nghệ cao vào sản xuất nhằm tăng năng suất, chất lượng sản phẩm Hơn nữa nhiều trang trại chăn nuôi và thủy
sản chưa được giao đất ổn định lâu dài để người dân yên tâm đầu tư sản xuất
Xuất phát từ những vấn đề trên mà em lựa chọn nghiên cứu đề tài "Giải
Trang 161.3 ĐỐI TƯỢNG, PHẠM VI NGHIÊN CỨU
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là các vấn đề lý luận và thực tiễn về phát triển trang trại chăn nuôi và thủy sản, các giải pháp phát triển trang trại chăn nuôi
và thủy sản huyện Quế Võ tỉnh Bắc Ninh
Đối tượng khảo sát phục vụ nghiên cứu là các trang trại chăn nuôi và thủy
sản, cán bộ quản lý, khuyến nông/khuyến ngư, cơ quan chính quyền địa phương liên quan
- Phạm vi nội dung nghiên cứu: Nghiên cứu tập trung đánh giá thực trạng
và các giải pháp phát triển trang trại chăn nuôi và thủy sản của huyện Quế Võ
tỉnh Bắc Ninh
- Phạm vi không gian nghiên cứu: Trên địa bàn huyện Quế Võ tỉnh Bắc Ninh
- Phạm vi thời gian nghiên cứu:
+ Thông tin thứ cấp được nghiên cứu trong thời gian 3 năm từ 2014 – 2016 + Thông tin sơ cấp được thực hiện trong năm 2017
+ Thời gian thực hiện đề tài từ tháng 5/2017 - 5/2018
Trang 17PH ẦN 2 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ GIẢI PHÁP PHÁT
TRI ỂN TRANG TRẠI CHĂN NUÔI VÀ THỦY SẢN
2.1.1.1 Khái ni ệm về tăng trưởng và phát triển
a Tăng trưởng
Tăng trưởng và phát triển đôi khi được coi là đồng nghĩa, nhưng thực ra chúng có những nội dung khác nhau và liên quan với nhau Theo nghĩa chung
nhất, tăng trưởng là nhiều sản phẩm hơn còn phát triển không những nhiều sản
phẩm hơn mà còn phong phú hơn về chủng loại và chất lượng, phù hợp hơn về
cơ cấu và phân bố của cải David C and Tre V Y (1994)
Ðể phản ánh mức độ tăng trưởng kinh tế của một thời kỳ, người ta thường dùng giá trị tuyệt đối của các đại lượng để so sánh chúng với nhau Chênh lệch giữa các thời điểm chính là mức tăng trưởng kinh tế của một thời kỳ cụ thể Ngoài ra, tăng trưởng kinh tế còn được phản ánh bằng tốc độ gia tăng của các đại lượng trong các giai đoạn với nhau, và được đo bằng phần trăm thay đổi, giá trị phần trăm cao hay thấp thể hiện tốc độ tăng trưởng nhanh hay chậm (Mai Thanh Cúc và Quyền Đình Hà, 2005)
b Phát triển
Trong thời đại ngày nay có nhiều quan niệm khác nhau về phát triển Phép
biện chứng duy vật của chủ nghĩa Mác- Lê nin cho rằng: Phát triển là một phạm trù triết học dùng để chỉ sự vận động tiến lên từ thấp đến cao, từ đơn giản đến
phức tạp, từ chưa hoàn thiện đến hoàn thiện của sự vật (Nguyễn Ngọc Long và Nguyễn Hữu Vui, 2006)
Theo quan điểm này, phát triển không bao quát toàn bộ sự vận động nói chung Nó chỉ khái quát xu hướng chung của sự vận động - xu hướng vận động
đi lên của sự vật, sự vật mới ra đời thay thế cho sự vật cũ Sự phát triển chỉ là
một trường hợp đặc biệt của sự vận động Trong quá trình phát triển của mình trong sự vật sẽ hình thành dần dần những quy định mới cao hơn về chất, sẽ làm thay đổi mối liên hệ, cơ cấu, phương thức tồn tại và vận động, chức năng vốn có theo chiều hướng ngày càng hoàn thiện hơn
Trang 18Theo quan điểm kinh tế học: Phát triển kinh tế là quá trình chuyển biến về
mọi mặt của nền kinh tế trong 1 thời kì nhất định bao gồm sự tăng lên về sản lượng hoặc thu nhập của nền kinh tế, sự hoàn thiện của cơ cấu kinh tế và việc nâng cao chất lượng cuộc sống của dân cư
Tuy rằng có nhiều quan niệm khác nhau về phát triển Nhưng các ý kiến đều cho rằng đó là phạm trù vật chất, phạm trù tinh thần, phạm trù về hệ thống giá trị trong cuộc sống của con người Mục tiêu chung của phát triển là nâng cao các quyền lợi của con người, quyền bình đẳng, tự do ngôn luận, quyền lợi về kinh tế chính trị văn hóa xã hội và quyền tự do công dân
Tóm gọn lại, nội hàm của phát triển là làm thay đổi hay hoàn thiện về căn
bản cái đã có để có cái tốt hơn, tiến bộ hơn Cái mới, cái được hoàn thiện (tức phát triển) có thể có hai khía cạnh chính: Phát triển về số lượng và phát triển về
chất lượng Trong thực tiễn, phát triển kinh tế phải kết hợp hài hoà với phát triển
xã hội, tăng trưởng kinh tế phải hài hoà với công bằng và tiến bộ xã hội, đời sống
vật chất và đời sống tinh thần của nhân dân Tăng trưởng kinh tế là tiền đề vật
chất hỗ trợ cho việc thực hiện công bằng xã hội, ngược lại công bằng xã hội tạo
ra động lực vững chắc để thúc đẩy tăng trưởng kinh tế Trong nông nghiệp nông thôn, phát triển là sự gia tăng nhiều hơn về số lượng và chất lượng nông sản, sự
đa dạng về chủng loại nông sản đồng thời nâng cao đời sống người nông dân cả
về kinh tế, văn hoá, giáo dục, xã hội và sự tự do bình đẳng, tiến bộ xã hội
c Phát triển bền vững
Phát triển bền vững là: quản lý và lưu giữ cơ sở nguồn lợi tự nhiên, định hướng thay đổi thể chế và công nghệ theo cách đảm bảo đạt được sự thoả mãn liên
tục những nhu cầu của con người cho các thế hệ hiện tại và tương lai Sự phát triển
bền vững như vậy bảo tồn được các tài nguyên (đất), nước và các nguồn gen thực
vật và (động vật) không làm suy thoái môi trường, công nghệ thích hợp, khả năng phát triển kinh tế và khả năng chấp nhận của xã hội (FAO, 2008)
Như vậy, phát triển bên cạnh tăng thu nhập bình quân đầu người, còn bao
gồm khía cạnh như nâng cao phúc lợi xã hội, nâng cao các tiêu chuẩn sống, cải thiện giáo dục, y tế chăm sóc sức khỏe cho người dân, đảm bảo sự bình đẳng cũng như quyền công dân Phát triển còn là sự tăng trưởng bền vững, bao gồm các tiêu dùng vật chất, điều kiện giáo dục, y tế chăm sóc sức khỏe cũng như bảo
vệ môi trường Phát triển là thuộc tính quan trọng, đặc biệt là sự bình đẳng về cơ
hội, sự tự do về chính trị, quyền tự do công dân của con người
Trang 192.1.1.2 Khái ni ệm về trang trại
Hiện nay có rất nhiều quan điểm khác nhau về trang trại, tùy vào từng mục tiêu nghiên cứu khác nhau mà các tác giả đưa ra các quan điểm khác nhau
Khi nói về “trang trại” tức là nói đến những cơ sở sản xuất kinh doanh nông nghiệp của một loại hình tổ chức sản xuất nhất định theo nghĩa rộng bao
gồm cả hoạt động xã hội kinh doanh trong lĩnh vực trồng trọt, chăn nuôi, lâm nghiệp, nuôi trồng thủy sản Bản thân cụm từ “trang trại” là đền cập đến tổng thể
những mối quan hệ kinh tế - xã hội, môi trường nảy sinh trong quá trình hoạt động sản xuất, kinh doanh của các trang trại, quan hệ giữa các trang trại với nhau, giữa các trang trại với các tổ chức kinh tế khác, với Nhà nước, với môi trường sinh thái tự nhiên (Nguyễn Thị Thùy Linh, 2016)
Bên cạnh đó, có quan điểm cho rằng: Trang trại là đơn vị kinh tế sản xuất nông nghiệp (bao gồm cả nông - lâm - thủy sản) của một người chủ trang trại Họ
vừa làm chủ về ruộng đất, vừa làm chủ về tư liệu sản xuất, vừa là người tổ chức
sản xuất kinh doanh, tự chủ và tự chịu trách nhiệm về kết quả sản xuất kinh doanh của mình, với mục đích chính là sản xuất hàng hóa và một phần sản phẩm được sử dụng tiêu thụ gia đình (Bùi Bằng Đoàn, 2009)
Trang trại là một hình thức tổ chức sản xuất sản phẩm hàng hóa, tự liệu
sản xuất thuộc quyền sở hữu hoặc quyền sử dụng của một người chủ độc lập, sản
xuất được tiến hàng trên quy mô diện tích ruộng đất và các yếu tố sản xuất được
tập trung đủ lớn, với cách thức tổ chức quản lý tiến bộ và trình độ kỹ thuật cao,
phần đông tự chủ và gắn với thị trường (Nguyễn Thị Thùy Linh, 2016)
Khái quát lại: Trang trại là một hình thức tổ chức sản xuất hàng hóa nông nghiệp chủ yếu dựa vào nguồn lực gia đình nhằm mở rộng quy mô và nâng cao
hiệu quả sản xuất trong ngành trồng trọt, chăn nuôi, nuôi trồng thủy sản, trồng
rừng, gắn với chế biến và tiêu thụ sản phẩm của ngành đó
2.1.1.3 Khái ni ệm về chăn nuôi và thủy sản
a) Khái niêm c hăn nuôi
Chăn nuôi là một ngành quan trọng của nông nghiệp hiện đại, nuôi lớn vật nuôi để sản xuất những sản phẩm như: thực phẩm, lông, và sức lao động Sản
phẩm từ chăn nuôi nhằm cung cấp lợi nhuận và phục vụ cho đời sống sinh hoạt
của con người Chăn nuôi xuất hiện lâu đời trong nhiều nền văn hóa kể từ khi loài người chuyển đổi từ lối sống săn bắn hái lượm sang định canh định cư (Wikipedia, 2017)
Trang 20Chăn nuôi là một trong hai ngành sản xuất chủ yếu của nông nghiệp, với đối tượng sản xuất là các loại động vật nuôi nhằm cung cấp các sản phẩm đáp ứng nhu cầu của con người Ngành chăn nuôi cung cấp các sản phẩm có giá trị kinh tế cao như thịt, trứng, sữa, mật ong nhằm đáp ứng các nhu cầu tiêu dùng thiết yếu hàng ngày của người dân Một xu hướng tiêu dùng có tính quy luật chung là khi xã hội phát triển thì nhu cầu tiêu dùng về các sản phẩm chăn nuôi ngày càng tăng lên một cách tuyệt đối so với các sản phẩm nông nghiệp nói chung Chăn nuôi là ngành cung cấp nhiều sản phẩm làm nguyên liệu quí giá cho các ngành công nghiệp chế biến thực phẩm và dược liệu Chăn nuôi là ngành ngày càng có vai trò quan trọng trong việc cung cấp các sản phẩm đặc sản tươi sống và sản phẩm chế biến có giá trị cho xuất khẩu (Thư viện học liệu mở Việt Nam, 2017)
hồi, hàu và sò điệp có năng suất khai thác cao Trong đó ngành thủy sản có liên quan đến việc đánh bắt cá tự nhiên hoặc cá nuôi thông qua việc nuôi cá Nuôi
trồng thủy sản đã trực tiếp hoặc gián tiếp tác động lớn đến đời sống của hơn 500 triệu người ở các nước đang phát triển phụ thuộc vào nghề cá và nuôi trồng thủy
sản (Wikipedia, 2017)
Theo Luật Thủy sản được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam Việt Nam khóa XI, kỳ họp thứ 4 thông qua: "Hoạt động thuỷ sản là việc tiến hành khai thác, nuôi trồng, vận chuyển, bảo quản, chế biến, mua bán, xuất khẩu,
nhập khẩu thuỷ sản, dịch vụ trong hoạt động thuỷ sản, điều tra, bảo vệ và phát triển nguồn lợi thuỷ sản" (Luật Thủy sản, 2003)
2.1.1.4 Quan điểm về phát triển trang trại chăn nuôi và thủy sản
Từ những lý luận trên ta có thể đưa ra quan điểm về phát triển trang trại chăn nuôi và thủy sản là sự tăng tiến về mặt quy mô, số lượng các trang trại chăn nuôi và thủy sản cũng như nâng cao về mặt chất lượng sản phẩm chăn nuôi và
thủy sản, phát huy vai trò của nó trong việc thúc đẩy tăng trưởng, giải quyết việc làm ở khu vực nông nghiệp, nông thôn, đồng thời đem lại hiệu quả kinh tế - xã
Trang 21hội, bảo vệ môi trường Có thể nói phát triển trang trại chăn nuôi và thủy sản là
hướng đột phá nhằm thúc đẩy kinh tế nông nghiệp và phát triển vùng
Để nhận dạng hay nói cách khác là xác định một đơn vị sản xuất cơ sở trong nông nghiệp có phải là một trang trại hay không cần phải có tiêu chí xác định Tiêu chí xác định trang trại dựa trên các đặc trưng cơ bản nhất của trang
trại, nhưng cần đơn giản dễ vận dụng Trên lý thuyết tiêu chí xác định một trang
trại gồm cả định tính và định lượng, cần phải kết hợp cả hai mặt trên để vận
dụng Theo Thông tư liên tịch số 27/2011/TTLT/BNN-TCTK ngày 13/4/2011 hướng dẫn tiêu chí để xác định trang trại như sau:
Giá trị sản lượng hàng hóa và giá trị bình quân một năm đạt từ 40 triệu đồng trở lên đối với các tỉnh phía Bắc và ven biền miền Trung, từ 50 triệu đồng trở lên đối với các tỉnh phía Nam và Tây nguyên
Có qui mô sản xuất tương đối lớn so với mức trung bình của kinh tế hộ tại địa phương, tương ứng với từng ngành sản xuất cụ thể như trồng trọt, chăn nuôi, lâm nghiệp, nuôi trồng thủy sản
- Đối với các trang trại trồng cây hàng năm là chủ yếu thì ở miền Bắc và miền Trung phải có diện tích từ 2 ha canh tác trở lên, còn ở các tỉnh Nam Bộ phải
có diện tích từ 3 ha trở lên
- Đối với trang trại trồng các loại cây lâu năm và cây ăn quả, thì ở các tỉnh miền Bắc và miền Trung phải có diện tích từ 3 ha trở lên, ở các tỉnh Nam Bộ phải
có diện tích từ 5 ha trở lên
- Đối với trang trại chăn nuôi như trâu bò phải có từ 50 con trở lên, lợn
100 con trở lên (không kể lợn sữa dưới 2 tháng, gia cầm có từ 2.000 con trở lên (không tính số con dưới 7 ngày tuổi)
- Đối với trang trại lâm nghiệp phải có 10 ha đất rừng trở lên
- Đối với trang trại nuôi trồng thủy sản phải có từ 2 ha diện tích mặt nước trở lên
Có sử dụng lao động làm thuê thường từ 2 lao động/năm Nếu lao động thời vụ thì quy mô qui đổi thành lao động thường xuyên
Chủ trang trại phải là người có kiến thức, kinh nghiệm về nông, lâm, ngư nghiệp và trực tiếp điều hành sản xuất tại trang trại
Trang 22Lấy sản xuất hàng hóa làm hướng chính và có thu nhập vượt trội so với trung bình của kinh tế hộ tại địa phương
Theo tiêu chí mới của Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn là để hướng trang trại đến sự phát triển bền vững, lấy hiệu quả làm thước đo hàng đầu, phù hợp với quá trình phát triển của công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn
Như vậy theo tiêu chí của Bộ nông nghiệp và phát triển nông thôn thì mới đưa ra được các tiêu chí để xác định kinh tế trang trại về mặt kinh tế nhưng để phát triển kinh tế trang trại theo hướng bền vững thì phải đảm bảo ở cả 3 mặt là kinh tế, xã hội, môi trường tức là mở rộng qui mô với cơ cấu hợp lý, không
ngừng nâng cao năng suất chất lượng và thực hiện hài hoà 3 mục tiêu: kinh tế, xã
hội, môi trường
Việc phát triển trang trại chăn nuôi và thủy sản nhằm khai thác, sử dụng
có hiệu quả đất đai, vốn, kỹ thuật, kinh nghiệm quản lý, góp phần phát triển nông nghiệp bền vững; tạo việc làm, tăng thu nhập; khuyến khích làm giàu đi đôi với xoá đói giảm nghèo; phân bổ lại lao động, dân cư, xây dựng nông thôn mới Thông qua phát triển trang trại chăn nuôi và thủy sản đã góp phần quan trọng trong quá trình chuyển dịch, tích tụ ruộng đất gắn liền với quá trình phân công lại lao động ở nông thôn, từng bước chuyển dịch lao động nông nghiệp sang làm các ngành phi nông nghiệp, thúc đẩy tiến trình công nghiệp hoá trong nông nghiệp và nông thôn
Ở Việt Nam, những năm gần đây trang trại chăn nuôi và thủy sản không
ngừng được phát triển về số lượng mà còn phát triển mạnh về quy mô và chất lượng các trang trại Các trang trại chăn nuôi và thủy sản đã có đóng góp to lớn cho nền sản xuất nông nghiệp nói riêng và nền sản xuất xã hội nói chung, đóng góp này có ý nghĩa tích cực cả ở ba mặt: Kinh tế - xã hội - môi trường, cụ thể ở
từng mặt như sau:
V ề mặt kinh tế: Trang trại góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế, phát triển
vật nuôi có giá trị kinh tế cao Mặt khác sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế trang trại góp phần thúc đẩy phát triển công nghiệp, đặc biệt là công nghiệp chế biến và
dịch vụ phát triển ở nông thôn (Thân Trọng Trung, 2015)
Thực tế cho thấy việc phát triển trang trại chăn nuôi và thủy sản ở những nơi có điều kiện thuận lợi bao giờ cũng đi liền với việc khai thác, sử dụng một
Trang 23cách đầy đủ và hiệu quả các nguồn lực trong nông nghiệp, nông thôn Vì vậy, phát triển trang trại góp phần tích cực thúc đẩy sự tăng trưởng và phát triển của nông nghiệp và kinh tế nông thôn (Nguyễn Đình Hương, 2000)
V ề mặt xã hội: Phát triển trang trại góp phần quan trọng làm tăng số hộ giầu
trong nông thôn, tạo thêm việc làm và tăng thêm thu nhập cho một bộ phận dân
cư nông thôn Điều này có ý nghĩa rất to lớn trong vấn đề giải quyết việc làm cho người lao động nông nghiệp và xoá đói giảm nghèo ở nông thôn, một trong
những vấn đề bức xúc của nông nghiệp, nông thôn nước ta hiện nay Mặt khác, phát triển trang trại chăn nuôi và thủy sản còn thúc đẩy phát triển kết cấu hạ tầng trong nông thôn và tạo ra thế hệ nông dân kiểu mới mà chủ trang trại là đại diện tiêu biểu với đặc điểm là: Có kiến thức, có ý trí quyết tâm cao, có tính hợp tác cao, có khả năng tổ chức quản lý sản xuất nông nghiệp, là tấm gương để các hộ nông dân noi theo (Thân Trọng Trung, 2015)
V ề mặt môi trường: trang trại càng phát triển thì những diện tích đất trống,
đồi núi trọc, diện tích đất còn hoang hóa ngày càng co hẹp lại và được đưa vào
sản xuất nông, lâm, ngư nghiệp Điều đó có nghĩa là việc trồng rừng, bảo vệ
rừng, phủ xanh đất trống đồi núi trọc, sử dụng hiệu quả tài nguyên đất luôn tăng lên cùng với sự phát triển của trang trại Như vậy, phát triển trang trại góp phần tích cực vào việc cải tạo, bảo vệ môi trường sinh thái của trái đất (Nguyễn Phượng Vỹ, 1999)
Phát triển số lượng trai trại là việc gia tăng số lượng các cơ sở trang trại qua các năm theo chiều hướng năm sau cao hơn năm trước Nói cách khác là làm tăng số lượng tuyệt đối các trang trại, nhân rộng các trang trại hiện có, làm cho
loại hình kinh tế trang trại lan rộng sang những khu vực khác quá đó phát triển thêm số lượng trang trại mới
Việc gia tăng số lượng trai trại được thể hiện bằng cách phát triển mới các
cơ sở sản xuất nông nghiệp theo hình thức trang trại hay chuyển hóa kinh tế hộ gia đình thành kinh tế trang trại hoặc là phát triển về mặt cơ cấu, tức là chuyển hóa cơ cấu sản xuất của các trang trại theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa
Việc phát triển số lượng trang trại đòi hỏi sự gia tăng các yếu tố nguồn lực trong nông nghiệp như: đất đai, lực lượng lao động, vốn đầu tư
Trang 24Các tiêu chí đánh giá sự phát triển về số lượng trang trại là: Số lượng trai trại tăng qua các năm; tốc độ tăng của số lượng các trang trại; số lượng trang trại tăng
của từng ngành, từng lĩnh vực, từng địa phương (Nguyễn Văn Ngọc, 2015)
2.1.4.2 Gia tăng các yếu tố nguồn lực của trang trại
Gia tăng các yếu tố nguồn lực của trang trại là việc làm tăng năng lực sản
xuất của từng trang trại thông qua gia tăng quy mô về đất đai, lao động, vốn đầu
tư, cơ sở vật chất và các điều kiện về khoa học công nghệ của trang trại Khi các trang trại phát triển thì quy mô các yếu tố nguồn lực tăng lên, làm tăng khả năng
sản xuất và kết quả là giá trị nông sản hàng hóa thu được của trang trại cũng tăng lên Các yếu tố nguồn lực để phát triển trang trại gồm:
Nguồn lực đất đai: Đất đai là tư liệu quan trọng cho sản xuất nông nghiệp nói chung và phát triển kinh tế trang trại nói riêng Quá trình CNH – ĐTH đã làm
giảm diện tích nông nghiệp, nhất là các khu đất thuận lợi cho giao thông, điện Nguồn lực đất đai để phát triển kinh tế trang trại của các hộ được huy động từ nhiều nguồn khác nhau Nâng cao nguồn lực đất đai thông qua việc tích tụ và tập trung ruộng đất, các chính sách hạn điền (Nguyễn Đình Điền, 2000)
Nguồn nhân lực: Nâng cao kiến thức và khả năng lao động của chủ trang
trại, xây dựng tác phong công nhân nông nghiệp cho người lao động sản xuất kinh doanh trong trang trại
Các điều kiện cơ sở vật chất: Nâng cao khả năng tiếp cần nguồn nguyên
vật liệu, máy móc, cơ sở hạ tầng phục vụ sản xuất và lưu thông hàng hóa
Nguồn lực về khoa học – công nghệ: Nâng cao trình độ khoa học công nghệ, khả năng tiếp cận máy móc thiết bị, các công nghệ mới tiên tiến
Các tiêu chí đánh giá sự phát triển các yếu tố nguồn lực của trang trại là: Tăng diện tích đất đai canh tác, hệ thống cơ sở vật chất của trang trại; Tăng số lượng lao động của trang trại qua các năm; Tăng quy mô vốn đầu tư của trang trại; Các cơ
sở nghiên cứu, ứng dụng khoa học công nghệ (Nguyễn Văn Ngọc, 2015)
2.1.4.3 Liên k ết sản xuất tiêu thụ sản phẩm của các trang trại
Liên kết sản xuất của các trang trại là sự thiết lập các mối quan hệ giữa các trang trại thuộc cùng lĩnh vực hoạt động, giữa các đối tác cạnh tranh hoặc
giữa các trang trại có hoạt động mang tính chất bổ sung, nhằm tiết kiệm thời gian, tiết kiệm chi phí và Đạt hiệu quả cao hơn trong sản xuất kinh doanh, tạo ra
sức mạnh cạnh tranh, cùng nhau chia sẻ các khả năng, mở rộng thị trường mới
Trang 25Liên kết sản xuất giữa các trang trại có thể thông qua nhiều hình thức như liên kết ngang, liên kết dọc và hiệp hội
Liên kêt sản xuất của các trang trại đem lại lợi ích cho các bên tham gia
rất lớn như sẽ làm tiết kiệm các nguồn lực nhờ giảm chi phí cạnh tranh, tăng khả năng linh hoạt của mỗi bên, giảm thiểu rủi ro nhờ chia sẻ trách nhiệm của mỗi bên tham gia
Phát triển thị trường tiêu thụ là việc các trang trại tìm cách gia tăng doanh
số thông qua việc đưa nhiều sản phẩm vào thị trường, làm cho thị trường của trang trại đều mở rộng, thị phần ngày càng tăng lên, nội dung của phát triển thị trường gồm:
Phát triển thị trường về địa lý: Là việc mở rộng thị trường ở nhiều nơi Phát triển thị trường về sản phẩm: Là việc trang trại làm phong phú, đa
dạng sản phẩm hàng hóa của trang trại trên thị trường
Tiêu thụ sản phẩm là yếu tố quyết định kết quả sản xuất kinh doanh của trang trại, số lượng sản phẩm tiêu thụ càng nhiều, thị trường tiêu thụ rộng, khả năng thanh toán nhanh gọn chứng tỏ chất lượng kinh doanh của trang trại rất tốt (Nguyễn Đình Hương, 2000)
2.1.4.4 Đào tạo nâng cao trình độ quản lý kỹ thuật của chủ trang trại chăn nuôi
và th ủy sản
Đào tạo, nâng cao năng lực quản lý cho các chủ trang trại là vấn đề cần được ưu tiên Thông qua tổng kết, địa phương cần tổ chức cho các chủ trang trại chăn nuôi và thủy sản tham quan các trang trại quản lý kinh doanh giỏi để học
tập lẫn nhau và tổ chức bồi dưỡng những kiến thức về khoa học và quản lý Về lâu dài, cần tổ chức các khoá đào tạo chuyên môn kỹ thuật, nghiệp vụ quản lý cho các chủ trang trại chăn nuôi và thủy sản
Trong các nông hộ, chủ hộ thường là người ra quyết định đầu tư cho sản xuất trên đất của gia đình mình, Khi trình độ tổ chức quản lý của chủ hộ tương đối tốt thì
họ sẽ định hướng phát triển sản xuất đúng, thích ứng được với nền kinh tế thị trường, nông lâm sản hàng hóa được sản xuất theo tín hiệu của thị trường vì thế có
thể nói, trình độ tổ chức quản lý của chủ hộ sẽ phần nào quyết định đến việc quyết định trồng cây gì, nuôi con gì và đầu tư vốn là bao nhiêu cho hoạt động sản
xuất kinh doanh của nông hộ Bởi vậy, trình độ tổ chức quản lý của chủ hộ cũng
Trang 26là một yếu tố quyết định đến hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh của nông
hộ, đồng thời làm ảnh hưởng đến quá trình phát triển của trang trại (Nguyễn Văn Ngọc, 2015)
2.1.4.5 Phát tri ển về kỹ thuật và phòng trừ dịch bệnh trong các trang trại
Khoa học kỹ thuật là yếu tố quyết định đến thành công của sản xuất kinh doanh, việc áp dụng khoa học kỹ thuật giúp tiết kiệm thời gian, sức người, nâng cao chất lượng sản phẩm (Nguyễn Đình Hương, 2000)
Hiện nay, tình hình dịch bệnh trên vật nuôi vẫn diễn biến khá phức tạp, gây khó khăn cho ngành nông nghiệp nói chung và thiệt hại không nhỏ đối với kinh tế của người dân nói riêng Vì vậy, để phòng chống dịch bệnh một cách triệt
để, kịp thời thì trước mắt ý thức, tập quán chăn nuôi của người dân cần phải được thay đổi; đồng thời, các ban, ngành chức năng cũng nên vào cuộc một cách đồng
bộ, quyết liệt hơn
Bảo vệ môi trường là một vấn đề quan trọng trong việc phát triển bền vững các trang trại chăn nuôi và thủy sản, đảm bảo phát triển kinh tế lâu dài, không làm ảnh hưởng đến cuộc sống của người dân xung quanh khu vực trang trại
Khi mà những trang trại chăn nuôi và thủy sản càng phát triển thì việc phòng chống ô nhiễm môi trường càng trở nên cấp thiết Do hiện nay ở nhiều địa phương trang trại nằm gần khu dân cư, chất thải từ hoạt động chăn nuôi thải ra môi trường gây ảnh hưởng không nhỏ đến sức khỏe và đời sống sinh hoạt người dân (Nguyễn Văn Ngọc, 2015)
2.1.5.1 Th ị trường tiêu thụ sản phẩm
Ở Việt Nam, thị trường nông lâm thủy sản cũng đang ngày một đa dạng
và lớn dần lên Nhất là hiện nay đang trong thời kỳ hội nhập với quốc tế, đặc biệt sau khi nước ta trở thành thành viên của hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN) năm 1995, gia nhập tổ chức thương mại quốc tế WTO và với việc gia
nhập AFTA thì nước ta lại càng có cơ hội để trao đổi hàng hóa, dịch vụ… Thị trường lại càng được mở rộng, yêu cầu về chủng loại và chất lượng hàng hóa nông, lâm sản cũng ngày một cao hơn
Sản phẩm nông nghiệp có đặc điểm khi tiêu thụ là sản phẩm tươi sống, khó khăn cho việc bảo quản, sản phẩm nông nghiệp mang tính mùa vụ và có đặc
Trang 27điểm là cung muộn không thể đáp ứng một cách ngay lập tức, vì đối tượng sản
xuất nông nghiệp là những sinh vật sống nên cần có thời gian sinh trưởng, phát triển sau đó mới đến bước thu hoạch Do đó, dù giá nông sản rất cao, các nông
trại phải mất hàng tháng, thậm chí hàng năm mới có được sản phẩm
Đối tượng khách hàng là ai? Khách hàng mua nông sản cũng được phân chia theo nhiều nhóm đối tượng khác nhau Ví dụ, những khách hàng là những công dân của những nước có thu nhập cao, thường họ có yêu cầu khắt khe về chất lượng sản phẩm và những tiêu chuẩn vệ sinh, tuy nhiên họ thường sẵn sàng trả giá cao khi mua nông sản Với những nhóm khách hàng có thu nhập thấp, thường thì họ có yêu cầu về tiêu chuẩn hàng hoá cũng thấp, giá cả cũng khó chấp nhận ở
mức cao Ngoài ra, chúng ta cần chú ý đến đặc điểm khách hàng từng khu vực châu lục, cũng có những đặc điểm yêu cầu về sản phẩm có khi cũng khác nhau
Một đặc điểm chú ý nữa với khách hàng là nên quan tâm đến yếu tố văn hoá và đặc điểm tôn giáo mà khách hàng đang tuân thủ Ví dụ, thịt lợn là thứ mà
những người theo đạo Hồi kiêng, cũng như những người theo đạo Hin Đu không dùng thịt bò là thực phẩm trong bữa ăn của mình Tóm lại thị trường tiêu thụ sản
phẩm là rất quan trọng, nó là vấn đề sống còn của sự phát triển kinh tế trang trại Đối với hàng hoá, sản phẩm nông nghiệp thì thị trường tiêu thụ sản phẩm là vô cùng lớn Tất cả các thành phần kinh tế đều phải sử dụng sản phẩm của nông nghiệp Mà hiện nay kinh tế trang trại đang là then chốt và chủ đạo trong phát triển nông nghiệp Bên cạnh đó sản xuất nông nghiệp lại luôn phải gắn liền với đất đai, phụ thuộc rất lớn về khí hậu và thời tiết, bệnh dịch (Mai Thanh Cúc và Quyền Đình Hà, 2005)
2.1.5.2 Trình độ của chủ trang trại
Trong các nông hộ, chủ hộ thường là người ra quyết định đầu tư cho sản
xuất trên đất của gia đình mình, Khi trình độ tổ chức quản lý của chủ hộ tương đối
tốt thì họ sẽ định hướng phát triển sản xuất đúng, thích ứng được với nền kinh tế
thị trường, nông lâm sản hàng hóa được sản xuất theo tín hiệu của thị trường vì thế
có thể nói, trình độ tổ chức quản lý của chủ hộ sẽ phần nào quyết định đến việc quyết định trồng cây gì, nuôi con gì và đầu tư vốn là bao nhiêu cho hoạt động sản
xuất kinh doanh của nông hộ Bởi vậy, trình độ tổ chức quản lý của chủ hộ cũng là
một yếu tố quyết định đến hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh của nông hộ, đồng thời làm ảnh hưởng đến quá trình phát triển của trang trại
Trang 28Việc tổ chức quản lý sản xuất kinh doanh của trang trại cũng giống như tổ
chức quản lý một doanh nghiệp Vì vậy, chủ trang trại phải có trình độ quản lý, điều hành sản xuất kinh doanh để đảm bảo trang trại hoạt động có hiệu quả Năng
lực tổ chức quản lý điều hành của chủ trang trại thể hiện ở khả năng quản lý tư
liệu sản xuất, quản lý lao động, vốn sản xuất kinh doanh, quản lý điều hành, tiêu
thụ nông sản… Ở nhiều nước công nghiệp phát triển, chủ trang trại muốn được nhà nước công nhận về trình độ quản lý và tư cách pháp nhân, phải tốt nghiệp các trường kỹ thuật và quản lý nông nghiệp, đồng thời có kinh nghiệm qua thực
tập lao động sản xuất kinh doanh một năm ở các trang trại khác Họ không chỉ có
am hiểu về nông học mà còn am hiểu cả về kỹ thuật, kinh tế và thị trường Các
chủ trang trại như vậy thường xuyên liên hệ với các cơ quan nghiên cứu khoa học
để thu thập thông tin kinh tế kỹ thuật và tham gia các hội thảo khoa học
Bên cạnh đó, lao động sử dụng trong các trang trại là yếu tố quyết định đến
việc thực hiện sản xuất, được thể hiện qua quy mô sản xuất, tình hình sản xuất của
hộ Nếu số lượng lao động nhiều, chất lượng lao động tốt thì việc sản xuất sẽ phát triển Vì vậy, nghiên cứu phát triển bền vững kinh tế trang trại cần nghiên cứu về tình hình lao động của hộ để có những phương án đầu tư phù hợp (Nguyễn Đình Điền, 2000)
2.1.5.3 Cơ sở hạ tầng
Cơ sở hạ tầng nông thôn, kết cấu hạ tầng cơ sở nông nghiệp là yếu tố quan
trọng tác động đến sự phát triển bền vững kinh tế trang trại Sự yếu kém của cơ
sở hạ tầng sẽ cản trở sự phát triển của trang trại trên các phương diện như: sự cung ứng các yếu tố đầu vào bị hạn chế, việc mua bán, tiêu thụ sản phẩm khó khăn, hạn chế việc tiếp cận thông tin và thị trường của các trang trại
Cơ sở hạ tầng kỹ thuật bao gồm: hệ thống đường giao thông, thủy lợi, điện, thông tin liên lạc… Đây là các yếu tố gián tiếp góp phần thực hiện giải pháp phát triển kinh tế trang trại theo hứng bên vững Chính vì thế, nghiên cứu phát triển kinh tế trang trại cần nghiên cứu đến sự phát triển của cơ sở hạ tầng
của địa phương (Lê Trọng, 2000)
2.1.5.4 Ảnh hưởng của chính sách nhà nước
Mỗi quốc gia đều có chính sách phát triển nông nghiệp riêng trong từng
thời kì Thông qua thể chế chính sách, chính phủ điều tiết các hoạt động sản xuất
Trang 29nông nghiệp sao cho phù hợp với từng thời kì, từng địa phương Các chính sách
của nhà nước có vai trò quan trọng trong việc định hướng, khuyến khích, thúc đẩy phát triển các trang trại chăn nuôi và thủy sản
Hiện nay Đảng và Nhà nước đang huy động các nguồn vốn đầu tư cho phát triển cơ sở hạ tầng nông thôn thông qua các chương trình dự án phát triển
bền vững nông nghiệp nông thôn như các vốn chương trình dự án: 135; ODA; ADB; WB đây cũng là một hình thức đầu tư gián tiếp và lâu dài Nhà nước đã thành lập các hệ thống ngân hàng từ trung ương đến địa phương, đặc biệt là hệ
thống ngân hàng nông nghiệp để phục vụ cho việc phát triển kinh tế nông nghiệp ngày càng tiến xa hơn và vững chắc Bên cạnh hệ thống ngân hàng rất lớn, xong
việc kinh doanh tiền tệ, và việc bảo tồn vốn là điều tiên quyết lại từ phía ngân hàng Chính điều này gây không ít khó khăn khi các nhà đầu tư vào kinh tế trang
trại nhưng thiếu tài sản thế chấp Đây là vấn đề cần tháo gỡ (Lê Trọng, 2000)
Các địa phương cần có kế hoạch bố trí vốn để hỗ trợ các trang trại đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng, cơ sở chế biến, cung cấp thông tin Trang trại được vay
vốn tín dụng đầu tư phát triển của Nhà nườc Thực hiện miễn thuế thu nhập với
thời gian tối đa nếu chủ trang trại đầu tư phát triển sản xuất kinh doanh ở những địa bàn đất trống, đồi núi trọc, bãi bồi, đầm phá ven biển Thực hiện miễn giảm thuế đất cho chủ trang trại khi thuê đất trống, đồi núi trọc, đất hoang hóa để sản
xuất kinh doanh
Cần tăng cường công tác chỉ đạo, kiểm tra đối với các trang trại chăn nuôi
và thủy sản, đảm bảo các chủ trang trại thực hiện đầy đủ quy trình kỹ thuật bảo
vệ môi trường; thực hiện các nghĩa vụ đối với Nhà nước theo pháp luật Đồng
thời bảo vệ quyền lợi chính đáng của chủ trang trại về tài sản và các lợi ích khác
2.1.5.5 Các y ếu tố về thời tiết, khí hậu, dịch bệnh
Đây là những yếu tố tự nhiên có sự tác động vô cùng to lớn đến hoạt động
của kinh tế trang trại, vì đối tượng sản xuất của các trang trại là các sinh vật sống,
có thời gian sinh trưởng và phát triển phụ thuộc rất lớn đối với yếu tố tự nhiên
Đây là một yếu tố có sự tác động vô cùng to lớn đến hoạt động của kinh tế trang trại, vì đối tượng của kinh tế trang trại đều là các sinh vật sống, có thời gian sinh trưởng và phát triển phụ thuộc rất lớn đối với yếu tố tự nhiên Trong những năm vừa qua đất nước ta đang trong thời kỳ đổi mới, bắt đầu nền công nghiệp hoá đất nước hình thành, các nhà máy, công xưởng, nhà cửa mọc lên như nấm,
Trang 30cũng đồng nghĩa với việc nạn phá rừng chàn lan gây nên thảm họa về môi trường như hạn hán, lụt lội sảy ra liên tiếp, môi trường bị tàn phá một cách nghiêm
trọng, sự mất cân bằng sinh thái là tất yếu, dẫn đến dịch bệnh, sâu bọ phá hoại mùa màng khủng khiếp, điều này khiến không ít các nhà quản lý cũng như các
chủ trang trại ngần ngại khi đầu tư Cụ thể các loaị dịch bệnh luôn hoành hành, làm cho những nhà chăn nuôi luôn phải đau đầu khi mà hết bệnh lở mồn long móng sảy ra ở gia súc, sau đó lại đến bệnh H5N1, H1N1 sảy ra ở gia cầm, đến nay lại dịch bệnh lợn tai xanh… Thông qua đây ta thấy rằng đối với dịch bệnh nó
là hiểm họa cao nhất đối với người làm nông nghiệp (Vũ Đình Thắng, 2006)
c) Trung Qu ốc
Theo Pork checkoff, Trung Quốc là nước sản xuất thịt heo lớn nhất thế
giới với sản lượng năm 2015 và 2016 lần lượt là 54,870 triệu tấn và 53,5 triệu
tấn Năm 2012, Trung Quốc sản xuất được 50 triệu tấn thịt heo, gấp 5 lần sản lượng của Mỹ và gấp đôi EU Năm 2014, số lượng heo nuôi tại Trung Quốc đứng đầu thế giới, đạt 723 triệu đầu con Tỷ lệ tăng trưởng của ngành thịt heo tại Trung Quốc luôn cao hơn thịt gà và thịt bò Để duy trì được lượng thịt heo đủ cung cấp cho thị trường, Trung Quốc đang phải nhập khẩu một lượng lớn các nhu yếu phẩm cần thiết cho ngành chăn nuôi heo Từ năm 2010, lượng nhập khẩu đậu nành của Trung Quốc đã chiếm hơn 50% tổng thị trường đậu nành toàn cầu Theo dự báo của Hội đồng Ngũ cốc Mỹ, Trung Quốc sẽ phải nhập khẩu 19 đến
32 triệu tấn ngô vào năm 2022 (Tuấn Minh, 2017)
Để không bị tụt lại trên chặng đua sản xuất thịt heo trên thế giới, Trung
Quốc nhập khẩu 73 triệu USD tinh heo từ Anh mỗi năm để cải thiện con giống
và năng suất Trong vài thập kỷ tới, ngành nông nghiệp nước này cũng cam kết
sẽ chuyển đổi toàn bộ mô hình nuôi nông hộ sang trang trại quy mô lớn Chính
phủ Trung Quốc khuyến khích các doanh nghiệp mua lại và sáp nhập bằng các
hỗ trợ tài chính và thủ tục giúp doanh nghiệp ra nước ngoài học hỏi cách điều hành mô hình mới này Trong khi đó, ngành gia cầm của Trung Quốc lại yếu thế hơn Theo USDA, từ 2012 - 2016, tiêu thụ thịt heo của Trung Quốc đã tăng 6,1%, tiêu thụ thịt bò tăng 11,5%, gia cầm giảm 6,2% so cùng kỳ năm ngoái Sản lượng thịt gà năm 2016 dự báo tụt giảm mạnh 5,2% xuống mức 12,7 triệu tấn (Tuấn Minh, 2017)
Trang 31Trong chiến lược phát triển kinh tế đất nước, Trung Quốc đã coi trọng chiến lược phát triển vùng ven biển trong toàn bộ chiến lược cải cách kinh tế
Hiện nay, Trung Quốc là nhà cung cấp thuỷ sản lớn nhất thế giới, chiếm khoảng 35% tổng sản lượng thuỷ sản toàn cầu Trung Quốc cũng là nước duy nhất trên
thế giới có sản lượng nuôi trồng thuỷ sản vượt quá khả năng khai thác Năm
2004, tổng sản lượng thuỷ sản của Trung Quốc đạt 49 triệu tấn, trong đó 64% là thuỷ sản nuôi trồng Thuỷ sản mặn lợ chiếm 56% tổng thuỷ sản nuôi trồng Dự báo, tiêu thụ thuỷ sản bình quân trong nước của Trung Quốc sẽ tăng mạnh trong
thời gian tới, từ 25kg/người năm 2004 lên 36kg/người vào năm 2020 (Nguyễn Xuân Thiên, 2009)
Nuôi trồng thuỷ sản thâm canh của Trung Quốc phát triển mạnh ở nhiều địa phương trong cả nước, sử dụng nhiều thức ăn công nghiệp, các chất kích thích và các loại thuốc phòng trừ dịch bệnh khác, công nghệ nuôi trồng thuỷ sản thâm canh của Trung Quốc đã được nhiều nước học tập như hệ thống tưới tiêu riêng biệt khi lấy nước phải qua ao lắng nước được xử lý trước khi được lấy vào các ao nuôi Tuy nhiên việc đầu tư cho nuôi thuỷ sản thâm canh đòi hỏi vốn đầu
tư lớn, trình độ kỹ thuật cao Mặt khác việc sử dụng chất kích thích và thuốc phòng trừ dịch bệnh cũng làm cho người nuôi gặp khó khăn, khi hầu hết các nước có nhập khẩu hàng thuỷ sản của Trung Quốc cũng đều đưa ra tiêu chuẩn nghiêm ngặt về an toàn vệ sinh thực phẩm Quá trình phát triển kinh tế vùng ven
biển và phát triển nuôi trồng thủy sản của Trung Quốc luôn là bài học quý giá cho nhiều quốc gia tham khảo (Nguyễn Xuân Thiên, 2009)
d) M ỹ
Mỹ là quốc gia sản xuất thịt bò lớn nhất thế giới và xuất khẩu thịt bò lớn
thứ 2 thế giới Đứng sau bò thịt, là các sản phẩm sữa Năng suất sữa bình quân
mỗi con bò tại Mỹ đã tăng 1,76 lít/con, đưa Mỹ trở thành nước sản xuất sữa bò hàng đầu thế giới Nhiều trang trại bò sữa có tổng đàn hơn 15.000 con/trại Chủ nhân các trang trại bò sữa chủ yếu là hộ gia đình, tuy nhiên, họ đều là thành viên
của các hiệp hội chăn nuôi, sản xuất quy mô lớn Sản phẩm từ sữa đa dạng từ pho mát, sữa nước, sữa chua, bơ, kem đến sữa khô, sữa đặc, váng sữa – được coi là nguyên liệu chính trong ngành chế biến thực phẩm (Tuấn Minh, 2017)
Ngành sản xuất gia cầm và trứng gia cầm cũng được kỳ vọng sẽ rộng mở trong một vài năm tới nhằm đáp ứng nhu cầu tiêu thụ đang tăng cao tại thị trường
Trang 32nội địa và quốc tế Tại Mỹ, tiêu thụ thịt gà cũng tăng vọt do đây là sản phẩm bổ dưỡng, tốt cho sức khỏe, giàu protein với giá cả hợp túi tiền người tiêu dùng
Mỹ là nước sản xuất thịt heo lớn thứ 2 thế giới, sau Trung Quốc, với sản lượng năm 2015 và 2016 lần lượt là 11,121 triệu tấn và 11,334 triệu tấn (theo Pork checkoff) Quốc gia này cũng hoạt động tích cực trên thị trường thịt heo thế
giới khi đứng ở vị trí thứ 2 thế giới ở hai lĩnh vực xuất và nhập khẩu thịt heo (Tuấn Minh, 2017)
Về sản lượng, tuy không thể so sánh được với Trung Quốc, Ấn Độ và
Nhật Bản, nhưng Mỹ vẫn đứng trong danh sách các nước hàng đầu thế giới về nuôi trồng thuỷ sản
Nghề nuôi trồng thủy sản ở Mỹ mới bắt đầu khoảng 30 năm trở lại đây và đang phát triển nhanh Nuôi trồng thủy sản ở Mỹ chủ yếu là nuôi cá nước ngọt
Sản lượng nuôi trồng tăng nhanh, từ 150 nghìn tấn năm 1980 lên 315 nghìn tấn năm 1990 và 413 nghìn tấn năm 1995, đứng hàng thứ 6 trên thế giới và đứng hàng đầu Châu Mỹ Chất lượng sản phẩm nuôi trồng thủy sản của Mỹ khá cao
Nuôi trồng thuỷ sản của Mỹ mang đậm tính thương mại Mỹ chỉ nuôi
những loài quý có nhu cầu cao và có lãi Vì vậy tuy sản lượng khá cao nhưng lại
chỉ tập trung vào một số loài như cá nheo, cá hồi, Rô phi và hàu
Những năm gần đây, thị trường Mỹ hướng vào cá Rô phi, thúc đẩy nghề nuôi Rô phi phát triển rất nhanh và lan ra nhiều Bang ở Mỹ Sản lượng cá Rô phi
từ 2000 tấn năm 1990 tăng lên 10.000 tấn năm 1999 Do nhu cầu tăng quá nhanh nên Mỹ phải nhập khẩu rất nhiều sản phẩm Rô phi mới đáp ứng được thị trường
Một điều đáng chú ý là nghề nuôi tôm càng nước ngọt của Mỹ hiện đang
dẫn đầu thế giới với sản lượng 32 nghìn tấn năm 1990, nay chỉ còn 18 nghìn tấn
Ngoài ra Mỹ còn là cường quốc nuôi cá hồi ở Tây bán cầu với sản lượng
62 nghìn tấn (1999)
Xu thế chung của tổng sản lượng thuỷ sản của Mỹ hiện nay là giảm dần
sản lượng khai thác và tăng dần sản lượng nuôi trồng
Chính phủ Mỹ đã đẩy mạnh công nghiệp chế biến Mặt khác, việc đầu tư
cơ sở vật chất, trang thiết bị kỹ thuật được nhà nước bảo hộ nên tăng rất nhanh trong quá trình công nghiệp hóa - hiện đại hóa ngành nuôi trồng thủy sản phát triển nhanh chóng
Trang 33Nuôi trồng thủy sản ở Mỹ đang phát triển theo hướng hàng hoá với quy
mô, diện tích lớn Thường mỗi trại nuôi cá có diện tích hàng trăm đến hàng nghìn
ha Phần lớn các công việc đều được cơ giới hoá, tự động hoá, kể cả việc chăm sóc và thu hoạch Phương thức nuôi thường là nuôi đơn, không chạy theo sản lượng mà chú ý đến chất lượng Đó là nét riêng biệt trong nuôi trồng thủy sản của
Tính đến hết quý I năm 2014, tại Nam Định đã có 453 trang trại đạt tiêu chí do Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn quy định, trong đó có 03 trang trại trồng trọt, 47 trang trại tổng hợp, 149 trang trại chăn nuôi và 254 trang trại thuỷ sản Những năm gần đây, nhận thức của người nông dân tại Nam Định đã có nhiều thay đổi, nhiều hộ gia đình đã bỏ cách chăn nuôi phân tán, nhỏ lẻ, cố gắng tiếp cận các nguồn vốn vay ưu đãi và vận động nguồn lực từ gia đình để tập trung đầu tư lớn hơn làm kinh tế trang trại Tại các xã, huyện, thị trấn, đội ngũ cán bộ chuyên môn về chăn nuôi, thú y cũng được bổ sung kịp thời và đào tạo vững về chuyên môn để giúp đỡ bà con về các quy trình kĩ thuật như chăm sóc, phòng, chống dịch bệnh cho cây trồng và gia súc, gia cầm… Đặc biệt, các trang trại đã
có mối liên hệ với nhau trong việc cung ứng con giống thị trường tiêu thụ, giúp người nông dân yên tâm phần nào trong vấn đề bảo đảm đầu ra cho sản phẩm Bên cạnh việc phát triển chăn nuôi gia súc, gia cầm, Nam Định cũng là một tỉnh có tiềm năng về nuôi trồng thủy sản với 72 km đường bờ biển và nhiều vùng nước lợ tại các huyện Giao Thủy, Hải Hậu, Nghĩa Hưng Doanh thu hàng năm của trang trại bình quân từ 150 - 180 tỷ đồng; lợi nhuận bình quân từ 0,7-1
tỷ đồng/năm (Hiền Hạnh, 2014)
Trang 34Từ những hiệu quả của các mô hình phát triển kinh tế trang trại, gia trại tại nhiều địa phương trong tỉnh Nam Định, có thể thấy đây thực sự là hướng đi bền vững cho người nông dân, không những giảm được áp lực lao động việc làm, thúc đẩy chuyển dịch nhanh cơ cấu kinh tế nông nghiệp mà còn góp phần quan trọng vào sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp nông thôn, góp phần quan trọng trong mục tiêu xây dựng nông thôn mới (Hiền Hạnh, 2014)
• Huy ện Yên Thế tỉnh Bắc Giang
Những năm gần đây, dưới sự lãnh đạo, chỉ đạo của các cấp uỷ đảng, sự điều hành của chính quyền huyện Yên Thế (Bắc Giang), các hộ nông dân đã phát huy tính tự chủ, tạo sức mạnh mới trong phát triển nông nghiệp và kinh tế nông thôn Kinh tế trang trại phát triển góp phần quan trọng làm tăng thu nhập trên
một đơn vị diện tích đất nông nghiệp, giải quyết việc làm cho lao động nông thôn Yên Thế Với ý nghĩa đó, trong thời gian qua, huyện đã xây dựng các kế hoạch,
đề án, có cơ chế thích hợp thực hiện chính sách dồn điền, đổi thửa, chuyển ruộng trũng cấy lúa không ăn chắc sang nuôi trồng thuỷ sản; thực hiện lồng ghép các
chương trình khuyến nông, khuyến lâm để hỗ trợ cây, con giống, vật tư, hỗ trợ mua máy móc phục vụ sản xuất nông nghiệp từ nguồn ngân sách huyện và chương trình mục tiêu quốc gia, chương trình giảm nghèo 134, 135; hỗ trợ xây
dựng cơ sở hạ tầng; chỉ đạo các cơ quan chức năng, các tổ chức, đoàn thể nhân dân phối hợp kịp thời với các xã, thị trấn mở các lớp tập huấn, chuyển giao KHKT đến các hộ nông dân, qua đó góp phần quan trọng thúc đẩy và tạo điều
kiện cho kinh tế trang trại phát triển Năm 2011, 2012 tổng giá trị hàng hoá, dịch
vụ các trang trại tạo ra đạt hàng trăm tỷ đồng, thu hút và tạo công ăn việc làm ổn định cho hàng nghìn lao động ở địa phương và các huyện lân cận trong tỉnh Phát huy tiềm năng, thế mạnh của huyện về phát triển kinh tế rừng, vườn đồi kết hợp
với chăn nuôi, nhiều mô hình trang trại tổng hợp đã đem lại hiệu quả kinh tế cao cho thu nhập từ 200-500 triệu đồng/năm Theo thống kê từ tháng 7-2009, toàn huyện có trên 5.000 hộ gia đình đạt chuẩn về sản xuất kinh doanh giỏi, có mức thu nhập từ 50 triệu đồng/năm trở lên, trong đó có sự đóng góp không nhỏ của các chủ trang trại trên địa bàn (Thân Minh Quế, 2013)
Yên Thế tiếp tục là một trong những huyện có số lượng tổng đàn gia cầm
lớn nhất toàn quốc Với những kết quả đạt được về phát triển kinh tế trang trại đã
Trang 35và đang góp phần quan trọng vào xoá đói giảm nghèo, từng bước nâng cao đời
sống vật chất và tinh thần của một bộ phận lớn nhân dân, làm cho bộ mặt nông thôn có nhiều đổi mới Huyện Yên Thế đã và đang là điểm sáng trong phát triển kinh tế rừng kết hợp với chăn nuôi gà đồi được nhiều đoàn khách quốc tế, khách
ở các tỉnh bạn, huyện bạn đến tham quan và học tập kinh nghiệm (Thân Minh
Quế, 2013)
Trong giai đoạn đầu của nền công nghiệp hoá, trang trại phát triển theo hướng số lượng trang trại nhiều, quy mô sản xuất nhỏ, kinh doanh tổng hợp, sau
đó từng bước giảm dần số lượng, tăng quy mô trang trại, đi vào sản xuất tập trung, chuyên canh lớn
Ở hầu hết các nước, trang trại đã và đang trở thành hình thức tổ chức sản
xuất giữ vai trò quan trong trong quá trình công nghiệp hoá , hiện đại hoá nông nghiệp, nông thôn Thực tiễn đã chứng tỏ rằng trang trại đã có vai trò quan trọng đối với các nền kinh tế như: Hàn Quốc, Đài Loan, Malaixia, Thái Lan… và đang
tiếp tục phát huy tác dụng ở các nền kinh tế thị trường phát triển cao như Mỹ, Tây Âu, Nhật Bản
Trong quá trình phát triển, trang trại với nhiều hình thức đa dạng khác nhau (trang trại tư nhân tư bản, trang trại cổ phần, trang trại liên doanh…), những trang trại gia đình đã trở thành loại hình trang trại thích hợp và phổ biến nhất Trên thế giới, trang trại gia đình chiếm khoảng 80 – 90% tổng số trang trại
Gắn công nghiệp chế biến và dịch vụ ở nông thôn với trang trại là bài học kinh nghiệm quý báu Khi trang trại phát triển đến trình độ cao sản xuất đi vào chuyên môn hoá, tạo ra các vùng chuyên canh một số ít cây trồng, vật nuôi, sản
phẩm hàng hoá sản xuất với số lượng lớn, khi đó công nghiệp chế biến và dịch
vụ ở nông thôn sẽ giải quyết, tháo gỡ được những khó khăn mà trang trại đang
Trang 36hình thành trên cơ sở hoàn toàn tự nguyện theo nguyên tắc các bên đều có lợi và được tiến hành từ khâu sản xuất đến khâu chế biến và tiêu thụ sản phẩm
Nhà nước có vai trò đặc biệt quan trọng trong quá trình hình thành và phát triển trang trại Việc phát triển trang trại gia đình, đặc biệt là các vùng đồi núi cho thấy vai trò của nhà nước cực kỳ quan trọng, quyết định sự thành bại của công việc di dân, mở mang vùng kinh tế mới ở những nơi không có sự quan tâm
và tác động đúng mức của nhà nước thì đời sống nhân dân ở đó không ổn định,
sản xuất kém hiệu quả gây tình trạng khai thác quá mức tài nguyên, phá hoại môi trường sinh thái Sự quan tâm và tác động của Nhà nước được thể hiện qua chính sách ưu đãi phát triển trang trại: chính sách về đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng nông nghiệp, chính sách đất đai, chính sách tín dụng
Trang 37PH ẦN 3 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.1.1.1 V ị trí địa lý
Huyện Quế Võ nằm ở phía Đông của tỉnh Bắc Ninh, thuộc vùng châu thổ Sông Hồng, trung tâm huyện lỵ cách thành Phố Bắc Ninh 10km về phía Đông, cách thủ đô Hà Nội 40 km về phía Tây Nam Toạ độ địa lý từ 21004’00’’ đến
21011’00’’ độ vĩ Bắc và từ 106005’50’’ đến 106017’30’’ độ kinh Đông; vị trí tiếp giáp với các huyện sau:
Phía Bắc của huyện là Sông Cầu, qua sông là các huyện Yên Dũng và huyện Việt Yên, tỉnh Bắc Giang;
Phía Nam của huyện là Sông Đuống, qua sông là các huyện Gia Bình, huyện Lương Tài, tỉnh Bắc Ninh;
Phía Đông giáp huyện Chí Linh, tỉnh Hải Dương;
Phía Tây giáp huyện Tiên Du, thành phố Bắc Ninh, tỉnh Bắc Ninh;
Toàn huyện có 21 đơn vị hành chính cấp xã gồm 20 xã và một thị trấn Trên địa bàn huyện có Quốc lộ 18 Nội Bài - Quảng Ninh chạy qua dài 24 km là
cầu nối phát triển kinh tế xã hội giữa các tỉnh trong vùng kinh tế trọng điểm Bắc
Bộ gồm: Hà Nội, Hải Phòng, Quảng Ninh, Hải Dương, Hưng Yên, Hà Tây, Vĩnh Phúc và Thành phố Bắc Ninh Hệ thống đường Tỉnh lộ 291 dài 21km, hình thành lên mạng lưới giao thông rất thuận tiện cho việc giao lưu kinh tế, văn hoá và tiêu
thụ sản phẩm giữa các vùng trong tỉnh
Huyện Quế Võ gần thành phố Hà Nội và thành phố Bắc Ninh đây là
những thị trường rộng lớn, đồng thời cũng là nơi cung cấp thông tin, chuyển giao công nghệ và tiếp thị thuận lợi các sản phẩm hàng hoá đối với mọi miền đất nước
và cũng là thị trường tiêu thụ trực tiếp các mặt hàng nông sản, hàng thủ công mỹ nghệ truyền thống
Với vị trí địa lý thuận lợi như vậy, huyện Quế Võ có đủ điều kiện để giữ
vững an ninh, phát huy tiềm năng sẵn có, cũng như các nguồn lực khác, tạo điều
kiện để phát triển kinh tế - xã hội, hòa nhập với nền kinh tế thị trường
Trang 38Hình 3.1 B ản đồ hành chính huyện Quế Võ 2017
3.1.1.2 Địa hình, địa chất
+ Địa hình: Do nằm trong vùng đồng bằng châu thổ Sông Hồng nên địa hình Quế Võ tương đối bằng phẳng Hầu hết diện tích đất trong huyện đều có độ
dốc < 30 (trừ một số đồi núi thấp như: núi ở xã Phù Lương, Phù Lãng, Ngọc Xá
có độ dốc cao từ 20 - 80 m, chiếm diện tích nhỏ so với tổng diện tích đất tự nhiên) Địa hình vùng đồng bằng có xu thế nghiêng ra biển theo hướng Tây Bắc - Đông Nam Độ chênh cao so với mặt nước biển trung bình từ 3 - 5 m
Nhìn chung, địa hình của huyện thuận lợi cho việc phát triển mạng lưới giao thông, thuỷ lợi, xây dựng cơ sở hạ tầng, mở rộng mạng lưới khu dân cư, các khu công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp và kiến thiết đồng ruộng tạo ra những vùng chuyên canh lúa, rau màu chất lượng cao và cây công nghiệp ngắn ngày
+ Địa chất: Đặc điểm địa chất của huyện Quế Võ tương đối đồng nhất
do nằm gọn trong vùng đồng bằng châu thổ Sông Hồng nên Quế Võ mang
những nét đặc trưng của cấu trúc địa chất sụt trũng sông Hồng Mặt khác, do
nằm trong miền kiến tạo Đông Bắc nên có những nét mang tính chất của vùng Đông Bắc, bề dày trầm tích đệ tứ chịu ảnh hưởng rõ rệt của cấu trúc mỏng, càng xuống phía Nam cấu trúc địa chất càng dày hơn phía Bắc
Trang 393.1.1.3 Khí h ậu, thuỷ văn
Huyện Quế Võ có chế độ thuỷ văn thuộc hệ thống lưu vực Sông Thái Bình và Sông Hồng, nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa: nóng ẩm, mưa nhiều, chịu ảnh hưởng trực tiếp của gió mùa Thời tiết trong năm chia làm 2 mùa
rõ rệt: mùa mưa và mùa khô
Mùa mưa: Nóng từ tháng 4 đến tháng 10, lượng mưa trung bình từ 100mm - 312mm và thường phân bố không đều trong năm, vào mùa mưa lượng mưa chiếm khoảng 80% tổng lượng mưa cả năm Nhiệt độ bình quân tháng 23,7 - 29,10C
Mùa khô: Lạnh từ tháng 11 đến tháng 3 năm sau, nhiệt độ trung bình từ 16
- 210C, lượng mưa/tháng biến động từ 20 - 56mm Bình quân năm có 2 - 3 đợt rét nhiệt độ dưới 120C kéo dài từ 3 - 5 ngày
Hàng năm có hai mùa gió chính: Gió mùa Đông Bắc và gió mùa Đông Nam, gió mùa Đông Bắc từ tháng 10 năm trước đến tháng 3 năm sau, gió mùa Đông Nam từ tháng 4 đến tháng 9 mang theo hơi ẩm, mưa rào
Số giờ nắng trung bình các tháng/ năm khoảng 139,32 giờ, số giờ nắng của tháng thấp nhất khoảng 46,9 giờ (tháng 2), số giờ nắng của tháng cao nhất khoảng 202,8 giờ (tháng 7) Tổng số giờ nắng trung bình trong năm khoảng 1.671,9 giờ Nhiệt độ trung bình tháng giao động từ 23,4 - 29,90C, nhiệt độ phân bố theo mùa, mùa nắng nhiệt độ trung bình > 230C, mùa lạnh nhiệt độ trung bình < 190C
Độ ẩm không khí trung bình khoảng 83%, cao nhất là tháng 3 và tháng 4 (khoảng 86 - 88%), thấp nhất là tháng 12 (khoảng 77%)
Nhìn chung, huyện Quế Võ có điều kiện khí hậu thuận lợi thích hợp với nhiều loại cây trồng, phát triển nền nông nghiệp đa dạng và phong phú Mùa đông có thể trồng nhiều loại cây hoa màu ngắn ngày có giá trị kinh tế cao Tuy nhiên, bên cạnh những thuận lợi thì sự thay đổi bất thường của khí hậu cũng gây khó khăn không ít cho phát triển sản xuất Trong đó phải kể đến rét, sương muối
ở mùa đông và mưa bão ở mùa mưa
3.1.2 Đặc điểm kinh tế xã hội
3.1.2 1 Đất đai và tình hình sử dụng đất đai
Tình hình phân bố đất đai của huyện năm 2016 tổng diện tích đất tự nhiên
của Quế Võ là: 15.511,2 ha Trong đó, tổng diện tích đất nông nghiệp là chủ yếu, chiếm khoảng 70% Trong 3 năm (2014-2016) tình hình phân bổ và sử dụng đất đai của huyện đã có những chuyển biến tích cực Cụ thể qua bảng 3.1
Trang 40Bảng 3.1 Tình hình phân bổ và sử dụng đất đai huyện Quế Võ từ năm 2014 đến năm 2016
Chỉ tiêu
Diện tích (ha)
Cơ cấu (%)
Diện tích (ha)
Cơ cấu (%)
Diện tích (ha)
Cơ cấu (%)
quân
Nguồn: Phòng Tài nguyên và Môi trường huyện Quế Võ (2017)