1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Đồ gốm ốc eo trong di chỉ cư trú khu di tích gò tháp (huyện tháp mười tỉnh đồng tháp)

171 20 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 171
Dung lượng 1,03 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Những năm gần ựây, việc nghiên cứu loại hình di chỉ cư trú ựã bắt ựầu ựược triển khai có hiệu quả bằng các cuộc ựiều tra, thám sát và một số cuộc khai quật tại khu di tắch Ba Thê Ờ Óc Eo

Trang 1

ðẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

TRƯỜNG ðẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

-

NGUYỄN QUỐC MẠNH

ðỒ GỐM ÓC EO TRONG DI CHỈ CƯ TRÚ

KHU DI TÍCH GÒ THÁP (HUYỆN THÁP MƯỜI – TỈNH ðỒNG THÁP)

LUẬN VĂN THẠC SĨ SỬ HỌC

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH – NĂM 2009

Trang 2

ðẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH TRƯỜNG ðẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

- NGUYỄN QUỐC MẠNH

ðỀ TÀI

ðỒ GỐM ÓC EO TRONG DI CHỈ CƯ TRÚ

KHU DI TÍCH GÒ THÁP (HUYỆN THÁP MƯỜI – TỈNH ðỒNG THÁP)

Chuyên ngành:

Mã số: 60.22.60

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC LỊCH SỬ

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC TIẾN SĨ ðÀO LINH CÔN

Thành phố Hồ Chí Minh – năm 2009

Trang 3

CAM đOAN

Tôi xin cam ựoan Luận văn này là công trình nghiên cứu của riêng tôi,

do TS đào Linh Côn hướng dẫn Những số liệu, tư liệu ựược sử dụng trong Luận văn này là trung thực và có nguồn gốc

Thành phố Hồ Chắ Minh, ngày 18 tháng 8 năm 2009

Tác giả

Nguyễn Quốc Mạnh

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Luận văn ựược thực hiện trong một quá trình khai quật Ờ ựiền dã khảo

cổ học và chỉnh lý tư liệu lâu dài Trong suốt quá trình làm việc, học viên ựã nhận ựược sự giúp ựỡ của quý thầy, cô và các bạn ựồng nghiệp

đầu tiên, học viên cảm ơn cơ sở ựào tạo (Trường đại học KHXH & NV), quý thầy cô ựã tạo ựiều kiện tốt cho học viên trong suốt quá trình học tập chương trình cao học Chân thành cảm ơn những ựóng góp ý kiến của TS Bùi Chắ Hoàng, PGS Lê Xuân Diệm và sự hỗ trợ tư liệu quan trọng của TS

Lê Thị Liên ựối với luận văn đồng thời, học viên xin gửi lời cảm ơn ựến các bạn ựồng nghiệp tại Trung tâm Nghiên cứu Khảo cổ, họa sĩ Bùi Xuân Long

và các cán bộ Bảo tàng Tổng hợp tỉnh đồng Tháp, ựã hỗ trợ học viên rất hiệu quả trong suốt quá trình thu thập và chỉnh lý tư liệu

Học viên xin gửi lời cảm ơn ựến gia ựình, người thân ựã ựộng viên, chia

sẻ với học viên trong suốt quá trình học tập và thực hiện luận văn.Cuối cùng, học viên xin gửi lời cảm ơn sâu sắc ựến TS đào Linh Côn, người ựã ựịnh hướng cho học viên ựến với văn hóa Óc Eo và loại hình hiện vật gốm làm ựối tượng nghiên cứu trong con ựường làm khoa học của mình TS đào Linh Côn cũng là người hướng dẫn khoa học ựể học viên hoàn thành luận văn này

Thành phố Hồ Chắ Minh, ngày 18 tháng 8 năm 2009

Tác giả luận văn

Nguyễn Quốc Mạnh

Trang 5

MỤC LỤC

1 Sự cần thiết của ựề tài 1

2 đối tượng và phạm vi nghiên cứu 5

3 Phương pháp nghiên cứu 5

PHẦN 2: NỘI DUNG 7

CHƯƠNG I: TỔNG QUAN VỀ KHU DI TÍCH GÒ THÁP 1 Vị trắ ựịa lý Ờ ựiều kiện tự nhiên môi trường 7

2 Lịch sử phát hiện và nghiên cứu vấn ựề 11

2.1 Giai ựoạn trước năm 1975 2.2 Giai ựoạn từ sau năm 1975 ựến nay 3 địa tầng khảo cổ học các di chỉ cư trú trong khu di tắch Gò Tháp 21 3.1 địa ựiểm chân Gò Minh Sư

3.2 địa ựiểm miếu Bà Chúa Xứ

3.3 địa ựiểm đìa Phật

3.4 địa ựiểm đìa Vàng

Trang 6

CHƯƠNG II: ðỒ GỐM ÓC EO DI CHỈ CƯ TRÚ Trang

Trang 8

Trang

CHƯƠNG III:

GỐM GÒ THÁP – NIÊN ðẠI VÀ CÁC QUAN HỆ VĂN HÓA 89

1.1 Niên ñại phân tích C14

1.1.1 Niên ñại phân tích mẫu tượng Phật gỗ

1.2 Niên ñại di tích Gò Tháp qua minh văn và loại hình học hiện vật

2 Nội hàm di tích – di vật gốm Gò Tháp 99 2.1 Nội hàm di chỉ cư trú Gò Tháp

2.2 Nội hàm di vật gốm Gò Tháp

2.2.1 Mối quan hệ giữa nguyên liệu, chất liệu và kỹ thuật sản xuất gốm

2.2.1.1 Nguyên liệu, kỹ thuật và vấn ñề nơi sản xuất gốm

2.2.1.2 Một số ñặc trưng chất liệu, loại hình và hoa văn gốm Gò Tháp

3 Gốm Gò Tháp trong mối quan hệ với gốm Óc Eo ở ñồng bằng sông Cửu

3.1 Các loại hình gốm chất liệu loại 1 – gốm mịn

3.2 Các loại hình gốm làm bằng chất liệu gốm thô – chất liệu loại 2, 3, 4

Trang 10

PHẦN 1: TỔNG QUAN

1 Sự cần thiết của ựề tài:

Văn hóa Óc Eo ựược các học giả người Pháp Ờ Trường Viễn đông Bác

cổ (EFEO) phát hiện vào những năm 40 của thế kỷ XX Tháng 04 năm 1942,

L Malleret ựã khai quật khi ựịa ựiểm Gò Óc Eo (Óc Eo Ờ Ba Thê), tiếp sau ựó

là hàng loạt những di tắch và di vật khảo cổ học có cùng ựặc ựiểm tắnh chất văn hóa với ựịa ựiểm Gò Óc Eo ựã ựược phát hiện và thu thập trên khắp vùng ựồng bằng châu thổ sông Cửu Long, ựã dần làm lộ diện về sự tồn tại của một nền văn hóa cổ có không gian phân bố rộng lớn, ựược L Malleret ựặt tên là

Ộvăn hóa Óc EoỢ Ờ lấy theo tên gọi của ựịa ựiểm ựầu tiên ựược khai quật

Cho ựến nay, việc nghiên cứu văn hóa Óc Eo ựã ựạt nhiều thành tựu quan trọng, trong ựó các nhà khảo cổ học ựã xác ựịnh ựược những khu di tắch quan trọng như: khu di tắch Ba Thê Ờ Óc Eo, đá Nổi (An Giang), khu di tắch

Gò Tháp (đồng Tháp), Cạnh đền (vùng rừng U Minh), Nhơn Thành (Cần Thơ),Ầ và những loại hình di tắch Ờ di vật tiêu biểu Qua ựó, dần làm rõ nhiều vấn ựề văn hóa Ờ xã hội, khôi phục lại một phần lịch sử của vùng ựất Nam Bộ, nơi có nền văn hóa Óc Eo phát triển rực rỡ, với cấu trúc xã hội Ờ kinh tế của một quốc gia cổ ựại ở khu vực đông Nam Á Văn hóa Óc Eo ựược xác ựịnh niên ựại tồn tại và phát triển từ ựầu Công nguyên kéo dài ựến khoảng thế kỷ VII Ờ VIII AD, có nội hàm văn hóa rất phong phú, phát triển ựa dạng trong một không gian văn hóa rộng lớn và thống nhất, nó có mối quan hệ giao lưu mạnh mẽ với những nền văn hóa Ờ văn minh trong khu vực và trên thế giới

Khu di tắch Gò Tháp là một trong những di tắch khảo cổ học thuộc văn hóa Óc Eo ựược biết ựến từ rất sớm, có quy mô lớn và rất quan trọng của văn hóa Óc Eo ở khu vực đồng Tháp Mười Khu di tắch này cùng tồn tại và phát

Trang 11

triển song song với các khu di tích lớn của văn hóa Óc Eo như Ba Thê – Óc

Eo, Cạnh ðền, Nhơn Thành,… tạo nên một tổng thể văn hóa ña dạng và thống nhất của văn hóa Óc Eo ở miền Tây Nam Bộ

Khu di tích Gò Tháp ñã ñược biết ñến từ những thập niên cuối của thế

kỷ XIX Cho ñến nay, sau hơn một trăm năm kể từ khi phát hiện những vết tích ñầu tiên, khu di tích này ñã có nhiều cuộc khai quật quy với mô lớn Theo

tư liệu khảo cổ học thu thập ñược qua các cuộc ñiều tra và khai quật này ñã góp phần giải quyết nhiều vấn ñề cơ bản gắn với các loại hình di tích – di vật như thư tịch cổ, văn bia, kiến trúc, hội họa, ñiêu khắc, các loại hình hiện vật ñiêu khắc, trang sức, vật dụng sinh hoạt,… ñược làm bằng nhiều chất liệu khác nhau (ñá, ñất nung, vàng,…) Bên cạnh ñó, hàng loạt di tích kiến trúc, văn bia và các tác phẩm ñiêu khắc nghệ thuật – tôn giáo ñược tìm thấy, ñã khẳng ñịnh Gò Tháp không chỉ là một nơi tụ cư có quy mô lớn nhất ở vùng ðồng Tháp Mười, mà còn là một một trong những trung tâm văn hóa – tôn giáo lớn của văn hóa Óc Eo ở ñồng bằng sông Cửu Long

Những thành tựu nghiên cứu ñối với khu di tích Gò Tháp nói trên cũng

là bức tranh chung của quá trình tìm hiểu về lịch sử văn hóa Óc Eo ở Nam

Bộ, ñược biết ñến từ các di tích – di vật gắn liền với các kiến trúc – nghệ thuật, mộ táng (kiến trúc ñền thờ, tượng, vật thờ bằng kim loại,…), phân bố trên ñịa hình gò cao ở khu di tích Việc nghiên cứu loại hình di chỉ cư trú dưới chân gò và khu vực trũng thấp còn ở mức thám sát, kiểm tra cho ñến trước những năm 2000

Loại hình di chỉ cư trú và những di vật gốm có số lượng nhiều vốn là những tư liệu gắn liền với sinh hoạt thường nhật của con người, phản ánh nhiều mặt ñời sống văn hóa – xã hội Gốm là tư liệu không thể thiếu ñối với việc tìm hiểu về ñời sống xã hội của các cộng ñồng cư dân cổ, là “chữ cái” ñối với các nhà khảo cổ học

Trang 12

Việc nghiên cứu loại hình di chỉ cư trú và hiện vật gốm có vai trò quan trọng trong việc tìm hiểu văn hóa Óc Eo Những tư liệu này là sự phản ánh chuẩn xác nhất về ựời sống văn hóa Ờ xã hội của con người trong từng giai ựoạn tồn tại và phát triển của cư dân Gò Tháp và văn hóa Óc Eo

Những năm gần ựây, việc nghiên cứu loại hình di chỉ cư trú ựã bắt ựầu ựược triển khai có hiệu quả bằng các cuộc ựiều tra, thám sát và một số cuộc khai quật tại khu di tắch Ba Thê Ờ Óc Eo (Thoại Sơn Ờ An Giang), khu di tắch

Gò Tháp (Tháp Mười Ờ đồng Tháp), di tắch Nhơn Thành (Châu Thành A Ờ Cần Thơ), khu di tắch Cạnh đền (Kiên Giang),Ầ Tuy nhiên, các kết quả nghiên cứu vẫn còn khiêm tốn, bởi nó chỉ dừng lại ở việc mô tả Ờ thống kê khái quát mà chưa ựi sâu vào việc phân tắch ựối với từng loại hình hiện vật, chất liệu,Ầ

Công trình ựầu tiên nghiên cứu chuyên sâu về loại hình di chỉ cư trú

trong văn hóa Óc Eo ựó là: ỘDi chỉ cư trú văn hóa Óc Eo ở khu di tắch Óc Eo Ờ Ba Thê (An Giang)Ợ (đào Linh Côn, năm 2004), phân tắch về một số loại

hình hiện vật gốm tiêu biểu tại khu di tắch Ba Thê Ờ Óc Eo gắn với ựịa tầng khảo cổ học và nêu lên những mối liên hệ giữa các loại hình hiện vật gốm ở khu di tắch Óc Eo Ờ Ba Thê với các di tắch tiêu biểu thuộc văn hóa Óc Eo ở miền Tây Nam Bộ Mặc dù vậy, niên ựại cũng như các quan hệ văn hóa vẫn dựa trên cơ sở so sánh các loại hình hiện vật khác, trong ựó hiện vật gốm là một phần ựược mô tả khái quát, vẫn chưa ựược ựi sâu phân tắch số liệu, loại hình cùng những yếu tố kỹ thuật có liên quan

Tại Gò Tháp, loại hình di chỉ cư trú ựã ựược kết hợp thám sát nhiều trong các cuộc khai quật những di tắch kiến trúc và mộ táng những năm 1980

và 1990 và ựã ựược khai quật lớn vào các năm 2001, 2002 và 2003, song tư liệu hiện trường và hiện vật ựược chỉnh lý hầu hết dừng lại ở mức ựộ khảo sát, kiểm tra hay tổng hợp mang tắnh khái lược (những năm 1980 và 1990) hoặc

Trang 13

ñã ñược xử lý có hệ thống, song vẫn dừng lại ở dạng tư liệu thô với nhiều vấn

ñề còn ở dạng nhận thức ban ñầu, hoặc nhận ñịnh ngắn gọn trong các công bố khoa học Nhìn chung, chưa có công trình khoa học nào thực hiện tổng hợp và

ñi sâu phân tích ñể rút ra những ñặc ñiểm chung hay các ñiểm dị biệt từ các di tích – di vật liên quan ñến loại hình di chỉ cư trú trong văn hóa Óc Eo, từ ñó ñi sâu khai thác ñể giải thích nhiều vấn ñề văn hóa – xã hội từ các số liệu nói trên ðây cũng là thực tế chung cho tình hình nghiên cứu văn hóa Óc Eo ở Nam Bộ Việt Nam mà không chỉ riêng ñối với khu di tích Gò Tháp

Tuy vậy, các kết quả nghiên cứu tại khu di tích Gò Tháp từ những năm

1980 ñến nay, ñặc biệt là các cuộc khai quật trong những năm 2001, 2002 và

2003 là nền tảng tư liệu quan trọng ñối với việc nghiên cứu và nhận thức loại hình hiện vật gốm Gò Tháp nói riêng và văn hóa Óc Eo nói chung

Từ thực tế trên cho thấy loại hình di chỉ cư trú và di vật gốm là ñối tượng còn rất mới mẻ, ñầy lý thú nhưng cũng không kém phần thử thách và khó khăn Song, nếu xác ñịnh hướng ñi ñúng và ñược ñầu tư ñúng mức thì hiệu quả ñem lại từ việc nghiên cứu di chỉ cư trú và di vật gốm tại khu di tích

Gò Tháp sẽ có rất nhiều ý nghĩa, có tính thiết thực ðồng thời, nó sẽ góp phần

quan trọng vào việc tìm hiểu và nhận thức về nền văn hóa này Vấn ñề “ðồ

gốm Óc Eo trong di chỉ cư trú khu di tích Gò Tháp (Tháp Mười – ðồng Tháp)” ñược tác giả chọn làm ñề tài nghiên cứu khoa học hướng ñến những

mục tiêu ñề cập ở trên, và thực hiện những mục ñích cụ thể:

– Hệ thống và phân loại, xác ñịnh các loại hình hiện vật gốm di chỉ cư thuộc văn hóa Óc Eo tại khu di tích Gò Tháp

– Xác ñịnh niên ñại khu di tích Gò Tháp thông qua ñặc ñiểm loại hình hiện vật gốm và một số loại hình hiện vật khác có liên quan

– Tìm hiểu các ñặc ñiểm tiêu biểu của loại hình, hoa văn, kỹ thuật chế tác gốm Gò Tháp Qua ñó tìm hiểu mối quan hệ giữa khu di tích Gò Tháp với

Trang 14

các di tắch thuộc văn hóa Óc Eo ở miền Tây Nam Bộ , nhằm ựem ựến cái nhìn

rõ nét hơn về khu di tắch Gò Tháp nói riêng và ựối với văn hóa Óc Eo ở ựồng bằng sông Cửu Long nói chungỢ

2 đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

Ờ đối tượng nghiên cứu: ựồ gốm Óc Eo trong các ựịa ựiểm di chỉ cư trú thuộc khu di tắch Gò Tháp (Tháp Mười, đồng Tháp) thu ựược từ năm 1975 ựến năm 2003, qua các cuộc khai quật, khảo sát Tập trung phân tắch hiện vật gốm trong các hố khai quật tại ựịa ựiểm Gò Minh Sư của các năm 2001, 2002

và 2003 Riêng các số liệu ựịa tầng và thống kê hiện vật gốm từ cuộc khai quật năm 2002 ựược chọn làm cơ sở chắnh ựể giải quyết các vấn ựề trong nội dung luận văn đồng thời, tư liệu sử dụng có chọn lọc từ các phát hiện khác nhau tại khu di tắch Gò Tháp, kể cả những tư liệu ựược sưu tầm không gắn với ựịa tầng khảo cổ học, nhưng có vị trắ ựặc biệt quan trọng ựối với nhận thức về khu di tắch này cũng ựược chọn, ựể làm cơ sở tham khảo và so sánh

Ờ Phạm vi nghiên cứu: Hiện vật gốm Óc Eo tại khu di tắch Gò Tháp phát hiện từ trước năm 2005 qua các cuộc khai quật, ựiều tra và sưu tầm

Ờ Khung thời gian nghiên cứu: ựồ gốm thuộc văn hóa Óc Eo có niên ựại trong khoảng thế kỷ I ựến thế kỷ VII sau Công nguyên

Ờ Do ựiều kiện tư liệu có những hạn chế nhất ựịnh, nên luận văn chỉ thực so sánh tiếp cận với các tư liệu hiện vật gốm trong các di tắch khảo cổ học thuộc văn hóa Óc Eo ở miền Tây Nam Bộ, gồm các di tắch Óc Eo - Ba Thê (An Giang), Cạnh đền, đá Nổi (Kiên Giang), Thành Mới (Vĩnh Long), Nhơn Thành (Cần Thơ), Gò Thành (Tiền Giang),Ầ

3 Phương pháp nghiên cứu

Những phương pháp nghiên cứu ựược dùng ựể tiếp cận và phân tắch tư liệu hiện vật gốm và những nguồn tư liệu có liên quan, gồm:

Trang 15

– Phương pháp ñiền dã và khai quật khảo cổ học ñược thực hiện trong quá trình thu thập tư liệu hiện trường, hiện vật

– Phương pháp thống kê, mô tả, phân tích và so sánh

– ðo vẽ hiện trường, hiện vật

– Xác ñịnh niên ñại bằng phương pháp phân tích C14

– Các phương pháp nghiên cứu dân tộc học, kỹ thuật học

– Phương pháp duy vật biện chứng và duy vật lịch sử ñược sử dụng trong việc nghiên cứu nhằm ñem lại kết quả khoa học mang tính khách quan, với sự phát triển hợp quy luật

Trang 16

PHẦN 2: NỘI DUNG

CHƯƠNG I TỔNG QUAN VỀ KHU DI TÍCH GÒ THÁP

1 Vị trắ ựịa lý Ờ ựiều kiện tự nhiên môi trường

* Khái quát cảnh quan môi trường vùng đồng Tháp Mười:

đồng Tháp Mười là một vùng ựất trũng thấp nằm về phắa bắc Ờ tây bắc của miền Tây Nam Bộ (Việt Nam), phạm vi phân bố khoảng 8.000 km2 (dài 130km, rộng từ 60 Ờ 70km), trong ựó vùng trũng ngập nước chiếm 4.560km2,

ựộ cao tuyệt ựối từ 0,5 Ờ 3m Vị trắ của nó trực thuộc phạm vi hành chắnh của các tỉnh: Long An, Tiền Giang và đồng Tháp, thuộc khu vực ựồng bằng tắch

tụ Ờ xâm thực nằm ở vùng thượng lưu châu thổ sông Cửu Long (miền hạ lưu của hệ thống sông Mékong) Phắa ựông tiếp giáp Thành phố Hồ Chắ Minh với ựường ranh Chợ Lớn Ờ Bến Lức Ờ Tân An, giới hạn phắa tây nam là tả ngạn sông Tiền, phắa bắc là dải ựất chuyển tiếp giữa hai vùng phù sa cổ và phù

sa mới

Trước kia, đồng Tháp Mười, Tứ Giác Long Xuyên và vùng U Minh là

ba khu vực trũng tắch tụ trầm tắch biển Riêng khu vực đồng Tháp Mười này

là một vịnh biển ăn sâu về phắa Tây Ninh và xa hơn nữa Vịnh này nối với một ựầm lầy rộng lớn là nơi thoát nước của sông Cửu Long mà bây giờ là lưu vực của hai sông Vàm Cỏ đông và Vàm Cỏ Tây Về sau, ựất phù sa bồi ựắp dần lên nên ựã tạo ựã biến vịnh và ựầm lầy thành đồng Tháp Mười cho ựến như ngày nay (46, tr 4 Ờ 5)

Cảnh quan thung lũng phù sa có thể quan sát ở những dải ựất dọc theo sông Tiền và trục Mỹ Tho Ờ Chợ Lớn: ựất thấp nhưng không quá lầy lội, làng mạc tập trung trên những thế ựất cao và dọc theo bờ kinh

Trang 17

Nhìn toàn bộ vùng ñất này hầu như hoàn toàn phẳng Từ thành phố Hồ Chí Minh ñến Soài Riêng, lớp phù sa mới phủ trên phù sa cổ ngày càng dầy, ñến gần Mỹ Tho thì ñã dầy lên ñến vài mét Phần lớn phù sa này ñã bị lắng ñọng trong môi trường nước lợ và sét Dưới lớp phù sa mới, các nhà ñịa chất cho rằng các con rạch trong vùng trũng ñã ñổi dòng nhiều lần Các thấu kính ñất có thành phần cấu tạo nhẹ hơn phân bố theo những tuyến nhất ñịnh, ñánh dấu các dòng rạch cổ

Vùng ñất này chịu ảnh hưởng trực tiếp từ dòng chảy của con sông Tiền

và sông Vàm Cỏ Tây Ở phần phía tây là vùng tràn bờ của sông Tiền, phía ñông tiếp giáp với khu vực phù sa cổ thuộc lưu vực sông Vàm Cỏ Tây trải dài

từ Mỹ Tho ñến Bến Lức và Tân An Khu vực này tạo thành một bờ ngăn cách

và giữ nước cùng với những giồng ñất lớn – nhỏ ven sông ở phía nam Quan sát không ảnh, ta thấy từ những ñiểm sáng tỏa ra những dòng nước nhỏ: ñó là những trung tâm phân thủy của những thế ñất cao Cánh ñồng tuy phẳng nhưng không ñơn ñiệu, ñây ñó nổi lên những giồng cát nối tiếp, theo hướng gần song song với dòng chảy sông Tiền ðặc ñiểm của toàn bộ vùng ñồng bằng song Cửu Long có ñộ dốc nhỏ làm cho tốc ñộ thoát nước vào mùa lũ rất chậm, vì vậy vào mùa mưa (tháng 6 ñến tháng 10 hằng năm), nước từ sông Vàm Cỏ Tây và sông Tiền tràn bờ làm ngập vùng thấp từ 2 – 3m, biến ðồng Tháp Mười thành một biển nước mênh mông, ở ñó rải rác nhô lên những ñỉnh

gò nhỏ, những cụm cây tràm và một vài ñám lúa nổi, toàn bộ vùng ðồng Tháp Mười và một phần lớn miền Tây Nam Bộ bị chìm ngập dưới biển nước Mùa khô, nước rút xuống thấp, ðồng Tháp Mười còn lại những khu vực ñầm lầy ngập nước và những cánh ñồng rộng lớn trên một bình diện gần như bằng phẳng

Trên vùng ñồng bằng trũng thấp này có quần thực vật và ñộng vật tiêu biểu của vùng ñồng bằng thấp ngập nước (ñiên ñiển, cỏ năn, lác, ñế,…) cùng

Trang 18

với những loại cây rất ñặc thù như tràm, tre gai, trâm bầu và các loại cây ñưng, da,… ở ñây Quần thể ñộng vật rất phong phú với các loài chim, cá, thú nhỏ quen thuộc của miền Tây Trước ñây, ðồng Tháp Mười nổi tiếng là vùng nhiều tôm, cá, rắn, rùa, cá sấu,… nhưng ngày nay, với sự biến ñổi của môi sinh dưới sự tác ñộng của con người ñã khiến số lượng nhiều loài thảo mộc và ñộng vật thổ sản bị giảm sút, nhiều loài ñã mất hẳn trong vùng Vùng ñồng bằng trũng này cũng ñang bị ñe dọa về mặt môi sinh nghiêm trọng bởi sự

“xâm lăng” của những loài nhập cư mới như cá trê Amazon, cây ma vương (nguồn gốc từ Mã Lai ?), một loại cây bụi gai phát triển rất mạnh có xu hướng lấn át và chiếm dần không gian sinh trưởng của các loại thực vật bản ñịa vốn

có trong vùng

* Vị trí ñịa lý và môi trường khu di tích Gò Tháp:

Gò Tháp ngày nay thuộc xã Tân Kiều, huyện Tháp Mười, tỉnh ðồng Tháp, cách huyện lỵ Tháp Mười 10,7 km về phía bắc, cách thị xã Cao Lãnh khoảng 27 km về hướng ñông bắc Trước ñây, ñịa danh hành chính của Gò Tháp có nhiều thay ñổi Theo những tài liệu xưa, ñịa ñiểm Gò Tháp thuộc ấp Tháp Mười, xã Mỹ Thọ, tổng Phong Nam, tỉnh Sa ðéc, tên của khu vực ñơn

vị hành chính tiếp theo mà Gò Tháp trực thuộc (cho ñến trước tháng 4 – 1984)

là xã Mỹ Hòa (52, tr 1) Gò Tháp ngày nay là tên gọi chung cho khu di tích khảo cổ học tập hợp nhiều gò nhỏ, thấp nằm trên một giồng ñất pha cát, có các thế ñất uốn lượn nhẹ nhàng Toàn bộ gò có chiều dài khoảng 1km, chiều rộng nhất là 300m (ở phía nam), theo hướng ñông bắc – tây nam Khu giồng cát này có ñộ cao tuyệt ñối của ñỉnh gò cao nhất (Gò Tháp Mười) là 5,047m

so với mực nước biển chuẩn Hà Tiên Mặt gò là tập hợp một số gò nhỏ và những thế ñất uốn lượn nhẹ nhàng (Gò Tháp Mười, Gò Minh Sư, Gò Bà Chúa

Xứ, Tháp Mười Cổ Tự,…) (51, tr 1), cao ñộ trung bình khoảng 1,3m so với mực nước biển chuẩn Hà Tiên

Trang 19

Khu di tích Gò Tháp có tọa ñộ 100 36’ 0,6” vĩ bắc – 1050 49’ 32,3” kinh ñông, ở khu vực trung tâm của vùng trũng ðồng Tháp Mười có hệ thống kênh rạch chằng chịt thuộc hệ sinh thái rừng tràm phát triển mạnh Mùa khô, nước rút ñi, ñất ñai khô cằn với các cánh ñồng rộng lớn mọc toàn các loại cỏ năng, lác, ñế và các loại cây bụi thấp Vào mùa mưa, ñặc biệt từ tháng 9 (Dương lịch) hằng năm, khi dòng nước sông Mékong bắt nguồn từ những núi băng tan của dãy Hymalaya, chảy qua lãnh thổ các nước: Myanma, Lào, Campuchia, Thái Lan mang theo lượng phù sa lớn ñổ dồn xuống vùng ñồng bằng hạ lưu châu thổ sông Cửu Long, theo ñó mực nước dâng lên khiến hầu như toàn bộ vùng ñồng bằng châu thổ bị chìm ngập và một quá trình bồi lắng mới lại diễn

ra Có thể nói, ñồng bằng châu thổ sông Cửu Long và ðồng Tháp Mười nói riêng chính là “túi nước lớn” có tác dụng làm giảm tốc ñộ dòng chảy, là

“trạm” ñiều tiết của dòng nước sông Mékong trước khi theo các dòng chảy ñổ

+ Khu vực xung quanh các chân gò và vùng trũng thấp trong khu di tích

ñã phát hiện ñược dấu vết của những di chỉ cư trú với các chân cột nhà sàn cắm sâu vào tầng sét, dấu vết mộ táng…

+ Trên các khu vực có ñịa hình gò nổi cao, hầu hết ñều có dấu vết của nhiều di tích kiến trúc gạch cổ như: Gò Tháp Mười, Gò Bà Chúa Xứ, Gò Minh Sư,… Các kiến trúc này có phần móng ñược gia cố rất quy mô, gồm các lớp ñất sét – hỗn hợp gạch – ñất sét, gạch – ñá – cát và cả chất kết dính, dưới

Trang 20

cùng là những cây tràm lớn xếp nằm ngang tạo thành một “tấm phên” kè vững chắc cho phần nền móng kiến trúc

Những cấu trúc này ñã chứng tỏ các khu gò ñược hình thành và cao lên dần cùng với quá trình ñịnh cư và cải tạo ñắp ñất và gia cố nền – móng và xây dựng các kiến trúc ở những giai ñoạn khác nhau các thế hệ của cư dân

Gò Tháp

Về mặt vị trí ñịa lý – môi trường, ðồng Tháp Mười còn là nơi tiếp nhận thủy lưu từ sông Mékong, ñể từ ñây chuyển sang một hình thái mới cho toàn vùng hạ lưu, tạo sự thay ñổi căn bản về ñặc ñiểm vận hành cùng cảnh quan ñịa lý mà ðồng Tháp Mười là “trung tâm” “Trung tâm” này là tạo nên một vùng ñịa lý ñặc trưng của khu vực Tây Nam Bộ có mối quan hệ kết nối với các khu vực xung quanh của toàn vùng, ñặc biệt là qua hệ thống thủy lộ dày ñặc của khu vực này ðây cũng là một trong những ñiều kiện thuận lợi song cũng chứa ñựng nhiều khó khăn cho việc sinh tụ, cải tạo tự nhiên của con người trên vùng ñất này ðồng thời, ñó cũng là yếu tố tác ñộng mạnh nhiều ñến ñặc trưng văn hóa – xã hội của cư dân sinh sống tại ñây trong những thời

kỳ khác nhau, trong ñó có giai ñoạn khai phá, chinh phục và phát triển của cư dân thuộc văn hóa Óc Eo trong thời khoảng thời gian từ thế kỷ I ñến thế kỷ VII AD

2 Lịch sử phát hiện và nghiên cứu vấn ñề

2.1 Giai ñoạn trước năm 1975

Khu di tích khảo cổ học Gò Tháp ñược biết ñến vào khoảng cuối thế

kỷ XIX với tên gọi Prásat Pream Loven (Chùa Năm Gian) (25, tr 81) Vào những năm 1878 – 1879 (25, tr 82), một số minh văn bằng tiếng Phạn cổ khắc trên ñá ñược phát hiện trong khu vực này và ñưa về trụ sở chính quyền thuộc ñịa Pháp ở Sa ðéc, một số khác sau ñó ñược ñưa về Sài Gòn Trong số tám bản minh văn ñã ñược dịch và nghiên cứu có một bản ñược xem là quan

Trang 21

trọng nhất hiện ñang lưu giữ và trưng bày tại Bảo tàng Lịch sử Việt Nam – Thành phố Hồ Chí Minh Bản minh văn này nói về việc khai khẩn và xây dựng trên vùng ðồng Tháp Mười một trung tâm hành chính nó ñược cai quản bởi một chính quyền Trung ương có tổ chức của một quốc gia… Các minh văn này là ñối tượng ñầu tiên ñược quan tâm nghiên cứu và công bố bởi các nhà khảo cổ học người Pháp như Aymonier, G.Coedes, L.Malleret…

Quá trình nghiên cứu di tích Gò Tháp từ năm 1878 của các học giả người Pháp ñã ñem ñến nhận thức quan trọng về vị trí và quy mô của khu di

tích Gò Tháp, họ ñã khẳng ñịnh “Gò Tháp là một khu di tích khảo cổ học có

quy mô lớn, rất phong phú về mặt di vật và có một vị trí quan trọng trong quá trình lịch sử hình thành – phát triển của văn hóa Óc Eo và vương quốc Phù Nam”,Di tích Gò Tháp ñã ñược coi là “một trong những trung tâm tôn

giáo khá quan trọng” của văn hóa Óc Eo” (46, tr 16)

ðến năm 1931, H Parmentier và J.Y.Claeys ñã tiến hành ñào một vài

hố thám sát trong khu vực mà hiện nay là ngôi chùa Bà Chúa Xứ, qua ñó ñã ghi nhận dấu tích một vỉa gạch xây nằm về sườn phía tây của gò Tiếp ñó là những cuộc khảo sát và thăm dò khảo cổ ñã phát hiện nhiều dấu tích kiến trúc

cổ (các cấu kiện kiến trúc bằng ñá, những tấm ñan ñá, các sàn gạch, cọc gỗ,…), các loại hình hiện vật gốm trong các hố thám sát chưa ñược ñề cập ñến (26, tr 20)

Tuy nhiên, từ năm 1945 trở ñi, do tình hình chiến tranh diễn ra ác liệt ngày càng ác liệt trong một thời gian dài từ năm 1960 cho ñến năm 1975 ñã hoàn toàn làm cho quá trình nghiên cứu cứu bị gián ñoạn ðây cũng là thời kỳ khu di tích này chịu những tổn hại nặng nề bởi các hoạt ñộng quân sự

2.2 Giai ñoạn từ sau năm 1975 ñến nay

Từ sau năm 1975, công tác nghiên cứu khảo cổ học vùng ñất phía Nam ñược khởi ñộng trở lại bởi các nhà khảo cổ học thuộc Viện Khoa học Xã hội

Trang 22

tại Thành phố Hồ Chí Minh Các nhà khảo cổ học ñã thực hiện các chương trình ñiều tra khảo sát lại toàn bộ khu di tích Gò Tháp ñể thống kê, thu thập, ñánh giá và hệ thống lại tư liệu về khu di tích này nhằm tiếp tục công việc mà những người Pháp ñã khởi ñầu Tuy nhiên, vì những ñiều kiện khách quan nên ñến năm 1983 công việc này mới ñược thực hiện

Từ năm 1983 ñến năm 2003, khu di tích Gò Tháp ñã ñược Bảo tàng Tổng hợp tỉnh ðồng Tháp và Trung tâm Nghiên cứu Khảo cổ – Viện Khoa học Xã hội tại Thành phố Hồ Chí Minh (các năm 1983 – 1984, 1993, 1996, 1998) và Viện Khảo cổ học – Hà Nội (các năm 2001 – 2002 – 2003) tiến hành nhiều ñợt khảo sát, ñào thám sát và khai quật nghiên cứu Kết quả ñã tìm thấy nhiều vết tích di chỉ cư trú cùng với hàng chục di chỉ kiến trúc, di chỉ mộ táng xây bằng gạch, cùng với nhiều hiện vật ñã ñược phát hiện, thu thập và nghiên cứu

Giai ñoạn nghiên cứu này có thể ñược chia thành hai giai ñoạn nhỏ: – Giai ñoạn 1: Từ năm 1983 ñến năm 1998 với các cuộc ñiều tra, thám sát và khai quật trên toàn diện khu di tích Gò Tháp

– Giai ñoạn 2: Từ năm 2000 ñến năm 2003 là giai ñoạn các cuộc khai quật khảo cổ học, ñối tượng nghiên cứu chính là loại hình di chỉ cư trú

* Giai ñoạn từ năm 1983 ñến năm 1998:

Năm 1983, dưới sự phối hợp giữa Trung tâm Nghiên cứu Khảo cổ cùng Bảo tàng Tổng hợp tỉnh ðồng Tháp thực hiện một ñợt khảo sát toàn diện tại khu di tích Gò Tháp và ñến ñầu năm 1984, cuộc khai quật ñầu tiên ñược thực hiện ở ñịa ñiểm Gò Tháp Mười

Kết quả khảo sát và khai quật cho thấy so với những mô tả của L Malleret từ những năm 1940, thì bề mặt của di tích ñã bị xáo trộn và biến ñổi nhiều do chiến tranh (trước năm 1975) và việc ñào tìm vàng của người dân (trong những năm 1980)

Trang 23

Kết quả nghiên cứu khảo sát, khai quật tại khu di tích Gò Tháp trong khoảng thời gian này có thể ñược ñiểm lại gắn với từng khu vực di tích (hay ñịa ñiểm khảo cổ học trong khu di tích Gò Tháp) có ñịa hình là các gò ñất nổi cao nằm trên khu vực Gò Tháp như sau:

– ðịa ñiểm Gò Bà Chúa Xứ (còn gọi là Linh Miếu Bà), ở ñầu phía bắc

của Gò Tháp, là một gò rộng khoảng 3.500m2, cao hơn mặt ruộng xung quanh khoảng 1,5m Tại ñây, nhiều mảnh tượng vỡ ñược gom lại thành ñống dưới một gốc cây mọc cạnh miếu làm nơi thờ Ông Tà Vào các năm 1984, 1996 khu vực này ñã ñược khai quật và làm rõ một di tích kiến trúc bằng phẳng có quy mô lớn (61, tr 46 – 47)

Trong khu vực ñịa ñiểm miếu Bà Chúa Xứ, năm 1984 có triển khai ñào một loạt các hố thám sát ký hiệu 84GT.TS2, nằm ở vị trí có cao ñộ từ 1,6 – 2,2m ở sườn bắc của một gò thấp, gồm một hệ thống hố thám sát nhỏ (2 x 2m), trong ñó có hố tìm thấy tầng văn hóa di chỉ cư trú từ ñộ sâu 2,2 – 2,5m (50, tr 8) Trong hố thám sát 84GT.TS2M1 ñã phát hiện dấu vết cư trú nằm bên dưới một nền ñất ñắp dầy khoảng 1,7m, dầy khoảng 0,2 – 0,3m ñến ñộ sâu 2,2m từ bề mặt Dấu vết cư trú là các vết tích bếp lửa, mảnh nồi gốm có bám muội than, xương ñộng vật,… (50, tr 4) (25, tr 161)

– ðịa ñiểm Gò Minh Sư: có dạng hình tròn nằm ở khoảng giữa của khu

di tích, rộng khoảng 1.250m2, có ñỉnh cao hơn mặt ruộng xung quanh khoảng 3,1m Trên ñó có một số ñá cấu kiện của kiến trúc, mảnh ñá có khắc chữ Phạn, mảnh tượng,… ñược gom lại thành ñống ở ñỉnh gò làm nơi thờ Ông Tà ðịa ñiểm Gò Minh Sư ñã ñược tiến hành ñào thám sát trên ñỉnh gò và xác ñịnh ñược một kiến trúc gạch có quy mô khá lớn, có phần móng ñược gia cố chắc chắn bằng nhiều lớp gỗ, sét, ñá, cát và hỗn hợp gạch vụn, cùng chất kết dính (50, tr 4)

Trang 24

Ờ địa ựiểm Gò Tháp Mười: là gò chắnh và cao nhất trong toàn bộ khu

di tắch Gò có dạng tứ diện gần vuông, diện tắch khoảng 4.500m2, cao hơn mặt ruộng xung quanh khoảng 3,8m

Trên ựỉnh gò, vào những năm 1956 Ờ 1959, dưới chế ựộ Ngô đình Diệm ựã cho xây trên ựỉnh Gò Tháp Mười một ngôi tháp mười tầng (cao 42m), làm ựài quan sát quân sự Không lâu sau khi hoàn tất, tháp này ựã bị ựặc công của Tiểu ựoàn 502 ựánh sập hoàn toàn (năm 1959) Hiện nay trên ựỉnh gò vẫn còn giữ lại một sàn gạch tương ựối nguyên vẹn và phế tắch ngôi tháp bằng bê tông cốt thép nằm theo hướng ựông Ờ tây

Bề mặt và chân gò có rất nhiều khối ựá cấu kiện kiến trúc lớn, cột ựá, vật thờ và gạch cổ Tại ựây, vào năm 1984, Trung tâm Nghiên cứu Khảo cổ phối hợp với Bảo tàng Tổng hợp tỉnh đồng Tháp ựào thám sát và xác ựịnh ựược một ựoạn tường gạch của một kiến trúc cổ Vào các năm tiếp sau, năm

1996, 1998 Trung tâm Nghiên cứu Khảo cổ và Bảo tàng Tổng hợp tỉnh đồng Tháp ựã tiến hành khai quật di tắch này và làm xuất lộ một phần của kiến trúc tôn giáo bằng gạch có quy mô rất lớn (chiều dài ựông Ờ tây 17,3m, rộng bắc Ờ nam 12m) và hai tượng thần Vishnu bằng ựá (62, tr 49)

Ờ Năm 1984, các dấu tắch di chỉ cư trú ựược tìm thấy trong ựịa tầng các

hố thám sát tại khu vực xung quanh ựịa ựiểm đốc Binh Kiều, hoặc trong lớp

cư trú bên dưới di chỉ mộ táng, và kiến trúc như Gò Minh Sư, Bà Chúa Xứ (25, tr 86)

Ờ Năm 1993, ở khu vực quanh khu mộ đốc Binh Kiều và khu trại cải tạo mạn ựông miếu Bà Chúa Xứ ựã tiến hành ựào nhiều hố thám sát nhỏ, tại ựây ựã phát hiện ựược nhiều mảnh gốm, xương răng ựộng vật ở ựộ sâu 2,1m (7, tr 363)

Khu vực cách miếu Bà Chúa Xứ 1 km về phắa bắc ựã phát hiện những cọc gỗ chạy thành hàng cùng với nhiều mảnh gốm thô, gốm mịn, vòi bình,

Trang 25

mảnh cà ràng,Ầ với ựầy ựủ các loại hình miệng, hoa văn, chân ựế ựặc trưng của ựồ gốm văn hóa Óc Eo (7, tr 363)

Tại ựịa ựiểm đìa Vàng và đìa Phật ựã phát hiện dấu vết di chỉ cư trú trên nhà sàn với tầng văn hóa dầy 0,1 Ờ 0,2m có chứa nhiều mảnh gốm cổ Riêng tại ựịa ựiểm đìa Vàng cũng ựã tìm thấy dấu vết nền nhà ựắp bằng ựất lẫn gạch vỡ với nhiều hàng cột gỗ chạy dài theo hướng bắc Ờ nam (46, tr 14)

Tại ựây (đìa vàng hay đìa Phật, năm nào?) cũng tìm thấy hai pho tượng

Phật bằng gỗ

Ờ Năm 1998, một cuộc khảo sát ựược thực hiện tại ựây ựã thu ựược một

số tiêu bản gốm văn hóa Óc Eo trong khu vực khu di tắch Gò Tháp với các loại hình vật dụng sinh hoạt như bình, vò, vòi bình,Ầ

Như vậy, kết quả thám sát và khai quật khu di tắch Gò Tháp vào các năm 1983, 1984, 1993, 1996 và 1998 (Gò Tháp Mười, đốc Binh Kiều, Gò Minh Sư, đìa Vàng, đìa Phật và các gò ựất thấp trong khu vực), ựã xác ựịnh

Gò Tháp là một phức thể di tắch lớn gồm các loại hình di chỉ cư trú, kiến trúc

và mộ táng thuộc văn hóa Óc Eo với những yếu tố sinh hoạt sớm Ờ muộn đồng thời, ựã phát hiện một khối lượng hiện vật rất phong phú bao gồm tượng gỗ, tượng ựá, các loại vật dụng gốm, trang sức thủy tinh, vàng có chạm khắc hình,Ầ

điểm qua các ựịa ựiểm khảo cổ học trên ựây cùng với các cuộc ựiền dã khảo cổ học cho thấy việc nghiên cứu tại khu di tắch Gò Tháp trong những năm 1983 ựến năm 1998 ựược triển khai trên toàn diện khu di tắch Gò Tháp, ựối tượng khảo sát và nghiên cứu gồm tất cả các loại hình di tắch, di vật, song chủ yếu tập trung vào loại hình di tắch kiến trúc, di tắch mộ táng và các hiện vật tượng ựá, tượng gỗ Loại hình di chỉ cư trú ựược ựề cập ựến trong những

hố thám sát chủ yếu mang tắnh chất kiểm tra ựịa tầng Hiện vật trong di chỉ cư trú, chủ yếu là hiện vật gốm, chỉ ựược thống kê sơ bộ trên một số tiêu bản

Trang 26

gốm nổi bật, hoặc ựược xác ựịnh cơ bản là tiêu biểu trong văn hóa Óc Eo, chưa thống kê thành các số liệu cụ thể, số liệu gắn với ựịa tầng khảo cổ học hầu như chưa ựược phân tắch ựể trở thành tư liệu ựịnh lượng và ựịnh tắnh, ựể

từ ựó xếp chúng vào phân kỳ niên ựại phát triển của di tắch Gò Tháp cũng như ựặt chúng trong quan hệ văn hóa với các di tắch nằm trong không gian rộng lớn của văn hóa Óc Eo Tình trạng này cũng là ựặc ựiểm chung của việc nghiên cứu khu di tắch Gò Tháp nói riêng và văn hóa Óc Eo nói chung

Từ sau cuộc ựiều tra năm 1998 ựến trước năm 2000, tại khu di tắch Gò Tháp không có thêm cuộc ựiền dã khảo cổ học nào ựược thực hiện Cho ựến năm 2001 và liên tục sau ựó là các năm 2002, 2003, một chương trình nghiên cứu lớn và chuyên sâu tại khu di tắch Gò Tháp ựã ựược thực hiện, ựối tượng nghiên cứu là loại hình hiện vật gốm và di chỉ cư trú

* Giai ựoạn từ năm 2001 ựến năm 2003:

Các bước nghiên cứu loại hình di chỉ cư trú và di vật gốm ựược xác ựịnh là ựối tượng chắnh chỉ thực sự ựược triển khai ở các cuộc khai quật trong các năm 2001, 2002 và năm 2003 thuộc ựề tài cấp Bộ thuộc chương trình trọng ựiểm nghiên cứu miền Tây Nam Bộ do Viện Khảo cổ học (Hà Nội) chủ trì Chương trình này có ựối tượng nghiên cứu chắnh là di chỉ cư trú ở sườn phắa ựông nam của ựịa ựiểm Gò Minh Sư thuộc khu di tắch Gò Tháp với ba cuộc khai quật di chỉ cư trú chân Gò Minh Sư, lần lượt:

Ờ Lần I (2001): 64m2

Ờ Lần II (2002): 48m2 (4 x 12m) Hai hố thám sát tại đìa Phật (8m2) Ờ Lần III (2003): Hố khai quật 24m2 (4 x 6m); thám sát 6m2 (2 x 3m)

Ba cuộc khai quật và thám sát liên tục trong các năm 2001, 2002 và

2003 ựã ựem lại những nhận thức quan trọng về loại hình di chỉ cư trú tại khu

di tắch Gò Tháp với tư liệu ựịa tầng di chỉ cư trú và sưu tập hiện vật rất phong phú như ựá, gốm, ựất nung,Ầ có nhiều giá trị ựối với công tác nghiên cứu bổ

Trang 27

sung ñối với loại hình di chỉ cư trú nói riêng và các vấn ñề khác liên quan của khu di tích Gò Tháp cũng như ñối với văn hóa Óc Eo nói chung ðồng thời, tư liệu ñã xác ñịnh khu vực chân Gò Minh Sư là một khu vực di chỉ cư trú – mộ táng thuộc văn hóa Óc Eo có niên ñại thế kỷ IV – VI AD (22, tr 17), ñồng thời còn xác ñịnh một niên ñại sớm nhất cho lớp văn hóa bên dưới tại khu vực này (khoảng thế kỷ I – II BC – Lê Thị Liên) (20, tr 46)

Kể từ khi ñược biết ñến lần ñầu tiên năm 1878, trải qua quá trình khảo sát, nghiên cứu lâu dài, khu di tích Gò Tháp ñã ñược xác ñịnh là một phức thể

di tích lớn gồm các loại hình di chỉ cư trú, kiến trúc, xưởng thủ công, mộ táng thuộc văn hóa Óc Eo với những yếu tố sớm – muộn, có niên ñại kéo dài từ thế

kỷ II BC ñến thế kỷ XI – XI AD (Lê Thị Liên [21, tr 46]) (phát triển mạnh nhất vào khoảng thế kỷ IV – VI AD) Tuy vậy, những phát hiện khảo cổ học cho ñến nay vẫn chỉ là một phần nhỏ so với quy mô tổng thể di tích – di vật văn hóa vô cùng phong phú của Gò Tháp ñang còn chôn vùi trong lòng ñất, cần ñược tiếp tục nghiên cứu với phương pháp và góc ñộ tiếp cận hiện ñại, chuyên sâu hơn

Mặc dù vậy, các kết quả nghiên cứu trên cho thấy còn một khoảng trống lớn cần ñược lấp ñầy Loại hình di chỉ cư trú và hiện vật gốm ñã ñược tiếp cận nghiên cứu song chỉ dừng lại ở những bước ñi ban ñầu với hầu hết tư liệu còn ở dạng tư liệu thô chưa ñược ñi sâu khai thác Hầu hết chúng ñược phản ánh trong các báo cáo khai quật hoặc là một phần nhỏ trong một công trình khoa học, có vai trò như là một phần thuộc di tích mà chưa ñược hệ thống lại một cách hoàn chỉnh, ñể qua ñó lý giải cho các vấn ñề lịch sử – văn hóa,… trong quá trình hình thành và phát triển của khu di tích Gò Tháp và văn hóa Óc Eo

Các công bố về di chỉ cư trú ñược dưới dạng những bài viết ngắn như:

Trang 28

+ Nishimura Masanari (2003), Nhận thức bước ựầu về ựồ gốm ựịa ựiểm chân gò Minh Sư (Gò Tháp Ờ đồng Tháp) NPHMVKCH, Hà Nội

+ Lê Thị Liên (2004), Hình thức và chức năng của một loại hình vòi vẩy gốm trong văn hóa Óc Eo NPHMVKCH)

Những công bố này là những phân tắch và nhận thức cụ thể bước ựầu về loại hình di chỉ cư trú và hiện vật gốm tai khu di tắch Gò Tháp nói riêng và văn hóa Óc Eo nói chung

Từ những thống kê trên ựây, có thể khái quát quá trình nghiên cứu tại khu di tắch Gò Tháp các giai ựoạn có những ựiểm nổi bật sau:

Ờ Giai ựoạn trước năm 1975:

Giai ựoạn này bắt ựầu từ phát hiện ựầu tiên và tiếp theo là các cuộc nghiên cứu khu di tắch Gò Tháp nói riêng và văn hóa Óc Eo nói chung chủ yếu do những người Pháp tiến hành

đối tượng nghiên cứu bao gồm những hiện vật có giá trị nghệ thuật, văn bia, phát hiện nằm lộ thiên và ựược thu nhặt trên mặt ựất qua các ựợt khảo sát

Giai ựoạn nghiên cứu này có ựối tượng di tắch Ờ di vật ựược tiếp cận nghiên cứu còn nhiều hạn chế và ựã nhanh chóng bị gián ựoạn cho ựến sau năm 1975 vì chiến tranh

Ờ Giai ựoạn sau 1975 có thể chia thành hai giai ựoạn nhỏ:

+ Từ năm 1983 ựến năm 1998: Trung tâm nghiên cứu Khảo cổ phối

hợp với Bảo tàng Tổng hợp đồng Tháp tiến hành nhiều cuộc khảo sát, ựiều tra kiểm chứng và thống kê lại toàn bộ các di tắch, di vật ựã phát hiện, các cuộc khai quật tập trung trên những ựịa ựiểm di tắch có dạng gò Ờ nổi cao, chủ yếu là các kiến trúc gạch và mộ táng Có ba cuộc thám sát các di chỉ cư trú tại các ựịa ựiểm miếu Bà Chúa Xứ, đìa Phật, đìa Vàng, kết quả ựã phát hiện những dấu tắch ựầu tiên của di chỉ cư trú, di chỉ công xưởng chế tác tượng

Trang 29

Phật gỗ (đìa Phật) vào các năm 1983 Ờ 1984, 1996 và 1998 Việc nghiên cứu chủ yếu tập trung vào hai loại hình di tắch kiến trúc và mộ táng cùng với các hiện vật liên quan (tượng, ựồ tùy táng), còn di chỉ cư trú và hiện vật gốm ựược

mô tả khái quát trong các báo cáo khoa học và những công trình khoa học công bố sau ựó, nhưng chỉ là một phần thứ yếu ựược ựề cập ựến như là tư liệu kèm theo bổ sung cho các tư liệu Ộtruyền thốngỢ mà chưa thực sự ựược phân loại, phân tắch một cách có hệ thống như một trong những ựối tượng nghiên cứu chắnh

+ Từ năm 2000 ựến năm 2003: gắn với các cuộc khai quật tại khu vực

xung quanh chân gò Minh Sư (sườn và chân gò phắa tây) với mục ựắch ựi sâu nghiên cứu loại hình di chỉ cư trú và hiện vật gốm Óc Eo Các ựợt nghiên cứu ựược thực hiện bởi Viện Khảo cổ học (Hà Nội) phối hợp với Bảo tàng Tổng hợp tỉnh đồng Tháp và Trung tâm Nghiên cứu Khảo cổ (2002)

Các cuộc khảo sát, thám sát và khai quật ựã ựem lại kết quả khả quan với bộ sưu tập rất phong phú các loại hình hiện vật gốm với những ựặc trưng tiêu biểu của gốm văn hóa Óc Eo Kết quả xử lý nghiên cứu trong phòng ựã thu ựược nhiều thông tin quan trọng về khu di tắch Gò Tháp với loại hình di chỉ cư trú, tuy những tư liệu này chỉ dừng lại ở những báo cáo khoa học nhưng ựây là những tư liệu chuẩn có tắnh tổng quát với hệ thống phân loại các bảng thống kê chi tiết, có ý nghĩa quan trọng cho việc phân tắch Ờ phân loại một cách chi tiết và cụ thể giúp ắch cho việc nghiên cứu loại hình hiện vật gốm và di chỉ cư trú tại khu di tắch Gò Tháp nói riêng và trong văn hóa Óc Eo nói chung

Các tư liệu có ựược từ những kết quả nghiên cứu trong những năm gần ựây có ý nghĩa rất quan trọng, ựánh dấu sự chuyển hướng mạnh mẽ trong quá trình nghiên cứu văn hóa Óc Eo, giúp bổ sung cho những khoảng trống về loại hình di chỉ cư trú và hiện vật gốm trong văn hóa Óc Eo Và nó hứa hẹn

Trang 30

ựem ựến một hướng tiếp sâu sắc, ựầy ựủ hơn về khu di tắch này khi ựối tượng nghiên cứu không chỉ là những công trình kiến trúc, hay các tác phẩm nghệ thuật Ờ tôn giáo sẽ ựược triển khai vào ựối tượng trực tiếp là ựời sống thường nhật của cư dân văn hóa Óc Eo

3 địa tầng khảo cổ học các di chỉ cư trú trong khu di tắch Gò Tháp

Từ năm 1983 ựến năm 2003 ựã có các cuộc khai quật và ựào thám sát ở các ựịa ựiểm trong khu vực khu di tắch Gò Tháp, trong ựó tư liệu ựịa tầng rõ nét nhất ựối với một di chỉ cư trú cùng với sưu tập hiện vật gốm mang ựầy ựủ các ựặc trưng cơ bản của gốm Gò Tháp, tại các ựịa ựiểm đìa Vàng, khu vực phắa tây của Gò Minh Sư

Vì vậy, kết quả khai quật tại ựịa ựiểm chân Gò Minh Sư vào các năm

2001, 2002 và 2003 ựược chọn làm ựối tượng khảo sát, làm ựịa tầng chuẩn cho công việc xác lập trật tự diễn biến của hiện vật gốm tại khu di tắch Gò Tháp Các hiện vật sưu tầm và ựịa tầng của các hố ựào thám sát tại đìa Vàng cũng ựược sử dụng nhằm tập hợp tối ựa những nguồn tư liệu hiện có, ựể tiến hành so sánh những ựặc ựiểm khác nhau một cách tối ưu nhất

3.1 địa ựiểm chân Gò Minh Sư

Khu vực này nằm về phắa tây của chân Gò Minh Sư với khoảng cách 100m, ựã ựược khai quật ba lần vào các năm 2001 (64m2) Ờ 2002 (48m2) Ờ

2003 (24m2) với lần lượt ba hố khai quật ựược mở dần theo thứ tự từ ựông sang tây, trên khu vực có chu vi khoảng 60m

Kết quả ba cuộc khai quật ựã xác ựịnh một tầng văn hóa tắch tụ thống nhất với nhau gồm có 3 lớp kết cấu khác nhau có trật tự diễn biến từ dưới lên như sau:

Ờ Sinh thổ: tầng sét màu xám xanh lẫn sỏi sạn kết cứng màu nâu sậm

Trang 31

– Lớp 1 (từ dưới 1,2 ñến 2,2m so với bề mặt, tương ñương các lớp ñào

từ lớp 13 trở xuống): tầng sét bùn màu xám ñen có chứa cọc gỗ và mảnh gốm thưa thớt

– Lớp 2 (từ 0,4 ñến 1,2m so với bề mặt, tương ñương các lớp ñào từ lớp

3 ñến lớp 12): tầng ñất pha cát hạt mịn màu xám ñen, kết cấu dẻo mịn có các

hố ñất màu ñen dẻo có lót một lớp cát, sét và mai rùa cùng với nhiều hiện vật gốm, ñất nung Số lượng hiện vật càc loại (gốm, ñá, xương, răng di vật,…) tập trung trong lớp này dầy ñặc nhất, trong ñó mật ñộ tập trung cao nhất phân bố

từ trong ñịa tầng ở ñộ sâu từ 0,6 – 1,0m (tính từ bề mặt hiện hữu)

Lớp văn hóa này dầy khoảng 0,4 – 0,5m, một số khu vực dầy khoảng 0,7 – 0,8m Rải rác trên bình diện có nhiều khu vực ñất ñắp có lẫn gốm vụn

do ñược ñào từ vị trí khác ñắp lên, mỗi nền có ñộ dầy khoảng 8 – 12cm

– Lớp 3 (từ 0,2 – 0,4m so với bề mặt, tương ñương các lớp ñào 1

ñến 3): Nửa trên của lớp này còn bị xáo trộn nhiều, nửa dưới ổn ñịnh hơn

Hiện vật ñặc trưng của lớp văn hóa 3 là những ñồ gốm bán sành và sành

có màu xám xanh, nâu ñỏ ñậm xương gốm dầy 1,2 – 1,6cm, ngoài ra còn tìm thấy một mảnh sứ có men ngọc khá dầy ñược xếp vào ñồ sứ miền Bắc Việt Nam hay Trung Quốc thời Lục Triều (Nishimura [42, tr 742]) Lớp văn hóa này là lớp văn hóa muộn nhất trong ñịa tầng tại khu vực Gò Minh Sư, thuộc giai ñoạn phát triển sau thời kỳ Óc Eo

(Do phạm vi ñối tượng của ñề tài là hiện vật gốm Óc Eo nên những hiện vật thuộc lớp văn hóa này không thuộc phạm vi khảo sát và phân tích)

Về sự khác biệt giữa lớp văn hóa 1 có thể tham khảo với kết quả thám sát năm 1993, trong hố thám sát 93GT.TS gần khu vực ðốc Binh Kiều có lớp

cư trú nằm từ ñộ sâu 1,9 – 2,05m gồm nhiều mảnh gốm vỡ của các loại chất liệu gốm mịn – thô với các mảnh gốm có tô màu, vòi bình, xương ñộng vật,…

Trang 32

Lớp cư trú nằm trong tầng ñất có kết cấu pha cát hạt mịn màu xám ghi và tiếp tục ăn sâu vào lớp mùn thực vật (25, tr 162)

ðặc ñiểm diễn biến ñịa tầng lớp 1 và 2 của hố 02GT.H1 về cơ bản là tương tự với hố 93GT.TS, và sự khác biệt giữa kết cấu bùn nhão với ñất xám ghi giữa hai lớp này có thể là biểu hiện cho hai giai ñoạn phát triển sớm – muộn khác nhau

ðặc ñiểm ñịa tầng này còn có thể liên hệ so sánh với ñịa tầng của ñịa ñiểm Gò Tư Trâm (Ba Thê – Óc Eo) với lớp 1 và 2 của hố 02GT.H1 và 93GT.TS, tương ñương với lớp 5 và 6 của hố 05OE.GTTr.H2 (37, tr 7), và có cùng ñặc ñiểm với ñịa tầng hố thám sát di tích Vĩnh Hưng (Bạc Liêu) năm

2002 từ dưới bề mặt 1,6 – 2,2m (02VH.TS) (12, tr 84), có kết cấu và màu sắc tương tự, mật ñộ phân bố hiện vật rất thưa thớt Tuy nhiên, tư liệu hiện vật gốm trong lớp 1 tại ñịa ñiểm Gò Minh Sư không nhiều và chưa ñược phân tích sâu nên rất khó ñưa ra nhận ñịnh về việc có hay không sự khác biệt giữa lớp văn hóa 1 và 2 Vì vậy, trên cơ sở ñánh giá một số ñặc ñiểm ban ñầu của hiện vật gốm Gò Minh Sư – lớp 1 và lớp 2, chúng tôi tạm xếp vào cùng một giai ñoạn thống nhất thuộc nội hàm văn hóa Óc Eo

Về ñịa tầng của ñịa ñiểm Gò Minh Sư có cấu trúc rất phức tạp, trong ñó

có những lớp ñắp nền chồng chéo lên nhau Vì vậy, việc phân loại, thống kê loại hình – chất liệu hiện vật gốm trong một số trường hợp rất khó phản ánh ñặc ñiểm diễn biến ñịa tầng thông qua những sự thay ñổi khác biệt của ñồ gốm trong những lớp văn hóa tương ứng

Như vậy, về cấu trúc, ñịa tầng của khu vực Gò Minh Sư gồm ba lớp có kết cấu và màu sắc ñất khác nhau, trong ñó hai lớp 1 và 2 có ñặc ñiểm cấu trúc ñịa tầng và di vật mang tính chất của di chỉ cư trú và mộ táng, thuộc văn hóa Óc Eo

Trang 33

3.2 địa ựiểm miếu Bà Chúa Xứ

Khu vực này nằm trên một gò ựất thấp cách miếu Bà Chúa Xứ 150m về phắa tây nam, có diện tắch rộng khoảng 1.000m2

Tại khu vực này ựã phát hiện ựược 09 ngôi mộ hỏa táng có huyệt hình vuông ựược kết cấu bằng ựất hoặc bằng gạch

Cạnh hố thám sát có mộ táng GT84.TS2M1 (cách khoảng 6 Ờ 10m (diện tắch 2 x 4m) cấu trúc ựịa tầng tắch tụ gồm: lớp ựất lẫn gạch vỡ (0 Ờ 1,7m); Lớp xác lá cây màu xám ựen gần như hóa than dầy 3cm; lớp cát tự nhiên màu xám nâu (1,73 Ờ 1,87m); lớp mùn thực vật màu ựen (1,83 Ờ 1,9m);

từ 1,9 Ờ 2,05m là lớp cát màu xám ghi chứa nhiều mảnh gốm thô và gốm mịn

tô màu, mảnh bình, xương ựộng vật, gỗ có vết chế tác cùng một số ắt than củi, than tro; từ 2,05 Ờ 2,1m là lớp mùn thực vật màu ựen có chứa một số mảnh gốm cổ và nhiều vết than tro Dưới cùng là lớp cát màu xám ghi lẫn sỏi nâu ựen kết dắnh, tạo thành bề mặt khá chắc, giống ựất nền ựáy biển cổ (7,

tr 362)

Dấu vết cư trú ựược phát hiện sau khi bóc hết lớp ựất ựắp tạo thành gò ựến ựộ sâu 2,15 Ờ 2,2m Dấu vết di chỉ cư trú nằm trong lớp ựất pha cát màu xám ghi dầy 0,3m (từ ựộ sâu 2,2 Ờ 2,5m) với nhiều vết tắch của bếp lửa, những mảnh nồi gốm còn bám muội than, củi cháy dở, xương răng ựộng vật, trâu bò nhà, thanh gỗ có dấu gia côngẦ (52, tr 8)

3.3 địa ựiểm đìa Phật

địa ựiểm đìa Phật nằm về phắa ựông bắc khu di tắch Gò Tháp, ở khu vực trũng thấp ựất nhiễm phèn nặng Trên bề mặt khu vực này chỉ toàn cỏ năn, ựế và một ắt cây tràm Các hố ựược ựào thám sát vào năm 1984 và năm

1996, trong ựó kết quả thám sát ựã xác lập ựược diễn biến ựịa tầng có ựặc ựiểm cấu tạo từ trên xuống dưới gồm các lớp sau:

Trang 34

Ờ Lớp mặt (từ 0m ựến 0,4 Ờ 0,5m): lớp ựất pha cát chứa nhiều mùn

thực vật màu xám ựen, mềm, ắt bị xáo trộn

Ờ Từ 0,5 Ờ 0,6m: Lớp ựất pha cát màu xám ghi ựầy 0,1 Ờ 0,15m có chứa

nhiều gốm cổ, gạch vỡ, thanh gỗ có dấu vết gia công và cát kết dắnh, dấu vết những cọc gỗ cỡ nhỏ ựược chôn cắm sâu xuống tầng cát bên dưới

Ờ Từ 0,6 Ờ 0,8m ựến 0,9m: lớp cát màu xám trắng dầy 0,15 Ờ 0,25m

giống cát bờ biển cổ ựã ựược ghi nhận ở nhiều nơi trên vùng Gò Tháp Từ lớp cát này trở xuống không có hiện vật

Ờ Từ dưới 1,0m trở xuống: tầng ựất sét màu xám xanh có kết cấu mịn

dẻo như thường gặp trong các gò nhân tạo ở các di tắch văn hóa Óc Eo ở miền Tây Nam Bộ

Như vậy kết quả thám sát cho thấy tầng văn hóa ở khu vực đìa Phật là lớp ựất pha cát màu xám ghi, dầy khoảng 0,1 Ờ 0,15m, nằm ngay trên lớp cát màu xám trắng (8, tr.19), tương tự với ựịa tầng của khu vực chân Gò Minh Sư

3.4 địa ựiểm đìa Vàng

đìa Vàng nằm cách đìa Phật khoảng 500m về phắa bắc địa danh này

là tên gọi của một ựoạn lung cổ nhỏ ựược người dân ựào rộng thêm ựể nuôi thủy sản đây là khu vực ựất nhiễm phèn nặng không sử dụng ựược cho việc canh tác nông nghiệp, trên bề mặt chỉ có loại cây năn phát triển rất mạnh

Vào khoảng cuối thập niên 70 của thế kỷ XX, trong khi ựào ựìa, những người dân trong vùng ựã tìm thấy nhiều mảnh vàng mỏng, mạt vàng, vàng hình trứng cá cùng một số ắt ựồ trang sức bằng vàng nên ựặt tên cho ựịa ựiểm này là đìa Vàng

Tại ựịa ựiểm đìa Vàng năm 1996 và năm 2002 ựã tiến hành ựào một số

hố thám sát Các hố thám sát có cùng một kết cấu ựịa tầng với diễn biến từ dưới lên như sau:

Trang 35

Ờ Sinh thổ: Tầng ựất sét màu xám xanh, dẻo mịn, hoàn toàn không có

hiện vật

Ờ Lớp văn hóa (0,4 Ờ 0,6m): ỘựanỢ kết cứng ựược tạo nên từ mảnh gạch

vỡ, mảnh gốm nện chặt lẫn cát, bên trong kết cấu có nhiều than, các khối phèn kết màu nâu sậm Sàn gốm và ựất nung kết cứng này rộng khoảng 2,0m với nhiều dấu vết của cột gỗ trong ựó có một số ựược gia công tạo mộng Ờ chốt hoặc khấc, rãnh ựục lõm quanh thân

Tại ựây cũng ựã tìm thấy một số tượng Phật làm bằng gỗ hoàn chỉnh (đào Linh Côn, Huỳnh Thanh Phong, 1996) cùng với những tiêu bản mới ở dạng phác vật ban ựầu của tượng (tư liệu bảo tàng đồng Tháp sưu tầm năm 2005), cùng rất nhiều những mẫu dăm gỗ thải ra từ quá trình chế tác tượng

Ờ Lớp ựất mặt (0 Ờ 0,4m): Lớp cát tự nhiên, màu xám ựen nhạt, mềm

lẫn nhiều cỏ và rễ cây năn

Từ kết quả trên có thể thấy tầng văn hóa ở khu vực đìa Vàng cũng như đìa Phật gồm một lớp duy nhất dầy khoảng 0,1 Ờ 0,2m, có kết cấu cứng bằng mảnh gốm và gạch vỡ Hầu hết chúng bị vỡ vụn và dường như ựã ựược nện chặt

đặc ựiểm hiện trường và tắnh chất hiện vật cho thấy ựây là một di chỉ xưởng chế tác tượng Phật bằng gỗ trong nơi cư trú Hiện vật gốm, ựất nung có cùng các ựặc ựiểm về loại hình, chất liệu tương tự những hiện vật cùng loại trong ựịa tầng các hố khai quật của di chỉ Gò Minh Sư nói riêng và Gò Tháp nói chung

Ngoài ra, ở khu vực này còn có dấu vết những con lung cổ chạy thẳng tắp, khảo sát một số ựoạn còn thấy có nhiều cọc gỗ trong lòng con lung cổ, là dấu tắch cư trú nhà sàn của cư dân Gò Tháp ven các tuyến thủy lộ này



 

Trang 36

Như vậy, tại khu di tắch Gò Tháp có hai dạng kết cấu ựịa tầng tương ứng với hai khu vực phân bố ựịa hình khác nhau:

Khu vực gò cao (Gò Minh Sư, xung quanh miếu Bà Chúa Xứ) và khu vực ựất trũng thấp (đìa Phật, đìa Vàng)

Giữa hai khu vực này, tuy có sự diễn biến khác nhau trong trật tự kết cấu ựịa tầng, song giữa chúng có sự thống nhất ở kết cấu của một lớp văn hóa gồm các ựặc ựiểm di vật tương tự nhau về loại hình, chất liệu, thuộc nội hàm văn hóa Óc Eo

+ Khu vực sườn và chân Gò Minh Sư là một di chỉ cư trú và có những dấu hiệu về mộ huyệt ựất (21, tr 45 và 22, tr 10), phân bố trên thế ựất cao nằm ven chân Gò Minh Sư, có diễn biến khá ổn ựịnh và thống nhất Hiện vật gốm di chỉ cư trú có số lượng nhiều nhất và phong phú về loại hình cùng với các dấu tắch của hoạt ựộng sinh hoạt (bếp lửa, than tro, xương, răng ựộng vật,Ầ), cư trú trên nhà sàn và cư trú trên những nền ựất ựắp có nhiều dấu vết cọc gỗ xung quanh

+ Tầng văn hóa di chỉ cư trú ở khu vực miếu Bà Chúa Xứ có ựặc ựiểm kết cấu gần tương tự như với ựịa ựiểm Gò Minh Sư cũng có nhiều tàn tắch của các bếp lửa sinh hoạt, xương trâu, bò, nồi, bình, vò,Ầ Nhưng khu vực này mới chỉ dừng lại ở những hố ựào thám sát mang tắnh chất kiểm tra, nên việc xác lập một trật tự diễn biến chi tiết của hiện vật tại ựây cũng như công tác xử

lý hiện vật gốm chưa ựược thực hiện

2 Ờ Khu vực trũng thấp: Tầng văn hóa ở ựịa ựiểm đìa Phật và đìa Vàng nằm gần với một con lung cổ (nay ựã ựược ựào mở rộng ựể sử dụng), tầng văn hóa là một lớp gốm rất mỏng, không phản ánh trật tự diễn biến của loại hình hiện vật và tắnh chất di chỉ của nó Những ựịa ựiểm cư trú trên nhà sàn cạnh các ựường lung là một trong những ựặc ựiểm cư trú ựặc trưng và phổ biến của

cư dân văn hóa Óc Eo

Trang 37

địa tầng tắch tụ văn hóa tại khu di tắch Gò Tháp có sự khác nhau với mức ựộ tập trung hay phân tán (căn cứ vào ựộ dầy mỏng của các lớp tắch tụ văn hóa), giữa các khu vực có ựịa hình khác nhau, trong ựó khu vực trên những gò luôn gắn liền với loại hình di tắch kiến trúc tôn giáo (Gò Tháp Mười, Miếu Bà Chúa Xứ, Gò Minh Sư), khu vực thấp trũng và khu vực dưới sườn gò của các di tắch kiến trúc là ựịa bàn phân bố của loại hình di chỉ cư trú,

di chỉ xưởng (đìa Phật, địa Vàng, sườn và chân Gò Minh Sư), trong ựó có dấu hiệu của mộ táng Ờ phân bố ở trên sườn và dưới chân gò (tại khu vực Gò Minh Sư, miếu Bà Chúa Xứ)

Sự khác biệt ựó chỉ là do những yếu tố tự nhiên sinh ra những khác biệt,

cụ thể là ựặc ựiểm ựịa hình, ựộ cao cùng với vị trắ phân bố trong không gian sinh sống của một cộng ựồng Bên cạnh ựó, hầu hết các di chỉ cư trú có tầng văn hóa dầy hơn thường tập trung chủ yếu ở sườn và chân của những gò có thế cao, gắn liền (hoặc bên cạnh) với các kiến trúc tôn giáo

Tư liệu ựịa tầng khảo cổ học tại khu di tắch Gò Tháp cũng thể hiện tắnh

ựa dạng của một xã hội phát triển cao với nhiều loại hình di tắch cư trú (nhà sàn, nền ựất ựắp), di chỉ xưởng (chế tác tượng, chế tác trang sức, khuôn ựúc trang sức), kiến trúc Ờ mộ táng, di tắch ựường nước (lung) cổ,Ầ với mật ựộ tập trung di tắch và di vật cao, một tầng văn hóa tắch tụ theo từng khu vực ựịa hình và di tắch khác nhau trên một không gian rộng lớn, với xu hướng tập trung vào khu vực trung tâm, nơi có ựịa hình gò cao Ờ địa tầng tắch tụ văn hóa

ở khu vực sườn và chân gò xung quanh các di tắch kiến trúc thường dầy hơn (vào khoảng 0,8 Ờ 1,2m); khu vực trũng thấp ven, tầng văn hóa tắch tụ mỏng hơn ở khu vực trũng thấp

đặc ựiểm di chỉ cư trú trong khu vực này có sự thống nhất cao, ựó là lối

cư trú trên nhà sàn gỗ gần các ựường lung, rạch lớn Ờ nhỏ thuận tiện cho việc

Trang 38

di chuyển và sinh sống Họ sử dụng chủ yếu các loại vật dụng bằng gốm, ñất nung với rất nhiều loại hình khác nhau

ðây là cơ sở ñể xác ñịnh rằng khu di tích Gò Tháp là khu vực sinh tụ của một cộng ñồng cư dân lớn, sống trên những ngôi nhà sàn, cũng gia công những nền ñất ñắp, nhằm cải tạo nơi cư trú thêm phần cao ráo Khu vực xung quanh và dưới chân các gò ñất có mật ñộ hiện vật và ñộ dầy tầng văn hóa lớn hơn so với khu vực còn lại, thể hiện tính chất tập trung Trung tâm của khu vực này và là vị trí của các kiến trúc tôn giáo ñược xây dựng Khu di tích Gò Tháp là ñịa bàn cư trú thống nhất của một cộng ñồng cư dân thuộc văn hóa Óc

Eo có khung thời gian phát triển khá dài

Trang 39

CHƯƠNG II: ðỒ GỐM ÓC EO DI CHỈ CƯ TRÚ

tr 384) Trên cơ sở phân tích thành phần chất liệu, có thể phân loại gốm di chỉ

cư trú ở khu di tích Gò Tháp thành bốn loại sau:

– Sét mịn: chất liệu loại 1 (gốm mịn)

– Sét pha cát hạt mịn: chất liệu loại 2 (gốm pha cát mịn)

– Sét trộn cát hạt thô: chất liệu loại 3 (gốm thô cát)

– Sét trộn bã thực vật, vỏ trấu: chất liệu loại 4 (gốm thô bã thực vật)

1.1.1 Chất liệu loại 1: (12,0%)

Thành phần xương gốm rất mịn, nguyên liệu sét không chỉ ñược chọn

mà còn ñược gạn lọc kỹ trước khi sử dụng, xương gốm và ñộ nung ñều ñặn,

kỹ thuật nung ñạt trình ñộ rất cao

Chất liệu loại 1 chủ yếu ñược sử dụng làm các loại vật dụng gốm có tính thẩm mỹ cao hoặc sử dụng trong nghi lễ như các loại bình, bình có vòi,

vò và các loại nắp ñậy khác nhau

Gốm dầy trung bình khoảng 0,6 – 1,2cm, phổ biến nhất với ñộ dầy khoảng 0,6 – 0,8cm.Xương gốm có màu xám ñen, xám nhạt, xám trắng tùy thuộc ñộ dầy – mỏng của xương gốm, một số có màu vàng nhạt Áo màu trắng, xám trắng, vàng nhạt, ñỏ – hồng, nâu sậm và xám xanh Gốm ở các loại

ñồ ñựng có ñộ dầy phổ biến là: 0,3 – 0,6cm (chủ yếu ở phần vai và eo cổ ñồ

Trang 40

ñựng), 0,6 – 0,8cm (phần thân xuống bụng ñồ ñựng) và 1,8 – 1,2cm (phần ñáy xuống ñến chân ñế ñồ ñựng)

Về cơ bản, ñồ gốm chất liệu loại 1 có nhiều loại khác nhau, mỗi loại có màu sắc và ñặc tính riêng tương ứng như sau:

– Loại gốm màu ñỏ hồng hay hồng nhạt thường có lõi màu xám trắng, xám vàng nhạt hay xám ñen, xương ñều ñặn và cứng chắc Gốm rất mịn

– Loại gốm màu xám trắng và xám vàng nhạt, lõi màu xám nhạt hay xám sáng Trong thành phần xương gốm có lẫn cát hạt rất mịn, xương gốm thường có lỗ nhỏ ly ty, cứng chắc Thành phần cát trong gốm không phải do trộn lẫn vào mà là một thành phần sẵn có trong nguyên liệu sét

– Loại gốm rất mịn, xương màu xám xanh, áo màu vàng sậm, ñỏ hồng hay xám xanh, gốm ñanh cứng gần như sành, âm thanh phát ra trong và rõ khi

gõ vào và mép vỡ rất sắc bén cho thấy gốm có thành phần sét rất mịn Loại này hầu như chỉ ñược sử dụng làm loại bình có vòi

– Loại gốm màu xám nâu ở nền áo và áo gốm, lõi màu xám ñen và nâu ñậm, trên bề mặt ngoài thường có một lớp phấn màu trắng phủ lên nền màu xám nâu Bề mặt gốm thường bị phong hóa nhiều hơn làm cho bề mặt bị lồi lõm, xương và áo gốm thường mềm hơn so với hai loại trên và tiếng kêu ñục khi gõ vào, ñộ thấm và giữ nước cao hơn hai loại trên Những hiện vật gốm loại này có chất lượng kém nhất so với các loại trên trong loại chất liệu gốm mịn còn lại

1.1.2 Chất liệu loại 2 (21,2%)

Loại chất liệu sét trộn cát hạt mịn, một số có thêm bã thực vật, song tỷ

lệ không nhiều, xương gốm cứng chắc, áo mịn hơi nhám

Do ñặc ñiểm cấu tạo thành phần xương gốm và ñặc ñiểm vật chất của loại gốm này, vừa mang ñặc tính của gốm loại 1, vừa có thành phần pha nhiều cát cứng chắc gần gũi với loại chất liệu pha cát hạt thô (loại 3) nên một số nhà

Ngày đăng: 02/04/2021, 00:05

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Bùi Phát Diệm, đào Linh Côn, Vương Thu Hồng (2001), Khảo cổ học Long An – Những thế kỷ ủầu Cụng nguyờn, Sở Văn húa Thụng tin tỉnh Long An. Long An Sách, tạp chí
Tiêu đề: Khảo cổ học Long An – Những thế kỷ ủầu Cụng nguyờn
Tác giả: Bùi Phát Diệm, đào Linh Côn, Vương Thu Hồng
Năm: 2001
2. Cao Xuân Phổ (1984). Óc Eo trong sự phát triển thương mại ở đông Nam Á, trong Văn hóa Óc Eo và các nền văn hóa cổ ở ựồng bằng sôngCửu Long. Long Xuyên, trang 232 – 238 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Óc Eo trong sự phát triển thương mại ở ðụng Nam Á, "trong" Văn húa ểc Eo và cỏc nền văn húa cổ ở ủồng bằng sụng "Cửu Long
Tác giả: Cao Xuân Phổ
Năm: 1984
3. đào Linh Côn (1983), về những hiện vật văn hóa Óc Eo thu thập tư sau năm 1975 ủến nay. Tư liệu Trung tõm Nghiờn cứu Khảo cổ – Viện Phát triển Bền vững vùng Nam Bộ Sách, tạp chí
Tiêu đề: về những hiện vật văn hóa Óc Eo thu thập tư sau năm 1975 ủến nay
Tác giả: đào Linh Côn
Năm: 1983
4. đào Linh Côn (1984), Cấu tạo các lớp ựất ở khu di tắch khảo cổ Gò Tháp. Tài liệu Trung tâm nghiên cứu Khảo cổ học – Viện Phát triển Bền vững vùng Nam Bộ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cấu tạo các lớp ựất ở khu di tắch khảo cổ Gò Tháp
Tác giả: đào Linh Côn
Năm: 1984
5. đào Linh Côn (1987), Phát hiện di tắch khảo cổ học văn hóa Óc Eo ở xã Tân Thuận bình, huyện Chợ Gạo (Tiền Giang). NPHMVKCH, Hà Nội. Trang 117 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phát hiện di tắch khảo cổ học văn hóa Óc Eo ở xã Tân Thuận bình, huyện Chợ Gạo (Tiền Giang)
Tác giả: đào Linh Côn
Năm: 1987
6. đào Linh Côn (1995). Mộ táng trong văn hóa Óc Eo. Luận án Tiến sĩ chuyên ngành Khảo cổ học Sách, tạp chí
Tiêu đề: Mộ táng trong văn hóa Óc Eo
Tác giả: đào Linh Côn
Năm: 1995
7. đào Linh Côn (1997), Khu di tắch Gò Tháp qua lần khai quật thứ hai trong trong Một số vấn ủề khảo cổ học ở miền Nam Việt Nam – tập 1.NXB KHXH, Hà Nội, trang 355 – 373 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Khu di tắch Gò Tháp qua lần khai quật thứ hai" trong trong "Một số vấn ủề khảo cổ học ở miền Nam Việt Nam – tập 1
Tác giả: đào Linh Côn
Nhà XB: NXB KHXH
Năm: 1997
8. đào Linh Côn. 2002. Báo cáo sơ bộ khai quật di tắch Nền Vua (ấp Minh Kiên – xã Minh Thuận – Vĩnh Thuận – Kiên Giang). Tư liệu Trung tâm Nghiên cứu Khảo cổ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo sơ bộ khai quật di tắch Nền Vua (ấp Minh Kiên – xã Minh Thuận – Vĩnh Thuận – Kiên Giang)
9. đào Linh Côn (2004). Di chỉ cư trú văn hóa Óc Eo ở khu di tắch Óc Eo – Ba Thê (An Giang. Toyota foundation Tư liệu Trung tâm Nghiên cứu Khảo cổ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Di chỉ cư trú văn hóa Óc Eo ở khu di tắch Óc Eo – Ba Thê (An Giang
Tác giả: đào Linh Côn
Năm: 2004
10. đào Linh Côn (2004), Di tắch Gò Cây Thị B Ờ Một số vấn ựề khảo cổ học tập 2, trang 225 – 236). NXB Khoa học Xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Di tắch Gò Cây Thị B
Tác giả: đào Linh Côn
Nhà XB: NXB Khoa học Xã hội
Năm: 2004
11. đào Linh Côn, Huỳnh Thanh Phong (1995), Tượng Phật gỗ phát hiện ở đìa Phật. Tư liệu Bảo tàng Tổng hợp tỉnh đồng Tháp Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tượng Phật gỗ phát hiện ở ðìa Phật
Tác giả: đào Linh Côn, Huỳnh Thanh Phong
Năm: 1995
12. đào Linh Côn, Bùi Chắ Hoàng (2002), Báo cáo khoa học khai quật di tích Vĩnh Hưng (Bạc Liêu). Tư liệu Trung tâm Nghiên cứu Khảo cổ.Thành phố Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo khoa học khai quật di tích Vĩnh Hưng (Bạc Liêu)
Tác giả: đào Linh Côn, Bùi Chắ Hoàng
Năm: 2002
13. đào Linh Côn, Yuko Hirano, Nguyễn Quốc Mạnh (2005), Báo cỏo sơ bộ khai quật ủịa ủiểm Gũ Tư Trõm lần III. Tư liệu Trung tõm Nghiờn cứu Khảo cổ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cỏo sơ bộ khai quật ủịa ủiểm Gũ Tư Trõm lần III
Tác giả: đào Linh Côn, Yuko Hirano, Nguyễn Quốc Mạnh
Năm: 2005
14. đào Linh Côn, Võ Sĩ Khải (2004), Di tắch kiến trúc Gò Tháp Mười (Gũ Thỏp – ðồng Thỏp) – Một số vấn ủề khảo cổ học tập 2, trang 305 – 318). NXB Khoa học Xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Di tắch kiến trúc Gò Tháp Mười (Gũ Thỏp – ðồng Thỏp)
Tác giả: đào Linh Côn, Võ Sĩ Khải
Nhà XB: NXB Khoa học Xã hội
Năm: 2004
15. ðỗ Mạnh Duy, Nguyễn Giác, lê Ngọc Hùng, Nguyễn Thanh Ân, Lê Thị Liên (2002), Thám sát đìa Phật (Khu di tắch Gò Tháp, ðồng Tháp) năm 2002. NPHMVKCH, Hà Nội, trang 863 – 864 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thám sát ðìa Phật (Khu di tích Gò Tháp, ðồng Tháp) năm 2002
Tác giả: ðỗ Mạnh Duy, Nguyễn Giác, lê Ngọc Hùng, Nguyễn Thanh Ân, Lê Thị Liên
Năm: 2002
16. Hà Văn Tấn (1984), Óc Eo những yếu tố nội sinh và ngoại sinh, trong Văn hóa Óc Eo và các nền văn hóa cổ ở ủồng bằng sụng Cửu Long.Long Xuyên, trang 222 – 231 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Óc Eo những yếu tố nội sinh và ngoại sinh, "trong "Văn hóa Óc Eo và các nền văn hóa cổ ở ủồng bằng sụng Cửu Long
Tác giả: Hà Văn Tấn
Năm: 1984
17. James C. M. Khoo (2003), Art and archaeology of Fu Nan – Pre–Khmer Kingdom of the lower Mékong valley. Bangkok. Orchid press.Thailand Sách, tạp chí
Tiêu đề: Art and archaeology of Fu Nan – Pre–Khmer Kingdom of the lower Mékong valley
Tác giả: James C. M. Khoo
Năm: 2003
18. Lê Thị Liên (2004), Hình thức và chức năng của một loại hình vòi vẩy gốm trong văn hóa Óc Eo. NPHMVKCH, Hà Nội, trang 823 – 824 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hình thức và chức năng của một loại hình vòi vẩy gốm trong văn hóa Óc Eo
Tác giả: Lê Thị Liên
Năm: 2004
19. Lờ Thị Liờn (2006), Nghệ thuật Phật giỏo và Hindu giỏo ở ủồng bằng sông Cửu Long trước thế kỷ X. NxbThế giới Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghệ thuật Phật giỏo và Hindu giỏo ở ủồng bằng sông Cửu Long trước thế kỷ X
Tác giả: Lờ Thị Liờn
Nhà XB: NxbThế giới
Năm: 2006
20. Lê Thị Liên, Phạm Như Hồ (2001), Báo cáo khai quật khu di chỉ cư trú tại chân Gò Minh Sư – di tích Gò Tháp (thuộc ấp Tháp Mười, xã Tân Kiều, huyện Tháp Mười, tỉnh ðồng Tháp). Hà Nội, tháng 01 – 2001 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo khai quật khu di chỉ cư trú tại chân Gò Minh Sư – di tích Gò Tháp (thuộc ấp Tháp Mười, xã Tân Kiều, huyện Tháp Mười, tỉnh ðồng Tháp)
Tác giả: Lê Thị Liên, Phạm Như Hồ
Năm: 2001

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w