1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Dấu ấn lịch sử thời pháp thuộc trong kiến trúc các nhà thờ thiên chúa giáo thuộc hai giáo phận bùi chu và phát diệm từ giữa thế kỷ xix đến năm 1945 công trình dự thi giải thưởng sinh viên nghiên c

100 19 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 100
Dung lượng 3,93 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

HỒ CHÍ MINH CÔNG TRÌNH DỰ THI GIẢI THƯỞNG “SINH VIÊN NGHIÊN CỨU KHOA HỌC – EURÉKA” LẦN THỨ 10 NĂM 2008 TÊN CÔNG TRÌNH: DẤU ẤN LỊCH SỬ THỜI PHÁP THUỘC TRONG KIẾN TRÚC CÁC NHÀ THỜ THIÊN

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA TP HỒ CHÍ MINH TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN TP HỒ CHÍ MINH

CÔNG TRÌNH DỰ THI GIẢI THƯỞNG “SINH VIÊN NGHIÊN CỨU KHOA HỌC – EURÉKA”

LẦN THỨ 10 NĂM 2008

TÊN CÔNG TRÌNH:

DẤU ẤN LỊCH SỬ THỜI PHÁP THUỘC TRONG KIẾN TRÚC CÁC NHÀ THỜ THIÊN CHÚA GIÁO THUỘC HAI GIÁO PHẬN BÙI CHU VÀ PHÁT DIỆM

(TỪ GIỮA THẾ KỶ XIX ĐẾN NĂM 1945)

LĨNH VỰC NGHIÊN CỨU: LỊCH SỬ-VĂN HOÁ

THUỘC NHÓM NGÀNH: KHOA HỌC XÃ HỘI

Người hướng dẫn: (ghi rõ học hàm, học vị, lĩnh vực chuyên môn, đơn vị cộng tác)

Tiến sĩ khoa học Lịch sử Lê Hữu Phước

Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn Tp Hồ Chí Minh

Phạm Thị Nga

(cộng tác viên)

Trang 2

ĐOÀN TNCS HỒ CHÍ MINH

BCH TP.HỒ CHÍ MINH

-

TP Hồ Chí Minh, ngày 15 tháng 09 năm 2008

Mẫu 1: (dành cho tác giả)

PHIẾU ĐĂNG KÝ THAM DỰ GIẢI THƯỞNG SINH VIÊN NGHIÊN CỨU KHOA HỌC – EURÉKA

3 Tóm tắt mục đích của công trình-những vấn đề mới (không quá 100 từ):

Mục đích của đề tài nhằm trình bày dấu ấn lịch sử trong giai đoạn Pháp thuộc về mặt kiến trúc trong các nhà thờ Thiên Chúa giáo thuộc hai giáo phận Bùi Chu và Phát Diệm; qua

đó thể hiện sự thích nghi của kiến trúc nhà thờ Công giáo vào kiến trúc dân tộc nói riêng

và văn hoá Việt Nam nói chung

4 Tác giả/nhóm tác giả (không quá 3 người) dự thi:

Khoa/trường: Trường Đại học Khoa học Xã hội

và Nhân văn -khoa Lịch Sử

Trang 3

Khoa/trường: Trường Đại học Khoa học Xã hội

và Nhân văn -khoa Lịch Sử

Khoa/trường: Trường Đại học Khoa học Xã hội và

Nhân văn -khoa Báo chí Truyền thông

Khoa/trường: Trường Đại học Khoa học Xã hội và

Nhân văn – khoa Báo chí Truyền thông

Tm Ban tổ chức Euréka cấp trường Tác giả (trưởng nhóm) ký tên

(ký tên, đóng dấu)

Trang 4

BÁO CÁO TÓM TẮT ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU

Đề tài trình bày dấu ấn lịch sử thời Pháp thuộc về kiến trúc trong các nhà thờ Thiên Chúa giáo thuộc hai giáo phận Bùi Chu và Phát Diệm; qua đó thể hiện

sự thích nghi về kiến trúc nhà thờ Công giáo vào nền kiến trúc dân tộc nói riêng và văn hoá Việt Nam nói chung Nhóm tác giả đã tham khảo các nguồn tài liệu về lịch sử Thiên Chúa giáo, lịch sử và nghệ thuật kiến trúc Với các phương pháp nghiên cứu được sử dụng, phương pháp lôgic - lịch sử cùng phối hợp với phương pháp khảo sát thực địa, trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử

Đề tài ngoài phần mở đầu kết luận và danh mục tài liệu tham khảo gồm có

3 chương và 6 tiểu mục

Chương 1: Sự hình thành và phát triển của hai giáo phận Bùi Chu và Phát Diệm trong bối cảnh tiếp xúc văn hoá Đông-Tây ở Việt Nam (từ giữa thế kỷ XIX đến năm 1945) Trong chương 1 gồm có hai mục:

- Mục 1: Giới thiệu về sự giao lưu giữa văn minh phương Tây và văn hoá Việt nam (từ khi Thiên Chúa giáo du nhập vào nước ta đến năm 1945)

- Mục 2: Sự xuất hiện và quá trình phát triển của đạo Thiên Chúa ở Việt Nam

- Mục 3: Sự hình thành và phát triển của hai giáo phận Bùi Chu và Phát Diệm

Chương 2: Ảnh hưởng của kiến trúc phương Tây trong kiến trúc các nhà thờ thuộc hai giáo phận Bùi Chu và Phát Diệm (từ giữa thế kỷ XIX đến năm 1945) Chương 2 gồm hai mục và 5 tiểu mục:

-Mục 1: Sơ lược về kiến trúc Thứ nhất, trình bày về kiến trúc phương Tây ảnh hưởng trong kiến trúc nhà thờ Thiên Chúa giáo ở Việt Nam: có các loại kiến trúc tiêu biểu: Romanesque, Gothique và Baroque Thứ hai, trình bày về kiến trúc dân gian ở nước ta với sự phát triển của nó từ trong dân gian đến sự hoàn thiện thể hiện trong đình, chùa

-Mục 2: trình bày về kiến trúc nhà thờ Thiên Chúa giáo thời Pháp thuộc tại hai giáo phận Bùi Chu và Phát Diệm Trong đó, kiến trúc phương Tây với ba phong cách kiến trúc trên cũng xuất hiện ở hai giáo phận này Ngoài ra, cùng với sự phát

Trang 5

triển của giao lưu, tiếp biến văn hoá; trong kiến trúc các nhà thờ của hai giáo phận xuất hiện hai phong cách kiến trúc: Đông-Tây kết hợp và Á Đông-là sản phẩm của

sự giao lưu văn hoá ấy

Chương 3: Sự thích nghi của kiến trúc nhà thờ Thiên Chúa giáo ở hai giáo phận Bùi Chu và Phát Diệm Chương 3 gồm hai mục

- Mục 1: Sự tiếp biến của kiến trúc phương Tây trong các nhà thờ Thiên Chúa giáo thuộc hai giáo phận Bùi Chu và Phát Diệm Đó là những thay đổi của kiến trúc phương Tây khi được du nhập vào Việt Nam, cho phù hợp với thổ nhưỡng và văn hoá bản địa

- Mục 2: Ảnh hưởng của kiến trúc dân gian đối với kiến trúc các nhà thờ thuộc hai giáo phận Bùi Chu và Phát Diệm; tạo ra những công trình kiến trúc độc đáo, mà từ trong đó toát lên một giá trị, tinh thần của văn hoá Việt Nam

Đề tài mang ý nghĩa khoa học, góp phần làm phong phú thêm vào những công trình nghiên cứu về trình kiến trúc của nhà thờ Công giáo ở Việt Nam thời Pháp thuộc; đồng thời cho thấy dấu ấn của văn hoá phương Tây trong sự giao lưu với văn hoá Việt Nam Từ đó, gợi ra một số vấn đề về việc bảo tồn, xây dựng những công trình kiến trúc nhà thờ Thiên Chúa giáo nói riêng và văn hoá Việt Nam nói chung trong bối cảnh toàn cầu hoá hiện nay

Trang 6

MỤC LỤC

BÁO CÁO TÓM TẮT ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU 1

MỞ ĐẦU Error! Bookmark not defined Chương 1: Sự hình thành và phát triển của hai giáo phận Bùi Chu và Phát Diệm trong bối cảnh tiếp xúc văn hoá Đông - Tây ở Việt Nam (từ giữa thế kỷ XIX đến năm 1945). 12

1.1: Sự giao lưu giữa văn minh phương Tây và văn hoá Việt Nam (từ khi Thiên Chúa giáo du nhập vào nước ta đến năm 1945). 12

1.2: Sự xuất hiện và quá trình phát triển của đạo Thiên Chúa ở Việt Nam. 17

1.2.1: Thời kỳ từ năm 1615 đến thế năm 1802. 19

1.2.2: Việc truyền đạo Thiên Chúa giáo ở Việt Nam từ 1802-1945. 255

1.3: Sự hình thành và phát triển của hai giáo phận Bùi Chu và Phát Diệm. 34

1.3.1: Giáo phận Bùi Chu. 34

1.3.2: Giáo phận Phát Diệm. 38

Chương 2: Ảnh hưởng của kiến trúc phương Tây trong kiến trúc các nhà thờ thuộc hai giáo phận Bùi Chu và Phát Diệm (từ giữa thế kỷ XIX đến năm 1945).43 2.1: Sơ lược về kiến trúc. 43

2.1.1 Giới thiệu về kiến trúc phương Tây ảnh hưởng trong kiến trúc nhà thờ Thiên Chúa giáo ở Việt Nam. 43

2.1.1.1: Kiến trúc Romanesque 44

2.1.1.2: Kiến trúc Gothique: 46

2.1.1.3: Kiến trúc Baroque: 49

2.1.2: Kiến trúc dân gian. 50

2.2: Kiến trúc nhà thờ Thiên Chúa giáo thời Pháp thuộc tại hai giáo phận Bùi Chu và Phát Diệm. 53

2.2.1: Kiến trúc phương Tây. 54

2.2.1.1: Kiến trúc phong cách Romanesque 55

2.2.1.2: kiến trúc phong cách Gothique 57

2.2.1.3: Kiến trúc nhà thờ phong cách Baroque. 58

2.2.2: Kiến trúc phong cách Đông - Tây kết hợp. 61

2.2.3: Kiến trúc bảo tồn phong cách Á Đông. 66

Chương 3: Sự thích nghi của kiến trúc nhà thờ Thiên Chúa giáo ở hai giáo phận Bùi Chu và Phát Diệm. 79

3.1: Sự tiếp biến của kiến trúc phương Tây trong các nhà thờ Thiên Chúa giáo thuộc hai giáo phận Bùi Chu và Phát Diệm. 82

3.2: Ảnh hưởng của kiến trúc dân gian đối với kiến trúc các nhà thờ thuộc hai giáo phận Bùi Chu và Phát Diệm. 85

Kết luận 89

Danh mục tài liệu tham khảo: 94

Trang 7

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài:

Lịch sử Việt Nam là lịch sử nổi bật của những trang oanh liệt chống giặc ngoại xâm, ngay từ thời Bắc thuộc nhân dân ta đã vùng lên với hàng loạt cuộc khởi nghĩa chống lại phong kiến phương Bắc; đồng thời văn hoá nước ta thời kỳ này cũng là quá trình thâu nhận và tiếp biến những yếu tố văn hoá ngoại nhập như: Nho, Đạo, Phật bên cạnh những giá trị văn hoá cổ truyền tiếp tục được bảo lưu Và trong hoàn cảnh ấy văn hoá Việt Nam có những nét mới, những tư tưởng văn hoá Nho, Đạo, Phật vào nước ta đã cùng nhau hoà hợp, cùng tồn tại Tất cả cùng biến thái để hội nhập, điều này được chứng minh trong hiện tượng, tư tưởng “Tam giáo đồng quy” trong thời kỳ văn hoá Đại Việt Sang đầu thế kỷ XIX, nước ta bước vào một cuộc tiếp xúc, giao lưu văn hoá mới, giao lưu với văn hoá phương Tây Với phương Tây có sự tiếp xúc trên nhiều lĩnh vực và nó còn tiếp tục diễn ra tới ngày nay và cả trong tương lai Nhưng với lĩnh vực văn hoá, một lần nữa văn hoá Việt được thử sức trước văn hoá phương Tây; một hiện tượng văn hoá mới: “Tây hoá - giải Tây hoá” trong văn hoá Việt Nam đang diễn ra Một biểu hiện nổi bật của sự giao lưu giao lưu với văn hoá phương Tây đó là sự du nhập của đạo Thiên Chúa vào nước ta Từ khi du nhập cho tới ngày nay đã hơn 4 thế kỷ, so với 3 tôn giáo đã được du nhập vào nước ta thời Bắc thuộc thì vị trí của Thiên Chúa giáo còn khiêm tốn nhưng điều này lại cho thấy sự có mặt và ảnh hưởng của văn hoá Thiên Chúa giáo trong văn hoá Việt Nam Đặc biệt, ngày nay Thiên Chúa giáo đang dần trở nên thích nghi và hội nhập vào văn hoá dân tộc mạnh mẽ hơn Ngay cả khi chưa

có một quyết định nào về sự thích nghi với văn hoá bản địa của các Cộng đồng của Giáo hội thì sự hội nhập văn hoá của Thiên Chúa giáo trong văn hoá Việt Nam đã diễn ra một cách tự nhiên Bởi trong văn hoá Việt Nam, như một quy luật: tất cả những thành tố văn hoá ngoại lai khi được du nhập vào văn hoá Việt cũng đều phải thích nghi và biến đổi phù hợp với văn hoá bản địa

Trang 8

Việt Nam đã có sự giao lưu với văn hóa phương Tây từ khá sớm nhưng dấu

ấn của sự giao lưu cho đến nửa đầu thế kỷ XIX còn rất mờ nhạt Tuy nhiên từ giữa thế kỷ XIX đến năm 1945, quá trình giao lưu văn hoá đã diễn ra mạnh mẽ hơn, mặc dù sự giao lưu này mang chiều hướng tiêu cực do chính sách khai thác thuộc địa của thực dân Pháp, nhưng về một phương diện nhất định thì văn hoá phương Tây đã được đưa vào nước ta nhiều hơn

Đề tài chọn hai giáo phận Bùi Chu và Phát Diệm làm địa điểm nghiên cứu, trên lĩnh vực kiến trúc nhà thờ Thiên Chúa giáo Bởi, đây là hai giáo phận có lịch

sử truyền đạo lâu đời, đặc biệt giáo phận Bùi Chu còn là nơi xuất hiện đạo Thiên Chúa đầu tiên ở nước ta; mặt khác, hai giáo phận này số giáo dân đông và được coi là tiêu biểu cho lòng sốt sắng việc đạo Chính vì vậy, việc chọn hai giáo phận làm địa điểm để nghiên cứu với kiến trúc các nhà thờ sẽ cho một cái nhìn tổng quan và rõ ràng hơn về dấu ấn lịch sử một thời kỳ của sự tiếp xúc văn hoá, cũng như qua thời gian cho thấy sự thích nghi của Thiên Chúa giáo vào văn hoá dân tộc

2 Tình hình nghiên cứu

Cho tới hiện nay chưa có một công trình nghiên cứu một cách chuyên sâu, chi tiết về kiến trúc nhà thờ Thiên Chúa giáo ở hai giáo phận hai Bùi chu và Phát Diệm trong giai đoạn trên; nhưng đã có một số công trình nghiên cứu về kiến trúc nhà thờ Thiên Chúa giáo ở Việt Nam hoặc nghiên cứu cụ thể, một quần thể kiến trúc nhất định một cách tản mạn, và tất cả đều trở thành cơ sở cho việc hình thành

Trang 9

kiểu kiến trúc và một số mô tả khác về nội thất Với những tư liệu và hình ảnh trong tác phẩm cũng cho thấy một cách khá rõ những phong cách kiến trúc của các nhà thờ Thiên Chúa giáo được xây dựng thời Pháp thuộc và tới nay nó đã trở thành những công trình quý báu của nước ta Và theo KTS Nguyễn Văn Tất, công trình đã “góp phần lưu giữ, bảo tồn các giá trị kiến trúc của hệ thống nhà thờ Công giáo, là nguồn tài liệu tham khảo quan trọng và bổ ích cho các KTS”, cũng như những ai quan tâm tới kiến trúc nhà thờ Thiên Chúa giáo ở Việt Nam

Tác phẩm mới được xuất bản gần đây nhất vào năm 2003 của tác giả Nguyễn Hồng Dương “Nhà thờ Công giáo Việt Nam”, nhà xuất bản Khoa học Xã hội, Hà Nội Là công trình nghiên cứu một các chuyên sâu hơn về kiến trúc nhà thờ Thiên Chúa giáo ở Việt Nam Tác phẩm có phần giới thiệu về lịch sử truyền giáo ở Việt Nam nói chung và tình hình phát triển đạo Công giáo cũng như việc xây dựng ngày càng nhiều số lượng nhà thờ qua các số liệu thống kê khá cụ thể cũng như có những phép so sánh, và nêu những công trình kiến trúc nhà thờ tiêu biểu ở cả Bắc, Trung và Nam Việt Nam làm nổi bật sự phát triển ấy Thêm vào đó với nhóm tác giả: Hồ Tường, Lê Thành Tấn và Ngô Hỷ với tác phẩm “Nhà thờ Công giáo ở thành phố Hồ Chí Minh”, nhà xuất bản Trẻ, 2007 Tác phẩm giới thiệu 44 nhà thờ tiêu biểu tại thành phồ Hồ Chí Minh với nội dung là lịch sử hình thành và đặc điểm kiến trúc cũng như những hình ảnh đẹp của từng nhà thờ

Tác phẩm “Lịch sử giáo hội Công giáo” của linh mục Bùi Đức Sinh, xuất bản năm 1999, tại Veritus Edition Calgary_Canada Cuốn sách gồm trọn bộ ba tập, giới thiệu một cách chi tiết lịch sử Giáo hội thế giới và ở Việt Nam từ khi đạo Thiên Chúa xuất hiện ở nước ta cho tới thế kỷ XX, bên cạnh những trang viết về quá trình phát triển đạo Thiên Chúa ở nước ta còn có những phần viết về văn hoá Thiên Chúa giáo như: âm nhạc, văn học, kiến trúc và mỹ thuật nhà thờ Công giáo

ở Việt Nam Đây là bộ sách đầy đủ và chi tiết về lịch sử Giáo hội và được tái bản nhiều lần

Cũng viết về lịch sử giáo hội Công giáo ở Việt Nam còn có tác phẩm của linh mục Nguyễn Văn Trinh với tác phẩm “Lược sử Giáo hội Việt Nam”, xuất bản

Trang 10

năm 1993 Tác phẩm viết lịch sử Giáo hội Công giáo ở Việt Nam và phân kỳ lịch

sử một cách rõ ràng, lịch sử Giáo hội gắn với những hoàn cảnh cụ thể của đất nước trong mỗi thời kỳ

Liên quan đến việc truyền bá đạo Thiên Chúa trong lịch sử Việt Nam có một Hội nghị khoa học được tổ chức ở thành phố Hồ Chí Minh năm 1988 trong hai ngày 11 và 12 tháng 3 năm 1988, do Uỷ ban Khoa học Xã hội Việt Nam, Ban tôn giáo chính phủ thực hiện với chủ đề: “Một số vấn đề lịch sử đạo Thiên Chúa trong lịch sử dân tộc Việt Nam” Hội nghị khoa học với những bài tham luận xoay xung quanh vấn đề đạo Thiên Chúa khi truyền bá vào Việt Nam trong thời gian cuối thế kỷ XIX và đầu thế kỷ XX, cũng như sự kiện Toà thánh phong Thánh tử đạo cho 117 vị chân phước đã qua đời từ trước tháng 7 năm 1862 Cũng bàn về lịch sử tryền bá đạo Thiên Chúa có tác phẩm của Nguyễn Văn Kiệm, Viện nghiên cứu tôn giáo: “Sự du nhập của đạo Thiên Chúa giáo vào Việt Nam từ thế kỷ XVII đến thế kỷ XIX”, hội khoa học lịch sử Việt Nam, trung tâm UNESCO bảo tồn và phát triển văn hoá dân tộc Việt Nam Cũng với tác giả Nguyễn Văn Kiệm với tác phẩm “Góp phần tìm hiểu một số vấn đề lịch sử cận đại Việt Nam”, nhà xuất bản Văn Hoá Thông Tin, Hà Nội, năm 2003 Những tác phẩm này với các bài viết xoay quanh vấn đề việc xuất hiện và việc truyền đạo của Thiên Chúa giáo vào nước ta với vận mệnh lịch sử đất nước

Tìm hiểu về kiến trúc, tác giả đã tham khảo những tác phẩm viết về kiến trúc dân gian cổ truyền Việt Nam cũng như những tác phẩm viết về kiến trúc phương Tây đã du nhập vào Việt Nam trong các nhà thờ Thiên Chúa giáo như:

Những tác phẩm viết về kiến trúc của giáo sư, kiến trúc sư Đặng Thái Hoàng với những tác phẩm: “Giáo trình lịch sử kiến trúc thế giới”, tập 1, nhà xuất bản Xây Dựng, Hà Nội , năm 2006; tác phẩm: “Kiến trúc và người kiến trúc sư qua các thời đại”, nhà xuất bản Xây Dựng, Hà Nội năm 2000; tác phẩm “Sáng tác kiến trúc”, nhà xuất bản Khoa Học và Kỹ Thuật Hà Nội Những tác phẩm này đã giới thiệu một cách tổng quát về kiến trúc và lịch sử của kiến trúc thế giới trong giai đoạn cổ trung đại Châu Âu, trong đó có những phong cách kiến trúc đã du

Trang 11

nhập vào Việt Nam thời Pháp thuộc: Byzantine, Romanesque, Gothique, hay phong cách kiến trúc sau Phục Hưng là kiến trúc Barocque Những phong cách kiến trúc Tây Âu đó đã được giới thiệu một cách chi tiết với lịch sử hình thành và phát triển cũng như những đặc điểm riêng của từng phong cách kiến trúc với những công trình kiến trúc tiêu biểu nhất vẫn còn tới ngày nay

Cũng về mảng kiến trúc Tây phương, tác giả tham khảo những tác phẩm của: KTS,TS Trần Trọng Chi với tác phẩm “Lược sử kiến trúc thế giới”, nhà xuất bản Xây Dựng, Hà Nội năm 2003 Tác phẩm “Các công trình nổi tiếng trong lịch

sử thế giới Cổ-Trung đại” do nhà xuất bản Giáo Dục ấn hành năm 1998, của nhóm tác giả: Lê Phụng Hoàng, Hà Bích Liên, Trần Hồng Ngọc viết Tác phẩm của tác giả Nguyễn Tứ “Các kiểu kiến trúc trên thế giới” do nhà xuất bản Trẻ ấn hành năm

2005 Hai tác phẩm “Kiến trúc Romanesque: thành phố - thánh đường và tu viện”

và “Kiến trúc Tây âu thời Trung đại” của một tác giả nước ngoài Xavier Barral LI altet, xuất bản năm 2005 Những tác phẩm này cũng giới thiệu về những phong cách kiến trúc khác nhau với những công trình nhà thờ thành phố hay tu viện Tây

âu trung cổ với các phong cách khác nhau qua từng thời kỳ lịch sử của kiến trúc thế giới và sau được du nhập vào nước ta

Về mảng kiến trúc dân gian, những tác phẩm tiêu biểu như: “Kiến trúc cổ Việt Nam”, của tác giả Vũ Tam Lang, nhà xuất bản Xây Dựng năm 1999 Hai tác phẩm “Kiến trúc dân gian truyền thống Việt Nam”, do nhà xuất bản Mỹ Thuật ấn hành; và tác phẩm “Di sản văn hoá dân tộc trong tín ngưỡng và tôn giáo ở Việt Nam”, nhà xuất bản Mỹ Thuật ấn hành năm 2001 đều do tác giả Chu Quang Trứ soạn Những tác phẩm trên cho thấy rõ về lịch sử kiến trúc Việt Nam cũng như kiến trúc dân gian truyền thống của Việt Nam Đặc biệt phần kiến trúc dân gian hay các công trình kiến trúc tôn giáo như đình chùa Việt Nam Những kiểu kiến trúc này có ảnh hưởng tới kiến trúc nhà thờ Thiên Chúa Giáo ở nước ta

Đã có những công trình nghiên cứu một cách chuyên sâu vào một số nhà thờ tiêu biểu: như bài trích kiến trúc luận văn thạc sĩ kiến trúc quy hoạch năm

1999 của kiến trúc sư Mai Xuân Hữu, nghiên cứu về toàn diện quần thể kiến trúc

Trang 12

nhà thờ Phát Diệm Với những miêu tả chi tiết từng kết cấu kiến trúc và những kết luận đánh giá toàn diện về quần thể kiến trúc phong cách Á Đông tiêu biểu này Hay những tác phẩm: “Tìm hiểu nét đẹp văn hoá Thiên Chúa giáo” của tác giả Hà Huy Tú, Viện văn hoá, nhà xuất bản Văn Hoá Thông Tin, Hà Nội năm 2002; tác phẩm “Nghi lễ và lối sống Công giáo trong văn hoá Việt Nam” của tác giả Nguyễn Hồng Dương, Viện nghiên cứu tôn giáo, nhà xuất bản Khoa học Xã hội, Hà Nội năm 2001 Đây là những tác phẩm viết về những nét đẹp trong đời sống đạo Thiên Chúa ở Việt Nam cũng như những nét hoà nhập văn hoá của Thiên Chúa giáo ở Việt Nam

Ngoài ra, đề tài còn tham khảo nguồn tư liệu từ tạp chí, Internet, từ các trang web của Hội đồng Giám mục Việt Nam: http://www.hdgmvietnam.org, hay

từ trang web http://vi.wikipedia.org/wiki/

Tóm lại, từ những tài liệu có liên quan khá gần với đề tài cũng như tài liệu

có những phần kiến thức cần tham khảo thì tất cả đều là những nguồn thông tin, tư liệu cần thiết cho tác giả tham khảo Mỗi tài liệu có những mảng kiến thức liên quan đến đề tài và được tổng hợp cho thấy sự logic của chúng làm nổi bật lên mối quan hệ lịch sử và văn hoá, mà cụ thể là dấu ấn kiến trúc thời Pháp thuộc trong các nhà thờ Thiên Chúa giáo ở Việt Nam

3 Mục đích và nhiệm vụ của đề tài

Mục đích của đề tài nhằm trình bày dấu ấn lịch sử trong giai đoạn Pháp thuộc về mặt kiến trúc trong các nhà thờ Thiên Chúa giáo thuộc hai giáo phận Bùi Chu và Phát Diệm; qua đó thể hiện sự thích nghi về kiến trúc nhà thờ Công giáo vào nền kiến trúc dân tộc nói riêng và văn hoá Việt Nam nói chung

Để đạt được mục đích trên, tác giả tập trung vào các vấn đề: thứ nhất, tìm hiểu sự hình thành và phát triển của Thiên Chúa giáo ở Việt Nam, đặc biệt sự hình thành và phát triển của hai giáo phận Bùi Chu và Phát Diệm Thứ hai, tìm hiểu về kiến trúc các nhà thờ Công giáo được xây dựng trong thời Pháp thuộc với các phong cách kiến trúc phương Tây: Romanesque, Gothique và Baroque; kiểu kiến

Trang 13

trúc Đông – Tây kết hợp; kiểu kiến trúc phong cách Á Đông Với những kiểu kiến trúc này cho thấy sự thích nghi văn hoá trong kiến trúc nhà thờ Thiên Chúa giáo

4 Phương pháp nghiên cứu

Đề tài được nghiên cứu dựa trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử Đồng thời để nghiên cứu và thể hiện

đề tài tác giả sử dụng phương pháp lôgic - lịch sử cùng phối hợp với phương pháp khảo sát thực địa

5 Giới hạn của đề tài

Đề tài nghiên cứu: lấy đối tượng là kiến trúc nhà thờ Thiên Chúa giáo trong khoảng thời gian từ giữa thế kỷ XIX đến năm 1945, thuộc hai giáo phận Bùi Chu và Phát Diệm; cũng như trong cả nước trong khoảng thời gian thời Pháp thuộc ở hai giáo phận này có nhiều nhà thờ được xây dựng với nhiều kiểu kiến trúc Romanesque, Gothique, Baroque, Á Đông hay rất nhiều các nhà thờ được xây theo phong cách Đông - Tây kết hợp nhưng đề tài này trong giới hạn nhất định chỉ nêu được những nhà thờ tiêu biểu chứng minh cho từng phong cách kiến trúc

6 Ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiễn

Đề tài mang ý nghĩa khoa học, góp phần làm phong phú thêm vào những công trình nghiên cứu về trình kiến trúc của nhà thờ Công giáo ở Việt Nam thời Pháp thuộc; đồng thời cho thấy dấu ấn của văn hoá phương Tây trong sự giao lưu với văn hoá Việt Nam Góp phần làm tài liệu tham khảo cho những ai quan tâm về kiến trúc của những nhà thờ Thiên Chúa giáo ở Việt Nam giai đoạn từ giữa thế kỷ XIX đến năm 1945

7 Kết cấu của đề tài

Đề tài ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo gồm có

ba chương sau:

Chương 1: Sự hình thành và phát triển của hai giáo phận Bùi Chu và Phát Diệm trong bối cảnh tiếp xúc văn hoá Đông-Tây ở Việt Nam (từ giữa thế kỷ XIX đến năm 1945)

Trang 14

Chương 2: Ảnh hưởng của kiến trúc phương Tây trong kiến trúc các nhà thờ thuộc hai giáo phận Bùi Chu và Phát Diệm (từ giữa thế kỷ XIX đến năm 1945)

Chương 3: Sự thích nghi của kiến trúc nhà thờ Thiên Chúa giáo ở hai giáo phận Bùi Chu và Phát Diệm

Trang 15

Chương 1: Sự hình thành và phát triển của hai giáo phận Bùi Chu và Phát Diệm trong bối cảnh tiếp xúc văn hoá Đông - Tây ở Việt Nam (từ giữa

thế kỷ XIX đến năm 1945)

1.1: Sự giao lưu giữa văn minh phương Tây và văn hoá Việt Nam (từ khi Thiên Chúa giáo du nhập vào nước ta đến năm 1945)

Trải qua hàng triệu năm phát triển liên tục, từ thời đại đồ đá đến thời đại đồ sắt, từ thời kỳ dựng nước đến giai đoạn ngày nay, dân tộc Việt Nam đã xây dựng

và tích lũy cho mình một nền văn hóa đậm đà bản sắc Tuy nhiên, vốn có một vị trí địa lý nằm ở ngã ba đường của các nền văn hóa lớn là Ấn Độ và Trung Hoa, lại nằm ở vị trí là cửa ngõ của Đông Nam Á nên ngay từ rất sớm nền văn hóa Việt Nam đã diễn ra sự giao lưu tiếp biến văn hóa rộng rãi với văn hóa Trung Hoa, văn hoá Ấn Độ, văn hóa khu vực Đông Nam Á và sau này là văn hóa phương Tây, từ

đó hình thành nền văn hóa Việt Nam vừa phong phú đa dạng nhưng cũng rất giàu bản sắc

Quá trình giao lưu với phương Tây được hình thành từ thế kỷ XVI, song những người phương Tây đến Việt Nam và Đông Nam Á là vào khoảng đầu công nguyên Họ đem đến các đồ trang sức, pha lê, vũ khí và áo giáp… đổi lấy các thứ hàng quý hiếm của Đông Nam Á như trầm hương, kỳ nam, vàng, đá quý, yến sào, đồi mồi, ngà voi, tê giác… và đặc biệt là gia vị (như hồ tiêu) Không phải ngẫu nhiên mà giới nghiên cứu đã gọi tuyến đường từ Địa Trung Hải đến Việt Nam là con đường hồ tiêu

Nước ta thực sự có sự giao lưu với văn hoá phương Tây khi công cuộc thực dân của người Pháp được thực hiện, tuy nhiên trước khi người Pháp vào Việt Nam thì dưới chế độ phong kiến Việt Nam đã có sự tiếp xúc văn hoá phương Tây qua

Trang 16

một số nước khác bằng con đường giao lưu buôn bán, mà tiêu biểu là sự tiếp xúc với người Bồ Đào Nha, người Hà Lan và người Anh Những mốc sự kiện ghi lại

sự có mặt của những thương nhân nước ngoài ở Việt Nam như sau:

Đầu thế kỷ XVI, người Bồ Đào Nha vào nước ta nhưng chỉ để buôn bán: người Bồ Đào Nha đến Quảng Châu (Trung Quốc) và nói đến bờ biển Việt Nam năm 1516 Năm 1535, Antonio de Parca đến Đà Nẵng, và những chuyến buôn bán đầu tiên có tính chất thăm dò ở Đàng Trong bắt đầu vào năm 1540 Năm 1557, bắt đầu có buôn bán với Việt Nam Đầu thế kỷ XVII, Joas de Cruz thành lập Phường Đúc ở Huế để đúng súng, và các chúa Nguyễn chấp nhận các giáo sĩ dòng Jesuites ở triều đình Người Bồ Đào Nha biết tình hình chính trị ở nước ta hỗn loạn tranh chấp nhau, và chính quyền phong kiến rất cần đến vũ khí, đạn dược Họ nắm đúng tâm lý của chính quyền phong kiến mà làm trung gian cung cấp vũ khí cho chính quyền và để được chính thức buôn bán hoạt động trên đất nước ta Ngoài ra các giáo sĩ Bồ Đào Nha còn giỏi về thuốc và thiên văn nên được các chúa Nguyễn trọng dụng: năm 1686, chúa Hiền yêu cầu Macao gửi cha Bartholomew

de Coste đến chữa bệnh Chúa Nguyễn Phước Chu giữ cha Antonis de Arnede lo

về toán-thiên văn Thế kỷ XVIII, cha Xavier de Monteiro và cha Jean de Lourcirs làm thầy thuốc và coi thiên văn Rồi năm 1751, năm giáo sĩ dòng Jesuites chuyên

về “toán học và pháo thủ” đến Thăng Long.1 Và người Bồ Đào Nha đã cung cấp đều đặn súng đạn và thuốc súng cho chúa Trịnh ở Đàng Ngoài cũng như chúa Nguyễn ở Đàng Trong

Người Hà Lan cũng có sự giao thương với nước ta hồi thế kỷ XVII với các

sự kiện nổi bật: năm 1633 chuyến tàu do Paulus Traudenius cầm đầu đến Đà Nẵng, và năm 1636 có thương điếm đầu tiên ở Hội An Chúa Trịnh muốn nhờ sự giúp đỡ về quân sự vì thấy người Bồ Đào Nha thân với chúa nguyễn Và vì thân với chúa Trịnh Đàng Ngoài nên thương điếm ở Hội An của Hà Lan bị chúa Nguyễn đóng cửa Năm 1645, người Hà Lan mở thương điếm ở Thăng Long ,

1 Trích theo: Phan Ngọc (2006), Sự tiếp xúc văn hoá Việt Nam với Pháp, Nxb Văn Hoá Thông Tin và Viện Văn

Hoá, Hà Nội Tr 10

Trang 17

Phố Hiến, hàng hoá mang đến buôn bán là hàng Trung Quốc (lụa, quế, thuỷ ngân…), hàng mua đa dạng hơn (gạo, bạc nén, ngà voi, vải, sừng, hồ tiêu…) Nhưng đến năm 1700, thương điếm ở Đàng Ngoài của người Hà Lan phải đóng cửa do không cạnh tranh nổi với người Trung Quốc và người Anh

Với người Anh, người Anh thành lập công ty Đông Ấn năm 1600 và loại dần các đối thủ Bồ Đào Nha và Hà Lan Năm 1673, họ được thành lập thương điếm ở Phố Hiến và sau chuyển sang Hà Nội nhưng bị đóng cửa năm 1697 Năm

1695, Thomas Bowyear đến Phú Xuân gặp Chúa Nguyễn Phước Chu hai lần và được phép mở thương điếm

Người Pháp đến Việt Nam nhưng thiên về hoạt động truyền bá đạo Thiên Chúa nhiều hơn là buôn bán Trong suốt nửa cuối thế kỷ XVII, việc hoạt động thương mại phụ thuộc nhiều vào Hội Thừa sai Paris Thiên Chúa giáo có mặt ở nước ta được ghi nhận trong Khâm Định Việt sử vào năm 1533, có người Tây dương tên là I-Nê-Khu lẻn vào huyện Nam Châu, vùng Ninh Cường, Quần Anh, huyện Giao Thuỷ vùng Trà Lũ, lén truyền Gia tô tả đạo Thiên Chúa giáo vào nước ta đầu tiên không phải do các giáo sĩ người Pháp mang vào vì I-Nê- Khu là giáo sĩ người Bồ Đào Tuy nhiên, người Pháp lại có ảnh hưởng lớn và để lại nhiều dấu ấn trong việc giao lưu và tiếp xúc với văn hoá Tây phương ở nước ta:

Năm 1600, Francois Pallu – một trong những người sáng lập Hội Thừa sai, lập công ty Trung Hoa sau chuyển thành công ty Hoàng gia Đông Ấn Độ Năm

1627, linh mục Alexandre de Rhodes đến Việt Nam và là người đưa đường cho Pháp có mặt ở Việt Nam Hoạt động của linh Mục Alexandre de Rhodes đã để lại nhiều kết quả: ông và một số người khác đã sáng tạo ra chữ quốc ngữ trên cơ sở chữ Latinh, năm 1651 ông xuất bản cuốn sách Dictionarium Annamitico-Lusitanum et Latinum (từ điển Việt-Bồ Đào Nha-Latinh) ở La Mã và cuốn Cathechismus (giáo lý vấn đáp) bằng chữ quốc ngữ…

Năm 1638, Toà thánh bổ nhiệm hai người Đại diện Tông toà là Francois Pallu và Lambert de la Motte tới Việt Nam Hai linh mục này có rất nhiều hoạt động truyền giáo tích cực cho ảnh hưởng của người Pháp ở Viễn Đông cũng như ở

Trang 18

Việt Nam nhằm thay thế các linh mục người Bồ Đào Nha đã tới trước đó (tác giả

sẽ trình bày kỹ hơn trong phần 1.2.1) Điều đáng chú ý, cho đến hết thế kỷ XVIII,

ở Việt Nam không có đại diện thương mại nào của Pháp mà chỉ có các nhà truyền giáo nhưng kèm theo hoạt động buôn bán Năm 1744, Pierre Poivre công bố cuốn Mémoire sur la Cochinchine (hồi ký về Đàng Trong), thuyết phục công ty Hoàng gia Đông Ấn Độ trao đổi buôn bán và mở thương điếm ở Đàng Trong, giành quyền buôn hương liệu của Hà Lan Năm 1749, cựu giáo sĩ Charles - Thomas de Saint Pierre yêu cầu buôn bán với Đàng Ngoài Năm 1784, Nguyễn Ánh đang thua Tây Sơn trốn ở Hà Tiên và gặp Pigneau de Béhaine_nhân viên phái bộ Truyền giáo nước ngoài Giám mục đã khuyên Nguyễn Ánh cầu viện vua Louis XVI Ông

đã đưa hoàng tử Cảnh đi Pháp và năm 1787 đã đại diện cho Nguyễn Ánh ký với Pháp hiệp ước Versailles Sau đó, do xảy ra cách mạng 1789 hiệp ước không được thực hiện xong Pigneau de Béhaine đã tự mình mộ quân và sắm vũ khí giúp Nguyễn Ánh chống Tây Sơn Hoạt động của Pigneau de Béhaine đã giúp cho Pháp

có một chỗ đứng vững chắc ở Việt Nam về tôn giáo và chính trị

Sau khi lên ngôi năm 1802, lấy niên hiệu là Gia Long, Nguyễn Ánh lâm vào một tình thế nước đôi; một mặt thì chịu ơn các giáo sỹ, mặt khác lại lo ngại sự phát triển của Thiên Chúa giáo trước mắt sẽ ảnh hưởng xấu đến truyền thống đạo đức và thuần phong mỹ tục cổ truyền sau nữa có thể làm mất ổn định chính trị và dẫn đến nguy cơ mất nước

Để đối phó với tình hình nhà Nguyễn chủ trương “bế quan tỏa cảng” không khuyến khích phát triển đạo Thiên Chúa và khôi phục Nho giáo làm quốc giáo Dưới thời Minh Mạng, Thiệu Trị, Tự Đức ý đồ xâm lược của Pháp càng rõ Không phân biệt được bọn thực dân đội lốt tôn giáo và tay sai với những con chiên nhẹ dạ

cả tin và những giáo dân lương thiện, cả Minh Mạng, Thiệu Trị rồi Tự Đức đã ra một loạt các chỉ dụ cấm đạo và giết giáo dân, tạo thêm cái cớ để cho thực dân Pháp xâm lược Việt Nam (1858)

Năm 1862, Tự Đức buộc phải ký với Pháp hòa ước Nhâm Tuất, theo đó thì triều đình phải nhượng cho Pháp 3 tỉnh miền Đông Nam Bộ và bỏ cấm đạo, đánh

Trang 19

dấu sự thống trị đầu tiên của Pháp trên lãnh thổ Việt Nam Sau khi thực dân Pháp chiếm trọn vẹn lãnh thổ Việt Nam, biến Việt Nam thành thuộc địa, chia Việt Nam thành ba sứ Tonkin (Bắc kỳ), An Nam (Trung kỳ) và Cochinchine (Nam kỳ) để dễ

bề cai trị và thực hiện các cuộc khai thác đồng hóa Việt Nam thì những yếu tố của văn hóa phương Tây tiếp tục được giao lưu tiếp biến với nền văn hóa Việt Nam càng mạnh mẽ

Trong mấy thế kỷ tiếp xúc, ảnh hưởng của văn hóa phương Tây đã tác động một cách sâu rộng vào nhiều lĩnh vực văn hóa vật chất và văn hóa tinh thần của Việt Nam Tùy lúc, tùy nơi người Việt Nam có thể chấp nhận hay chống đối, nhưng cuối cùng bao giờ cũng là sự tiếp nhận linh hoạt những gì có ích và biến đổi cho phù hợp

Trên lĩnh vực văn hóa vật chất, ảnh hưởng đáng kể nhất là trong lĩnh vực phát triển đô thị, công nghiệp và giao thông Đó đều là những thế mạnh của phương Tây hiện đại Từ mô hình truyền thống với chức năng là trung tâm chính trị, đô thị Việt Nam đã chuyển sang phát triển theo mô hình đô thị – công – thương nghiệp, chú trọng chức năng kinh tế Ở đô thị này dần hình thành tầng lớp tư sản dân tộc, nhiều ngành công nghiệp khác nhau ra đời (khai mỏ, chế biến nông lâm sản…) kiến trúc đô thị cũng thay đổi, kết hợp tài tình giữa phong cách phương Tây

và nét riêng độc đáo của dân tộc, phù hợp với điều kiện tự nhiên Việt Nam Sự phát triển của công thương nghiệp với mục đích phục vụ khai thác thuộc địa của Pháp, giao thông vận tải phát triển với hàng vạn km, đặc biệt có sự ra đời của đường sắt và những cây cầu lớn (như cây cầu sắt bắc qua sông Hồng mang tên Doumer nay là cầu Long Biên)

Trên lĩnh vực văn hóa tinh thần, ngoài sự xuất hiện của Thiên Chúa giáo còn có những hiện tượng trong các lĩnh vực văn tự-ngôn ngữ, báo chí, văn học- nghệ thuật, giáo dục-khoa học, tư tưởng

Để phục vụ mục đích truyền giáo, chữ quốc ngữ đã ra đời, là sản phẩm của tập thể nhiều giáo sĩ Tây Ban Nha, Ý, Pháp… và một số người Việt Nam song công lao lớn nhất thuộc về linh mục Alexandre de Rhodes Tuy chữ quốc ngữ ban

Trang 20

đầu chỉ là công cụ truyền đạo, những do ưu điểm là dễ học hơn nhiều so với chữ Hán, chữ Nôm nên ngày càng được cổ động cho việc dùng để phổ cập giáo dục và nâng cao dân trí

Sự kiện thứ ba trong quá trình giao lưu với văn hóa phương Tây là sự ra đời của báo chí Gia Định báo là tờ báo đầu tiên được phát hành bằng chữ quốc ngữ Ở Sài Gòn và Hà Nội lần lượt xuất hiện nhiều tờ báo khác bằng chữ quốc ngữ, chữ Hán Báo chí đã góp phần quan trọng trong việc nâng cao dân trí, thức tỉnh ý thức dân tộc và tăng cường tính năng động của người Việt Nam

Sự tiếp xúc với văn hóa phương Tây đã làm nảy sinh trong lĩnh vực văn học thể loại tiểu thuyết hiện đại; trong nghệ thuật hội họa thì xuất hiện thể loại vay mượn từ phương Tây như tranh sơn dầu, bột màu, với bút pháp tả thực; trong lĩnh vực sân khấu với sự xuất hiện của nghệ thuật cải lương…

Để đào tạo người làm việc cho mình thực dân Pháp đã buộc học trò học tiếng Pháp, bắt theo hệ thống giáo dục của phương Tây, định ra ba bậc học cơ sở

là ấu học, tiểu học và trung học Nhà cầm quyền còn lập ra một số trường cao đẳng

và đến năm 1908 thì mở ra trường Đại học Đông Dương Hệ thống Nho học tàn lụi dần và chấm dứt vào những năm đầu thế kỷ XX Hệ thống giáo dục mới này cùng với sách vở phương Tây đã góp phần giúp người Việt Nam mở rộng thêm tầm mắt, tiếp xúc với tư tưởng cách mạng dân chủ tư sản rồi sau là tư tưởng Mác xít

Như vậy, có thể nói sự giao lưu tiếp biến với văn hóa phương Tây mở đầu bằng văn hóa Đại Nam đã thổi vào Việt Nam luồng gió mới với những tư tưởng mới của V.I Lênin, K Mác … rõ ràng là văn hóa Việt Nam đã bước sang một giai đoạn mới khởi đầu thời kì xâm nhập của văn hóa phương Tây (và cùng với nó là Thiên Chúa giáo) cũng là khởi đầu thời kì văn hóa Việt Nam hội nhập vào nền văn hóa nhân loại

1.2: Sự xuất hiện và quá trình phát triển của đạo Thiên Chúa ở Việt Nam

Trang 21

Từ cuối thế kỷ XVI, cuộc nội chiến Nam - Bắc triều vừa kết thúc (1593) thì tiếp đến lại là cuộc nội chiến của hai tập đoàn phong kiến là Trịnh – Nguyễn kéo dài gần nửa thế kỷ (1627 – 1672)

Bối cảnh chính trị trong nước ngày càng rối loạn, thì tình hình trên thế giới

là thời kỳ những cuộc phát kiến địa lý đã mở đường cho cuộc xâm chiếm thuộc địa Hai nước tiên phong trong lĩnh vực này là Bồ Đào Nha và Tây Ban Nha đã có

sự tranh giành nhau về thuộc địa Để tránh một cuộc chiến nổ ra hai bên đã nhờ Giáo hoàng phân xử Giáo hoàng đã hoà giải và định phạm vi hoạt động cả đạo lẫn đời của hai nước Ngày 4/5/1493 Giáo hoàng Alexandre VI đã ký một sắc lệnh tạo một ranh giới tưởng tượng kéo dài từ Bắc chí Nam cực chia thế giới cho hai nước

Bồ Đào Nha và Tây Ban Nha Con đường ranh giới nằm phía đông kinh tuyến qua đảo Acores ở Đại Tây Dương, phía tây thuộc lãnh vực của Tây Ban Nha gồm Châu Mỹ và phía đông thuộc quyền của Bồ Đào Nha gồm Châu Á và Châu Phi Vậy qua sắc lệnh chia đôi thế giới trên, Việt Nam thuộc quyền bảo trợ của Bồ Đào Nha

Thời điểm đầu tiên Việt sử nói tới các nhà truyền giáo là vào năm 1533 Theo Khâm Định Việt sử (XXXIII, 6): “theo sách Dã Lục, thì ngày tháng 3 năm Nguyên Hoà thứ nhất (1533), đời Lê Trang Tông, người Tây dương tên là I-nê-xu lén lút đến xã Ninh Cường, xã Quần Anh, huyện Nam Chân và xã Trà Lũ huyện Giao Thuỷ, ngấm ngầm truyền giáo về tả đạo Gia Tô”2 Bộ Khâm Định Việt sử thông giám cương mục là bộ chính sử: ghi chép lại lịch sử do chính quyền biên soạn theo mệnh lệnh của vua Trong Khâm Định Việt sử có hai lần nói về I-Nê-Khu Khâm Định Việt sử có trích dẫn một đoạn trong Tây dương Gia tô bí lục Có thêm một tư liệu nói về vấn đề lịch sử hoạt động của đạo Thiên Chúa trên đất Việt

Tây Dương Gia tô bí lục ghi: “Ignatiô (I-Nê-Khu) sang đến nước ta bèn lẻn vào cư ngụ ở làng Quần Anh, Trà Lũ, Ninh Cường, đến đâu đều cho tiền phát thuốc, khiến cho kẻ ngu khờ phải mang ơn mà chịu nghe giảng đạo Từ đó đạo Gia

2

Viện Khoa học Xã hội Việt Nam, viện Sử học (2007), Quốc Sử quán triều Nguyễn, Khâm định Việt sử thông giám cương mục, tập 2, Nxb Giáo Dục, tr 301

Trang 22

tô mới bắt đầu lan đến nước ta Về sau môn đồ của Ignatio đều được phong làm giám mục, xin được lấy tên thánh của thầy làm tên của dòng đạo Nhưng Ignatio khiêm tốn không dám nghe theo, chỉ lấy tên Giêsu làm tên gọi cho dòng Từ đó nước ta có giặc Tây dương lẻn vào cai quản”3

Tóm lại, Thiên Chúa giáo xuất hiện ở nước ta được ghi trong chính sử từ năm 1533 đời vua Lê Trang Tông Năm 1550, đời vua Lê Trung Tông, một tu sĩ dòng Đa Minh là Gaspar De Santa Cruz người Bồ Đào Nha đã từ Malacca đến truyền giáo ở Cần Cao thuộc Hà Tiên, lúc đó còn trong tay người Chân Lạp giảng đạo khoảng 5 năm sau đó đi Quảng Đông Việc truyền đạo trong giai đoạn này chỉ mang tính chất thăm dò do các Thừa sai triều, Đa minh, Phanxicô xuất phát từ Malacca, Macao và Manila, nhưng chưa có một kế hoạch cụ thể nên không có kết quả nào đáng kể

1.2.1: Thời kỳ từ năm 1615 đến thế năm 1802

Thời kỳ từ 1615 đến 1802, đạo Thiên Chúa tiếp tục được truyền bá vào nước ta dưới ảnh hưởng của các giáo sĩ dòng Jésuites (của Bồ Đào Nha) và các Thế diện Tông toà (của Pháp)

Thời kỳ các giáo sĩ dòng Jésuites (dòng Tên) 1615 – 1658

Từ năm 1615 trở đi khi trung tâm truyền giáo của Bồ Đào Nha cử hai giáo

sĩ Francois Bujomi và Diego Carvalho sang Hải Phố thuộc Quảng Nam thì việc truyền bá đạo Thiên Chúa ở Việt Nam mới thực sự bắt đầu Ngay sau khi đến, các giáo sĩ đã dựng một nhà nguyện và nhờ các thông ngôn người Việt và Nhật để giảng đạo bằng tiếng Việt và việc giảng đạo bằng tiếng Việt đã đem lại kết quả khả quan: một năm sau đó (1616) số người theo đạo Thiên Chúa 300 người Tiếp

đó, Macao lại gửi hai giáo sĩ là Francois Barreto và Francois De Pina sang tăng viện và mở rộng địa bàn truyền giáo Năm 1624, Macao lại gửi tiếp vào Đàng Trong thêm 6 giáo sĩ trong đó có giáo sĩ Alexandre De Rhodes, người có vai trò quan trọng trong việc đặt nền móng cho giáo hội Thiên Chúa giáo La Mã ở Việt

3

Lm Augustinô Nguyễn Văn Trinh, sđd, tr 186

Trang 23

Nam A.De Rhodes đến Việt Nam tháng 12 năm 1624, khi thì hoạt động ở Đàng Trong khi thì ở Đàng Ngoài Thời gian hoạt động truyền đạo của ông thực sự có mặt ở Việt Nam mới chỉ hơn 8 năm song lại có tác dụng đặc biệt đối với việc phát triển đạo ở đây A.De Rhodes là người có năng khiếu về ngôn ngữ, ông đã giảng đạo được bằng tiếng Việt chỉ sau 6 tháng đến Đàng Trong Trên cơ sở kế thừa các giáo sĩ trước, A De Rhodes đã hoàn chỉnh dạng chữ viết của tiếng Việt bằng mẫu

tự La Tinh Và trong thời gian ở Việt Nam, A De Rhodes đã hoàn chỉnh cuốn từ điển Việt - Bồ Đào Nha – Latinh Cuốn từ điển này đã giúp ích cho rất nhiều các giáo sĩ đến Việt Nam nhanh chóng học được tiếng việt A De Rhodes đặc biệt chú trọng đến việc đào tạo các thầy giảng để hỗ trợ cho mình trong việc truyền đạo và giúp duy trì đời sống đạo cho giáo dân khi vắng các thừa sai hoặc linh mục Trước khi rời Việt Nam cùng với cộng sự của mình, A De Rhodes đã có những đóng góp đặt nền móng cho việc phát triển đạo Ở Đàng Trong, Thiên Chúa Giáo được truyền bá rộng rãi ở Quảng Nam, Quảng Ngãi, Bình Định, Thuận Hoá, Quảng Bình với số giáo dân khoảng 50.000 người Ở Đàng Ngoài đạo Thiên Chúa đã được truyền giáo ở Thanh Hoá, Nghệ An, Hà Nội, Hưng Hoá, Tuyên Quang với số giáo dân khoảng 100.000 người A.De Rhodes đã vận động Toà thánh chọn một nước bảo trợ mới cho Việt Nam có đủ sức phục vụ đạo đang thuận lợi ở đây Cuộc vận động này đã dẫn tới việc Toà thánh cử các Thế diện Tông toà người Pháp nhận việc truyền giáo ở Viễn Đông (1658) và sự ra đời của hội Thừa sai Paris (1663) nhằm đào tạo các giáo sĩ người Pháp làm nhiệm vụ truyền đạo

Như vậy, trong giai đoạn truyền đạo này (1615 – 1664), việc truyền đạo diễn ra khá thuận lợi và các linh mục dòng Tên đã có những bước thành công nhất định như: san định chữ Quốc ngữ: từ điển Việt-Bồ-La (1651); biên soạn sách giáo lý: “Phép giảng tám ngày” (1651); tổ chức Hội thầy giảng miền Bắc (1630), tổ chức Hội thày giảng miền Nam (1643); biên soạn các vãn, ngắm, tuồng tích; viết sách giới thiệu về Việt Nam

_ Thời kỳ các Thế diện Tông toà (1659 – 1802)

Trang 24

Đạo Thiên Chúa tiếp tục phát triển ở nước ta với sự thay đổi quyền bảo trợ

từ Bồ Đào Nha chuyển sang Pháp

Việc vận động Toà thánh tìm một quốc gia khác thay quyền bảo trợ của Bồ Đào Nha ở Viễn Đông đã gặp nhiều khó khăn; đến năm 1658, Giáo hoàng quyết định cử các giáo sĩ Pháp sang Viễn Đông với điều kiện tự lo phương tiện và vật chất Đó là ba giáo sĩ Pallu, Lambert, Cotolen được cử làm Thế diện Tông toà ở Viễn Đông Năm 1659, đức cha Alexandro VII ban đoản sắc: “Super Cathedram” thiết lập hai địa phận Đàng Ngoài và Đàng Trong Cha Lambert phụ trách Đàng Trong gồm khu vực chúa Nguyễn, Cao Miên và Thái Lan; cha Pallu phụ trách Đàng Ngoài gồm: khu vực chúa Trịnh và bốn tỉnh nam Trung Quốc

Do sự cổ động của Pallu, nhiều linh mục và giáo dân đã tích cực tiến hành việc thiết lập một “Chủng viện Truyền Giáo Hải Ngoại” Chủng viện được đặt ở phố Bac, Paris Được vua Pháp cho phép năm 1663 và được Toà thánh công nhận ngày 11/8/1664, từ đó Hội thừa sai Paris (MEP: Mission Etrangère de Paris) được hình thành dần dần, hội lo việc đào tạo các giáo sĩ Thừa sai để gửi đi Viễn Đông truyền đạo

Hai sự kiện trên đã đánh dấu một bước ngoặt lớn trong cuộc truyền đạo ở Việt Nam Từ đây, nước Pháp độc quyền bảo trợ việc truyền giáo cũng như bành trướng thế lực của mình

Nửa đầu thế kỷ XVII, các Thế diện Tông toà Pháp sang Viễn Đông và bắt

đầu cuộc truyền giáo, hai giáo sĩ Pallu và Lambert bằng những hoạt động cơ bản đầu tiên nhằm xác lập quyền ảnh hưởng của người Pháp

Hoạt động của Pallu

Năm 1662, Pallu cùng 9 giáo sĩ Thừa sai Pháp lên đường sang Viễn Đông

và tới Thái Lan Tại đây Pallu đã cùng với Lambert tổ chức cuộc họp với các giáo

sĩ Thừa sai Pháp tổ chức họ thành giáo đoàn, đề ra quy chế hoạt động nghiêm ngặt Do khó khăn cha Pallu không thể ra Đàng Ngoài làm nhiệm vụ nên đã uỷ nhiệm cho thừa sai Deydier ra Bắc làm cố chính điều hành việc đạo; sau đó trở về Châu Âu Năm 1678, cha Pallu xin cho cha Lambert lãnh thêm trách vụ quản sự

Trang 25

Đàng Ngoài, Lào, Cao Miên Năm 1681, Pallu trở lại Viễn Đông với chức vụ mới, năm 1684, cha Pallu sang Kiến Phúc rồi mất ở đó

Như vậy, cho tới lúc mất cha Pallu chưa một lần tới Việt Nam nhưng những hoạt động của ông là sự đóng góp không nhỏ trong việc truyền giáo ở Việt Nam: cha Pallu là sáng lập viên tích cực của Hội thừa sai Paris; đấu tranh, vận động để xác lập chủ quyền truyền giáo của hội Thừa sai ở Viễn Đông; cha Pallu cũng là người lập kế hoạch phối hợp giữa công ty thương mại Ấn Độ với Hội Thừa sai paris, để có điều kiện thuận lợi về vật chất cho hoạt động truyền đạo Đồng thời ông cũng là định ra phương hướng hoạt động cho các giáo sĩ Thừa sai Pháp, lập chủng viện đào tạo linh mục bản địa

Hoạt động của Lambert

Trước khi vào Đàng Trong, Lambert cử thừa sai Chevreuil sang thăm dò mang theo thư uỷ nhiệm Tháng 7 năm 1669, Lambert cùng Thừa sai Bourges và một Thừa sai khác ra kinh lý Đàng Ngoài Tiếp đó cha Lambert triệu tập Công đồng Nam Định nhằm lập lại kỉ luật Đàng Ngoài và lập ra một dòng nữ tu bản xứ

là Dòng chị em mến Thánh giá Cha còn thảo ra quy chế 14 điều bằng tiếng Pháp, sau có soạn lại bằng chữ Quốc ngữ gồm 26 điều quy định cách thức tuyển chọn, sinh hoạt, học tập hết sức nghiêm ngặt Cha Lambert còn lập một tu viện chị em mến Thánh giá ở Quảng Ngãi sau khi đi kinh lý phía Nam; tháng 1/1672, tại Hải Phố, cha Lambert triệu tập Công đồng xem xét việc đạo kêu gọi sự hoà hợp trong Giáo hội và thông báo nội dung Công đồng Nam Định Năm 1679, Lambert qua đời tại Thái Lan Với việc triệu tập hai Công đồng Nam Định và Hải Phố, Lambert

đã củng cố đội ngũ các giáo sĩ Thừa sai Pháp, đội ngũ các linh mục và thầy giảng bản xứ, đưa việc truyền đạo vào nền nếp và tổ chức Như vậy, hoạt động của Lambert đã có những đóng góp cụ thể và thiết thực cho việc truyền đạo ở Việt Nam

Truyền giáo thời kỳ từ nửa sau thế kỷ XVII đến hết thế kỷ XVIII

Việc truyền giáo ở Việt Nam tới giai đoạn này đã đi vào nền nếp và có tổ chức do những hoạt động tích cực của các giáo sĩ Thừa sai trước đó

Trang 26

Để việc truyền giáo được dễ dàng và làm cho việc quản lý tốt hơn thì các vùng truyền giáo lớn được dựa vào tình hình địa lý mà được phân chia thành địa phận Mỗi địa phận sẽ có một giám mục cai quản, hoặc cả phó giám mục; mỗi địa phận cũng được phép mở chủng viện để đào tạo chủng sinh, để họ trở thành những linh mục truyền đạo trong tương lai Trong mỗi giáo phận đều có các giáo xứ và ban hành giáo của từng giáo xứ gồm những người dân theo đạo uy tín được bầu đứng lên quản lý hoạt động trong một giáo xứ Dưới giáo xứ là các giáo họ và đứng đầu mỗi giáo họ thường là các trùm trưởng, trùm phó…

Từ nửa sau thế kỷ XVII đến hết thế kỷ XVIII, việc truyền đạo vẫn được duy trì hoặc phát triển mạnh trở lại mỗi khi có điều kiện thuận lợi mặc dù có thời

kỳ bị chiến tranh hoặc cấm đạo

Việc truyền giáo ở Đàng Trong

Năm 1670, thừa sai Mahot được cử làm giám mục thay giám mục Lambert

đã mất, giám mục Mahot đã triệu tập Công đồng Hải Phố để chỉnh đốn việc đạo và bàn việc đào tạo linh mục bản xứ Năm 1684, giám mục Hamot mất, thừa sai Joseph Duchêne thay thế, song chỉ được hai ngày thì mất Từ năm 1684 đến năm

1691 Đàng Trong không có giám mục Trong thời gian này việc truyền giáo có nhiều bất đồng về quan điểm truyền đạo giữa các giáo sĩ dòng Tên và các giáo sĩ Thừa sai Paris: trong khi các giáo sĩ dòng Tên có ý tha cấm việc thờ cúng tổ tiên của giáo dân theo phong tục truyền thống thì các giáo sĩ Thừa sai Paris lại kiên quyết phản đối; và xung đột xảy ra Để giải quyết, Tổng hội truyền giáo phải cử cha Achrds De La Baume với cương vị Khâm sai Toà thánh đến dàn xếp Tháng 5/1739, Baume đến Hải Phố triệu tập các giáo sĩ Dòng đến ký giấy hoàn toàn phải tuân phục các quyết định của Khâm sai Toà thánh; tiếp đó Baume đã phân chia Đàng Trong thành các địa phận nhỏ và giao cho mỗi Dòng trông coi một địa phận: dòng Tên trông coi từ địa phận Quảng Bình đến Huế; dòng Thừa sai từ Huế đến Bình Thuận; dòng PhanXiCô (Franciscains) trông coi Bình Thuận và Cao Miên Đến năm 1743, địa phận Đàng Trong có 300 nhà thờ, 70000 bổn đạo với 29 linh mục ngoại quốc và 200 thầy giảng Dưới thời Võ Vương (1738-1765) ban hành

Trang 27

lệnh cấm đạo gắt gao nên việc truyền đạo gặp nhiều khó khăn Năm 1774, Pigneau

De Béhaine được tấn phong giám mục Đây là thời gian Đàng Trong đã bùng nổ cuộc khởi nghĩa Tây Sơn, tình hình bất ổn; cũng chính trong thời gian ấy, Pigneau

đã cứu thoát hậu duệ duy nhất của vương triều Nguyễn là Nguyễn Ánh, từ đó mối quan hệ của Nguyễn Ánh và Pigneau càng khăng khít Pigneau giúp Nguyễn Ánh khá nhiều trong việc khôi phục lại vương triều Nguyễn Việc phát triển đạo trong thời Tây Sơn không tiến triển được nhiều vì Tây Sơn cấm đạo Từ khi Nguyễn Ánh lên ngôi năm 1802, tình hình đạo Thiên Chúa giáo ở Đàng Trong phát triển

có khả quan hơn Đến năm 1800, ở Đàng Trong có: 1 giám mục Thế diện Tông toà, 5 thừa sai, 15 linh mục bản xứ, 50000 giáo dân.4

Truyền giáo ở Đàng Ngoài

Năm 1678, Giáo hoàng chia Đàng Ngoài thành hai địa phận: địa phận Tây (vùng hữu ngạn sông Hồng đến giáp Lào) do Bourges làm giám mục; địa phận Đông (tả ngạn sông Hồng đến giáp biển) do Deydier làm giám mục Năm 1693, Deydier mất, Bourges kiêm nhiệm cả hai địa phận Sau địa phận Đông được giao cho dòng Đa Minh cai quản Năm 1709, lệnh bắt đạo gắt gao, Bourges và hai linh mục Pháp bị bắt, năm 1713 các giáo sĩ bị trục xuất Việc cấm đạo ngày càng gắt gao nên hoạt động truyền giáo cũng không phát triển mạnh mẽ được

“Theo Louvet, Les missions Catholiques au Xixè Sìecle Paris 1894, thì tổng số giáo dân Việt Nam năm 1800 là: 320 000 người, 119 linh mục Việt Nam,

15 thừa sai ngoại quốc và 3 giám mục được chia ra như sau:

Địa phận Đông Bắc: có 140 000 giáo dân, 41 linh mục Việt, 4 thừa sai và 1 giám mục

Địa phận Tây Bắc: 120 000 giáo dân, 65 linh mục Việt, 6 thừa sai và một giám mục

4

Viện nghiên cứu tôn giáo, Nguyễn Văn Kiệm, Sự du nhập của đạo Thiên Chúa vào Việt Nam từ thế kỷ XVII đến thế kỷ XIX, Hội khoa học Lịch sử Việt Nam, trung tâm Unesco bảo tồn và phát triển văn hoá dân tộc Việt Nam, Hà Nội-2001, tr 69 Trích theo: số liệu của Encyclopoedia of Riligions & ethics Vol VIII, New York, 1915, tr 718

Trang 28

Địa phận Trung và Nam Việt: có 60 000 giáo dân, 15 linh mục Việt, 5 thừa sai và 1 giám mục”5

1.2.2: Việc truyền đạo Thiên Chúa giáo ở Việt Nam từ 1802-1945

* Đạo Thiên Chúa dưới triều Nguyễn (từ 1802 đến 1862)

Thời kỳ triều đại Gia Long (1802-1820)

Đạo Thiên Chúa bước vào giai đoạn mới, việc truyền giáo ở địa phận Đông Bắc thuộc dòng Đa Minh quản lý còn lại tất cả các miền khác trên toàn quốc đều được trao cho Hội Thừa sai Paris

Dù chịu ơn sâu của giám mục Pigneau nhưng Nguyễn Ánh không theo đạo như lời khuyên và hy vọng của giám mục Ban đầu vua tỏ lòng kính trọng các đức cha và thịnh tình với đạo nhưng ngày 4/3/1804 vua có ra một chiếu chỉ sau khi gặp

sứ thần Trung Quốc ở Thăng Long về Phú Xuân, trong đó có những khoản về tôn giáo như sau: cấm không được sửa chữa, xây dựng chùa triền nếu không được phép Còn đối với đạo Bồ Đào Nha (tức đạo Công giáo) thì cấm sửa chữa hoặc xây dựng lại những ngôi nhà thờ đã bị hư nát, còn cất nhà thờ ở những nơi chưa có tuyệt nhiên cấm hẳn

Tuy nhiên trong suốt thời gian ở ngôi Gia Long không ban hành một sắc lệnh cấm đạo nào Dù điều kiện có thuận lợi hơn cho việc truyền đạo nhưng trong thời gian này việc truyền giáo cũng không phát triển được nhiều; nhưng được giảng dạy kỹ lưỡng hơn

Triều Minh Mạng (1820-1840)

Minh Mạng chỉ thực sự cấm đạo từ năm 1833, và Giáo hội Việt Nam chịu nhiều tổn thất nặng nề bởi các đợt bắt đạo Từ năm 1825-1838, Minh Mạng ra liên tiếp 4 sắc dụ cấm đạo với nội dung chủ yếu: ngăn cấm các giáo sĩ Thừa sai lén lút nhập cảnh, vi phạm sẽ bị xử tội Tập trung các giáo sĩ Thừa sai hiện đang có mặt ở Huế để dịch sách và tài liệu phương Tây đồng thời cũng là để quản thúc họ Với giáo dân thì các quan phải ra sức giáo huấn họ bỏ đạo, Minh Mạng còn thảo ra

5

Lm Augustinô nguyễn Văn Trinh, lược sử giáo hội Việt Nam, 1990

Trang 29

“thập điều giáo huấn” để các chức sắc địa phương giảng giải cho dân nghe, nếu không sẽ bị xử tội Tình hình truyền giáo dưới thời Minh Mạng vẫn được phát triển mặc dù có sự cấm; các giám mục và giáo sĩ được tăng cường Tuy nhiên với sắc chỉ cấm đạo đã làm cho Giáo hội Thiên Chúa Việt Nam bị tổn thất nặng nề: hàng trăm giáo dân, 20 linh mục bản xứ, 9 linh mục ngoại quốc và 4 giám mục tử đạo… Đến năm 1840, cả nước có 3 giám mục, 2 phó giám mục, 24 thừa sai, 144 linh mục bản xứ và 420000 giáo dân 6

Triều Tự Đức (1848-1883)

Vua Tự Đức mới lên ngôi đã cho mọi người bị bắt vì đạo được ân xá về nhà Điều này khiến cho người ta tưởng nhầm rằng nhà vua không cấm đạo Nhưng tháng 8/1848 một chiếu chỉ được ban hành nhằm lùng bắt các giáo sĩ, đặc biệt là các giáo sĩ người nước ngoài Trong thời gian ở ngôi, vua Tự Đức đã 8 lần

6

Nguyễn Văn Kiệm, sđd, tr 76 Trích theo số liệu của Encyclopoedia of Religion & Ethics, tr 719

Trang 30

ra sắc lệnh cấm đạo vào các năm: 1848, 1851, 1855, 1857, 1859, 1860 (hai lần),

1861 với các nội dung: lùng bắt giáo sĩ, cấm các giáo sĩ người nước ngoài được truyền đạo, tử hình kẻ chứa chấp, buộc giáo dân phải bỏ đạo, triệt hạ các cơ sở tôn giáo của Thiên Chúa giáo, “phân tháp” tách làng Công giáo…

Việc cấm đạo gắt gao dưới triều Tự Đức đã làm cho Giáo hội Việt Nam tổn thất nặng: các Giám mục và Thừa sai bị bắt và giết, 155 linh mục bản xứ bị giết,

50 nữ viện bị phá huỷ, 2000 xứ đạo bị triệt hạ, 300000 giáo dân bị phân tháp.7

Trong thời gian này Tòa thánh thiết lập thêm 3 địa phận mới: địa phận Đông Đàng Ngoài chia làm hai: Đông Ký và Trung Ký (1848), địa phận Bắc Đàng Trong cũng được thành lập (1850), Hậu Giang thuộc địa phận Tây Đàng Trong cũng được cắt sát nhập với Cao Miên thành lập giáo phận Cao Miên

Tóm lại, Thiên Chúa giáo trong giai đoạn đầu thế kỷ XX trải qua nhiều khó khăn thử thách, đặc biệt là những sắc lệnh cấm đạo của nhà vua Chính những sắc lệnh cấm đạo này đã làm cho việc truyền giáo gặp nhiều khó khăn, các nhà thờ đã không được xây dựng hay sửa chữa mà còn bị triệt hạ, trong những hoàn cảnh như vậy mà các nhà thờ có được xây dựng thì cũng chỉ mang tính chất tạm thời để thuận tiện cho việc tháo gỡ mang đi cất dấu nếu được làm bằng gỗ giống kiến trúc

cổ Việt Nam Còn những nhà thờ chỉ lợp bằng tranh tre, nứa lá được dựng lên làm

cơ sở cũng như làm nơi thờ tự chỉ mang tính chất tạm thời Chính vì thế, trong thời

kỳ này về kiến trúc các nhà thờ Công giáo không có nhiều nổi bật, các nhà thờ ít được xây dựng và hầu hết đã không còn lưu lại tới ngày nay

_Thiên Chúa giáo từ sau 1862 đến năm 1945

Thời kỳ từ 1862 đến 1900

Thực dân Pháp chính thức nổ súng xâm lược nước ta năm 1858, chúng từng bước đánh chiếm nước ta, Pháp chiếm 3 tỉnh miền Đông Nam kỳ, vua Tự Đức muốn chuộc lại nên đã ký điều ước năm 1862 và chấp nhận những điều kiện thua thiệt Hiệp ước gồm 12 khoản, trong đó khoản 2 đại ý nói về vấn đề đạo Thiên

7

Nguyễn Văn Kiệm, sđd, tr 81

Trang 31

Chúa ở Việt Nam: Pháp và Tây Ban Nha có thể giữ đạo Gia Tô ở nước Nam và dân của nước này, bất cứ ai muốn theo đạo thì cứ tự do gia nhập, không bị bắt bớ nhưng không ai được ép những người không muốn theo đạo và làm trái ý họ Trong điều 2 của hiệp ước: buộc triều đình Huế phải bãi bỏ lệnh cấm đạo trên toàn quốc, tuy nhiên điều này chỉ được thực hiện thông qua dịp sinh nhật vua và nhà vua ra ân xá cho tù nhân trong đó có người Công giáo Triều đình Huế ra lệnh tha những giáo dân đang bị giam giữ hay đưa đi an trí, trả lại tài sản ruộng vườn cho

họ, trừ những người có thông đồng với Pháp thì các quan lại địa phương có trách nhiệm tra xét và trị tội

Từ sau hiệp ước Nhâm Tuất đã không còn những chiếu chỉ cấm đạo và việc bắt đạo đã giảm cho tới khi chấm dứt hẳn Trong tình hình trên, giáo dân và các giáo sĩ bắt đầu quay trở lại làng và giáo xứ của mình và bắt tay vào công việc tái thiết thánh đường và xứ đạo của mình

Năm 1868, quân đội Pháp chiếm nốt 3 tỉnh miền Tây Nam kỳ, sau đó lại cho quân ra chiếm Hà Nội năm 1873, ép triều đình Huế kí điều ước 1874 thừa nhận chủ quyền của Pháp ở Nam Bộ và công khai thừa nhận Thiên Chúa giáo được truyền bá tự do Hoà ước Giáp Tuất gồm 22 điều trong đó có khoản 9 nói về tôn giáo với đại ý: huỷ hết các chỉ dụ cấm đạo, giáo dân được tự do theo đạo và hành đạo, người dân được ứng thi và bổ nhiệm làm công việc, người Công giáo cũng được hưởng những ưu đãi về thuế má như lương dân, của cải của giáo dân bị tịch thu sẽ được trả lại Các giáo sĩ được truyền đạo tự do, đi lại không cần phải khai báo

Sau Hoa ước Nhâm Tuất với những điều khoản mất nước mà triều đình Huế đã ký với Pháp, trong nước nổi lên phong trào chống đối nhiều nơi, đặc biệt là phong trào Văn Thân Phong trào Văn Thân phản đối triều đình ký hoà ước với Pháp bằng việc không chịu vào trường thi của các sĩ tử… và một loạt những hành động phá làng Công giáo, triệt hạ các nhà thờ, tu viện, giữa giáo dân và lương dân càng trở nên nhiều mâu thuẫn Phong trào này tới hiệp ước Giáp Tuất, bị triều đình mang quân đi dẹp yên Tuy vẫn còn những khó khăn trong việc truyền đạo nhưng

Trang 32

từ sau điều ước này đạo Thiên Chúa có điều kiện thuận lợi để phát triển và về cơ bản nó có thể bước sang giai đoạn truyền bá hoạt động tự do

Từ đầu thế kỷ XX trở đi, Giáo hội Việt Nam có nhiều thuận lợi để phát triển, số giáo dân ngày càng tăng lên, cần phải chia nhỏ các giáo phận để dễ quản lý; vì vậy, hàng loạt các giáo phận Bắc, Trung và Nam Việt lần lượt được thành lập

Giáo phận Sài Gòn được thành lập từ năm 1844 và ngày càng phát triển,

trong hai thập niên đầu thế kỷ XX nhiều thánh đường đã được xây dựng: Chí Hoà (1900), Chợ Đũi (1905), nhà thờ thánh Phanxicô Xaviê (1902), nhà thờ thánh Jeanne D’arc (1928), nhà thờ ngã Sáu, Chợ Lớn Nhiều nhà thờ đã được xây dựng

từ cuối thế kỷ XIX như nhà thờ Tân Định (1876) nay được mở rộng (1896) và xây tháp chuông (1929), nhà thờ Thị Nghè (1890), nhà thờ Chợ Quán (1887-1896)

Ngày 8/1/1938 chiếu thư Toà thánh chia giáo phận Sài Gòn thành lập giáo

phận Vĩnh Long; giáo phận Vĩnh Long khi thành lập gồm 3 tỉnh: Vĩnh Long, Trà

Vinh, Bến Tre và hai quận thuộc tỉnh Dinh Phong (Cần Thơ)

Giáo phận Nam Vang thành lập năm 1924

Giáo phận Quy Nhơn thành lập từ năm 1850 Giáo phận ngày càng phát

triển nên việc quản lý giáo phận sẽ trở lên quá sức, do vậy Đức cha Tardieu Phú xin Toà thánh chia giáo phận và lập giáo phận Kontum

Giáo phận Kontum khi được thành lập (18/1/1932 bao gồm các tỉnh:

Kontum, Pleiku, Đắclắc và một phần tỉnh Lào Attopeu rộng 72.000 km2 với số giáo dân khoảng 700.000

Trang 33

Giáo phận Huế (Bắc Đàng Trong): từ năm 1885 dưới quyền cha Allys Lý

chính xứ, đặt trụ sở tại Phủ Cam Năm 1925, Toà Khâm sứ Toà thánh tại Đông Dương được thiết lập trụ sở tại Việt Nam

Giáo phận Vinh gồm trọn Nghệ An và Hà Tĩnh

Trên đây là tình hình truyền đạo ở miền Nam và Trung Việt có nhiều tiến triển tốt trong thời kỳ Pháp thuộc, cũng trong điều kiện thuận lợi trên hoạt động truyền giáo cũng có nhiều tiến triển đồng thời có nhiều sự kiện quan trọng đối với Giáo hội Việt Nam

Ngày 11/2/1900, Công đồng Bắc Kỳ lần 1 được tổ chức do cha Terrés Hiến đảm nhận được tổ chức tại Kẻ Sặt, diễn ra trong 3 kỳ hội kéo dài 1 tháng với những nội dung quan trọng trong việc truyền giáo giữa các Thừa sai Pháp và Tây Ban Nha tiến tới một đường lối hợp tác ở một tình thế mới Năm 1900, Đức cha Colomer sang Rôma dự lễ tôn vinh chân phước 88 đấng tử đạo trong đó có 64 vị ở Việt Nam Năm 1906, thêm 8 vị tử đạo dòng Đa Minh được suy tôn chân phước Năm 1909, thêm 20 vị thuộc các giáo phận Hội Thừa sai Paris được suy tôn chân phước Năm 1912, Công đồng Bắc Kỳ lần 2 được triệu tập tại Kẻ Sở dưới quyền chủ toạ của Đức cha Gendreau Đông, diễn ra trong hai ngày với nội dung chủ yếu

là bổ sung những điều chưa đủ của Công đồng 1

Giáo phận Hà Nội (thành lập từ năm 1659): đến năm 1939 bao gồm: Đức

giám mục Chaize Thịnh, 36 thừa sai Paris, 165 linh mục Việt, 251 thày giảng, 36 đại chủng sinh, 115 tiểu chủng sinh với 194 973 giáo dân với 8046 dự tòng trên tổng số 2.200.000 dân (8,8%) 8

Giáo phận Hưng Hoá (thành lập từ năm 1895) bao gồm các tỉnh Tây Bắc

Việt: Sơn Tây, Phú Thọ, Yên Bái, Sơn La, Lai châu, một phần tỉnh Tuyên Quang, Hoà Bình, Hà Giang Năm 1939 giáo phận Hưng Hoá có: Đức giám mục Vandaele Vạn, 18 thừa sai Pháp, 58 linh mục Việt, 104 thày giảng, 10 đại chủng sinh, 120

8

Lm Bùi Đức Sinh (OP, MA), sđd, tr 100

Trang 34

tiểu chủng sinh với 64233 giáo dân và 4175 dự tòng trên tổng số 1.200.000 dân (5,3%), chia làm 42 giáo xứ và 474 họ đạo 9

Giáo phận Hải Phòng (Đông Ký, thành lập từ năm 1679) năm 1939: Đức

cha Francisco Gómez Lễ, hàng giáo sĩ có 24 cha dòng Đa Minh, 87 linh mục triều,

135 thầy giảng, 20 đại chủng sinh, 130 tiểu chủng sinh Hàng tu sĩ có 8 sư huynh Lasan, 44 nữ tu Dòng thánh Phaolô điều khiển trường cao đẳng tiểu học St-Joseph,

130 dì phước, giáo dân 120.000 với 4042 dự tòng trên tổng số 1.620.000 dân (7,4%), chia làm 13 hạt, 56 giáo xứ, 500 họ đạo, 450 nhà thờ nhà nguyện10

Giáo phận Bắc Ninh (thành lập từ năm 1883): năm 1939: Đức cha Eugenio

Arturaz Chỉnh , hàng giáo sĩ gồm có: 15 cha dòng Đa Minh, 66 linh mục giáo phận, 120 thày giảng, 20 đại chủng sinh, 66 tiểu chủng sinh 12 nữ tu thánh phaolô, 18 dì phước, 47 giáo xứ, 312 họ đạo, 210 nhà thờ lớn nhỏ 11

Giáo phận Thanh được thành lập: sau chuyến đi kinh lý qua các tỉnh phía

Nam khi còn là giám mục phó giáo phận Hà Nội-cha Marcou Thành đã chọn một địa điểm để thành lập giáo phận mới Năm 1900, Đức cha Gendreau Đông sang Rôma tham dự lễ suy tôn 64 chân phước tử đạo Việt Nam, nhân dịp này Đức cha trình Toà thánh về việc chia giáo phận Hà Nội, và đã được chấp nhận ngày 15/4/1901 giáo phận mới gọi là giáo phận Thanh bao gồm các tỉnh: Ninh Bình, Thanh Hoá, Châu Lào cũng còn gọi là giáo phận Bắc Kỳ duyên hải và từ năm

1924 cải tên là Phát Diệm, đồng thời Phát Diệm cũng là nơi đặt Toà giám mục, Đức cha Alexandre Marcou Thành làm đại diện Tông toà tiên khởi Sau 3 năm hoạt động, giáo phận phát triển mạnh mẽ, và Đức cha Marou phải nghĩ đến việc

chia giáo phận Ngày 21/6/1932 giáo phận Thanh Hoá được thiết lập do Đức cha

Coonan Hành làm đại diện Tông toà Đến năm 1939, giáo phận Thanh Hoá có: 33 thừa sai, 53 linh mục triều, 22 đại chủng sinh, 183 tiểu chủng sinh Hàng tu sĩ có 9 cha dòng Phan Sinh, 11 đan sĩ Cát Minh, 17 nữ tu Đức Bà trường giáo, 48 nữ tu

9

Lm Bùi Đức Sinh (OP, MA), sđd, tr 111

10 11 Lm Bùi Đức Sinh (OP, MA), sđd, tr 118

Trang 35

Mến thánh giá Giáo dân 58 628 và 7442 dự tòng trên tổng số 1.500.000 dân (4,3%) chia làm 5 hạt, 16 giáo xứ, 494 họ đạo, 227 nhà thờ và nhà nguyện 12 Trong khi đó, giáo phận Phát Diệm năm 1939: hàng giáo sĩ 110 linh mục Việt, 1 thừa sai, 175 thày giảng, 63 đại chủng sinh, 166 tiểu chủng sinh Hàng tu sĩ: 4 sư huynh Lasan điều khiển trường Saint-Louis Phát Diệm, 14 đan sĩ, 6 tập sinh, 12 thỉnh sinh, 24 đệ tử… giáo dân 110 744 và 2101 dự tòng trên tổng số dân 400.000 (27,5%) chia làm 8 hạt, 33 giáo xứ, 338 nhà thờ và nhà nguyện 13

Địa phận Bùi Chu (thành lập từ năm 1848): đến năm 1907 là một địa phận

truyền giáo phồn thịnh nhất với số giáo dân 228.298, 40 giáo xứ và nhiều tu viện hoạt động, với sự phát triển mạnh mẽ đó cần phải chia giáo phận Ngày 9 tháng 3 năm 1936 chiếu thư Toà thánh chia giáo phận Bùi Chu, lấy một phần đất tỉnh

Hưng Yên và Thái Bình để thành lập giáo phận mới là giáo phận Thái Bình, do

cha Juan Casado Thuận làm giám mục Năm 1937, giáo phận đã phát triển mạnh: giáo dân từ 130.000 lên đến 140.000, giáo sĩ từ 67 lên 81.14

Ngày 10/1/1933, cha Nguyễn Bá Tòng được sắc Toà thánh phong Giám mục phó với quyền kế vị Đại diện Tông toà Phát Diệm; chức giám mục tiên khởi Việt Nam

Giáo phận Lạng Sơn được thành lập xuất phát từ các cha Đa Minh tỉnh

dòng Lyon (Pháp) đến Việt Nam Tới Việt Nam, các cha được phân khu vực hoạt động là Lạng Sơn và Cao Bằng; những năm tháng đầu tiên với rất nhiều khó khăn các cha bắt đầu lập những họ đạo, cơ sở tôn giáo là những ngôi nhà lợp lá tranh vách đất Ba năm sau Toà thánh uỷ thác cho các cha Đa Minh “phủ doãn Lạng Sơn-Cao Bằng” Hạt phủ doãn bao gồm Lạng Sơn và Cao Bằng, nửa tỉnh Hà Giang có 12000 dân Việt và 6000 người Hoa, 270000 dân thổ… có nhiều sắc tộc khác nhau nên việc truyền đạo càng khó khăn, mỗi dân tộc là một thứ tiếng khác

Trang 36

nhau Sau một thời gian phát triển, Toà thánh đã nâng phủ doãn lên hàng giáo phận trong chiếu thư ngày 11/7/1939 do Đức cha Hedde Minh làm giám mục

Từ năm 1939 đến năm 1945, tình hình trên thế giới cũng như ở Việt Nam

có nhiều biến động, chiến tranh thế giới hai bùng nổ, Pháp chính quốc đã đầu hàng phát xít Đức từ năm 1940, ở Đông Dương phát xít Nhật tràn vào và làm chủ Đông Dương từ năm 1940 Các Thừa sai Pháp bị Nhật dồn vào sống tập trung để quản

lý, còn các Thừa sai Tây Ban Nha được Nhật kiêng nể do khi đó Tây Ban Nha đang dưới quyền tướng Franco người được coi là bạn của Đức - Nhật Tuy nhiên không bao lâu sau quân Phát xít thua quân Đồng Minh, và ở Đông Dương quân đội Việt Minh tiến vào giải phóng thủ đô làm chủ, thành lập nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hoà Trong những ngày tháng đầu độc lập giáo dân Việt Nam cùng chung vui với hoà bình đất nước, xuống đường mít tinh mừng ngày độc lập cũng như phản đối Pháp quay lại Việt Nam

Như vậy, truyền đạo là xứ mệnh thiêng liêng của mọi tôn giáo, không một tôn giáo nào lại tự bó hẹp mình trong một vùng lãnh thổ, một quốc gia, một tộc người Thiên Chúa giáo cũng như những tôn giáo đã du nhập vào nước ta thời Bắc thuộc vậy, theo quy luật tự nhiên nó được truyền bá vào nước ta Tuy nhiên, truyền bá và tiếp nhận là hai quá trình đồng hành với nhau nhưng khác nhau, tuỳ theo mục đích hay phương pháp mà nó được tiếp nhận hay bị tẩy chay Thiên Chúa giáo du nhập vào nước ta - một đất nước có bề dày lịch sử và nền văn hoá lâu đời với lớp văn hoá bản địa cùng với những tôn giáo ngoại nhập đại diện cho nền văn hoá phương Đông như: Nho, Đạo, Phật đã xác định vị thế ảnh hưởng rất sâu đậm của nó trên vùng đất này Điều này có nghĩa, Thiên Chúa giáo vào vùng đất đã được khai hoang, nó phải có sự thích nghi để tồn tại và biến đổi dần để phát triển với nền văn hoá có những quan niệm khác biệt so với Thiên Chúa giáo Trong thời kỳ đầu mới phôi thai hình thành, việc truyền và phát triển đạo còn hạn chế do những khác biệt về ngôn ngữ, về khí hậu, về phong tục tập quán, cho nên trong thời kỳ này chỉ là những bước đầu thăm dò vùng đất mới của những giáo sĩ nước ngoài người Bồ Đào Nha Trong những thế kỷ XVII, XVIII Thiên Chúa giáo

Trang 37

tiếp tục phát triển, từng bước một các địa phận được thành lập cả ở Đàng Trong và Đàng Ngoài, sau đó càng chia nhỏ hơn các địa phận thành các giáo phận, giáo xứ

và các họ đạo tất cả thành một hệ thống đơn giản gọn nhẹ và dễ quản lý với những thứ bậc trong hàng giáo sĩ lần lượt được thành lập để cai quản các họ đạo, xứ đạo

ấy Trong từng địa phận có một Đức giám mục coi sóc toàn địa phận, dưới đó là các linh mục trông coi, quản lý các giáo xứ, họ đạo, bên cạnh đó còn có các thầy sáu giúp việc… ngoài việc trông coi quản lý các giáo xứ của các linh mục, thì việc thành lập các Chủng viện cũng như các dòng tu đào tạo những nhà truyền giáo mới được chú trọng phát triển; bên cạnh đó mỗi dòng tu có một lĩnh vực hoạt động chuyên sâu của mình: giáo dục, y tế, từ thiện… đã phát triển đạo Thiên Chúa ngày càng lan rộng ra đi sâu vào dân tộc Việt Sang thời Pháp thuộc, dưới áp lực của thực dân Pháp triều đình Huế phải bãi bỏ các lệnh cấm đạo, cho Thiên Chúa giáo được tự do phát triển, giáo dân được tự do theo đạo… chính trong những điều kiện thuận lợi này, hàng loạt các giáo phận ở Bắc kỳ và Trung, Nam kỳ được thành lập cùng với việc xây dựng các thánh đường, nguyện đường, hàng giáo phẩm Việt Nam được thành lập và nội dung truyền đạo đã hướng vào việc hội nhập với văn hoá dân tộc Tóm lại, qua hơn 300 năm từ khi du nhập vào nước ta cho tới hết thời Pháp thuộc, Thiên Chúa giáo với những thăng trầm của lịch sử dân tộc nó đã dần trở thành một tôn giáo chiếm vị trí đáng quan tâm trong đời sống văn hoá, tư tưởng của một bộ phận dân tộc; vì những ảnh hưởng của nó trong đời sống của con người và văn hoá Việt Nam

1.3: Sự hình thành và phát triển của hai giáo phận Bùi Chu và Phát Diệm

1.3.1: Giáo phận Bùi Chu

Giáo phận Bùi Chu cho đến bây giờ vẫn được coi là nơi đầu tiên đón nhận

“Tin mừng” tại Việt Nam Giáo phận Bùi Chu hiện nay nằm gọn trong tỉnh Nam Định bao gồm 6 huyện (Xuân Trường, Giao Thủy, Hải Hậu, Nam Trực, Trực Ninh, Nghĩa Hưng) và khu vực Khoái Đồng – thành phố Nam Định Phía Đông Bắc giáp giáo phận Thái Bình, phía Tây Bắc là sông Đào nối sông Hồng với sông

Trang 38

Đáy, phân ranh giới với giáo phận Hà Nội và phía Tây Nam là giáo phận Phát

Diệm, phía Đông Nam là biển Đông

Diện tích địa phận Bùi Chu hiện nay vào khoảng 1271 km2, theo niên giám Tòa thánh năm 1995 hay 1350 km2 theo số liệu của Tòa giám mục Bùi Chu Sự sai biệt gần 80 km2 là do phù sa sông Hồng và sông Ninh Cơ bồi đắp hàng năm

Bùi Chu là vùng đất bồi của châu thổ sông Hồng cho nên địa thế bằng phẳng, không có đồi núi hay rừng rú, toàn là đồng ruộng, bãi dâu và vườn ngô Nhiều nhất là ruộng lúa Vốn nằm sát vùng biển nên lắm sông nhiều lạch như sông Hồng, sông Đáy, sông Ninh Cơ và sông Vị Hoàng tức sông Nam Định Đây cũng

là ranh giới thiên nhiên giữa Bùi Chu với các vùng lân cận Những con sông lớn trên đều in đậm dấu vết những hành trình rao giảng Tin mừng của các nhà truyền giáo

Địa phận Bùi Chu trước khi có hình thức như ngày nay, đã lần lượt là thành phần của các địa phận: địa phận Đàng ngoài, địa phận Đông, và địa phận Trung

Địa phận Đàng ngoài được thành lập từ năm 1659 với ranh giới từ Quảng Bình trở ra hết miền Bắc

Địa phận Đông tách ra từ địa phận Đàng ngoài vào năm 1679 ở tả ngạn sông Hồng và sông Lô ra tới Vịnh Bắc bộ

Địa phận Trung tách ra từ địa phận Đông vào năm 1848, lãnh thổ gồm một phần tỉnh Hưng Yên và các phủ Thái Bình, Kiến Xương, Xuân Trường, Nghĩa Hưng của Nam Định Ngày 3/12/1924 Tòa thánh ban hành sắc lệnh tất cả các địa phận Đông Dương sẽ mang tên nơi định sở của Tòa Giám mục Do đó địa phận Trung chính thức đổi tên thành địa phận Bùi Chu Trước năm 1924, tòa giám mục địa phận Trung thường tọa lạc ở làng Bùi Chu hay các làng bên cạnh nên giáo hữu quen gọi là địa phận Bùi Chu

Về sắc chỉ thành lập, việc thành lập giáo phận Bùi Chu đã được tòa thánh chính thức ban sắc ba lần:

Trước hết ngày 5-9-1848 với sắc lệnh Apostotatus Officium, Đức Giáo hoàng Piô IV công bố giáo phận đông Đàng Ngoài thành hai: giáo phận Trung

Trang 39

(Bùi Chu) gồm hai tỉnh Hưng Yên, Thái Bình và 2/3 tỉnh Nam Định Phần còn lại mang tên cũ là giáo phận Đông

Ngày 3-12-1924, Lễ Thánh Phanxico Xavie, bổn mạng các xứ truyền giáo, bổn mạng các xứ truyền giáo, thể theo nguyện vọng của các đấng bản quyền Đông Dương, qua sắc lệnh Ordinarie Indosinensis, Đức Giáo hoàng Pio XI đổi danh xưng địa dư ra danh xưng địa phương: Giáo phận Trung ra Bùi Chu, giáo phận Đông ra Hải Phòng, giáo phận Tây ra Hà Nội

Ngày 9-3-1936, một biến cố lịch sử vẻ vang, cũng Đức Giáo hoàng Pio XI

đã ban Sắc lệnh Proecipuas inter Apostolicas quyết định chia giáo phận Bùi Chu, lấy lãnh thổ tỉnh Thái Bình và Hưng Yên để thành lập giáo phận Thái Bình Phần còn lại vẫn giữ nguyên tên giáo phận Bùi Chu và được trao cho hàng giáo sĩ bản quốc coi sóc Như vậy, lịch sử giáo phận Bùi Chu sang trang mới

Cùng với sự phát triển của lịch sử giáo phận Bùi Chu đã phát triển ngày càng hoàn thiện, hình thành nên một quần thể kiến trúc đồ sộ, độc đáo với rất nhiều các nhà thờ và đền thánh

- Nhà thờ Chính tòa Bùi Chu: Nhà thờ được xây dựng từ thời Đức cha Wenceslao Onate Thuận ( 1884), chiều dàu 78m, rộng 22m, cao 15m Trải qua hơn 100 năm, ngôi nhà thờ nay vẫn đứng vững với những cột lim và những đường nét hoa văn, thật xứng đáng là nhà thờ mẹ của các nhà thờ trong giáo phận

- Đền thánh Phú Nhai với diện tích 2160m2, dài 80m, rộng 27m, cao 30m, tháp cao 44m, được xây theo lối kiến trúc Gothique thật nguy nga tráng lệ là biểu tượng lòng yêu mến Đức Mẹ của con cái Bùi Chu

- Đền các Thánh Tử Đạo Quần Phương dành kính các thánh Tử đạo nói chung và cách riêng các thánh tử đạo quê hương Bùi Chu Đền thánh dài 60m, rộng 21m, cánh 37m, cao 18m, tháp 34m Đền Thánh như một lời hứa âm thầm của con cháu Bùi Chu rằng: sẽ cương quyết bước tiếp cha ông, sống đức tin, làm chứng cho Tin Mừng giữa lòng thời đại

Trang 40

- Đền thánh Ninh Cường nằm trên mảnh đất phù sa màu mỡ cạnh bờ sông Ninh Cơ, nơi đây vinh dự được đón vị truyền giáo Inikhu theo Khâm Định Việt Sử ghi Năm 1998, Đức cha Giuse Maria Vũ Duy Nhất đã xức dầu thánh hiến và dâng đền thánh để cảm tạ và ghi ơn Đức Mẹ Mân Côi đã phù trợ giáo phận được bình

an trải qua những ngày sóng gió bão táp

- Đền Thánh Kiên Lao và Sa Châu được Đức cha Giuse Maria Vũ Duy Thống xức dầu hiến thánh nâng lên Đền Thánh năm 1997 Đền Thánh Kiên Lao dành riêng để kính Thánh Gia Thất, còn Đền Thánh Sa Châu dành để kính Thánh Giuse Công Nhân

Ngày nay giáo phận Bùi Chu đã có 13 hạt và 128 giáo sứ

- Hạt Báo Đáp, (Nam Trực – Nam Định) gồm 7 giáo sứ

- Hạt Bùi Chu (Xuân Trường – Nam Đinh) gồm 10 giáo sứ

- Hạt Đại Đồng (Giao Thủy – Nam Định) gồm 8 giáo sứ

- Hạt Kiên Chính (Hải Hậu – Nam Định) gồm 12 giáo sứ

- Hạt Lạc Đạo (Nghĩa Hưng – Nam Định) gồm 9 giáo sứ

- Hạt Liễu Đề (Nghĩa Hưng – Nam Định) gồm 11 giáo sứ

- Hạt Ninh Cường (Trực Ninh – Nam Định) gồm 9 giáo sứ

- Hạt Phú Nhai (Xuân Trường – Nam Định) gồm 9 giáo sứ

- Hạt Quần Phương (Hải Hậu – Nam Định) gồm 11 giáo sứ

- Hạt Quỹ Nhất (Nghĩa Hưng – Nam Định) gồm 12 giáo sứ

- Hạt Thức Hóa (Giao Thủy – Nam Định) gồm 7 giáo sứ

- Hạt Tương Nam (Trực Ninh – Nam Định) gồm 10 giáo sứ

- Hạt Tứ Trùng (Hải Hậu – Nam Định) gồm 13 giáo sứ

Ngày đăng: 02/04/2021, 00:05

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Alexandre De Rhodes (1994), Hành trình và truyền giáo, Uỷ ban Đoàn kết công giáo thành phố Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hành trình và truyền giáo
Tác giả: Alexandre De Rhodes
Năm: 1994
2. Trần Lâm Bền, Một con đường tiếp cận lịch sử, Nxb Văn Hoá Dân Tộc Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một con đường tiếp cận lịch sử
Nhà XB: Nxb Văn Hoá Dân Tộc
3. Trần Lâm Biền (1996), Chùa Việt, Nxb Văn Hoá Thông Tin, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chùa Việt
Tác giả: Trần Lâm Biền
Nhà XB: Nxb Văn Hoá Thông Tin
Năm: 1996
4. Nguyễn Bình, Nguyễn Hồng Dương (1994), “những kiến trúc mang đậm tính dân tộc của một số nhà thờ Công giáo Việt Nam (chủ yếu qua nhà thờ Phát Diệm)”, tạp chí Dân Tộc học, (4), tr 7-14 Sách, tạp chí
Tiêu đề: những kiến trúc mang đậm tính dân tộc của một số nhà thờ Công giáo Việt Nam (chủ yếu qua nhà thờ Phát Diệm)”, "tạp chí Dân Tộc học
Tác giả: Nguyễn Bình, Nguyễn Hồng Dương
Năm: 1994
5. Trường Đại học kiến trúc Hà Nội, KTS.TS Trần Trọng Chi (2003), Lược sử kiến trúc thế giới, Nxb Xây Dựng, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lược sử kiến trúc thế giới
Tác giả: Trường Đại học kiến trúc Hà Nội, KTS.TS Trần Trọng Chi
Nhà XB: Nxb Xây Dựng
Năm: 2003
7. Nguyễn Hồng Dương (2003), Nhà thờ Công giáo Việt Nam, Nxb Khoa học Xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nhà thờ Công giáo Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Hồng Dương
Nhà XB: Nxb Khoa học Xã hội
Năm: 2003
8. Trần Văn Giàu (1993), Sự phát triển của tư tưởng ở Việt Nam từ thế kỷ XIX đến Cách mạng tháng Tám, hệ ý thức phong kiến và sự thất bại của nó trước các nhiệm vụ lịch sử, tập 1, Nxb tp. Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Trần Văn Giàu (1993), "Sự phát triển của tư tưởng ở Việt Nam từ thế kỷ XIX đến Cách mạng tháng Tám, hệ ý thức phong kiến và sự thất bại của nó trước các nhiệm vụ lịch sử
Tác giả: Trần Văn Giàu
Nhà XB: Nxb tp. Hồ Chí Minh
Năm: 1993
9. Hội đồng Giám mục Việt Nam, kiên Uỷ ban giám mục về văn hoá, phụng tự, truyền giáo, thánh nhạc và nghệ thuật thánh. Kinh nghiệm hội nhập văn hoá trong nếp sống Kitô giáo tại Việt Nam. (tài liệu hội thảo 14 và 15-5- 2003) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kinh nghiệm hội nhập văn hoá trong nếp sống Kitô giáo tại Việt Nam
10. Trường Đại học Xây Dựng-khoa kiến trúc và quy hoạch. Bộ môn lý thuyết và lịch sử kiến trúc; PGS.TS Đặng Thái Hoàng, TSKH.KTS Nguyễn Văn Đình (2006), Giáo trình lịch sử kiến trúc thế giới, tập 1, Nxb Xây Dựng, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình lịch sử kiến trúc thế giới
Tác giả: Trường Đại học Xây Dựng-khoa kiến trúc và quy hoạch. Bộ môn lý thuyết và lịch sử kiến trúc; PGS.TS Đặng Thái Hoàng, TSKH.KTS Nguyễn Văn Đình
Nhà XB: Nxb Xây Dựng
Năm: 2006
11. Đặng Thái Hoàng (2000), Kiến trúc và người kiến trúc sư qua các thời đại, Nxb Xây Dựng, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kiến trúc và người kiến trúc sư qua các thời đại
Tác giả: Đặng Thái Hoàng
Nhà XB: Nxb Xây Dựng
Năm: 2000
12. Đặng Thái Hoàng, Sáng tác kiến trúc, Nxb Khoa Học và Kỹ Thuật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sáng tác kiến trúc
Nhà XB: Nxb Khoa Học và Kỹ Thuật
13. Lê Phụng Hoàng, Hà Bích Liên-Trần Hồng Ngọc (1998), Các công trình kiến trúc nổi tiếng trong lịch sử thế giới cổ trung đại, Nxb Giáo Dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các công trình kiến trúc nổi tiếng trong lịch sử thế giới cổ trung đại
Tác giả: Lê Phụng Hoàng, Hà Bích Liên-Trần Hồng Ngọc
Nhà XB: Nxb Giáo Dục
Năm: 1998
14. Linh mục Trần Đức Huynh (2000), Lịch sử địa phận Bùi Chu, Nxb Hội Ái Hữu Bùi Chu tại Hoa Kỳ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sử địa phận Bùi Chu
Tác giả: Linh mục Trần Đức Huynh
Nhà XB: Nxb Hội Ái Hữu Bùi Chu tại Hoa Kỳ
Năm: 2000
15. Vũ Ngọc Khánh (2006), Chùa cổ Việt Nam, Nxb Thanh Niên, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chùa cổ Việt Nam
Tác giả: Vũ Ngọc Khánh
Nhà XB: Nxb Thanh Niên
Năm: 2006
16. Viện nghiên cứu tôn giáo, Nguyễn Văn Kiệm, Sự du nhập của đạo Thiên Chúa giáo vào Việt Nam từ thế kỷ XVII đến thế kỷ XIX, Hội nghị khoa học lịch sử Việt Nam trung tâm UNESCO bảo tồn và phát triển văn hoá dân tộc Việt Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sự du nhập của đạo Thiên Chúa giáo vào Việt Nam từ thế kỷ XVII đến thế kỷ XIX
17. Vũ Tam Lang (1999), Kiến trúc cổ Việt Nam, Nxb Xây Dựng Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kiến trúc cổ Việt Nam
Tác giả: Vũ Tam Lang
Nhà XB: Nxb Xây Dựng
Năm: 1999
18. Phan Ngọc (2006), Sự tiếp xúc văn hoá Việt Nam với Pháp, Nxb Văn Hoá Thông Tin và Viện Văn Hoá, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sự tiếp xúc văn hoá Việt Nam với Pháp
Tác giả: Phan Ngọc
Nhà XB: Nxb Văn Hoá Thông Tin và Viện Văn Hoá
Năm: 2006
19. Nxb Tp. Hồ Chí Minh, công ty phát hành sách Tp Hồ Chí Minh, Nhà thờ Công giáo ở Việt Nam - kiến trúc và lịch sử Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nxb Tp. Hồ Chí Minh, công ty phát hành sách Tp Hồ Chí Minh
Nhà XB: Nxb Tp. Hồ Chí Minh
20. GS, Ngô Huy Quỳnh (2000), tìm hiểu lịch sử kiến trúc Việt Nam, Nxb Xây Dựng, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: tìm hiểu lịch sử kiến trúc Việt Nam
Tác giả: GS, Ngô Huy Quỳnh
Nhà XB: Nxb Xây Dựng
Năm: 2000
21. Lm. Bùi Đức Sinh (1999), Lịch sử giáo hội Công giáo, Veritus Edition Calgary_Canada Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sử giáo hội Công giáo
Tác giả: Lm. Bùi Đức Sinh
Năm: 1999

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w