1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Đánh giá tiềm năng và định hướng phát triển du lịch sinh thái khu vực đèo qua dãy hòn giao (khánh hòa lâm đồng) công trình dự thi giải thưởng sinh viên nghiên cứu khoa học năm 2008

112 65 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 112
Dung lượng 17,72 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

TÓM TẮT CÔNG TRÌNHCông trình nghiên cứu khoa học: “Đánh giá tiềm năng và định hướng phát triển du lịch sinh thái khu vực đèo qua dãy Hòn Giao Khánh Hòa – Lâm Đồng” do nhóm chúng tôi thực

Trang 1

GIẢI THƯỞNG “SINH VIÊN NGHIÊN CỨU KHOA HỌC”

NĂM 2008



Tên công trình:

ĐÁNH GIÁ TIỀM NĂNG VÀ ĐỊNH HƯỚNG

PHÁT TRIỂN DU LỊCH SINH THÁI KHU VỰC ĐÈO QUA DÃY HÒN GIAO

(KHÁNH HÒA – LÂM ĐỒNG)

Thuộc nhóm ngành: Khoa học Xã hội 2b (XH2b)

TP HỒ CHÍ MINH, THÁNG 08 NĂM 2008

Trang 2

CÔNG TRÌNH DỰ THI GIẢI THƯỞNG “SINH VIÊN NGHIÊN CỨU KHOA HỌC”

NĂM 2008

 Tên công trình:

ĐÁNH GIÁ TIỀM NĂNG VÀ ĐỊNH HƯỚNG

PHÁT TRIỂN DU LỊCH SINH THÁI

KHU VỰC ĐÈO QUA DÃY HÒN GIAO

(KHÁNH HÒA – LÂM ĐỒNG)

Thuộc nhóm ngành: Khoa học Xã hội 2b (XH2b)

Người hướng dẫn : ThS Nguyễn Văn Hoàng

Nhóm thực hiện:

Nguyễn Hữu Duy Viễn chủ nhiệm

Tham gia:

Nguyễn Hà Giang Đồng Nguyên Khôi

Lê Thị Tường Vi

Hà Nguyễn Thuỳ Đoan

Tp Hồ Chí Minh, tháng 08 năm 2008

Trang 3

MỤC LỤC

ĐẶT VẤN ĐỀ 2

1 TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI 2

2 TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU ĐỀ TÀI 2

3 ĐÓNG GÓP MỚI CỦA ĐỀ TÀI 3

4 MỤC TIÊU CỦA ĐỀ TÀI 3

4.1 MỤC TIÊU TỔNG QUÁT 3

4.2 MỤC TIÊU CỤ THỂ 4

5 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 4

6 GIỚI HẠN CỦA ĐỀ TÀI 6

6.1 VỀ THỜI GIAN 6

6.2 VỀ KHÔNG GIAN 6

6.3 VỀ NỘI DUNG NGHIÊN CỨU 6

7 Ý NGHĨA THỰC TIỄN 6

CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ TỔNG QUAN KHU VỰC NGHIÊN CỨU 8

1 CƠ SỞ LÍ LUẬN 8

1.1 CÁC KHÁI NIỆM CƠ BẢN 8

1.1.1 Du lịch sinh thái 8

1.1.2 Phát triển bền vững 9

1.1.3 Du lịch bền vững 9

1.2 QUAN ĐIỂM CHUNG VỀ PHÁT TRIỂN DU LỊCH SINH THÁI VÀ PHÁT TRIỂN DU LỊCH BỀN VỮNG 10

1.3 NGUYÊN TẮC CƠ BẢN VỀ PHÁT TRIỂN DU LỊCH SINH THÁI VÀ PHÁT TRIỂN DU LỊCH BỀN VỮNG 10

1.3.1 Nguyên tắc cơ bản về phát triển du lịch sinh thái 10

1.3.2 Nguyên tắc cơ bản về phát triển du lịch bền vững 11

1.4 CÁC YÊU CẦU CƠ BẢN CỦA DU LỊCH SINH THÁI 11

1.4.1 Phải có hệ sinh thái đặc thù 12

1.4.2 Phải có nguồn nhân lực chuyên môn 12

1.4.3 Phải có khách du lịch sinh thái 13

1.5 CƠ SỞ ĐÁNH GIÁ TIỀM NĂNG DU LỊCH SINH THÁI 13

1.5.1 Nội dung đánh giá 13

1.5.2 Phương pháp đánh giá 13

1.5.3 Các chỉ tiêu đánh giá tiềm năng du lịch sinh thái 13

1.5.4 Điểm số và hệ số cấp bậc 18

1.5.5 Điểm đánh giá và kết quả đánh giá 18

2 TỔNG QUAN KHU VỰC NGHIÊN CỨU 21

2.1 ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN 21

2.1.1 Vị trí địa lí 21

2.1.2 Địa hình 22

2.1.3 Khí hậu 22

2.1.4 Thổ nhưỡng 24

Trang 4

2.1.5 Thủy văn 25

2.1.6 Hệ động - thực vật 26

2.2 ĐIỀU KIỆN KINH TẾ- XÃ HỘI 27

2.2.1 Lịch sử hình thành con đường Khánh Lê - Đạ Chais 27

2.2.2 Dân cư, dân tộc và nguồn lao động 29

2.2.3 Đặc điểm hoạt động kinh tế 33

2.2.4 Hệ thống hạ tầng xã hội 34

2.3 NGUỒN GỐC MỘT SỐ ĐỊA DANH LIÊN QUAN 34

2.3.1 Bidoup 34

2.3.2 Núi Bà 35

2.3.3 Hòn Giao 35

2.3.4 Cao nguyên Lang Biang và sông Đạ Nhim 35

CHƯƠNG II: ĐÁNH GIÁ TIỀM NĂNGDU LỊCH SINH THÁIKHU VỰC ĐÈO QUA DÃY HÒN GIAO 37

1 CÁC TIỀM NĂNG DU LỊCH SINH THÁI KHU VỰC ĐÈO QUA DÃY HÒN GIAO 37

1.1 TÀI NGUYÊN DU LỊCH SINH THÁI 37

1.1.1 Tài nguyên về tự nhiên 37

1.1.2 Tài nguyên du lịch nhân văn 50

1.2 NGUỒN NHÂN LỰC 53

1.3 NGUỒN VỐN ĐẦU TƯ 54

1.4 HỆ THỐNG CƠ SỞ HẠ TẦNG – KĨ THUẬT 55

1.4.1 Hệ thống giao thông 55

1.4.2 Hệ thống điện năng – bưu điện 55

1.5 CƠ SỞ DỊCH VỤ PHỤC VỤ DU KHÁCH 56

1.5.1 Cơ sở lưu trú 56

1.5.2 Cơ sở ăn uống 56

1.6 CHÍNH SÁCH PHÁT TRIỂN DU LỊCH KHÁNH HÒA – LÂM ĐỒNG 2006-2010 VÀ ĐỊNH HƯỚNG ĐẾN 2020 56

1.6.1 Quan điểm và mục tiêu 56

1.6.2 Các chính sách phát triển 57

2 ĐÁNH GIÁ TIỀM NĂNG DU LỊCH SINH THÁI KHU VỰC ĐÈO QUA DÃY HÒN GIAO 61

2.1 ĐÁNH GIÁ THEO HỆ THỐNG CHỈ TIÊU 61

2.1.1 Khả năng thu hút khách 62

2.1.2 Khả năng khai thác và quản lí 64

2.2 KẾT QUẢ ĐÁNH GIÁ TỔNG HỢP 66

CHƯƠNG III: ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂNDU LỊCH SINH THÁIKHU VỰC ĐÈO QUA DÃY HÒN GIAO 69

1 HIỆN TRẠNG HOẠT ĐỘNG DU LỊCH SINH THÁI KHU VỰC ĐÈO QUA DÃY HÒN GIAO 69

1.1 CÔNG TÁC TỔ CHỨC VÀ QUẢN LÍ 69

1.2 HOẠT ĐỘNG KHAI THÁC TÀI NGUYÊN DU LỊCH SINH THÁI 69

Trang 5

2 ĐỊNH HƯỚNG CHUNG VỀ PHÁT TRIỂN DU LỊCH SINH THÁI KHU VỰC

ĐÈO QUA DÃY HÒN GIAO 70

2.1 ĐỊNH HƯỚNG KHÔNG GIAN 70

2.1.1 Phân khu phát triển hạn chế 70

2.1.2 Phân khu bảo vệ nghiêm ngặt 71

2.1.3 Phân khu phòng hộ và phục hồi sinh thái 71

2.1.4 Phân khu hành chính và dịch vụ 71

2.2 ĐỊNH HƯỚNG NGUỒN KHÁCH 71

2.3 ĐỊNH HƯỚNG QUY HOẠCH TOUR – TUYẾN, TRẠM DỪNG CHÂN DU LỊCH VÀ CÁC SẢN PHẨM DU LỊCH 73

2.3.1 Các sản phẩm du lịch 73

2.3.2 Quy hoạch tour – tuyến 74

2.3.3 Quy hoạch trạm dừng chân du lịch 79

3 GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ VÀ PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG DU LỊCH TẠI KHU VỰC ĐÈO QUA DÃY HÒN GIAO 79

3.1 GIẢI PHÁP VỀ CƠ CHẾ CHÍNH SÁCH 82

3.2 GIẢI PHÁP VỀ QUY HOẠCH 83

3.2.1 Giải pháp về quy hoạch theo các phân khu 83

3.2.2 Giải pháp về quy hoạch theo các tuyến du lịch 84

3.3 GIẢI PHÁP VỀ ĐÀO TẠO NGUỒN NHÂN LỰC 85

3.4 GIẢI PHÁP VỀ QUẢN LÍ VÀ KIỂM TRA 86

3.4.1 Giải pháp về quản lí 86

3.4.2 Giải pháp về kiểm tra 87

3.5 GIẢI PHÁP VỀ CƠ SỞ HẠ TẦNG – VẬT CHẤT KĨ THUẬT 87

3.5.1 Cơ sở hạ tầng kĩ thuật 87

3.5.2 Cơ sở vật chất kĩ thuật 89

3.6 GIẢI PHÁP VỀ THỊ TRƯỜNG 90

3.6.1 Vấn đề sản phẩm và phân phối sản phẩm du lịch sinh thái 90

3.6.2 Vấn đề giá cả 91

3.6.3 Vấn đề quảng bá và tiếp thị 91

3.6.4 Vấn đề phân khúc thị trường 92

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 94

1 KẾT LUẬN 94

2 KIẾN NGHỊ 94 TÀI LIỆU THAM KHẢO I

PHẦN PHỤ LỤC III

1 PHỤ BẢNG 1 III

2 PHỤ BẢNG 2 V

3 PHỤ BẢNG 3 VII 4.PHỤ BẢNG 4 VIII

5 PHỤ BẢNG 5 X

Trang 6

DANH SÁCH BẢNG BIỂU - HÌNH ẢNH

1 BẢNG BIỂU

Bảng 0.1: Thống kê các lần thực địa thực tế 5

Bảng 1.1: Cơ sở xác định mức đánh giá cho các chỉ tiêu 15

Bảng 1.2: Kết quả đánh giá các tiềm năng du lịch sinh thái 19

Bảng 1.3: Tỉ lệ phần trăm của các mức đánh giá 19

Bảng 1.4: Thống kê số loài thực vật ở địa bàn khu vực đèo qua dãy Hòn Giao 26

Bảng 1.5: Thống kê thành phần động vật ở địa bàn khu vực đèo qua dãy Hòn Giao 27 Bảng 1.6: Tình hình dân số hai xã trên địa bàn khu vực đèo qua dãy Hòn Giao 30

Bảng 1.7: Thống kê các dân tộc tại khu vực đèo qua dãy Hòn Giao 32

Bảng 2.1: Nguồn tuyển sinh hàng năm các hệ Đại học và Cao đẳng tại các trường trên địa bàn hai thành phố Nha Trang và Đà Lạt 53

Bảng 2.2: Các dự án đầu tư trong lĩnh vực du lịch khu vực đèo qua dãy Hòn Giao 54

Bảng 2.3: Tổng hợp kết quả điều tra bảng hỏi 65

Bảng 2.4: Kết quả đánh giá tổng hợp tiềm năng phát triển du lịch sinh thái khu vực đèo qua dãy Hòn Giao 66

Bảng 3.1: Phân tích thực trạng 81

Bảng 3.2: Phân tích ma trận SWOT 82

2 HÌNH ẢNH: Sơ đồ 0.1: Hệ thống lãnh thổ du lịch 4

Sơ đồ 0.2: Sơ đồ thể hiện phương pháp ma trận SWOT 6

Sơ đồ 1.1: Sự cấu thành của du lịch sinh thái 9

Sơ đồ 1.2: Các yếu tố của sự phát triển của du lịch sinh thái 12

Biểu đồ 1.1: Cơ cấu thành phần dân tộc khu vực đèo qua dãy Hòn Giao 31

Biểu đồ 2.1: Cơ cấu vốn đầu tư du lịch khu vực đèo qua dãy Hòn Giao 2005-2007 55

Biểu đồ 2.2: Biểu đồ thể hiện tỉ lệ % kết quả thu thập từ bảng hỏi 66

Bản đồ 1.1: Bản đồ địa hình khu vực đèo qua dãy Hòn Giao 20

Bản đồ 3.1: Bản đồ quy hoạch tour – tuyến và điểm du lịch khu vực đèo qua dãy Hòn Giao 77

Lược đồ 3.1: Lược đồ định hướng không gian khu vực đèo qua dãy Hòn Giao 68

Hình 1.1: Không gian khu vực đèo qua dãy Hòn Giao 23

Hình 1.2: Một số địa danh sông núi trên địa bàn khu vực 36

Hình 2.1: Sự đa dạng về các kiểu rừng tại khu vực đèo qua dãy Hòn Giao 38

Hình 2.2: Sự đa dạng về thành phần loài thực vật 41

Hình 2.3: Sự đa dạng về thành phần loài động vật 44

Hình 2.4: Tài nguyên suối – thác khu vực đèo qua dãy Hòn Giao 46

Hình 2.5: Một số hình ảnh về khí hậu tại khu vực đèo qua dãy Hòn Giao 49

Hình 2.6: Tài nguyên nhân văn khu vực đèo qua dãy Hòn Giao 52

Hình 3.1: Một số địa điểm dọc theo tuyến đường đèo 80

Trang 7

TÓM TẮT CÔNG TRÌNH

Công trình nghiên cứu khoa học: “Đánh giá tiềm năng và định hướng phát triển

du lịch sinh thái khu vực đèo qua dãy Hòn Giao (Khánh Hòa – Lâm Đồng)” do nhóm chúng tôi thực hiện nhằm mục tiêu chính là tập trung vào vấn đề đánh giá tiềm năng

về du lịch sinh thái tại khu vực đèo qua dãy Hòn Giao Trên cơ sở đó sẽ định hướng phát triển hoạt động du lịch sinh thái tại khu vực này nhằm phục vụ cho các mục đích thúc đẩy kinh tế - xã hội phát triển, nâng cao chất lượng đời sống cộng đồng, đồng thời góp phần cải thiện và bảo vệ tài nguyên môi trường

Công trình nghiên cứu của chúng tôi được trình bày trong 3 chương chính:

- Chương 1: Cơ sở lí luận và tổng quan về địa bàn nghiên cứu Trong chương này, chúng tôi tập trung trình bày các vấn đề về cơ sở lý luận như: các khái niệm cơ bản, quan điểm, nguyên tắc, yêu cầu của du lịch sinh thái và phát triển bền vững, cơ

sở đánh giá tiềm năng du lịch sinh thái và phát triển bền vững; những vấn đề tổng quan về địa bàn khu vực nghiên cứu: điều kiện tự nhiên bao gồm vị trí địa lí, địa hình, khí hậu, thổ nhưỡng, thủy văn, hệ động - thực vật; điều kiện kinh tế xã hội bao gồm lịch sử hình thành của con đường Khánh Lê – Đạ Chais, dân cư, dân tộc và nguồn lao động, đặc điểm hoạt động kinh tế, hệ thống hạ tầng xã hội; nguồn gốc một số địa danh nằm trên địa bàn khu vực nghiên cứu như: núi Bidoup, Núi Bà, núi Hòn Giao, cao nguyên Lang Biang và suối Đạ Nhim

- Chương 2: Đánh giá tiềm năng du lịch sinh thái khu vực đèo qua dãy Hòn Giao Trong chương này, chúng tôi tập trung làm rõ các tiềm năng du lịch sinh thái tại địa bàn nghiên cứu: gồm các tài nguyên du lịch sinh thái (tài nguyên tự nhiên và tài nguyên nhân văn), nguồn nhân lực, nguồn vốn đầu tư, cơ sở hạ tầng - kĩ thuật, cơ sở dịch vụ; sau đó căn cứ trên các tiềm năng của khu vực và dựa trên cơ sở lí luận, chúng tôi tiến hành đánh giá về các tiềm năng này của khu vực đối với việc phát triển du lịch sinh thái

- Chương 3: Định hướng phát triển du lịch sinh thái khu vực đèo qua dãy Hòn Giao Trong chương này, chúng tôi nêu ra những nét sơ lược về hiện trạng của hoạt động phát triển du lịch sinh thái tại địa bàn khu vực gồm công tác tổ chức và hoạt động khai thác các tài nguyên du lịch; dựa trên cơ sở đánh giá các tiềm năng ở chương 2, sự tham khảo ý kiến các chuyên gia của ngành du lịch tại 2 tỉnh Khánh Hòa

và Lâm Đồng, chúng tôi đưa ra các định hướng phát triển du lịch sinh thái tại địa bàn: gồm định hướng không gian, nguồn khách, quy hoạch tour tuyến, trạm dừng chân và các sản phẩm du lịch sinh thái; từ đó chúng tôi đưa ra các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả và phát triển bền vững du lịch sinh thái tại địa bàn khu vực nghiên cứu như: giải pháp về cơ chế chính sách, quy hoạch, đào tạo nguồn nhân lực, quản lí và kiểm tra, cơ sở hạ tầng vật chất kĩ thuật và thị trường

Phần kết luận và kiến nghị chúng tôi tổng kết lại những vấn đề đã trình bày trong nội dung chính và đưa ra các kiến nghị đối với các cơ quan ban ngành của hai tỉnh Khánh Hòa và Lâm Đồng trong việc phát triển du lịch sinh thái tại địa bàn

Trang 8

PHẦN THỨ NHẤT:

ĐẶT VẤN ĐỀ

Trang 9

ĐẶT VẤN ĐỀ

1 TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI

Vào ngày 27/04/2007, tại địa bàn giáp ranh giữa hai tỉnh Khánh Hòa và Lâm Đồng đã diễn ra một sự kiện quan trọng, có ý nghĩa vô cùng to lớn không những đối với việc phát triển du lịch của hai tỉnh mà còn có ý nghĩa thiết thực đối với ngành du lịch cả nước Đó chính là lễ khánh thành giai đoạn 1 dự án tuyến đường nối liền Nha Trang – Đà Lạt Sự kiện trên đã thổi làn gió mới đến với một miền đất mà cách đây không lâu vẫn còn là chốn thâm sơn hoang dã

Trước kia, để đi từ “thành phố biển” Nha Trang lên “thành phố hoa” Đà Lạt

phải đi về phía Nam theo Quốc lộ 1A đến thành phố Phan Rang – Tháp Chàm, sau đó vòng lên Quốc lộ 27 mới đến được Đà Lạt với hành trình dài hơn 215km Nhưng với

sự ra đời của tuyến đường trên, khoảng cách giữa hai thành phố du lịch Nha Trang (Khánh Hòa) và Đà Lạt (Lâm Đồng) đã được rút ngắn đáng kể, chỉ còn lại 126km, rút ngắn được 89km Con đường này đi qua ranh giới tự nhiên giữa hai huyện Khánh Vĩnh (Khánh Hòa) và huyện Lạc Dương (Lâm Đồng), vắt ngang qua dãy núi Hòn Giao cao hơn 2.000m Với những nét đặc thù đó, đây là một con đèo có địa thế khá hiểm trở với nhiều khúc quanh co, uốn lượn và là một trong những con đèo dài nhất Việt Nam hiện nay Do sự giao thoa giữa hai kiểu khí hậu cận nhiệt đới núi cao của

xứ sở cao nguyên và kiểu khí hậu nhiệt đới gió mùa ấm áp của miền duyên hải đã làm cho khu vực đèo xuất hiện sương mù vào nhiều thời điểm khác nhau trong ngày Hơn nữa, cung đường đèo lại đi ngang qua rất nhiều thác nước đẹp, một phần Vườn Quốc gia Bidoup – Núi Bà với thảm thực vật cùng hệ động vật hết sức phong phú và đa dạng

Với những điều kiện thuận lợi đó, khu vực đèo qua dãy Hòn Giao có những tiềm năng rất lớn cho việc phát triển hoạt động du lịch sinh thái Song, hiện nay các tiềm năng đó vẫn còn chưa được khai thác đúng mức Vấn đề đặt ra là ở chỗ: Làm thế nào để khai thác hiệu quả, nghĩa là vừa khai thác các tiềm năng đó để phục vụ cho du lịch sinh thái, đồng thời góp phần quan trọng cho việc bảo vệ các nguồn tài nguyên thiên nhiên, môi trường sinh thái, các giá trị văn hóa truyền thống cũng như mang lại lợi ích cho cộng đồng cư dân địa phương? Để thỏa mãn các yêu cầu đó, việc nghiên cứu địa bàn, dựa trên các cơ sở khoa học để đánh giá mức độ các tiềm năng, phân tích hiện trạng khai thác và sử dụng để đưa ra các định hướng và giải pháp thực hiện là một vấn đề đóng vai trò quyết định Một tiềm năng to lớn như thế nếu không được khai thác hợp lí thì thật sự là điều lãng phí rất lớn Vì những lí do đó, chúng tôi đã quyết định chọn và nghiên cứu về đề tài này

2 TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU ĐỀ TÀI

Với những đặc điểm tự nhiên hết sức phong phú và đa dạng, ngay từ xa xưa, khu vực này đã gây được sự chú ý đối với nhiều thành phần xã hội khác nhau Vào năm 1893, vị bác sĩ người Pháp gốc Thụy Sĩ Alexandre John Émile Yersin (1863 – 1943) khi tìm đường lên cao nguyên Lang Biang (Lâm Viên) đã từng đặt chân đến chân đến khu vực chân đèo qua dãy Hòn Giao hiện nay, nhưng sau đó phải quay ngược trở về Nha Trang theo đường cũ vì địa hình núi quá cao Từ đó đến thời điểm

Trang 10

hiện nay, theo những tài liệu đã thu thập, chúng tôi được biết rằng đã có một số nhà khoa học và các thành phần xã hội khác ở trong và ngoài nước nghiên cứu về khu vực này:

+ Đề án nghiên cứu “Khả năng xây dựng tuyến đường nối từ dải đất ven biển

Trung bộ với cao nguyên của người Thượng” của Toàn quyền Đông Dương Paul

Doumer vào năm 1905 Song, ý tưởng này không thể thực hiện được vì lí do địa hình khu vực này quá cao và hiểm trở

+ “Luận chứng khoa học về chuyển hạng Khu Bảo tồn thiên nhiên Bidoup – Núi Bà thành Vườn Quốc gia Bidoup – Núi Bà” do Phân viện điều tra Quy họach rừng

II trực thuộc Viện Điều tra quy hoạch rừng– Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn tiến hành Công trình khoa học này đã đánh giá được một cách khá khách quan về các tiềm năng to lớn của Vườn Quốc gia Bidoup – Núi Bà, trong đó đặc biệt là về vấn đề

hệ động - thực vật của Vườn Quốc gia Công trình này chủ yếu có giá trị về mặt sinh học

+ Công trình nghiên cứu “Hệ sinh thái tại khu vực Vườn Quốc gia Bidoup –

Núi Bà” của TS Tim J Brodribb– ĐH Tasmania (Australia) hiện đang được tiến

hành Tuy nhiên, mục đích chính của công trình nghiên cứu này chỉ phục vụ cho việc đánh giá về tính đa dạng sinh thái của Vườn Quốc gia, nhưng không xem xét vấn đề ở khía cạnh du lịch, do đó công trình này cũng có giá trị chủ yếu về mặt sinh học

+ Báo cáo khoa học “Đánh giá tiềm năng du lịch sinh thái tại Vườn quốc gia

Bidoup – Núi Bà” do Khoa Du lịch– Đại học Đà Lạt thực hiện Công trình đã đánh giá

được về các tiềm năng phát triển du lịch sinh thái tại Vườn Quốc gia và đưa ra các định hướng chung và đề xuất cụ thể để phát triển hoạt động du lịch sinh thái tại Vườn Quốc gia Bidoup – Núi Bà Trong các công trình nghiên cứu về địa bàn khu vực này, đây là công trình có ý nghĩa về mặt du lịch nhiều nhất Nhưng công trình này được báo các vào tháng 08/2006 khi tuyến đường Nha Trang – Đà Lạt đang được thi công

kĩ thuật, mặt khác lại tập trung và giới hạn địa bàn nghiên cứu trong khu vực Vườn Quốc gia, bởi vậy có nhiều điểm khác biệt với đề tài của chúng tôi về hướng và quy

mô địa bàn nghiên cứu

3 ĐÓNG GÓP MỚI CỦA ĐỀ TÀI

Tuyến đường nối liền thành phố Nha Trang và Đà Lạt đã hoàn thành việc thi công giai đoạn 1 và chính thức được thông xe kĩ thuật vào ngày 27/04/2007 Đề tài của nhóm chúng tôi tập trung vào việc đánh giá tiềm năng du lịch sinh thái của khu vực đèo qua dãy Hòn Giao, không gian nghiên cứu nằm trên cả hai địa bàn Khánh Hòa và Lâm Đồng Với vị trí chuyển tiếp giữa hai miền tự nhiên: miền biển Khánh Hòa và miền núi Lâm Đồng, đã tạo nên những nét độc đáo riêng mà ít nơi nào có được Cho đến thời điểm hiện tại, chưa có một công trình nào nghiên cứu về du lịch tại khu vực này được công bố chính thức Do vậy, vấn đề về việc đánh giá tiềm năng

và định hướng phát triển du lịch sinh thái tại khu vực đèo qua dãy Hòn Giao là một hướng nghiên cứu hoàn toàn mới

4 MỤC TIÊU CỦA ĐỀ TÀI

4.1 MỤC TIÊU TỔNG QUÁT

Mục tiêu chính của đề tài này tập trung vào vấn đề đánh giá tiềm năng về du lịch sinh thái tại khu vực đèo qua dãy Hòn Giao Trên cơ sở đó sẽ định hướng phát

Trang 11

triển hoạt động du lịch sinh thái tại khu vực này nhằm phục vụ cho các mục đích thúc đẩy kinh tế - xã hội phát triển, nâng cao chất lượng đời sống cộng đồng đồng thời góp phần cải thiện và bảo vệ tài nguyên môi trường

4.2 MỤC TIÊU CỤ THỂ

Trên cở sở mục tiêu tổng quát, các mục tiêu cụ thể được đặt ra:

+ Hệ thống hóa cơ sở lí luận về du lịch sinh thái và vấn đề phát triển bền vững + Xác định và đánh giá các tiềm năng du lịch sinh thái tại khu vực này

+ Phân tích sơ lược về công tác tổ chức quản lí và việc khai thác các tài nguyên

du lịch sinh thái tại khu vực trong thời gian qua

+ Bước đầu định hướng để hình thành các tour- tuyến và trạm dừng chân quy

mô nhỏ gắn với phát triển bền vững khu vực đèo qua dãy Hòn Giao trên lộ trình Nha Trang – Đà Lạt và ngược lại

5 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Để thực hiện đề tài khoa học này, chúng tôi đã vận dụng tổng hợp nhiều phương pháp nghiên cứu khác nhau, trong đó đáng chú ý là các phương pháp sau:

+ Phân tích hệ thống là một phương pháp quan trọng trong công tác nghiên cứu khoa học Địa lí Cũng giống như các hệ thống khác, lãnh thổ du lịch sinh thái là một

hệ thống phức tạp với nhiều thành phần khác nhau và có mối quan hệ chặt chẽ với nhau Việc phân tích hệ thống tốt sẽ cho ta một cái nhìn toàn diện hơn, sâu sắc hơn, là

cơ sở cho việc định hướng và đưa ra các giải pháp phù hợp

I Môi trường với các điều kiện phát sinh

II Hệ thống lãnh thổ du lịch sinh thái:

1) Phương tiện giao thông vận tải

2) Khách du lịch sinh thái 3) Cán bộ phục vụ

4) Tài nguyên du lịch 5) Công trình kĩ thuật

Mối liên hệ trong hệ thống

Mối liên hệ với hệ thống khác Mối liên hệ thông tin

Sơ đồ 0.1: Hệ thống lãnh thổ du lịch 1

+ Phân tích- tổng hợp là hai thao thác ngược chiều nhau nhưng có mối quan hệ mật thiết với nhau Phân tích là thao tác của tư duy phân chia sự vật và hiện tượng thành các thành tố - yếu tố có tính chất liên hệ và quan hệ với nhau để nghiên cứu Còn tổng hợp lại là thao tác tái hiện trong tư tưởng những mối liên hệ, quan hệ giữa các yếu tố, tính chất bộ phận hợp thành cái chỉnh thể thống nhất và toàn vẹn Đây là một phương pháp chung của nhiều ngành khoa học trong đó có Địa lí

1

Theo M Bwchơvarốp, 1975

Trang 12

+ Thu thập các tài liệu thứ cấp có liên quan đến khu vực đèo qua dãy Hòn Giao

từ các cơ quan, ban ngành các cấp của tỉnh Khánh Hòa và Lâm Đồng, từ mạng truyền thông và tiến hành chọn lọc, sắp xếp, liên kết hệ thống các nguồn tài liệu đã thu thập được

+ Nghiên cứu thực địa địa bàn dưới sự dẫn đường của chính quyền địa phương

và các nhân viên kiểm lâm của Vườn Quốc gia Bidoup- Núi Bà nhằm khảo sát về các tuyến đường, các buôn làng đồng bào dân tộc, hệ động- thực vật nằm trên địa bàn hai

xã Đạ Chais và Sơn Thái, trong đó trọng tâm là khu vực Klong Klanh và Hòn Giao của Đạ Chais, Bến Lội của Sơn Thái

STT Thời gian Nội dung công việc

Bảng 0.1: Thống kê các lần thực địa thực tế

+ Điều tra xã hội học thông qua bảng hỏi đối với các đối tượng có sự hiểu biết

về khu vực này Cụ thể, chúng tôi đã phát 200 bảng hỏi (phần phụ lục đính kèm) Qua

quá trình làm việc, số phiếu thu hồi lại là 182 (7 phiếu thất lạc và 11 phiếu không hợp lệ)

+ Phỏng vấn sâu đối với các chuyên viên Du lịch của Sở Du lịch – Thương mại Khánh Hòa và Lâm Đồng, của Vườn Quốc gia Bidoup – Núi Bà và các Hạt kiểm lâm

để thu thập về các nhận định, đánh giá về các tiềm năng du lịch sinh thái của khu vực

+ Nghiên cứu lãnh thổ khu vực thông qua các bản đồ địa hình tỉ lệ 1:25.000 được lấy nguồn từ Xí nghiệp Bản đồ Đà Lạt để rút ra các đặc điểm tổng quan về địa hình và thủy văn Ngoài ra, do hiện tại, chưa có bất kì một bản đồ du lịch nào chính thức và đầy đủ về khu vực này nên chúng tôi đã dựa trên cơ sở các mảnh bản đồ địa hình về khu vực này, kết hợp với sơ đồ dự án công trình đường nối liền Nha Trang –

Đà Lạt, các thông tin thu thập được từ việc khảo sát thực địa tại hai xã trong khu vực

đèo qua dãy Hòn Giao để thể hiện bản đồ về khu vực này (phần bản đồ đính kèm)

+ Sử dụng công cụ SWOT (Strengths – Weaknesses – Opportunities – Threats)

để phân tích thực trạng khu vực đèo qua dãy Hòn Giao Công cụ SWOT được khởi xướng bởi nhóm nghiên cứu Marion Dosher, TS Otis Benepe, Albet Humphrey, Robert Stewart và Birger Lie vào khoảng những năm 1960 -1970 Phân tích SWOT là thao tác phân tích các nguồn lực bên trong và bên ngoài tác động đến việc đạt được

Trang 13

các mục tiêu phát triển, gồm các yếu tố: điểm mạnh, điểm yếu (nguồn lực bên trong),

cơ hội và thách thức (nguồn lực bên ngoài) Trên cơ sở đó đưa ra những định hướng

phát triển du lịch sinh thái tại địa bàn khu vực

Sơ đồ 0.2: Sơ đồ thể hiện phương pháp ma trận SWOT

6 GIỚI HẠN CỦA ĐỀ TÀI

6.3 VỀ NỘI DUNG NGHIÊN CỨU

Khu vực đèo qua dãy Hòn Giao có những tiềm năng rất lớn cho sự phát triển của nhiều loại hình du lịch khác nhau như: du lịch nghỉ dưỡng, du lịch nghiên cứu khoa học, du lịch ngoạn cảnh, du lịch leo núi, du lịch mạo hiểm Phạm vi đề tài này tập trung cho việc nghiên cứu về loại hình du lịch sinh thái

7 Ý NGHĨA THỰC TIỄN

Khi thực hiện đề tài này, chúng tôi luôn trăn trở về khả năng áp dụng cho thực tiễn cuộc sống cũng như việc tham khảo trong học tập và nghiên cứu, trong đó các hướng chủ yếu mà chúng tôi hướng đến:

+ Góp phần cho Ủy ban Nhân dân và Sở Du lịch – Thương mại của các tỉnh Khánh Hòa và Lâm Đồng có một cách nhìn tổng quan hơn về những tiềm năng to lớn của khu vực này để có hướng phát triển du lịch thích hợp trong hiện tại và tương lai

+ Hình thành một tài liệu tham khảo cho sinh viên học các ngành có liên quan đến vấn đề du lịch

+ Tài liệu mang tính chất tham khảo cho các nhà quy hoạch, đầu tư phát triển

du lịch tại khu vực đèo qua dãy Hòn Giao này

Trang 14

PHẦN THỨ HAI:

GIẢI QUYẾT

VẤN ĐỀ

Trang 15

CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ TỔNG QUAN

KHU VỰC NGHIÊN CỨU

Khái niệm đầu tiên tương đối hoàn chỉnh về du lịch sinh thái đã được Hector

Ceballos- Lascuranin đưa ra vào năm 1987: “Du lịch sinh thái là du lịch đến những

khu vực thiên nhiên tương đối còn nguyên vẹn hoặc ít bị thay đổi với mục đích nghiên cứu, chiêm ngưỡng phong cảnh, cây cối, động vật hoang cũng như tất cả các biểu hiện văn hóa (trong quá khứ và hiện tại) có thể thấy được tại những khu vực này”

Đến năm 1991, một khái niệm khác về du lịch sinh thái đã được Wood đưa ra:

“Du lịch sinh thái là du lịch đến các khu vực còn tương đối hoang sơ với mục đích tìm

hiểu về lịch sử và văn hóa mà không thay đổi sự toàn vẹn các hệ sinh thái Đồng thời tạo ra những cơ hội về kinh tế để ủng hộ việc bảo tồn tự nhiên và mang lại lợi ích cho nhân dân địa phương”

Năm 1998, L Hens lại đưa ra một khái niệm khác về du lịch sinh thái: “Du lịch

sinh thái là du lịch tại các vùng còn chưa bị con người làm biến đổi Nó phải đóng góp vào bảo tồn thiên nhiên và phúc lợi của dân địa phương”

Theo Tổ chức Du lịch thế giới, chương trình của Liên hợp quốc về môi trường trong hội nghị thượng đỉnh quốc tế về du lịch sinh thái tại Québec vào năm 2002 thì

du lịch sinh thái có một số đặc điểm sau:

+ Du lịch sinh thái đóng góp một cách tích cực cho việc bảo vệ các di sản tự nhiên và văn hóa

+ Du lịch sinh thái đưa cộng đồng dân cư địa phương đến việc quy hoạch, phát triển và khai thác loại hình du lịch này, đồng thời đóng góp vào việc nâng cao cuộc sống của họ

+ Du lịch sinh thái cung cấp cho du khách sự diễn giải về di sản tự nhiên và văn hóa

+ Du lịch sinh thái phù hợp với du lịch cá nhân cũng như các chuyến du lịch được tổ chức cho các nhóm nhỏ

Từ các đặc điểm trên thì du lịch sinh thái bao gồm phát triển du lịch với các khía cạnh dựa vào thiên nhiên, khái niệm sinh học bền vững, giáo dục môi trường, thu nhập kinh tế cho dân cư địa phương và sự hài lòng của du khách Du lịch sinh thái có các hoạt động chính như: quan sát thiên nhiên, du lịch mạo hiểm ít tổn hại tới môi trường, các hoạt động liên quan đến thiên nhiên và tham quan các Vườn Quốc gia, Khu bảo tồn

1.1.1.2 Trong nước

Tại Việt Nam, Tổng cục Du lịch đã phối hợp với nhiều tổ chức quốc tế như ESCAP, WWF, IUCN… và sự đóng góp của các chuyên gia, các nhà khoa học quốc

Trang 16

tế và Việt Nam về du lich sinh thái và các lĩnh vực liên quan, tổ chức hội thảo quốc gia về: “Xây dựng chiến lược phát triển du lịch sinh thái ở Việt Nam”, diễn ra từ ngày

07 đến 09/09/1991 tại Hà Nội đã đưa ra định nghĩa về du lịch sinh thái: “Du lịch sinh

thái là loại hình du lịch dựa vào thiên nhiên và văn hóa bản địa gắn với giáo dục môi trường, có đóng góp cho nỗ lực bảo tồn và phát triển bền vững với sự tham gia tích cực của cộng đồng địa phương”

Đến năm 2000, GS-TSKH Lê Huy Bá cũng đã đưa ra một định nghĩa khác về

du lịch sinh thái: “Du lịch sinh thái là một loại hình du lịch lấy các hệ sinh thái đặc

thù, tự nhiên làm đối tượng để phục vụ cho những khách du lịch yêu thiên nhiên, du ngoạn, thưởng thức những cảnh quan hay nghiên cứu về các hệ sinh thái Đó cũng là hình thức kết hợp chặt chẽ, hài hòa giữa phát triển kinh tế du lịch với giới thiệu về những cảnh đẹp của quốc gia cũng như giáo dục tuyên truyền và bảo vệ, phát triển môi trường và tài nguyên thiên nhiên một cách bền vững”

Sơ đồ 1.1: Sự cấu thành của du lịch sinh thái 2

1.1.2 Phát triển bền vững

Khái niệm “phát triển bền vững” xuất hiện lần đầu tiên vào năm 1987 trong báo cáo “Tương lai của chúng ta” của Ủy ban Môi trường và Phát triển thuộc Ngân

hàng thế giới (WB) Theo đó, “Phát triển bền vững là thỏa mãn những nhu cầu của

hiện tại, nhưng không làm giảm khả năng thỏa mãn nhu cầu của các thế hệ sau”

Như vậy, “phát triển bền vững” không chỉ là phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội một cách bền vững nhờ khoa học công nghệ tiên tiến mà còn phải đảm bảo những điều kiện môi trường thiết yếu cho con người đang tồn tại và cho các thế hệ sẽ tồn tại.3

1.1.3 Du lịch bền vững

Người ta thường hay nhầm lẫn du lịch sinh thái là du lịch bền vững, vì du lịch bền vững cũng có những đặc điểm như du lịch sinh thái Nhưng thực tế, du lịch bền vững là lĩnh vực rộng lớn hơn du lịch sinh thái Trong thời đại ngày nay, tất cả mọi hoạt động cần trở nên được bền vững và du lịch cũng không nằm ngoài quy luật đó

Du lịch bền vững bao gồm tất cả các loại hình du lịch dù là nguồn từ các tài nguyên thiên nhiên hay tài nguyên do con người tạo ra Vì vậy, du lịch sinh thái chỉ là một phạm trù của du lịch bền vững

Trang 17

Theo Hội đồng Du lịch và Lữ hành thế giới, Tổ chức Du lịch thế giới và Hội

đồng Trái Đất (1999) thì: “Du lịch bền vững là một loại hình du lịch đáp ứng các nhu

cầu của du khách và các vùng đón tiếp mà vẫn bảo vệ và cải thiện được các nguồn tài nguyên cho tương lai Du lịch bền vững nhằm quản lí tất cả các nguồn tài nguyên sao cho có thể đáp ứng được nhu cầu về kinh tế và thẩm mĩ mà vẫn bảo toàn các giá trị văn hóa, đa dạng sinh học và môi trường sống”

1.2 QUAN ĐIỂM CHUNG VỀ PHÁT TRIỂN DU LỊCH SINH THÁI VÀ PHÁT TRIỂN DU LỊCH BỀN VỮNG

Khái niệm “du lịch bền vững” mới xuất hiện gần đây vì nó bắt nguồn từ khái niệm “phát triển bền vững” Sự ra đời của khái niệm “du lịch bền vững” là do hệ quả

từ việc lo lắng cho tương lai của các khu vực dễ bị tổn thương trên Trái Đất, nhất là các khu rừng nhiệt đới (Blangy- 1995) Như vậy, nhân tố môi trường đóng vai trò hết sức quan trọng đối với vấn đề phát triển du lịch bền vững

Quan điểm chung về phát triển du lịch bền vững đã được Tổ chức Du lịch thế giới đã đưa ra với ba tiêu chuẩn đặc trưng:

+ Nguồn tài nguyên môi trường phải được bảo vệ

+ Các cộng đồng địa phương phải được hưởng lợi về mặt thu nhập kinh tế và chất lượng cuộc sống từ loại hình du lịch này

+ Du khách nhận được những kinh nghiệm có chất lượng cao

Đây cũng chính là những tiêu chuẩn đầu tiên của quá trình phát triển hoạt động

du lịch sinh thái

1.3 NGUYÊN TẮC CƠ BẢN VỀ PHÁT TRIỂN DU LỊCH SINH THÁI VÀ PHÁT TRIỂN DU LỊCH BỀN VỮNG

1.3.1 Nguyên tắc cơ bản về phát triển du lịch sinh thái

Do đặc thù là một loại hình du lịch dựa vào các hệ sinh thái của tự nhiên làm đối tượng để phục vụ cho những nhu cầu khác nhau của du khách nên việc phát triển

du lịch sinh thái cần thiết phải có trách nhiệm đối với các hệ sinh thái này Việc phát triển bất kì hoạt động du lịch sinh thái nào cũng cần phải hướng đến sự kết hợp hài hòa giữa các mục tiêu: phát triển kinh tế du lịch và bảo vệ môi trường, đồng thời phải góp phần vào các phúc lợi cho xã hội Do đó, khi quy hoạch và phát triển hoạt động

du lịch sinh thái cần phải đáp ứng và thỏa mãn được bốn nguyên tắc cơ bản như sau:

+ Hòa nhập với thiên nhiên: mục tiêu hàng đầu mà du khách hướng đến khi đến với thiên nhiên hoang sơ là quan sát, chiêm ngưỡng, nghiên cứu vẻ đẹp kì thú của thế giới Vì vậy, mọi can thiệp thô bạo đối với tự nhiên đều bị nghiêm cấm Du lịch sinh thái lấy bảo tồn là hàng đầu và du lịch là thứ yếu hỗ trợ cho bảo tồn Để làm được điều này thì trong phát triển du lịch sinh thái phải hạn chế đến mức tối đa các can thiệp của con người, nếu có thì cũng chỉ được ở mức độ cho phép không làm ảnh hưởng đến sự thưởng ngoạn của du khách cũng như môi trường tự nhiên

+ Yếu tố thẩm mĩ “nhỏ là đẹp”: Du lịch sinh thái không yêu cầu quá đông du khách và phương tiện do đặc điểm riêng của nó Do vậy, cần xác định đúng khả năng tải sinh thái và các biện pháp điều tiết khách phù hợp như chia khách thành nhóm nhỏ, xen kẽ các kì đón khách với các kì đóng cửa hoàn toàn điểm du lịch để tái thiết trật tự của đời sống hoang dã, các trang thiết bị, cơ sở hạ tầng, nhà nghỉ trọng điểm du lịch phải thuộc loại đơn giản, ít tốn kém nhưng phải tiện nghi

Trang 18

+ Trách nhiệm của du lịch sinh thái là phải bảo tồn hệ tự nhiên, bảo tồn quan trọng hơn doanh thu du lịch Từ nguồn doanh thu du lịch phải đầu tư trở lại cho hoạt động bảo tồn tự nhiên một cách thích đáng Do đó, du khách thường phải trả phí cao

và có xu hướng đóng góp thêm cho bảo tồn

+ Bên cạnh đó, du lịch sinh thái phải đóng góp vào phúc lợi của cộng đồng địa phương như một hình thức đầu tư cho bảo tồn Nguồn phúc lợi được sử dụng cho phát triển cơ sở hạ tầng, dịch vụ giáo dục, y tế… , nó phải xứng đáng để thuyết phục cộng đồng địa phương bảo vệ thiên nhiên cho du lịch sinh thái hơn là khai thác phá hủy nó

1.3.2 Nguyên tắc cơ bản về phát triển du lịch bền vững

Du lịch sinh thái là một bộ phận, là cơ sở và giai đoạn đầu của quá trình phát triển du lịch bền vững hay có thể nói cách khác: du lịch bền vững là mục đích hướng dến của du lịch sinh thái Phát triển bền vững có tác động lớn lao đến môi trường sinh thái, sự phát triển kinh tế và các vấn đề xã hội của cộng đồng địa phương trong một thời gian dài Tổ chức IUCN (1998) đã đưa ra 10 nguyên tắc cơ bản của phát triển du lịch bền vững như sau:

+ Sử dụng tài nguyên một cách bền vững bao gồm cả tài nguyên tự nhiên, xã hội và văn hóa Đây sẽ là nền tảng cơ bản nhất của việc phát triển du lịch lâu dài

+ Giảm tiêu thụ quá mức và xả rác thải, nhằm giảm chi phí khôi phục các suy thoái môi trường, đồng thời cũng nâng cao chất lượng du lịch

+ Duy trì và phát triển tính đa dạng của tự nhiên, xã hội và văn hóa để tạo ra sức bật cho ngành du lịch

+ Lồng ghép du lịch vào trong quy hoạch phát triển địa phương và quốc gia + Hỗ trợ nền kinh tế địa phương: du lịch phải hỗ trợ cho các hoạt động kinh tế đại phương, phải tính toán chi phí môi trường vừa để bảo vệ nền kinh tế bản địa cũng như tránh gây hại cho môi trường

+ Thu hút sự tham gia của cộng đồng địa phương vào phát triển du lịch Điều này sẽ không chỉ đem lại lợi ích cho cộng đồng, môi trường mà còn đáp ứng các nhu cầu, thị hiếu của du khách

+ Có sự tư vấn của các nhóm quyền lợi (stakeholders) và công chúng nhằm đảm bảo cho sự hợp tác lâu dài cũng như giải quyết các xung đột có thể nảy sinh

+ Đào tạo cán bộ kinh doanh du lịch nhằm thực thi các sáng kiến và giải pháp

du lịch, cải thiện chất lượng các sản phẩm du lịch

+ Marketing du lịch có trách nhiệm: cung cấp cho du khách các thông tin đầy

đủ để nâng cao sự tôn trọng của du khách đến môi trường tự nhiên, xã hội và văn hóa khu du lịch

+ Triển khai các nghiên cứu nhằm hỗ trợ giải quyết các vấn đề, mang lại lợi ích cho khu du lịch, cho nhà kinh doanh du lịch và du khách

Các nguyên tắc trên làm cho việc phát triển hoạt động du lịch sinh thái và bền vững trở thành một vấn đề khó khăn và tốn kém Điều này đặt ra cho các cơ quan chức năng những yêu cầu cần phải thực hiện khi tiến hành việc khai thác tiềm năng và phát triển hoạt động du lịch trong chiến lược đưa hoạt động phát triển du lịch sinh thái tiến đến sự bền vững

1.4 CÁC YÊU CẦU CƠ BẢN CỦA DU LỊCH SINH THÁI

Trang 19

Sơ đồ 1.2: Các yếu tố của sự phát triển của du lịch sinh thái 4

1.4.1 Phải có hệ sinh thái đặc thù

Vì du lịch sinh thái là một loại hình du lịch dựa vào thiên nhiên, chỉ có thể tồn tại và phát triển được ở những nơi có hệ sinh thái điển hình với tính đa dạng sinh học cao nên đây chính là yêu cầu cơ bản đầu tiên để phát triển hoạt động du lịch sinh thái

Hệ sinh thái được hiểu là một hệ thống bao gồm các quần xã sinh vật và con người, có cùng các điều kiện môi trường bao quanh nó với sự tương tác lẫn nhau, liên tục không ngừng mà kết quả của sự tác động đó quyết định đến chiều hướng phát triển của quần xã và sinh cảnh của toàn hệ.5

Hệ sinh thái được chia thành hệ sinh thái tự nhiên và hệ sinh thái nhân văn Hệ

sinh thái tự nhiên gồm hệ sinh thái rừng, hệ sinh thái biển- đảo và vùng ven biển, hệ

sinh thái miền đồng bằng, sông nước, hệ sinh thái miền núi Hệ sinh thái nhân văn gồm các di tích lịch sử - văn hóa, khảo cổ, kiến trúc dân gian, sinh hoạt văn hóa và lễ hội truyền thống, các làng nghề truyền thống, các hệ sinh thái nông nghiệp

1.4.2 Phải có nguồn nhân lực chuyên môn

Để phát triển hoạt động du lịch nói chung và du lịch sinh thái nói riêng thì cần phải có nguồn nhân lực có trình độ chuyên môn về du lịch Nguồn nhân lực này bao gồm:

+ Các nhà hoạch định chính sách thường là những nhà khoa học Đối tượng này có nhiệm vụ nghiên cứu để xác định các định hướng và giải pháp phát triển phù hợp với tiềm năng và điều kiện kinh tế khi tiến hành các hoạt động du lịch sinh thái

+ Các nhà quản lí lãnh thổ là những người quản lí nhà nước về mặt hành chính lãnh thổ

Trang 20

+ Các nhà điều hành và quản lí du lịch là những người có vai trò quan trọng trong việc tổ chức lãnh thổ, điều hành hoạt động du lịch sinh thái, trực tiếp chịu trách nhiệm xác định phương thức tiến hành hoạt động, lựa chọn địa điểm tổ chức du lịch sinh thái, xây dựng các chương trình tour, xác định các dịch vụ có thể cung cấp cho

du khách

+ Hướng dẫn viên du lịch là những người có kiến thức về môi trường tự nhiên, các đặc điểm sinh thái và các yếu tố về văn hóa cộng đồng địa phương Đây chính là

“cầu nối” giữa du khách và đối tượng du lịch để làm thỏa mãn nhu cầu của du khách,

là yếu tố ảnh hưởng rất lớn đến sự thành công hay thất bại của hoạt động du lịch sinh thái

1.4.3 Phải có khách du lịch sinh thái

Khách du lịch sinh thái là những người có sự giáo dục và quan tâm đến môi trường thiên nhiên, có kinh nghiệm, thích hoạt động ngoài thiên nhiên, có thời gian đi du lịch dài và chi trả cao Đối tượng này có đặc điểm khác với khách du lịch thông thường ở chỗ: ngoài việc thỏa mãn các nhu cầu của bản thân đối với du lịch, họ còn chú ý đến việc giữ gìn các giá trị tự nhiên và nhân văn ở những khu vực hoang dã

1.5 CƠ SỞ ĐÁNH GIÁ TIỀM NĂNG DU LỊCH SINH THÁI

1.5.1 Nội dung đánh giá

Hiện nay có rất nhiều quan niệm và cách xác định nội dung đánh giá tiềm năng

du lịch sinh thái của nhiều tác giả khác nhau Mỗi quan niệm và cách xác định nội dung đánh giá đó có những đặc điểm riêng Để có thể đánh giá tốt các tiềm năng du lịch sinh thái trên cơ sở phản ánh hết được điều kiện thực tế, khả năng khai thác và so sánh, chúng ta có thể tập trung vào các vấn đề chính như sau:

1.5.1.1 Khả năng thu hút khách: bao gồm tính hấp dẫn (cảnh quan, khí hậu),

tính thuận lợi (cơ sở hạ tầng- vật chất kĩ thuật, vị trí điểm du lịch), tính an toàn (an ninh chính trị- trật tự xã hội, điều kiện vệ sinh môi trường)

1.5.1.2 Khả năng khai thác và quản lí: bao gồm tính mùa vụ, sức chứa du

1.5.2.2 Phương pháp đánh giá

Phụ thuộc vào quy trình đánh giá, chúng ta có hai phương pháp đánh giá tương ứng: đánh giá theo từng thành phần, yếu tố và đánh giá tổng hợp

1.5.2.3 Xây dựng thang đánh giá

Thang đánh giá được xây dựng gồm các yếu tố được căn cứ đánh giá, các bậc của thang, các chỉ tiêu của từng bậc, cách tính kết quả

1.5.3 Các chỉ tiêu đánh giá tiềm năng du lịch sinh thái

1.5.3.1 Khả năng thu hút khách

a) Tính hấp dẫn:

Đây là yếu tố hàng đầu quyết định đến tính thu hút du khách đến với khu du lịch Tính hấp dẫn là sự tổng hợp của nhiều yếu tố như: vẻ đẹp cảnh quan, sự đa dạng

Trang 21

của địa hình, sự độc đáo và đặc sắc của các hiện tượng, di tích tự nhiên và cả yếu tố thuận lợi của khí hậu

+ Về cảnh quan:

Mức hấp dẫn của cảnh quan có thể dựa vào một vài tiêu chí như: số lượng phong cảnh đẹp, đa dạng sinh thái, số lượng các hiện tượng, di tích tự nhiên- nhân văn đặc sắc độc đáo và khả năng phát triển các loại hình du lịch

+ Về khí hậu:

Để đánh giá mức độ hấp dẫn về khí hậu có thể dựa vào những tiêu chí như: nhiệt độ không khí, độ ẩm, lượng mưa, tốc độ gió, nhiệt độ của nước biển…

b) Tính thuận lợi: thể hiện ở sự thuận lợi về cơ sở hạ tầng- vật chất kĩ thuật và

vị trí của điểm du lịch Đây là chỉ tiêu có ý nghĩa rất quan trọng đến hoạt động du lịch Nếu thiếu chúng thì tính hấp dẫn của tài nguyên du lịch sẽ không được khai thác triệt

c) Tính an toàn: được đánh giá dựa trên sự đảm bảo về sinh thái và xã hội, được xác định bởi sự an toàn về an ninh chính trị, trật tự xã hội và an toàn về điều kiện vệ sinh môi trường

+ Tính an toàn về an ninh chính trị- trật tự xã hội được thể hiện qua các yếu tố như: xung đột vũ trang, ổn định chính trị, các vấn đề về tôn giáo, truyền thống văn hóa và các chuẩn mực cư xử, tệ nạn xã hội, lực lượng cảnh sát và các biện pháp kiểm soát an ninh trật tự

+ Điều kiện vệ sinh môi trường là một vấn đề rộng lớn, có thể dựa vào một vài yếu tố như: chất lượng không khí, nguồn nước, độ bao phủ của cây xanh, xử lí rác thải, thiết bị vệ sinh, vệ sinh thực phẩm, dịch bệnh… để đánh giá

1.5.3.2 Khả năng khai thác và quản lí

a) Sức chứa: tổng sức chứa du khách tại mỗi điểm du lịch như: bãi tắm, không gian lưu trú, không gian hoạt động ngoài trời, điểm tham quan, điểm vui chơi giải trí

Trang 22

Mức đánh giá Tiêu

- Có trên 5 cảnh đẹp,

đa dạng

- Có 3 hiện tượng, di tích tự nhiên, nhân văn độc đáo

- Đáp ứng trên 5 loại hình du lịch

- Có 3 đến 5 cảnh đẹp, đa dạng

- Có một hiện tượng,

di tích tự nhiên, nhân văn đặc sắc

- Đáp ứng từ 3 đến 5 loại hình du lịch

- Có từ 1 đến 2 cảnh đẹp

- Đáp ứng từ 1 đến 2 loại hình du lịch

- Phong cảnh đơn điệu

- Đáp ứng 1 đến 2 loại hình du lịch

- Nhiệt độ trung bình năm 18o – 24oC

- Lượng mưa năm 1.250 -1.900 mm

- Nhiệt độ trung bình năm 24oC – 27oC

- Lượng mưa năm 1.900 – 2.250 mm

- Nhiệt độ trung bình năm 27o – 29oC

- Lượng mưa năm lớn hơn 2.250 mm

- Nhiệt độ trung bình năm 29o- 32oC

- Lượng mưa năm nhỏ hơn 1.250 mm

Cơ sở vật chất,

kĩ thuật

- Có cơ sở hạ tầng, vật chất kĩ thuật đồng

bộ, đủ tiện nghi, đạt tiêu chuẩn quốc tế

- Có cơ sở hạ tầng, vật chất kĩ thuật tương đối đồng bộ,

đủ tiện nghi, đạt tiêu chuẩn quốc gia

- Có cơ sở hạ tầng, vật chất kĩ thuật chưa đồng bộ, chưa đủ tiện nghi

- Còn thiếu cơ sở hạ tầng, vật chất kĩ thuật, số đã có chất lượng thấp, và có tính chất tạm thời

- Có khoảng cách từ

10 đến 100 km

- Thời gian đến địa điểm không quá 3 giờ

- Có thể đến bằng 2 hay 3 phương tiện

- Có khoảng cách trên 300 km

- Thời gian đến địa điểm 10 giờ

- Có thể đến bằng 1 hay 2 phương tiện

Trang 23

An ninh chính trị trật tự xã hội

- Hòa bình, ổn định chính trị, không có tệ nạn xã hội

- Bảo đảm đầy đủ lực lượng và biện pháp kiểm soát an ninh chính trị

- Hòa bình, ổn định chính trị, có một vài

tệ nạn xã hội nhưng

có thể kiểm soát được

- Bảo đảm đầy đủ lực lượng và biện pháp kiểm soát an ninh chính trị

- Hòa bình, hơi bất ổn

về chính trị, có một vài tệ nạn xã hội nhưng có thể kiểm soát được

- Có lực lượng và biện pháp kiểm soát

an ninh chính trị nhưng chưa đầy đủ

Tính

an

toàn

Điều kiện vệ sinh môi trường

- Môi trường không khí, nước trong sạch,

độ bao phủ cây xanh lớn

- Đảm bảo an toàn tuyệt đối vệ sinh thực phẩm, không dịch bênh

- Có nay đủ các phương tiện thiết bị

- Có các phương tiện thiết bị vệ sinh nhưng chưa đủ

- Môi trường không khí, nước bắt đầu bị ô nhiễm, thiếu độ bao phủ cây xanh

- Đảm bảo an toàn vệ sinh thực phẩm, không dịch bệnh, nhưng có thể xử lý dễ dàng

- Thiếu các phương tiện thiết bị vệ sinh

- Môi trường không khí, nước bị ô nhiễm, chưa có sự bao phủ cây xanh

- Chưa đảm bảo an toàn vệ sinh thực phẩm, có dịch bệnh

- Chưa có đầy đủ các phương tiện, thiết bị vệ sinh

Tính

mùa

vụ

Thời gian thuận lợi cho hoạt động DLST

- Có trên 200 ngày có thể triển khai tốt các hoạt động du lịch

- Có trên 180 ngày có khí hậu tốt thích hợp với con người

- Có từ 150 – 200 ngày có thể triển khai tốt các hoạt động du lịch

- Có từ 120 – 180 ngày có khí hậu thích hợp với con người

- Có từ 100 – 150 ngày có thể triển khai hoạt động du lịch

- Có từ 90 – 120 ngày

có khí hậu thích hợp với con người

- Có dưới 100 ngày

có thể hoạt động du lịch

- Có dưới 90 ngày

có khí hậu tốt thích hợp với con người

Trang 24

- Không có thành phần tự nhiên nào, không có bộ phận tự nhiên nào bị phá hoại, nếu có thì mức độ không đáng kể

- Tồn tại bền vững trên 100 năm

- Hoạt động du lịch diễn ra liên tục

- Có 1 đến 2 thành phần bị phá hoại nhưng có khả năng phục hồi

- Tồn tại vững chắc

từ 50 – 100 năm

- Hoạt động du lịch thường xuyên diễn ra

- Có 1 đến 2 thành phần bị phá hoại, bộ phận bị phá hoại có

sự giúp đỡ của con người mới có khả năng hồi phục

- Tồn tại vững chắc

từ 5 – 10 năm

- Hoạt động du lịch diễn ra hạn chế

- Có 1 đến 2 thành phần, bộ phận bị phá hoại nhưng phải có sự phục hồi của con người

- Tồn tại dưới 5 năm

- Có cảng biển quốc

tế, sân bay quốc tế, thuận lợi giao thông

và và có đầy đủ các phương tiện giao thông

- Có khả năng liên kết quốc tế, các vùng trong quốc gia

- Có cảng biển, sân bay, thuận lợi giao thông và và có đầy đủ các phương tiện giao thông

- Có khả năng liên kết các vùng trong quốc gia và giữa các điểm

du lịch trong vùng

- Không cảng biển, sân bay, khá thuận lợi giao thông, thiếu một vài phương tiện giao thông

- Có khả năng liên kết các vùng lân cận và giữa các điểm du lịch trong vùng

- Không cảng biển, sân bay, không thuận lợi giao thông, thiếu nhiều phương tiện giao thông

- Khả năng liên kết vùng và giữa các điểm du lịch trong vùng kém

Bảng 1.1: Cơ sở xác định mức đánh giá cho các chỉ tiêu

Trang 25

+ Nhóm hệ số 3 gồm 3 yếu tố đó là: tính hấp dẫn về cảnh quan, tính mùa vụ

và tính thuận lợi về cơ sở vật chất kĩ thuật Có thể nói rằng điều mà du khách quan tâm trước tiên đến một điểm du lịch đó chính là sự hấp dẫn của điểm du lịch đó (điểm du lịch đó có đẹp hay không) Thực tế cho thấy một điểm du lịch hội đủ các yếu tố về cảnh quan đẹp, có đầy đủ cơ sở vật chất kỹ thuật, các dịch vụ phong phú cùng với thời gian có thể tổ chức hoạt động lâu dài thì có thể thu hút được khách du lịch nhiều nhất

+ Nhóm hệ số 2 gồm 3 yếu tố là: sức chứa, tính an toàn (vệ sinh môi trường,

an ninh chính trị trật tự xã hội) và tính hấp dẫn về khí hậu Đây là một trong những yếu tố thu hút khách du lịch nhưng không phải là một trong những yếu tố quan trọng nhất đối với du lịch Trong thực tế, ta dễ dàng nhận thấy điều này đối với trường hợp du khách có thể sẵn sàng tham quan ở một địa điểm có thể có khí hậu khắc nghiệt (quá nóng hoặc quá lạnh) hoặc điều kiện an toàn không được đảm bảo tốt nếu

đó là một địa điểm có khả năng thu hút họ

+ Nhóm hệ số 1 gồm 3 yếu tố là tính bền vững của môi trường tự nhiên, tính thuận lợi về vị trí điểm du lịch và tính liên kết Đây là những yếu tố góp phần tạo nên tính hấp dẫn của một điểm du lịch Vấn đề về tính bền vững của môi trường tự nhiên và tính liên kết thường được các nhà tổ chức và quản lí du lịch quan tâm hơn

so với đối tượng các du khách Trong thực tế, đối với du khách, tính bền vững của môi trường tự nhiên thường rất ít hoặc không được quan tâm đến Cũng như vậy, vị trí của một điểm du lịch dù xa hay gần, dễ đến hay khó đến cũng không thể làm nản lòng du khách nếu điểm du lịch đó đáng được họ quan tâm

1.5.5 Điểm đánh giá và kết quả đánh giá

Trang 26

Như vậy điểm đánh giá tổng hợp cao nhất sẽ là 80 điểm (100%), điểm đánh giá tổng hợp thấp nhất là 20 điểm (25%)

1.5.5.2 Kết quả đánh giá

Điểm đánh giá Tiêu

chí

Chỉ tiêu

chung Chỉ tiêu cụ thể

Rất thích hợp

Khá thích hợp

Trung bình

Kém thích hợp

Bảng 1.2: Kết quả đánh giá các tiềm năng du lịch sinh thái

Mức đánh giá Số điểm đạt Tỉ lệ % so với

số điểm tối đa

Trang 27

Bản đồ 1.1: Bản đồ địa hình khu vực đèo qua dãy Hòn Giao

Trang 28

2 TỔNG QUAN KHU VỰC NGHIÊN CỨU

2.1 ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN

2.1.1 Vị trí địa lí

Cung đường đèo qua dãy Hòn Giao6 nằm trên tuyến đường nối liền Nha Trang- Đà Lạt, gồm hai đoạn7: đđoạn trên tuyến Tỉnh lộ 652, được bắt đầu từ Km 46+000 (Bến Lội- Sơn Thái–Khánh Vĩnh–Khánh Hòa) đến Km 65+543 (ranh giới với tỉnh Lâm Đồng) và đoạn trên tuyến Tỉnh lộ 723, được bắt đầu từ Km 39+000 (Klong Klanh-Đạ Chais-Lạc Dương-Lâm Đồng) đến Km 51+000 (ranh giới với tỉnh Khánh Hòa) Xét về tọa độ địa lí, cung đường đèo qua dãy Hòn Giao được giới hạn

từ 12008’18” Bắc đến 12015’03” Bắc và từ 108039’19” Đông đến 108049’04” Đông

Cung đường đèo qua dãy Hòn Giao nằm trong địa bàn của hai xã: xã Sơn Thái (huyện Khánh Vĩnh – tỉnh Khánh Hòa) và xã Đạ Chais (huyện Lạc Dương – tỉnh Lâm Đồng) Sơn Thái là một xã miền núi nằm ở phía Tây Nam huyện Khánh Vĩnh- tỉnh Khánh Hòa với diện tích tự nhiên: 6.205,00 ha Đạ Chais là một xã nằm trên cao nguyên Lang Biang (Lâm Viên) thuộc về phía Đông Bắc của huyện Lạc Dương- tỉnh Lâm Đồng với diện tích tự nhiên: 34.104,16 ha

Địa bàn hai xã nằm trong khu vực đèo qua dãy núi Hòn Giao có tiếp giáp địa

lí như sau:

+ Phía Bắc giáp huyện Krông Bông (Đăk Lăk) theo dãy núi Chư Yang Sin

và sông Krông Nô Đây cũng chính là ranh giới hành chính giữa tỉnh Lâm Đồng và tỉnh Đắk Lắk

+ Phía Đông và Đông Bắc giáp xã Giang Li, Liên Sang (Khánh Vĩnh – Khánh Hòa)

+ Phía Đông Nam tiếp giáp với huyện Bác Ái (Ninh Thuận) Khu vực này chính là Khu bảo tồn thiên nhiên Phước Bình với diện tích tự nhiên là 19.814 ha, nằm ở phần phía Đông của dãy núi Gia Rích và Bidoup

+ Phía Nam tiếp giáp xã Đạ Sar (Lạc Dương – Lâm Đồng) Đây là một phần nằm trong phạm vi Vườn Quốc gia Bidoup- Núi Bà

+ Phía Tây giáp xã Đạ Nhim (Lạc Dương – Lâm Đồng) Đây cũng là một phần nằm trong phạm vi Vườn Quốc gia Bidoup- Núi Bà

Với những đặc điểm về vị trí địa lí như trên, khu vực này có những đặc trưng nổi bật mà không phải ở đâu cũng có được: nằm trong khu vực đa dạng về các kiểu địa hình và khí hậu; nằm trong Khu rừng cấm do Công ti Lâm sản Khánh Hòa quản

lí , một phần Vườn Quốc gia Bidoup – Núi Bà và gần Khu bảo tồn thiên nhiên Phước Bình và Rừng phòng hộ đầu nguồn Đạ Nhim, là một khu vực có tiềm năng rất lớn về tài nguyên rừng và suối – thác; nằm trong khu vực sinh sống của đồng bào

6

Cung đường đèo này hiện nay vẫn chưa có tên gọi chính thức Trong phạm vi đề tài nghiên cứu này, chúng

tôi xin được tạm gọi là đèo qua dãy Hòn Giao

7

Trên thực tế, Km 65+543 của Tỉnh lộ 652 và Km 51+000 của Tỉnh lộ 723 được dùng để chỉ cho cùng một

điểm nằm trên tuyến đường nối liền Nha Trang – Đà Lạt, đó chính là Hòn Giao - điểm cao nhất của toàn tuyến đường (1650m) Hiện nay, do giai đoạn 2 của dự án còn đang được thi công nên vẫn chưa có sự thống nhất chung giữa hai tỉnh Khánh Hòa và Lâm Đồng trong việc đánh số hiệu Km cho toàn tuyến

Trang 29

dân tộc K’Ho với những bản sắc văn hóa truyền thống đậm nét; lại khá thuận lợi về mặt giao thông, gần hai thành phố du lịch nổi tiếng là Nha Trang và Đà Lạt

2.1.2 Địa hình

Khu vực đèo qua dãy Hòn Giao là một địa bàn có địa hình rất phức tạp và bị chia cắt khá mạnh với bốn dạng địa hình chủ yếu: núi cao vừa đến trung bình, đồi trên núi đến đồi cao, đồng bằng và thung lũng.8

Do vị trí nằm ở hai sườn khác nhau của một dãy núi (dãy Hòn Giao) nên hướng nghiêng của địa hình có sự thay đổi khác nhau theo hai sườn: Đông Nam – Tây Bắc trong địa bàn xã Đạ Chais và Tây Nam – Đông Bắc trong địa bàn xã Sơn Thái

Trong địa bàn xã Sơn Thái (Khánh Vĩnh – Khánh Hòa), dạng địa hình chủ yếu là núi trung bình, các đồi cao và đồng bằng Song khu vực này vẫn có một số dãy núi cao vừa Khu vực phía Tây Nam phần lớn là núi đá, địa hình bị chia cắt mạnh và độ dốc lớn Đây là nơi có những dãy núi cao trên 1000m, chạy song song nhau theo hướng Tây Nam – Đông Bắc Xen kẽ giữa các dãy núi này là các thung lũng sông Tiếp theo là dạng địa hình đồi cao xen kẽ các bình nguyên Khu vực phía Đông Bắc của xã Sơn Thái là một vùng đồng bằng tương đối lớn

Trong địa bàn xã Đạ Chais (Lạc Dương – Lâm Đồng), nền địa hình nhìn chung cao hơn so với khu vực xã Sơn Thái Độ cao trung bình thay đổi từ 1.500m đến 1.800m Phần lớn độ chênh cao tương đối trong khu vực dao động từ 50m đến 100m, độ dốc trung bình 8 -150, mức độ chia cắt ngang trung bình: 0,35–0,45 km/km2 Phía Đông Nam xã Đạ Chais là nơi phân bố của những dãy núi cao từ 1.900m đến 2.200m với các đỉnh như: Bidoup (2.287m), Hòn Giao (2.062m), Gia Rích (1.923m) Tiếp theo là vùng phân bố của dạng địa hình lượn sóng với các khối núi có độ cao thấp hơn và các đồi trên núi Do đó, khi đứng trên các đỉnh cao, ta có thể bao quát được một không gian khá rộng lớn, có thể nhìn thấy thành phố Đà Lạt

ở phía Tây Nam và vùng biển Nha Trang về phía Đông Bắc Sau đó địa hình chuyển tiếp và thấp dần về phía Tây Bắc Đây là vùng thượng nguồn lưu vực sông Krông

Nô với các thung lũng sông và đồi trên núi

2.1.3 Khí hậu

Tuy nằm trên nền khí hậu nhiệt đới gió mùa chung của vùng Nam Trung Bộ

và Tây Nguyên, nhưng do các yếu tố vị trí địa lí và địa hình chi phối nên khí hậu ở khu vực này có sự phân hóa khá phức tạp Địa bàn xã Đạ Chais nằm hoàn toàn trên vùng cao nguyên Lang Biang (Lâm Viên) với độ cao trung bình 1.500 đến 1.800m

so với mực nước biển, lại có dãy núi Hòn Giao cao trên 2.000m chắn ở phía Đông nên khí hậu không bị chi phối bởi yếu tố hải dương và mang tính chất cận nhiệt đới khá rõ Trong địa bàn xã Sơn Thái, do nằm ở độ cao thấp hơn và ở sườn Đông của dãy Hòn Giao lại không quá xa biển nên chịu sự tác động rõ rệt của yếu tố hải dương, khí hậu mang tính chất nhiệt đới gió mùa Vì vậy, nhìn chung khí hậu của địa bàn xã Sơn Thái được điều hòa hơn so với địa bàn xã Đạ Chais

8

Theo quan điểm phân chia của A I Xpiridonov

Trang 30

Từ đỉnh đèo nhìn về vùng biển Nha Trang ở

phía Đông – Ảnh tư liệu

Cung đường đèo qua dãy Hòn Giao đoạn qua Sơn Thượng (Sơn Thái- Khánh Hòa) – Ảnh tác

giả

Một khúc uốn trên cung đường đèo qua dãy

Hòn Giao (Khánh Hòa) – Ảnh tác giả

Sương mù trên cung đường đèo qua dãy Hòn Giao (Khánh Hòa) – Ảnh tư liệu

Bình minh trên đỉnh đèo qua dãy Hòn Giao

(Khánh Hòa-Lâm Đồng) – Ảnh tư liệu

Hoàng hôn trên đỉnh đèo qua dãy Hòn Giao (Khánh Hòa-Lâm Đồng) – Ảnh tác giả Hình 1.1: Không gian khu vực đèo qua dãy Hòn Giao

Trang 31

Sự phân mùa trong năm (mùa mưa và mùa khô) ở hai bên sườn dãy núi Hòn Giao có sự lệch pha nhau rõ rệt Có thể nói rằng: mùa mưa và mùa khô ở hai khu vực này gần như nối tiếp nhau Trong địa bàn Đạ Chais, mùa mưa kéo dài: tháng 5 – tháng 10, mùa khô: tháng 11- tháng 4 năm sau Trong khi đó, tại địa bàn Sơn Thái, mùa mưa: tháng 9 – tháng 12, mùa khô: tháng 1- tháng 8 Thời gian giao nhau giữa mùa mưa và mùa khô của hai khu vực rất ngắn, tháng 1 – tháng 4 đối với mùa khô

và tháng 9 đối với mùa mưa

Về chế độ nhiệt, tại địa bàn xã Đạ Chais nhiệt độ không khí trung bình năm của khu vực là 18,00C, thấp nhất vào tháng 1 (15,60C), cao nhất vào tháng 5 (19,60C) Biên độ nhiệt năm nhỏ (3,90C) nhưng biên độ nhiệt giữa ngày và đêm lại rất lớn (9,00C) Địa bàn xã Sơn Thái, do độ cao thấp hơn nên phần lớn nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa, nhiệt độ vì thế cũng cao hơn (trung bình năm: 23,50C) Biên độ nhiệt năm và biên độ nhiệt ngày đều thấp hơn so với Đạ Chais

Về chế độ ẩm, đây là một khu vực có độ ẩm cao: 85- 90% và tương đối ổn định Do sự chi phối của chế độ ẩm và các yếu khác: phần lớn địa bàn khu vực đèo qua dãy Hòn Giao nằm trên đai cao, có sự giao thoa giữa kiểu khí hậu khác nhau nên số ngày mưa và lượng mưa tương đối lớn Lượng mưa trung bình năm đạt khoảng 1.900mm Riêng tại các đai cao như Bidoup, Hòn Giao, Gia Rích lượng mưa có thể đạt 2.800 - 3.000mm/năm Lượng mưa vào mùa mưa chiếm khoảng 75 - 85% lượng mưa cả năm

Ngoài ra, do phần lớn địa bàn (nhất là Đạ Chais) nằm trong khu vực ít nắng, nhiệt độ thấp, độ ẩm cao, hơi nước trong không khí dễ đạt đến trạng thái bão hòa nên khu vực này thường xuyên xuất hiện hiện tượng sương mù (tại các dãy núi Bidoup, Gia Rích ) Riêng tại khu vực ven đỉnh núi Hòn Giao, điều đặc biệt là hiện tượng sương mù xuất hiện vào nhiều thời điểm khác nhau trong ngày, khi có sự giao thoa giữa hai luồng không khí có đặc tính khác nhau: luồng không khí nóng từ vùng biển Khánh Hòa do gió đưa lên và luồng không khí lạnh của vùng cao nguyên Lang Biang tỏa xuống

+ Nhóm đất xám (Arcisols) phân bố từ địa hình núi cao đến địa hình gò đồi thấp trũng và thung lũng trên các loại đá mẹ Nhóm đất xám tại khu vực này có 17 loại đất: xám đỏ vàng, xám có tầng thảm mục, xám điển hình, xám giàu mùn, xám giàu mùn tích nhôm, xám glây, xám nghèo bazơ, xám nghèo bazơ sỏi sạn sâu, xám

Trang 32

sỏi sạn nông, xám tầng mặt giàu mùn rất chua, xám tầng mặt giàu mùn sỏi sạn nông, xám tầng mỏng Nhóm đất này tập trung chủ yếu ở các thung lũng giữa các dãy núi tại khu vực phía Tây và trên các vùng đồi phía Đông Sơn Thái

+ Nhóm đất feralit (Ferrralsols) là nhóm đất chính, chiếm diện tích lớn nhất tại khu vực này Nhóm đất này được hình thành do quá trình phong hóa khoáng sét, hình thành các hoạt tính thấp, không có khả năng phong hóa tiếp, tích lũy oxit Fe/Al

và các hợp chất bền vững của chúng Nhóm đất feralit ở khu vực này gồm 9 loại đất: feralit phổ thông, feralit màu vàng, feralit màu đỏ thẫm, feralit có mùn, feralit phong hóa mạnh, tích sắt loang lổ, tích sắt loang lổ bão hòa, tích sắt loang lổ không bão hòa, tích sắt loang lổ có mùn Nhóm đất này phân bố trên phần lớn diện tích địa bàn

xã Đạ Chais và khu vực phía Tây Sơn Thái

+ Nhóm đất mùn alit núi cao (Alisols) phân bố trên địa hình núi cao hơn 2.000m, được hình thành trong vùng khí hậu lạnh độ ẩm cao quanh năm Nhóm đất này chỉ có một đơn vị là đất mùn alit trên núi cao Nhóm đất này phân bố trên các sườn cao và có độ dốc lớn của các dãy núi Bidoup, Hòn Giao, Gia Rích

2.1.5 Thủy văn

Do vị trí khu vực nằm trên vùng địa hình bị chia cắt mạnh, địa hình chủ yếu

là đồi núi cao lại có lượng mưa lớn nên khu vực này có một mạng lưới sông suối dày đặc và độ dốc lớn Chế độ nước của các hệ thống sông có sự thay đổi tương ứng với hai mùa mưa và khô trong năm

Hệ thống dòng chảy nước mặt khu vực này có thể phân ra ba phân khu: hệ thống sông Đạ Nhim, các nhánh đầu nguồn của hệ thống sông Krông Nô và hệ thống sông Trang:

a) Hệ thống sông Đạ Nhim gồm sông Đạ Nhim và các phụ lưu: sông Đạ Khai, sông Đạ Ka Ban, sông Đạ Mong Hệ thống sông này được bắt nguồn từ các vùng thuộc sườn Tây dãy núi Hòn Giao với độ cao trên 1.600m Hệ thống này có hướng chảy chính là Đông Bắc- Tây Nam, lần lượt chảy qua các dạng địa hình có độ cao thay đổi từ 1.600 xuống đến 1.200m với chiều dài của sông chính Đạ Nhim đoạn chảy trên địa bàn khu vực này là 23km Sau khi hợp lưu về phía hữu ngạn với suối

Đạ Lang Biang và phía tả ngạn với sông Krông Klet, sông Đạ Nhim tiếp tục chảy vào hồ Đạ Nhim cung cấp nước cho nhà máy thủy điện Đạ Nhim (xây dựng ở tỉnh Ninh Thuận với công suất 160.000kW)

b) Các nhánh đầu nguồn của hệ thống sông Krông Nô bao gồm các nhánh sông Đắk En, sông Đắk Kr Doup và một số nhánh khác chưa được đặt tên bắt nguồn từ các dãy núi phía Bắc xã Đạ Chais- Lạc Dương với độ cao khoảng 1.500m chảy theo hướng Tây đi qua các dạng địa hình có độ cao chuyển tiếp từ 1.500 xuống 800m, với chiều dài khoảng 18km Sau đó, các nhánh này cùng với sông Krông Ana hợp thành sông Đắk Krông

c) Hệ thống sông Trang bao gồm sông Trang và các phụ lưu của nó (Suối Ba Lách, Suối Mả và Suối Gấp) bắt nguồn từ sườn Đông của dãy núi Hòn Giao và chảy theo hướng Tây Bắc- Đông Nam Từ khu vực thượng nguồn cho đến khi nhập vào sông Cái Nha Trang tại khu vực gần cầu Bến Lội trên chiều dài khoảng 21km, hệ thống sông Trang đã chảy qua các dạng địa hình chủ yếu là núi đá, có độ cao thay

Trang 33

đổi liên tục từ 1.800 - 2.000m xuống đến 50m nên có rất nhiều thác nước và ghềnh rất đẹp (trong đó có rất nhiều thác nước chưa được đặt tên)

2.1.6 Hệ động - thực vật

Với vị trí nằm trên địa bàn giáp ranh giữa hai tỉnh Lâm Đồng và Khánh Hòa,

đi qua phần phía Tây Khu rừng cấm do Công ti Lâm sản Khánh Hòa quản lí (Sơn Thái) và phần phía Đông Vườn Quốc gia Bidoup – Núi Bà (Đạ Chais) nên hệ động – thực vật của khu vực đèo qua dãy núi Hòn Giao rất phong phú và đa dạng về thành phần chủng loại

2.1.6.1 Thành phần thực vật của khu vực này gồm có 1.468 loài, thuộc 673

chi, 161 họ, bao gồm thực vật hai lá mầm và thực vật một lá mầm Trong đó, thực

vật hai lá mầm gồm 4 ngành: Thông đất (Lycopodiophyta), Dương xỉ

(Polypodiophyta), Thông (Pinophyta) và Mộc lan (Magnoliopsida) Trong 1.468

loài thực vật tại khu vực này, có 91 loài đặc hữu, 62 loài quý hiếm phân bố trong 29

họ thực vật khác nhau, nằm trong cấp đánh giá về mức độ quý hiếm của Sách Đỏ Việt Nam (2000)

Ngành thực vật Họ Chi Loài + Thực vật hai lá mầm

a) Trong lớp thú, bộ có số họ nhiều nhất là bộ Ăn thịt (Carnivora) và bộ Gặm nhấm (Rodentia) : 5 họ, tiếp đến là bộ Móng guốc ngón chẵn (Artiodactyla): 4 họ ;

bộ Linh trưởng (Primates): 3 họ; các bộ còn lại gồm bộ Dơi (Chiroptera), bộ Ăn sâu

bọ (Insectirova), bộ Nhiều Răng (Scandentia), bộ Cánh da (Demoptera), bộ Có vòi (Proboscidae) và bộ Tê tê (Pholidota) chỉ có 1 họ

b) Trong lớp chim, bộ có số họ nhiều nhất là bộ Sẻ (Passeriformes) với 22

họ, tiếp đến bộ Sả (Coraciiformes) có 5 họ, các bộ còn lại chỉ có từ 1 đến 2 họ Trong 42 họ thì họ Khướu (Timaliidae) có số loài cao nhất: 8 loài, tiếp đến là họ Trĩ (Phansianidae) và họ Cu cu (Cuculidae) đều có 6 loài, thứ ba là họ Chào mào

9

Nguồn Phân viện Điều tra Quy hoạch rừng II – Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn (11/2003)

Trang 34

(Pycnonotidae), chim Chích (Sylviidae) đều có 5 loài Các họ còn lại chỉ có từ 1 đến

4 loài

c) Trong lớp bò sát, bộ Có vảy (Aquamata) có 9 họ, bộ rùa (Testudinata) có 2

họ Trong số 11 họ thì họ Rắn nước (Columbridae) có số loài nhiều nhất: 7 loài, tiếp đến là họ Nhông (Agamidae) và họ Rắn hổ (Alapidae) đều có 4 loài, họ Tắc kè (Gekkonidae), họ Kỳ đà (Varanidae), họ Rùa núi (Testudinidae) có 2 loài, các họ còn lại có 1 loài gồm họ Thằn lằn bóng (Scincidae), họ Trăn (Boidae), họ Rắn mống

(Xenopeltidae), họ Rắn lục (Viperidae) và họ Ba ba (Trionychidae)

d) Trong lớp ếch nhái, bộ không đuôi (Anura) có 4 họ Trong 4 họ thì họ ếch nhái (Ranidae) có số loài nhiều nhất: 8 loài, tiếp đến là họ Nhái bầu (Mocrohyla) 4 loài, hai họ Cóc nhà (Bufonidae) và họ ếch cây (Rhacophnidae) đều có 1 loài

Bảng1.5: Thống kê thành phần động vật ở địa bàn khu vực đèo qua dãy Hòn Giao 10

2.2 ĐIỀU KIỆN KINH TẾ- XÃ HỘI

2.2.1 Lịch sử hình thành con đường Khánh Lê - Đạ Chais

2.2.1.1 Ý tưởng về con đường trong các thế kỉ trước

Ý tưởng về con đường nối liền Nha Trang và Đà Lạt với đoạn qua dãy Hòn Giao nằm trên ranh giơi tự nhiên giữa hai tỉnh Khánh Hòa và Lâm Đồng đã được đưa ra cách đây hơn một thế kỉ Con đường này đã xuất hiện trên ý tưởng lần đầu tiên vào cuối thế kỉ XIX, chính thức được đầu tư thi công và trở thành hiện thực vào đầu thế kỉ XXI

Sự kiện đánh dấu cho ý tưởng về con đường này được xuất hiện vào khoảng những năm 1885-1893, khi vị bác sĩ người Pháp gốc Thụy Sĩ Alexandre John Émile Yersin (1863-1943) tiến hành việc nghiên cứu và tìm hiểu về con đường đi vào cao nguyên Lang Biang (Lâm Viên) Mục đích của Yersin khi tìm đường vào cao nguyên cao nhất của khu vực Nam Trung Bộ này là nhằm phục vụ cho việc xác định một địa điểm nghỉ dưỡng lí tưởng cho người Pháp ở Đông Dương Đó chính là thành phố Đà Lạt hiện nay Và con đường đầu tiên được Yersin lựa chọn là từ Nha Trang đi thẳng về hướng Tây (tức theo hướng Tỉnh lộ 652 hiện nay) Bác sĩ Yersin

đã từng đặt chân đến khu vực chân dãy núi Hòn Giao (thuộc xã Sơn Thái - huyện Khánh Vĩnh hiện nay) Tuy nhiên, do địa hình quá cao và hiểm trở, khí hậu lạnh lẽo, mây mù phủ lấp, Yersin không thể tiếp tục đi được nữa Ông phải quay trở lại Nha Trang theo đường cũ Sau đó Yersin đi về phía Nam đến khu vực thành phố Phan Rang-Tháp Chàm ngày nay, rồi men ngược theo con sông Cái (vùng Phan Rang-Tháp Chàm và Ninh Sơn - Ninh Thuận) mới đặt chân lên được cao nguyên Lang

10

Nguồn Phân viện Điều tra Quy hoạch rừng II – Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn (11/2003)

Trang 35

Biang và tiến hành công cuộc khảo sát địa điểm nghỉ dưỡng của mình Sau chuyến

đi này, bác sĩ Yersin đã giới thiệu với Toàn quyền Đông Dương Paul Doumer về khu vực Đà Lạt hiện nay và con đường ngắn nhất để đến đó chính là con đường từ Nha Trang vượt qua dãy núi Hòn Giao Như vậy, sự kiện trên có một ý nghĩa hết sức quan trọng cho sự hình thành con đường về sau này Nó là “viên gạch” đầu tiên

mở ra triển vọng to lớn về con đường ngắn nhất nối liền cách trở giữa vùng đồng bằng duyên hải Nam Trung Bộ với vùng cao nguyên Lang Biang nói chung và giữa hai thành phố du lịch Nha Trang và Đà Lạt nói riêng

Sau đó, vào đầu thế kỉ XX, theo lời giới thiệu của bác sĩ Yersin, Toàn quyền Đông Dương đã cho người khảo sát tuyến đường này với kì vọng nó sẽ trở thành tuyến đường “xương cá” cuối cùng nối liền dải đất duyên hải Nam Trung Bộ với vùng cao nguyên của người Thượng nhưng do trình độ kĩ thuật thời đó còn hạn chế nên chưa thể thực hiện được việc xây dựng con đường qua dãy núi Hòn Giao này Ý tưởng về con đường này vì thế mà bất thành Từ đó cho đến cuối thế kỉ XX, dãy núi Hòn Giao với đỉnh 2.062m trở thành thách thức đối với tất cả những nỗ lực và ước vọng của con người

2.2.1.2 Quá trình thi công và hoàn thành con đường Khánh Lê - Đạ Chais

Trải qua hơn một thế kỉ nằm trên ý tưởng, với các phương tiện kĩ thuật hiện đại, nguồn kinh phí đủ mạnh, nguồn nhân lực với trình độ cao, ý tưởng đó đã chính thức trở thành hiện thực vào cuối thế kỉ XX đầu thế kỉ XXI Sau nhiều công trình nghiên cứu, khảo sát về địa chất, địa hình của công trình, về khả năng thực hiện dự

án, ngày 29/03/2002, lãnh đạo hai tỉnh Khánh Hòa và Lâm Đồng đã kí kết thỏa thuận hợp lực đầu tư xây dựng tuyến đường Khánh Lê - Đạ Chais với chiều dài 126km Dự án được chia làm hai giai đoạn Tổng kinh phí của cả hai giai đoạn là 1.178 tỉ đồng Giai đoạn 1 của dự án tập trung vào việc xây dựng mới các đoạn đường nối của tuyến Tỉnh lộ 652 từ Km 46+000 (cầu Bến Lội - xã Sơn Thái - Khánh Vĩnh - Khánh Hòa) đến Km 65+543 (ranh giới với Lâm Đồng) do phía Khánh Hòa đầu tư xây dựng, với kinh phí là 397 tỉ đồng và tuyến Tỉnh lộ 723 từ Km 21+450 (Đạ Chais - Lạc Dương - Lâm Đồng) đến Km 51+000 (ranh giới với Khánh Hòa) do phía Lâm Đồng đầu tư xây dựng với kinh phí 163 tỉ đồng Giai đoạn 2 của dự án tập trung vào việc nâng cấp mở rộng các tuyến Tỉnh lộ 652 đoạn Thành đến cầu Bến Lội (phía Khánh Hòa) và Tỉnh lộ 723 đoạn Đà Lạt - Đạ Chais (phía Lâm Đồng).11

Ngày 20/04/2004, việc thi công giai đoạn 1 của con đường chính thức được tiến hành Chủ đầu tư dự án phía Khánh Hòa là Ban quản lí dự án các công trình trọng điểm tỉnh Khánh Hòa, đơn vị phụ trách thi công là Công ti Cổ phần Đầu tư và Xây dựng 515 Để nối liền tuyến đường dài 29km từ cầu Bến Lội đến ranh giới với Lâm Đồng tại Hòn Giao, công ti đã phải huy động thường xuyên 700 công nhân (lúc cao điểm có thể đạt hơn 1000 công nhân trên công trường), 350 đầu xe, máy các loại đào đắp hơn 7,4 triệu m3 đất đá, đổ hơn 50 nghìn m3 bê tông, rải hơn 70 nghìn m3 nhựa, xây 60 nghìn m3 đá hộc Chủ đầu tư dự án phía Lâm Đồng là Ban Quản lí Dự

11

Tổng hợp theo Nguồn từ Sở Giao thông vận tải Khánh Hòa và Lâm Đồng cung cấp

Trang 36

án Đầu tư - Xây dựng Sở Giao thông vận tải Lâm Đồng, đơn vị phụ trách thi công là Công ti 7/5 – Bộ Quốc phòng

Ngày 27/04/2007 giai đoạn 1 của dự án cũng là giai đoạn quan trọng nhất đã hoàn thành và được chính thức thông xe kĩ thuật

Hiện nay, giai đoạn 2 của dự án đang được tiến hành để nâng cấp và hoàn thiện các tuyến đường đã xây dựng trước đây Theo quy hoạch phát triển giao thông vận tải tỉnh Lâm Đồng đến năm 2010 và định hướng đến năm 2020, sau khi giai đoạn 2 của dự án hoàn tất, tuyến đường Nha Trang – Đà Lạt sẽ được đề nghị lên Bộ Giao thông vận tải nâng cấp thành Quốc lộ 20 nối dài

Như vậy, con đường Khánh Lê - Đạ Chais đã có ý tưởng từ cách đây khá lâu (hơn một thế kỉ) nhưng mãi đến đầu thế kỉ XXI, dự án về con đường này mới chính thức trở thành hiện thực Sự hình thành của con đường này có ý nghĩa hết sức to lớn trong việc kích thích sự phát triển kinh tế – xã hội giữa hai tỉnh Lâm Đồng và Khánh Hòa, thúc đẩy việc hợp tác giữa hai thành phố Nha Trang và Đà Lạt trong việc tạo ra các sản phẩm du lịch độc đáo, hấp dẫn để phục vụ cho các nhu cầu ngày càng cao của du khách Sự kiện này còn đem lại nhiều thay đổi to lớn đối với sự phát triển kinh tế - xã hội của địa bàn các xã mà tuyến đường đi qua

2.2.2 Dân cư, dân tộc và nguồn lao động

2.2.2.1 Dân cư và sự phân bố dân cư

Hai xã nằm trong khu vực đèo qua dãy núi Hòn Giao là xã Sơn Thái và Đạ Chais có tổng diện tích tự nhiên rất lớn (40.309,16 ha) song dân cư lại rất thưa thớt (533 hộ, 2.773 nhân khẩu) Mật độ dân số của khu vực chỉ đạt khoảng 6,88 người/km2

Dân cư tại khu vực hai xã phân bố rất không đồng đều Dân cư tập trung chủ yếu thành các buôn làng dọc theo các tuyến đường nhánh từ trục đường chính và một số ít tập trung rải rác trên trục đường chính Xã Sơn Thái có 2 thôn là Sơn Thượng và Sơn Hạ, trong đó dân cư tập trung chủ yếu ở thôn Sơn Hạ (với 1.012 nhân khẩu, chiếm 61,63% dân số toàn xã Sơn Thái) Xã Đạ Chais có số dân là 1.131 nhân khẩu, gồm 4 thôn là Đông Mang, Tu Póh, Klong Klanh, Đưng K’Si, trong đó dân cư tập trung chủ yếu tại 2 thôn là Klong Klanh và Đưng K’Si (với 787 nhân khẩu, chiếm 69,58% số dân toàn xã Đạ Chais) Các khu vực thuộc thôn Đông Mang

và Tu Póh do phần lớn diện tích nằm trong phân khu bảo vệ nghiêm ngặt của Vườn Quốc gia Bidoup Núi Bà vì vậy dân cư rất thưa thớt Riêng khu vực phía Bắc xã Đạ Chais và tại các khu vực núi cao không có dân cư sinh sống

Về cơ cấu dân số theo độ tuổi, chiếm tỉ lệ cao nhất là độ tuổi trong tuổi lao động: 54,0%, kế đến là dưới độ tuổi lao động: 41,2%, tỉ lệ trên độ tuổi lao động chỉ chiếm 4,8% Với cơ cấu dân số theo độ tuổi như trên, khu vực này có kết cấu dân số trẻ

Tốc độ tăng trưởng dân số của khu vực này hiện nay còn ở mức khá cao: 22,0% Nguyên nhân chính của sự tăng trưởng nhanh dân số của khu vực này là đại

đa số dân cư người dân tộc thiểu số nên nhận thức còn thấp Hơn nữa, đặc tính của nền kinh tế lạc hậu, chậm phát triển, dựa vào tự nhiên chủ yếu nên cần phải có một lực lượng lao động đông đảo

Trang 37

Tên xã Diện tích tự

nhiên (ha) Số thôn Số hộ

Số nhân khẩu (người)

Mật độ dân số (người/km 2 )

Bảng 1.6: Tình hình dân số tại hai xã nằm trên địa bàn khu vực

đèo qua dãy Hòn Giao 12

2.2.2.2 Dân tộc

Đây là địa bàn cư trú chủ yếu của các dân tộc thiểu số bản địa K’Ho là dân tộc bản địa lớn nhất của khu vực này, chiếm khoảng 88,53% tổng số dân của khu vực Số còn lại là dân tộc Kinh, Raglay, Mường, Ê đê, Tày (11,47% tổng số dân của khu vực)

a) Dân tộc K’Ho

Dân tộc K’Ho thuộc nhóm ngôn ngữ Môn-Khơ Me, ngữ hệ Nam Á Hiện nay trên địa bàn cả nước dân tộc này có khoảng 128.723 người, địa bàn cư trú chủ yếu ở Lâm Đồng và một phần phía Tây Khánh Hòa Dân tộc K’Ho gồm các nhóm: Srê, Chil, Nộp, Lạch, Cờ dòn, T’ring Dân tộc K’Ho cư trú tại địa bàn khu vực hai xã qua dãy núi Hòn Giao có khoảng 2.455 người (chiếm 88,53% dân số hai xã), trong

đó có 1.089 người thuộc nhóm Chil (xã Đạ Chais) và 1366 người thuộc nhóm T’ring (xã Sơn Thái) Trước đây, địa bàn cư trú chủ yếu của dân tộc này thuộc thượng lưu sông Krông Nô (Đăk Lăk) Do sống du canh, du cư, họ đã chuyển dần xuống phía Nam (phía Bắc và Đông Bắc Đà Lạt hiện nay) Dân tộc này thích cư trú ở vùng núi cao, địa hình hiểm trở, không thích sống ở các thung lũng thấp hoặc các cao nguyên tương đối bằng phẳng

Hoạt động sản xuất chủ yếu chủ yếu của người K’Ho là trồng trọt (với sản phẩm chính là ngô, lúa rẫy, sắn), phát rừng, săn bắn, hái lượm các sản phẩm từ rừng, đánh bắt cá dưới sông suối, chăn nuôi trâu, bò lấy sức kéo và thịt Công cụ sản xuất

cổ truyền là rìu, xà gạc, gậy chọc lỗ trỉa hạt Người K’Ho còn làm nghề thủ công để cung cấp những sản phẩm cần thiết cho nhu cầu của dân làng và trao đổi

Đơn vị tổ chức xã hội cao nhất mà người K’Ho đạt đến là bon, đứng đầu là già làng Trong gia đình, người phụ nữ làm chủ và có quyền quyết định mọi công việc (theo chế độ mẫu hệ)

12

Tổng hợp từ Niên giám thống kê 2006 của huyện Khánh Vĩnh – Khánh Hòa và huyện Lạc Dương – Lâm

Đồng

Trang 38

chia làm nhiều đợt và gắn liền với các biến động lớn về chính trị, xã hội của đất nước:

+ Đợt di chuyển lớn thứ nhất khi Toàn quyền Đông Dương chủ trương thành lập tỉnh Đồng Nai Thượng, xây dựng Đà Lạt thành nơi nghỉ mát vào đầu thế kỉ XX Luồng di cư này để đảm bảo có đủ lao động xây dựng cơ sở vật chất kĩ thuật cho vùng đất mới khai phá

+ Đợt di chuyển lớn thứ hai: 1954-1975 Trong giai đoạn này đợt di dân ồ ạt diễn ra trong năm đầu, chủ yếu ở Nam Định, Thanh Hóa, Ninh Bình, Nghệ An, Hà Tĩnh Sau đó là từ Quảng Nam, Quảng Ngãi, Bình Định, Phú Yên

+ Đợt di chuyển lớn thứ ba: từ 1975 đến nay với động lựu chính là chiến lược điều chỉnh lao động, mở rộng phát triển kinh tế vùng Tây Nguyên và Đông Nam Bộ

Người Kinh sống tại khu vực đèo qua dãy núi Hòn Giao không nhiều, song lại có vai trò to lớn trong việc đoàn kết, tương trợ và giúp đỡ các dân tộc thiểu số anh em khác tại địa phương

Hoạt động sản xuất chủ yếu của người Kinh ở khu vực này là trồng cây công nghiệp, cây ăn quả, đặc sản, rau ôn đới, trồng hoa, dâu tằm và cây dược liệu, chăn nuôi, buôn bán nhỏ

Người Kinh đi đầu trong việc ứng dụng khoa học kĩ thuật hiện đại, là cơ sở, nền tảng thúc đẩy việc nâng cao đời sống về vật chất và tinh thần của địa phương Tuy nhiên, người Kinh đến khu vực này cũng đã gây ra những tác động không nhỏ trong việc đồng hóa nền văn hóa đặc trưng của các dân tộc thiểu số bản địa

c) Dân tộc Raglay

Dân tộc Raglay thuộc nhóm ngữ hệ Nam Đảo, còn gọi là Hai, Noana, La Vang, cư trú chủ yếu ở phía Tây Khánh Hòa và Bắc Ninh Thuận Tại địa bàn khu vực đèo qua dãy Hòn Giao, dân tộc Raglay có khoảng 65 người (chiếm 2,34% dân

số cả hai xã) Đây là một dân tộc thiểu số bản địa ở khu vực này

Hoạt động kinh tế chủ yếu của người Raglay là làm nương rẫy (với sản phẩm chính là ngô), ruộng nước, săn bắn, hái lượm và các nghề thủ công (rèn, đan lát)

Dân tộc Raglay sống thành từng pa-lây (buôn làng) trên các khu đất cao, bằng phẳng và gần nguồn nước Mỗi pa-lây gồm vài chục nóc nhà của một dòng họ Đứng đầu pa-lây là pô pa-lây (trưởng làng), thường là người có công khai phá đất đầu tiên Người có uy tín nhất trong làng là kây pa-lây (già làng) Trong tổ chức xã

Biểu đồ 1.1: Cơ cấu thành phần dân tộc tại khu vực đèo qua dãy Hòn Giao

50%

39%

K' Ho T’ring K'Ho Chil Kinh Raglay Các dân tộc khác 2%

Trang 39

hội của người Raglay còn tồn tại chế độ mẫu hệ, do đó người phụ nữ là người nắm mọi quyền quyết định các công việc trong gia đình và chủ động trong hôn nhân

d) Dân tộc Nùng

Dân tộc Nùng thuộc nhóm ngôn ngữ Tày- Thái, ngữ hệ Thái – Kađai Dân tộc Nùng không phải là dân tộc bản địa của khu vực này mà là dân tộc di cư từ nơi khác đến

Hoạt động kinh tế chủ yếu của người Nùng tại khu vực này là trồng lúa và ngô Họ kết hợp làm ruộng nước ở các vùng khe dọc với trồng lúa cạn trên các sườn đồi Ngoài ra, họ còn làm nghề thủ công

Tại địa bàn hai xã Đạ Chais và Sơn Thái, đây là một dân tộc thiểu số lại không phải là dân tộc bản địa Do đó, những biểu hiện về bản sắc văn hóa của dân tộc này tại đây rất mờ nhạt

đ) Dân tộc Ê đê

Dân tộc Ê đê thuộc ngữ hệ Nam Đảo, phân bố chủ yếu ở tỉnh Đăk Lăk, Nam Gia Lai, Tây Khánh Hòa và Phú Yên Đây là dân tộc thiểu số bản địa của khu vực này với khoảng 16 người (chiếm 0,58% dân số hai xã)

Hoạt động kinh tế chủ yếu của người Ê đê là làm rẫy, chăn nuôi, săn bắn, hái lượm, đánh cá, đan lát, dệt

Trong tổ chức xã hội của người Ê đê, chế độ mẫu hệ vẫn còn tồn tại Con cái mang theo họ mẹ, chủ nhà là người phụ nữ

e) Dân tộc Tày

Dân tộc Tày thuộc nhóm ngôn ngữ Tày – Thái, ngữ hệ Thái- Kađai Trên phạm vi cả nước, dân tộc này có khoảng 1.477.514 người, là dân tộc đông thứ hai ở nước ta, chỉ xếp sau dân tộc Kinh Đây không phải là dân tộc bản địa của khu vực này mà là dân tộc từ nơi khác di cư đến Hiện nay, tại địa bàn hai xã Đạ Chais và Sơn Thái, dân tộc này chỉ có khoảng 16 người (chiếm 0,58% dân số hai xã) Cũng giống như dân tộc Nùng, do số lượng quá ít, hơn nữa lại không phải là dân tộc bản địa nên những biểu hiện về bản sắc văn hóa của dân tộc này cũng rất mờ nhạt

STT Dân tộc Số lượng (người) Tỉ lệ %/ tổng số Nơi cư trú

1

Bảng 1.7: Thống kê các dân tộc tại khu vực đèo qua dãy Hòn Giao 13

13

Tổng hợp từ Niên giám thống kê 2006 của huyện Khánh Vĩnh – Khánh Hòa và huyện Lạc Dương – Lâm

Đồng

Trang 40

2.2.2.3 Nguồn lao động

Dân số tại hai xã nằm trong khu vực đèo qua dãy núi Hòn Giao đều có kết cấu trẻ và tốc độ tăng trưởng dân số rất nhanh Điều này đã tạo nên một nguồn lao động dồi dào và nguồn bổ sung cũng rất lớn, với tổng số lao động hiện tại chiếm 44,52% dân số hai xã Tuy lực lượng lao động rất đông, song chất lượng nguồn lao động lại rất thấp do trình độ dân trí còn rất hạn chế

Người bản địa K’Ho thuộc nhóm Chil và nhóm T’ring là thành phần dân cư chính tại khu vực này Hiện nay, họ đã sống tập trung, không còn du canh, du cư như trước đây nữa, nhưng họ vẫn giữ được những lối sinh hoạt truyền thống của mình Sự hiểu biết về các điều kiện tự nhiên, trong đó đặc biệt là về rừng núi của họ

vô cùng phong phú Nguồn lao động này nếu được đào tạo, huấn luyện đúng hướng

sẽ là động lực rất lớn cho việc phát triển kinh tế tại địa phương đặc biệt là hoạt động

du lịch sinh thái

2.2.3 Đặc điểm hoạt động kinh tế

2.2.3.1 Nông nghiệp và lâm nghiệp

Đây là hoạt động kinh tế chính của dân cư khu vực này Trong đó, hoạt động quan trọng nhất là trồng trọt và chăn nuôi

Về trồng trọt, cây trồng chính là cà phê và hồng Đây là những cây lâu năm,

là những cây chủ lực đem lại nguồn thu nhập chính cho người dân bản địa Trong thời gian từ một đến hai năm đầu, họ còn trồng xen thêm ngô, đỗ, và lúa rẫy để thu hoạch, tăng thêm thu nhập Hoạt động trồng trọt được tiến hành 1 vụ/năm, với chu

kì canh tác: phác rẫy từ tháng 2 - tháng 3 (cuối mùa khô), chọc lỗ trỉa hạt từ tháng 5

- tháng 6 (đầu mùa mưa), thu hoạch từ tháng 10 - tháng 11 (đầu mùa khô)

Về chăn nuôi, súc vật chính là trâu, bò, lợn Hình thức chăn nuôi phổ biến là thả rông (không làm chuồng trại) Điều này gây ra tình trạng mất vệ sinh và lãng phí nguồn phân bón

Hiện nay, vấn đề phân loại và quy hoạch sử dụng đất đang được thực hiện song vẫn còn nhiều bất cập Nhiều diện tích đất nông nghiệp được quy hoạch bị bỏ trống nhưng một số hộ dân lại không có đất canh tác Chỉ tính riêng xã Đạ Chais đã

có 20% số hộ có diện tích đất sản xuất nhỏ hơn 0,2 ha Đây chính là nguyên nhân gây ra nạn phá rừng, săn bắn, khai thác và xâm hại trái phép các lâm sản rừng

2.2.3.2 Nghề thủ công

Các nghề thủ công chủ yếu là dệt thổ cẩm và đan lát Đối với nghề dệt thổ cẩm, nhìn chung do nguồn nguyên liệu chính là sợi bông được trồng trên các rẫy theo phương thức lạc hậu, thuốc nhuộm phải tự pha chế từ lá cây rừng, công cụ lao động lại rất thô sơ, do đó năng suất đem lại nhìn chung rất thấp Các sản phẩm này chủ yếu phục vụ nhu cầu tiêu dùng tại chỗ, chỉ có một số ít để trao đổi, buôn bán

2.2.3.3 Dịch vụ và thương mại

Hoạt động dịch vụ tại nơi này hầu như chưa phát triển Hiện nay chỉ mới có một số quán ăn, tạp hóa nhỏ lẻ, tự phát tại khu vực chân đèo Hòn Giao (Sơn Thái - Khánh Vĩnh - Khánh Hòa) và tại khu vực Klong Klanh (Đạ Chais – Lạc Dương – Lâm Đồng) còn lại trên suốt tuyến không có một cơ sở dịch vụ nào khác

Ngày đăng: 02/04/2021, 00:04

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w