1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Cuộc đấu tranh chống đồng hóa về văn hóa và tư tưởng của dân tộc việt nam thời kỳ bắc thuộc (179 tcn 905)

118 33 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 118
Dung lượng 604,17 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đây chính là cơ sở để trả lời cho câu hỏi vì sao một dân tộc Việt Nam nhỏ bé mà trong suốt thời kỳ Bắc thuộc với những âm mưu thâm độc của chính quyền phong kiến Trung Quốc nhưng dân tộc

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

_

NGUYỄN MINH TRÍ

CUỘC ĐẤU TRANH CHỐNG ĐỒNG HÓA VỀ VĂN HÓA VÀ TƯ TƯỞNG CỦA DÂN TỘC VIỆT NAM THỜI KỲ BẮC THUỘC (179 TCN - 905)

LUẬN VĂN THẠC SĨ TRIẾT HỌC

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH – NĂM 2009

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

Chuyên ngành: TRIẾT HỌC Mã số: 60.22.80

LUẬN VĂN THẠC SĨ TRIẾT HỌC

Người hướng dẫn khoa học:

TS TRẦN THỊ MAI

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH – NĂM 2009

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan nội dung trong luận văn này là công trình nghiên cứu độc lập, trung thực của bản thân, chưa từng được công bố trên bất kỳ một công trình nghiên cứu nào khác Nếu có gì không đúng, tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm

Tp Hồ Chí Minh, ngày tháng năm 2009

NGUYỄN MINH TRÍ

Trang 4

MỤC LỤC

PHẦN MỞ ĐẦU 1

Chương 1 CHÍNH SÁCH ĐỒNG HÓA VỀ VĂN HÓA VÀ TƯ TƯỞNG CỦA CÁC THẾ LỰC PHONG KIẾN PHƯƠNG BẮC 1.1 Vài nét các thế lực phong kiến phương Bắc 12

1.1.1 Vài nét về Trung Quốc .12

1.1.2 Các triều đại phong kiến phương Bắc (thế kỷ thứ III TCN đến đầu thế kỷ X) 13

1.2 Chính sách đô hộ và âm mưu đồng hóa về văn hóa và tư tưởng của các nhà nước phong kiến phương Bắc đối với Việt Nam 16

1.2.1 Chính sách về chính trị – xã hội 16

1.2.2 Chính sách về kinh tế .21

1.2.3 Chính sách về văn hóa 25

1.2.3 Chính sách về tư tưởng 26

Chương 2 CUỘC ĐẤU TRANH CHỐNG ĐỒNG HÓA VỀ VĂN HÓA VÀ TƯ TƯỞNG CỦA DÂN TỘC VIỆT NAM THỜI BẮC THUỘC (179TCN-905) 2.1 Cuộc đấu tranh chống đồng hóa thể hiện qua những cuộc đấu tranh vũ trang 44

2.1.1 Đặc điểm, tính chất của các cuộc đấu tranh 44 2.1.2 Các cuộc đấu tranh tiêu biểu 46

2.2 Đấu tranh đề kháng văn hoá Trung Hoa 54

2.2.1 Đấu tranh chống chính sách di thực văn hóa chính trị nhằm mục tiêu đồng hóa văn hóa Việt của các thế lực phong kiến Trung Hoa 54

2.2.2 Đấu tranh chống chính sách thủ tiêu văn hóa Việt của các thế lực phong kiến Trung Quốc .59

2.3 Chủ động tiếp thu tinh hoa văn hóa .62

Trang 5

2.3.1 Văn hóa chính trị 63

2.3.2 Văn hóa sản xuất 66

2.3.3 Văn hóa sinh hoạt .68

Chương 3 NGUYÊN NHÂN THÀNH CÔNG VÀ BÀI HỌC LỊCH SỬ CỦA ĐẤU TRANH CHỐNG ĐỒNG HÓA VĂN HÓA VÀ TƯ TƯỞNG CỦA DÂN TỘC VIỆT NAM THỜI BẮC THUỘC 3.1 Nguyên nhân thành công 73

3.1.1 Bản sắc dân tộc là gì? 73

3.1.2 Cơ sở hình thành bản sắc dân tộc .75

3.1.3 Đặc trưng của văn hóa Văn Lang – Âu Lạc 81

3.2 Bài học lịch sử 97

3.2.1 Biết tôn trọng giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc trong quá trình hội nhập 97

3.2.2 Xây dựng nền văn hóa tiến tiến, đậm đà bản sắc dân tộc 99 3.2.3 Phát huy chủ nghĩa yêu nước đáp ứng nhu cầu xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong thời kỳ mới 101 3.2.4 Phát huy sức mạnh của khối đại đoàn kết dân tộc 103 3.2.5 Kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại trong xây dựng và bảo vệ Tổ quốc 105

KẾT LUẬN 107

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 111

Trang 6

PHẦN MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

“Giao lưu và tiếp biến văn hóa là quy luật phát triển văn hóa, quy luật tất yếu của đời sống, một nhu cầu tự nhiên của con người hiện tại” [73, 53] Xét về thực chất, giao lưu văn hóa chính là sự tác động biện chứng giữa các yếu tố nội sinh và ngoại sinh của quá trình phát triển Trong đó yếu tố nội sinh, mà trọng tâm là con người, giữ vai trò quyết định trong việc định hướng mối quan hệ của chúng với các yếu tố ngoại sinh Ngược lại, yếu tố ngoại sinh ảnh hưởng mạnh mẽ dưới dạng kích thích hay kìm hãm sự tiến triển của các yếu tố nội sinh

Kinh nghiệm của thế giới cũng như các nước trong khu vực cho thấy, không một nền văn hóa nào phát triển được bên ngoài sự giao lưu với các nền văn hóa khác Hơn lúc nào hết, đồng thời với việc xây dựng kinh tế, phải tích cực, chủ động giao lưu và tiếp biến văn hóa tiếp thu có chọn lọc tinh hóa văn hóa thế giới Mỗi dân tộc đều có một truyền thống văn hóa của mình, phát triển văn hóa dân tộc chính là góp phần làm cho văn hóa của các dân tộc trong khu vực và thế giới thêm phong phú Quá trình giao lưu đi đôi với tiếp thu tinh hoa văn hóa Á Đông và thế giới càng làm cho văn hóa dân tộc thêm phong phú và sẽ góp phần làm giàu thêm cho văn hóa thế giới Với cách ứng xử ấy cho phép một xã hội, một nền văn hóa biến đổi mà không mất di tính độc đáo và bản sắc riêng của mình; vừa biết tiếp nhận những yếu tố từ bên ngoài mà không để mình bị tha hóa, biến chất Như vậy giao lưu văn giữa các quốc gia là cần thiết và có lợi cho mỗi dân tộc

Ngày nay, toàn cầu hóa không còn là một hiện tượng mới mẻ, nó trở thành xu thế khách quan, thành dòng chảy lôi cuốn mọi quốc gia dân tộc, phá vỡ dần mức độ khép kín ít nhiều còn lại của hệ thống này, sẽ biến tất cả chúng thành những hệ thống mở hoàn toàn và trở thành những phân hệ gắn bó và phụ

Trang 7

thuộc lẫn nhau trong một hệ thống phân công lao động và thị trường toàn cầu Nhờ đó, các sản phẩm từ các thành tựu khoa học – công nghệ được phổ cập khắp toàn thế giới, thông tin và tri thức thông qua internet và các phương tiện truyền thông hiện đại khác trở thành tài sản chung của các dân tộc Đây vừa là

cơ hội để mọi quốc gia dân tộc tiếp thu và hưởng dụng những thành quả văn minh của toàn nhân loại và nhanh chóng tự biến đổi cho kịp trình độ phát triển chung của thế giới, nhưng cũng có thể vừa là nguy cơ với một số dân tộc tự đánh mất bản sắc của mình trong quá trình hội nhập

Việt Nam sau bước hội nhập đầu tiên vào Asean, nay đã là thành viên của WTO, và như thế đã thực sự tham gia vào quá trình toàn cầu hóa Quá trình toàn cầu hóa tạo ra cho Việt Nam những thời cơ thuận lợi, có thể “đi tắt đón đầu” để phát triển cùng các quốc gia phát triển trong khu vực và thế giới Tuy nhiên, toàn cầu hóa cũng đặt ra nhiều thách thức mà dân tộc Việt Nam phải vượt qua Đó là thách thức trong việc giữ vững độc lập tự chủ, giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc… Những thách thức đó bao gồm cả nguy cơ suy thoái, đặc biệt là nguy cơ suy thoái đạo đức, lối sống của một bộ phận người Việt Nam hiện nay Đó là hệ lụy của lối sống của một “xã hội tiêu dùng” đang ảnh hưởng ngày càng sâu rộng trong một bộ phận nhân dân, nhất là giới trẻ Chính lối sống như vậy đã làm băng hoại những nguyên tắc luân lý

sơ đẳng, tạo nên lối sống xa lạ với truyền thống phương Đông và dân tộc, là biểu hiện quan niệm “lệch chuẩn”, đối lập với quan niệm truyền thống tốt đẹp của người Việt Nam Nghị quyết Đại hội toàn quốc lần thứ VIII của Đảng đã chỉ rõ: “Tệ sùng bái nước ngoài, coi thường những giá trị văn hóa dân tộc, chạy theo lối sống thực dụng, cá nhân vị kỷ… đang gây hại đến thuần phong mỹ tục của dân tộc Không ít trường hợp vì đồng tiền và danh dự mà chà đạp lên tình nghĩa gia đình, quan hệ thầy trò, đồng chí, đồng nghiệp” [15, 46]

Trang 8

dân tộc lại được đặt ra một cách bức xúc như hiện nay Bởi đây không chỉ là điều kiện để phát triển lành mạnh con người và xã hội mà còn có ý nghĩa quan trọng đối với sự phát triển bền vững và tiến bộ của đất nước Vì vậy, để từng bước xây dựng được cuộc sống văn minh, hạnh phúc, Đảng và nhân dân Việt Nam đã đề ra mục tiêu: cùng với công nghiệp hóa, hiện đại hóa là xây dựng nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc Mở cửa giao lưu nhằm hội nhập văn hóa là một trong những con đường đúng đắn, con đường tối ưu của việc phát triển nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc Nhận thức đầy đủ tầm quan trọng của vấn đề trên, trong Nghị quyết Hội nghị lần thứ năm của Ban chấp hành Trung ương Đảng khóa VIII đã khẳng định: “Xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc là một bộ phận quan trọng của sự nghiệp cách mạng xã hội chủ nghĩa ở nước ta” [16, 82] Bởi văn hóa không chỉ là nền tảng tinh thần của xã hội, là động lực và mục tiêu để phát triển lành mạnh con người và xã hội mà còn có ý nghĩa quan trọng đối với sự phát triển bền vững và tiến bộ của đất nước Để góp phần vào việc giải quyết nhiệm vụ chung đó, trong những năm gần đây, việc tìm hiểu lịch sử tư tưởng Việt Nam nói chung và lịch sử tư tưởng triết học nói riêng đã trở thành mảng đề tài được sự quan tâm của nhiều nhà nghiên cứu, nhiều học giả với một số lượng công trình nghiên cứu khá đồ sộ và có giá trị khoa học sâu sắc Tuy nhiên, phần lớn các công trình ấy mới chỉ bàn nhiều đến khía cạnh lịch sử, văn hóa, văn học,… của lịch sử tư tưởng dân tộc mà chưa dành cho khía cạnh nghiên cứu lịch sử tư tưởng thấu đáo ngang tầm với nó Điều này khiến cho tư tưởng triết học trong toàn cục lịch sử tư tưởng Việt Nam thể hiện khá mờ nhạt Có thể nói nghiên cứu cuộc đấu tranh chống đồng hoá về văn hóa và tư tưởng của dân tộc Việt Nam thời kỳ Bắc thuộc có ý nghĩa lịch sử nhất định trong giai đoạn hiện nay ở nước ta Do đó, việc tìm hiểu tư tưởng của người Việt trong quá trình chống đồng hóa về văn hóa và tư tưởng tác giả luận văn

Trang 9

không chỉ mong muốn góp phần vào việc làm sáng tỏ khuynh hướng tư tưởng của dân tộc Việt Nam trước thời Bắc thuộc, mà thông qua đó việc tìm hiểu này còn giúp chúng ta trau dồi thêm những hiểu biết của mình về vũ trụ quan, về nhân sinh quan, triết lý sống của dân tộc ta Qua đó khẳng định cách nhìn khách quan, khoa học, đúng đắn về những di sản mà ông cha ta đã dày công tạo dựng trong lịch sử, để từ đó “gạn đục khơi trong”, trân trọng, giữ gìn và phát huy những giá trị tích cực trong mạch ngầm tư tưởng của dân tộc, phục vụ cho sự nghiệp xây dựng và phát triển đất nước trong thời kỳ mới Đây cũng

chính là lí do tác giả luận văn chọn đề tài: “Cuộc đấu chống đồng hóa về văn

hóa và tư tưởng của dân tộc Việt Nam thời kỳ Bắc thuộc (179 TCN – 905)”

làm đề tài luận văn tốt nghiệp bậc cao học

2 Tổng quan tình hình nghiên cứu đề tài

Từ thời kỳ Hùng Vương dân tộc ta đã có một nền văn hoá riêng tạo nên bản lĩnh của dân tộc Đây là nền tảng vật chất và tinh thần cho cuộc đấu tranh trường kỳ, khốc liệt bảo vệ đất nước, bảo vệ nòi giống Đó là nền văn hóa được xây dựng trên cơ tầng văn hóa Đông Nam Á với đặc trưng nổi bật là văn minh lúa nước và văn hóa xóm làng với tính cộng đồng cao Chính dựa trên những giá trị văn hóa này mà dân tộc Việt Nam đã kiên cường đấu tranh chống đồng hóa của các triều đại Trung Hoa Kết quả là không những không bị chính quyền phương Bắc đồng hoá về văn hoá và tư tưởng mà trái lại còn tiếp thu văn hoá Trung Quốc, tạo nên bản sắc văn hoá dân tộc phong phú, đa dạng Đây chính là cơ sở để trả lời cho câu hỏi vì sao một dân tộc Việt Nam nhỏ bé mà trong suốt thời kỳ Bắc thuộc với những âm mưu thâm độc của chính quyền phong kiến Trung Quốc nhưng dân tộc ta không mất đi những cốt cách, linh hồn và bản sắc của dân tộc

Đặc điểm nổi bật của dân tộc Việt Nam trong suốt thời kỳ đấu tranh

Trang 10

các nhà sử học và văn hoá học đào sâu, nghiên cứu, tái hiện lại lịch sử hào hùng của dân tộc Những công trình gần đây của các nhà nghiên cứu khoa học cũng cung cấp cái nhìn khá toàn vẹn về bối cảnh lịch sử của đề tài Có thể kể

ra một số công trình tiêu biểu như: Bộ sách Lịch sử tư tưởng Việt Nam của

Nguyễn Đăng Thục (gồm 6 tập), Nxb Thành phố Hồ Chí Minh, 1998: trình bày các vấn đề về lịch sử tư tưởng Việt Nam Trong đó, tập 1 và tập 2 tác giả bàn về tư tưởng bình dân Việt Nam và tư tưởng Việt Nam từ thời Bắc thuộc đến thời Đinh Lê (tức từ thế kỷ II trước CN đến thế kỷ thứ X) Đây là một bộ sách khá công phu với nhiều dữ kiện, “một công trình phong phú, công phu, nghiêm túc”, là một thành quả đáng ghi nhận của giới nghiên cứu lịch sử tư tưởng Việt Nam trong ngót một nửa thế kỷ Do lĩnh vực, phạm vi khá rộng của công trình,

do vậy đôi khi còn mắc phải những khuyết điểm: thiếu tính chất sử, thiếu tính chất triết học, thiếu tính chất khoa học Dù sao đi nữa, cái quý nhất của công trình này là ở chỗ, nó đã tiên phong trong nghiên cứu lịch sử tư tưởng Việt

Nam Lịch sử tư tưởng Việt Nam tập 1, của GS.TS Nguyễn Tài Thư (chủ

biên), Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội, 1993: trình bày các vấn đề về lịch sử tư tưởng Việt Nam từ đầu công nguyên đến thế kỉ XIX, trong đó có nghiên cứu tư

tưởng của người Viêt thời tiền sử, sơ sử, và thời Bắc thuộc Đại cương Lịch sử

tư tưởng triết học Việt Nam do Nguyễn Hùng Hậu (chủ biên), Nxb Chính trị

quốc gia Hà Nội, 2002: trong đó từ chương 1 đến chương 4, tác giả trình bày khái quát quá trình hình thành và phát triển tư tưởng triết học của Việt Nam từ thời kỳ tiền sử đến năm 938 Chính sự phát triển kinh tế xã hội, văn hóa tinh thần ở hai thời kỳ đầu (thời kỳ tiền sử kéo dài từ kỷ Hồng Bàng đến hết nhà Triệu, tức là đến năm 110 trước Công nguyên; Thời kỳ Bắc thuộc: từ 111 trước công nguyên đến năm 938) đã tạo cơ sở cho sự hình thành và phát triển tư

tưởng triết học của dân tộc trong các thời kỳ tiếp theo Lịch sử tư tưởng triết

học Việt Nam, tập 1, do GS.TS Nguyễn Trọng Chuẩn (chủ biên), Nxb Khoa

Trang 11

học xã hội, Hà Nội, 2006: về nội dung, cuốn sách chia làm ba chương, trình bày tư tưởng triết học Việt Nam từ đầu công nguyên đến thời Trần và thời Hồ Trong đó, tác giả xuất phát từ bối cảnh lịch sử và khuynh hướng phát triển của

tư duy người Việt để trên cơ sở đó, phân tích những vấn đề triết học cơ bản trong cuộc đấu tranh và hội nhập giữa các nền văn hóa (chương 1) Đây là một công trình nghiên cứu công phu và có ý nghĩa quan trọng hiện nay về lịch sử tư

tưởng triết học Việt Nam Lịch sử tư tưởng Việt Nam của Huỳnh Công Bá Nxb

Thuận Hóa, 2006: tác giả trình bày lịch sử phát triển tư tưởng Việt Nam Cuốn sách trình bày nội dung, sự du nhập và phát triển của Nho giáo, Phật giáo, Đạo giáo, Thiên Chúa giáo, Hồi giáo,… ở Việt Nam Đồng thời ở phần dẫn luận tác giả khẳng định tư tưởng Việt Nam chính là tinh hoa của con người Việt Nam được chắt lọc qua bao đời trong quá trình vật lộn với tự nhiên và đấu tranh xã hội của dân tộc Việt Nam, và trở thành những quan niệm về cách ứng xử với tự nhiên và xã hội để tồn tại của con người Việt Nam và trong điều kiện đó hình thành những giá trị tư tưởng và bản sắc của người Việt nổi bật lên theo tác giả là: tinh thần yêu nước, đoàn kết, cộng đồng, dân chủ, sáng tạo, linh hoạt, giản dị,… là những giá trị nổi bật trong bản sắc văn hóa Việt Nam Tác giả khẳng định yêu nước là truyền thống quý báu của dân tộc ta và cũng là một nội dung

cơ bản nhất trong hệ tư tưởng Việt Nam được hình thành trong quá trình dựng

nước và giữ nước Bộ Đại cương lịch sử văn hoá Việt Nam của Nguyễn Khắc

Thuần, 6 tập, Nxb Giáo dục, Thành phố Hồ Chí Minh, 2005 đã trình bày cở nền tảng văn hóa sông Hồng được hình thành trước khi các chính quyền đô hộ phương Bắc vào Việt Nam, các chính sách nhằm đồng hóa dân tộc và cuộc đấu tranh để bảo vệ độc lập chủ quyền và tiếp biến văn hóa Trung Quốc, làm

phong phú nền văn hóa của dân tộc Cuốn sách Những giá trị truyền thống của

dân tộc Việt Nam, của giáo sư Trần Văn Giàu, Nxb Thành phố Hồ Chí Minh,

Trang 12

đã có tên Văn Lang – Âu Lạc đã xây dựng nền văn hóa bản địa độc đáo, đã có một nền đạo đức của một cộng đồng nhân dân được tập hợp từ lâu thành một nước tự chủ, đặc biệt là chủ nghĩa yêu nước Trong tác phẩm này tác giả trình bày cơ sở hình thành và phát triển của tư tưởng yêu nước theo thời gian dựng nước và giữ nước của dân tộc và phát triển thành chủ nghĩa yêu nước có thể đánh tan mọi kẻ thù xâm được

Những trang sử vẻ vang của dân tộc Việt Nam chống phong kiến Trung Quốc xâm lược của Hồng Nam và Hồng Lĩnh (chủ biên), Nxb Khoa học xã

hội, Hà Nội, 1984 đã trình bày cơ sở sức mạnh giữ nước của dân tộc ta từ buổi bình minh dựng nước cho đến đế quốc Pháp xâm lược nước ta Toàn bộ cuốn sách gồm: lời nói đầu, sáu chương và cuối cùng là phần tổng luận Trong chương một, tác giả trình bày thời đại văn minh sông Hồng, thời đại Văn Lang, Âu Lạc đã hình thành nhà nước đầu tiên, đồng thời hình thành một nền văn hóa dân tộc với một bản sắc độc đáo Từ đó cộng đồng dân tộc Việt xây dựng một lối sống riêng có bản lĩnh vững vàng, có một nền tảng xã hội, một lối sống, một truyền thống Việt Nam,… khác với dân tộc khác, là nền tảng để chống lại chính sách đồng hóa của các triều đại phương Bắc Chương thứ hai tác giả trình bày các chính sách của các triều đại phong kiến Trung Quốc khi xâm lược nước ta trên các lĩnh vực chính trị, xã hội, văn hóa, tư tưởng và các cuộc đấu tranh bảo vệ đất nước của dân tộc Việt Nam (từ cuộc kháng chiến chống Triệu Đà bị thất bại vào cuối đời An Dương Vương năm 179TCN, cho

đến chiến thắng Bạch Đằng lịch sử năm 938) Thời đại Hùng Vương (lịch sử,

kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội) của năm tác giả: Văn Tân, Nguyễn Linh, Lê Văn Lan, Nguyễn Đổng Chi, Hoàng Hưng, Nxb.Văn học, Hà Nội, 2008 Tác giả chứng minh vào thời đại Hùng Vương, đã xuất hiện trên đất nước ta một nền văn hóa khá cao, một nền văn minh nông nghiệp rực rỡ có sức sống mãnh liệt của dân tộc, sức mạnh đoàn kết chiến đấu của nhân dân ta Tất cả cấu

Trang 13

thành một “bản lĩnh dân tộc” chống lại các thế lực thù địch Bên cạnh đó công

trình nghiên cứu Hùng Vương qua truyền thuyết và huyền thoại của Nguyễn Vũ

Tuấn Anh, Nxb Văn hóa – Thông tin, Hà Nội, 1999 Thông qua truyền thuyết và huyền thoại, tác giả chứng minh xã hội Văn Lang thời các vua Hùng có một nền văn minh đạt đến đỉnh cao của nền văn minh nhân loại thời cổ đại Nền văn minh kỳ vĩ của Văn Lang là kết quả của sự kết hợp bởi sức mạnh của vũ trụ với tinh hoa trí tuệ của người Lạc Việt Nền văn minh đó đã để lại những giá trị tri thức vô cùng to lớn cho đến tận ngày nay Đó là thiên văn, lịch pháp,… và những giá trị tư tưởng của nền văn hiến nhân văn đầy mơ ước của nhân loại kể từ khi con người tự nhận thấy giá trị của mình trong vũ trụ Chính những giá trị đó, là nguyên nhân cho sự tồn tại gần 4.000 năm của đất nước Văn Lang

Ngoài ra, trong những năm gần đây cũng xuất hiện một số bài viết tiếp cận đến văn hoá và tư tưởng trong thời kỳ đấu tranh chống đồng hoá thời Bắc thuộc ở những khái cạnh khác nhau được đăng rải rác trên các tập chí và trên các báo cũng đã đạt được một số kết quả nhất định, nó cung cấp cho chúng ta cách nhìn đầy đủ về nền văn hoá và tư tưởng của dân tộc ta đã được hình thành khá sớm trong quá trình đấu tranh để bảo vệ độc lập chủ quyền Tuy nhiên, việc nghiên cứu, tìm hiểu không chỉ dừng ở lại đó là đủ

Trên cơ sở kế thừa những thành tựu của những người đi trước, trong khuôn khổ của một luận văn cao học và khả năng còn nhiều hạn chế, người viết tiếp tục tìm hiểu, góp phần vào việc làm sáng tỏ và khẳng định những giá trị về mặt tư tưởng của dân tộc ta đóng góp vào sự tiến triển nội tại của dòng chảy tư tưởng Việt Nam trong lịch sử

3 Mục đích, nhiệm vụ và phạm vi nghiên cứu của luận văn

Mục đích của luận văn là nhằm góp phần làm rõ cuộc đấu tranh chống

Trang 14

phương Bắc trên lĩnh vực văn hóa và tư tưởng Qua đó khẳng định nguyên nhân thắng lợi, bài học lịch sử của cuộc đấu tranh chống đồng hoá về văn hoá và tư tưởng thời kỳ Bắc thuộc đối với nước ta trong giai đoạn hiện nay

Để đạt được mục đích đó, luận văn có nhiệm vụ:

- Trình bày những nội dung của chính đồng hóa về văn hóa và tư tưởng của các thế lực phong kiến phương Bắc

- Làm rõ làm rõ cuộc đấu tranh chống đồng hóa về văn hóa và tư tưởng của dân tộc Việt Nam thời Bắc thuộc

- Phân tích nguyên nhân thành công và bài học lịch sử cuộc đấu tranh chống đồng hóa của dân tộc Việt Nam thời Bắc thuộc

Để đạt được mục đích và nhiệm vụ, luận văn nghiên cứu trong phạm vi:

- Về phạm vi không gian, luận văn khảo cứu các tài liệu từ nhiều nguồn khác nhau viết về cương vực của Văn Lang – Âu Lạc xưa, tương ứng với khu vực Bắc bộ và Bắc Trung Bộ ngày nay

- Về phạm vi thời gian, luận văn xác định thời gian từ năm 179 TCN đến năm 905, tương ứng với thời kỳ các triều đại phong kiến Trung Quốc xâm lược và đô hộ Âu Lạc Tuy nhiên để làm rõ hơn mục đích của luận văn, tác giả luận văn mở rộng thời gian sang cả giai đoạn thế kỷ II trước Công nguyên trở về trước để tìm hiểu tư tưởng của người Việt bước đầu dựng nước

4 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu của luận văn

Để đạt được mục đích và nhiệm vụ đã đề ra, luận văn dựa trên thế giới quan và phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử, những quan điểm của chủ nghĩa Mác – Lênin về lịch sử triết học; những luận điểm cơ bản của Đảng và Nhà nước về vấn đề văn hóa, đạo đức xã hội Đồng thời luận văn còn sử dụng những phương pháp nghiên cứu khác như

Trang 15

phương pháp lôgic - lịch sử, phương pháp phân tích, tổng hợp đối chiếu - so sánh, diễn dịch và quy nạp …

5 Đóng góp của luận văn

Về tư liệu, luận văn cung cấp những tư tiệu một cách hệ thống có thể dùng làm tài liệu tham khảo cho sinh viên, học viên cao học không chuyên ngành và chuyên ngành triết học, những người quan tâm đến lĩnh vực lịch sử tư tưởng Việt Nam

Về lý luận, luận văn làm sáng tỏ nền văn hóa và tư tưởng của dân tộc Việt Nam hoàn toàn không phải do người Trung Quốc đến “khai hóa” mà đã được hình thành trước khi Trung Quốc xâm lược Thời kỳ Văn Lang, Âu Lạc dân tộc Việt Nam đã tạo dựng một bản sắc văn hóa riêng đủ bản lĩnh, đủ sức mạnh để tiếp thu những gì là tinh hoa và để tự vệ âm mưu nô dịch của ngoại bang

Về thực tiễn, khơi dạy niềm tự hào đối với những di sản văn hóa và tư tưởng của ông cha ta để lại, trau dồi thêm vốn kiến thức, khơi dạy lòng yêu nước, ý thức dân tộc cho lớp trẻ trong quá trình xây dựng đất nước Đồng thời, rút ra bài học lịch sử phục vụ công cuộc đổi mới đất nước, xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội

6 Kết cấu của luận văn

Xuất phát từ mục đích và nhiệm vụ đã nêu, ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của luận văn được kết cấu thành ba chương, bảy tiết

Trang 16

Chương 1 CHÍNH SÁCH ĐỒNG HÓA VỀ VĂN HÓA VÀ TƯ TƯỞNG CỦA CÁC THẾ LỰC PHONG KIẾN PHƯƠNG BẮC

1.1 VÀI NÉT CÁC THẾ LỰC PHONG KIẾN PHƯƠNG BẮC

1.1.1 Vài nét về Trung Quốc

Trung Quốc trong suốt chiều dài lịch sử là một nước lớn ở vùng Đông Á Trên lãnh thổ Trung Quốc có hai con sông lớn chảy qua, đó là sông Hoàng Hà (dài 5.464 km) ở phía Bắc và sông Trường Giang (dài 6.300 km) ở phía Nam Hoàng Hà từ xưa thường gây ra lũ lụt, nhưng do đó đã bồi đắp cho đất đai màu mỡ, tạo điều kiện thuận lợi cho sự phát triển nông nghiệp khi công cụ lao động còn tương đối thô sơ Chính vì vậy, nơi đây trở thành cái nôi của nền văn minh Trung Quốc

Trong lịch sử cổ đại, Trung Quốc là một nước lập quốc sớm và trở thành một trong những trung tâm văn minh lớn của phương Đông Khi mới thành lập nước (vào thế kỷ XXI TCN) địa bàn Trung Quốc chỉ mới là một vùng ở trung lưu lưu vực Hoàng Hà Từ đó lãnh thổ Trung Quốc được mở rộng dần, nhưng đến thế kỷ thứ III TCN, tức là đến cuối thời cổ đại, phía Bắc của cương giới Trung Quốc chưa vượt quá dãy Vạn lý trường thành ngày nay, phía Tây mới đến Đông Nam tỉnh Cam Túc, phía Nam chỉ bao gồm một dải đất nằm dọc theo hữu ngạn Trường Giang mà thôi Từ cuối thế kỷ thứ III TCN Trung Quốc trở thành một nước phong kiến thống nhất Từ đó nhiều triều đại của Trung Quốc đã bành trướng các nước xung quanh và phát triển thành một đế chế lớn, đất rộng, người đông Quá trình dựng nước của Trung Quốc gần như đi đối với quá trình bành trướng với hệ tư tưởng làm nền tảng của chủ nghĩa bành trướng Trung Quốc là thuyết “bình thiên hạ” Từ đời Chu, các vua Trung Quốc tự xưng là “Thiên tử” (con trời), làm vua theo “Thiên mệnh” (mệnh trời) Đó là sự thần thánh hóa quyền uy, chức năng của nhà vua và cả bản thân nhà vua

Trang 17

theo quan niệm tôn quân tuyệt đối Do đó, tất cả đất đai, con người dưới gầm trời đều là của vua “Quân tử” là mẫu người lý tưởng của giai cấp thống trị, sinh ra thực hiện cái đạo “tề gia, trị quốc, bình thiện hạ” Khái niệm “thiên hạ” từ đó trở thành tham vọng đi bành trướng của giai cấp thống trị Trung Quốc Đây là học thuyết chính trị được khoác màu tôn giáo nhằm biện hộ cho hoạt động bành trướng

Kế đó là một loạt tư tưởng, tâm lý đầy tinh thần tự tôn của nước lớn của dân tộc siêu đẳng dần dần phát sinh và phát triển Trung Quốc tự xem mình là

ở giữa vũ trụ, là cao qúy, tinh hoa nhất (“Hoa”), lớn mạnh nhất (“Hạ”), còn các dân tộc khác là mọi rợ, thấp kém, thậm chí không phải là người Với những quan niệm như thế, giai cấp thống trị cho mình cái quyền “bình thiên hạ” Những thủ đoạn xảo quyệt về chính trị, quân sự đã thực hiện mục tiêu đi bành trướng các nước trong đó có Việt Nam

1.1.2 Các triều đại phong kiến phương Bắc (thế kỷ thứ III TCN đến đầu thế kỷ X)

Sau khi đánh bại An Dương Vương, Triệu Đà nhập nước Âu Lạc vào nước Nam Việt Bắt đầu thời kỳ dân tộc Việt Nam chịu ách thống trị của ngoại bang Ách thống trị ngoại bang kéo dài hơn nghìn năm, nhưng không liên tục Trải qua các triều đại Tây Hán, Đông Hán, Đông Ngô (thời Tam Quốc), Tần, Tống, Tề, Lương, Trần, Tùy, Đường Các triều đại Trung Quốc xâm lược Việt Nam là những thế lực có tiềm năng về mọi mặt như binh hùng, tướng mạnh, chiến lược, chiến thuật quân sự giỏi, vũ khí hiện đại hơn dân tộc ta rất nhiều Nhà Tần thành lập năm 221 TCN, cho quân đánh xuống nước ta từ năm

214 TCN và bị đại bại vào năm 208 TCN, sau khi Tần Thủy Hoàng qua đời Nhà Tần xâm lược nhưng vì thất bại nên không lập được chính quyền đô hộ ở nước ta

Trang 18

Nam Việt do Triệu Đà (Triệu Vũ Đế) lập ra từ năm 206 TCN, tiến hành xâm lược nước ta từ năm 183 TCN nhưng bất thành Nhờ xảo quyệt lợi dụng hôn nhân, Triệu Đà đã đánh bại được An Dương Vương và đô hộ nước ta từ năm 179 TCN đến năm 111 TCN (tổng cộng là 68 năm)

Tây Hán cũng tức là Tiền Hán, do Lưu Bang (Hán Cao Tổ) lập ra từ năm

206 TCN Năm 111 TCN, nhà Tây Hán đánh đổ Nam Việt rồi thay Nam Việt đô hộ nước ta từ năm 111 TCN đến năm thứ 08 SCN

Nhà Tân do Vương Mãng lập ra từ năm 08 và kéo dài đến năm 24 Sử Trung Quốc thường gọi đây là loạn Vương Mãng Trong suốt thời gian tồn tại đó, nhà Tân đã thay nhà Tây Hán đô hộ nước ta (tổng cộng là 16 năm)

Nhà Đông Hán cũng tức là Hậu Hán, do Lưu Tú (Hán Quang Võ) dựng lên từ năm 23 và trên danh nghĩa kéo dài cho đến năm 220 Trong suốt thời gian tồn tại của mình, nhà Đông Hán đã thay nhà Tần đô hộ nước ta (tổng cộng là 197 năm)

Nhà Ngô do Tôn Quyền (Ngô Đại Đế) lập ra Từ năm 220 Nhà Đông Hán sụp đổ, Trung Quốc bước vào thời kỳ hỗn chiến kịch liệt giữa ba nước Ngô, Thục và Ngụy, sử gọi đó là Tam Quốc Trong thời kỳ này, nhà Ngô thống trị nước ta Trên danh nghĩa nhà Ngô đô hộ nước ta từ năm 220 đến năm 280 (tổng cộng là 60 năm)

Nhà Tấn do Tư Mã Viêm (Tấn Vũ Đế) lập ra từ năm 265 nhưng chỉ thực sự chi phối được toàn cõi Trung Quốc và thay nhà Ngô đô hộ nước ta từ năm

280 Lich sử nhà Tấn cũng chia làm hai thời kỳ: Tây Tấn (265 -316) mở đầu là

Tư Mã Viêm và Đông Tấn (316 - 420) mở đầu là Tư Mã Vệ (Tấn Nguyên Đế) Nhà Tấn thiết lập ách đô hộ ở nước ta từ năm 280 đến 420 (tổng cộng là 140 năm)

Sau khi Tấn suy sụp, ở Trung Quốc diễn ra cục diện Nam – Bắc Triều, đất nước ta bị đặt dưới ách đô hộ của Nam Triều Nam Triều gồm 4 triều đại

Trang 19

kế tục nhau đó là : Tống (420 – 479) do Lưu Dục (Tống Vũ Đế) thành lập, Tề (479 – 502) do Triệu Đạo Thành (Tề Cao Đế) dựng lên Lương (502 – 557) do Tiêu Diễn (Tiêu Vũ Đế) lập ra và Trần (557 - 589) do Trần Bá Tiên (Trần Vũ Đế) tạo dựng Như vậy các triều đại của Nam Triều nối nhau đô hộ nước ta từ năm 420 đến 542 (tổng cộng là 122 năm) Năm 542, nhân dân ta do Lý Bôn (tức Lý Bí) lãnh đạo đã nỗi dậy khởi nghĩa và giành được chính quyền Trên danh nghĩa, chính quyền này tồn tại 60 năm (542 – 602)

Nhà Tùy do Dương Kiên (Tùy Văn Đế) lập ra từ năm 589 (tức là nhà Tùy đã ra đời ngay sau khi cục diện Nam Bắc triều chưa chấm dứt) và tồn tại cho đến năm 618 Năm 602, chính Dương Kiên (Tùy Văn Đế) là kẻ đã sai quân sang đánh đổ chính quyền Lý Phật Tử Nhà Tùy đô hộ nước ta từ năm 602 đến năm 618 (tổng cộng là 16 năm)

Nhà Đường do Lý Uyên (Đường Cao Tổ) lập ra vào năm 618 Nhà Đường tồn tại từ năm 618 đến năm 907 nhưng chính quyền đô hộ của nhà Đường chỉ kéo dài từ năm 618 đến năm 905 (tổng cộng là 287 năm) Chính quyền đô hộ cuối cùng của nhà Đường là chính quyền của Đường Ai Đế (904 – 907) và viên quan đứng đầu chính quyền đô hộ cuối cùng của nhà Đường ờ nước ta là Độc Cô Tổn

Trong hơn nghìn năm xâm lược và đô hộ nước ta, các triều đại phong kiến phương Bắc đã thực hiện nhiều chính sách và biện pháp đồng hóa nhân dân, biến nước ta thành một bộ phận đất đai của Trung Quốc Trong cuộc đầu tranh trường kỳ và vô cùng gian khổ, quyết liệt đó, đã nhiều lần, nhân dân ta giành thắng lợi, đuổi kẻ thù ra khỏi bờ cỏi, xây dựng chính quyền tự chủ, tự định đoạt công việc của mình Công cuộc đấu tranh đó cũng là cơ sở cho nhân dân ta giữ gìn và phát triển sản xuất, phát triển nền kinh tế Mặc dù, từ Triệu đến Đường, chính quyền đô hộ ra sức cai trị, vơ quét rất tàn bạo nhưng vẫn

Trang 20

là thời kỳ đầy máu và nước mắt, nhưng cũng là thời kỳ biểu hiện hết sức quật cường cũng như sự vươn lên kỳ diệu của một tộc người” [68, 71] Chính vì vậy, Trần Quốc Vượng đã nhận định: “Thời kỳ này gọi là thời nghìn năm Bắc thuộc, song có lẽ đúng hơn là thời Bắc thuộc và chống Bắc thuộc, vì người Việt chưa bao giờ chịu khuất phục” [73, 134]

1.2 CHÍNH SÁCH ĐÔ HỘ VÀ ÂM MƯU ĐỒNG HÓA VỀ VĂN HÓA VÀ

TƯ TƯỞNG CỦA CÁC NHÀ NƯỚC PHONG KIẾN PHƯƠNG BẮC ĐỐI VỚI VIỆT NAM

1.2.1 Chính sách về chính trị – xã hội

Với âm mưu muốn biến nước ta vĩnh viễn thành bộ phận lãnh thổ của

Trung Quốc; dùng nước ta làm bàn đạp đánh xuống miền Đông Nam Á, độc chiếm khu vực mậu dịch biển từ đó đánh qua miền Ấn Độ Dương Để thực hiện âm mưu trên, chế độ phong kiến đã sử dụng các thủ đoạn:

- Thiết lập bộ máy đô hộ, đưa quan lại, pháp luật sang để cai trị Đồng thời, chinh phục quân sự tàn bạo nhằm thôn tính lãnh thổ của các nước láng giềng, bành trướng đế chế và đồng nhất hóa đế chế với quốc gia

- Dùng chính sách mua chuộc bằng vật chất, dụ dỗ hoặc phá rối các quốc gia và các cộng đồng láng giềng, xúi giục họ đánh nhau rồi mượn cớ can thiệp

- Thiết lập nền thống trị chính trị – hành chính khắc nghiệt, bóc lột đè nặng, với quan đô hộ, quân chiếm đóng và một bè lũ quan lại thu cống phẩm, tô thuế, vơ vét của cải của các vùng đất chinh phục

- Đồng hóa cư dân bản địa, dựa trên sự hủy diệt mọi tinh hoa văn hóa dân tộc rồi áp đặt lên vùng đất đai và cư dân bị chinh phục cái gọi là “chính quốc Trung Quốc”

Trang 21

Với những thủ đoạn thâm độc nói trên, các chính quyền phong kiến Trung Quốc thể hiện ý chí và quyết tâm cao độ trong mưu đồ bành trướng, mở rộng lãnh thổ, thủ tiêu vĩnh viễn nền độc lập của Âu Lạc

Sau khi chiếm được Âu Lạc, vua Nam Việt là Triệu Võ Vương, tức Triệu Đà đã sát nhập đất đai Âu Lạc vào phạm vi quốc gia của Nam Việt và chia Âu Lạc thành hai quận là Giao Chỉ (Bắc bộ), Cửu Chân (Bắc Trung bộ) cử quan lại, quân lính sang cai trị và đóng đồn

Ở mỗi quận, Triệu Đà đặt một chức điền sứ để cai quản, thu cống phẩm và một chức xã tướng để chỉ huy quân đội chiếm đóng Dưới quận, chính quyền nhà Triệu vẫn giữ nguyên hệ thống hành chính cơ sở của người Việt trước đây Đứng đầu liên minh bộ lạc vẫn là lạc tướng cổ truyền và điều đó có nghĩa là tổ chức chính trị – xã hội địa phương của người Việt vẫn chưa có sự xáo trộn đáng kể Ngoài ra Triệu Đà còn thực thi chính sách mị dân “Hòa Tập Việt Chúng” mà mục tiêu chủ yếu là dung dưỡng, sử dụng bộ máy nhà nước cũ của Âu Lạc để thực thi chính sách “dùng người Việt đánh người Việt” Bản thân Triệu Đàđđể thực hiện âm mưu bành trướng và đồng hóa người Việt của mình cũng sống theo phong tục Việt, lấy vợ Việt, … thâu hóa chế độ tù trưởng Việt vào cơ sở thống trị hạ tầng và khi đối đầu với Hán thì tự xưng là “Man di đại trưởng lão” (Lão già tù trưởng lớn của các dân tộc man di) “Với hệ thống quyền lực dung hợp thành tố thống trị ngoại bang với hệ thống hành chính bản địa nên trong hơn nữa thế kỷ lệ thuộc nhà Triệu, tình hình Âu Lạc không mấy biến động, cấu trúc xã hội không mấy thay đổi” [41, 124]

Năm 111TCN, nhà Hán sau khi thay thế nhà Tần (202 TCN) đã nêu cao đường lối bành trướng nước lớn, đưa quân chinh phục Nam Việt (bao gồm cả Âu Lạc) Nhà Hán chia lại khu vực hành chính và tổ chức bộ máy cai trị trên vùng đất mới chiếm được theo chế độ quận huyện của chính quốc, biến Âu

Trang 22

quận: Đạm Nhĩ, Chu Nhai (ngoài đảo Hải Nam), Nam Hải, Hợp Phố (Quảng Đông), Uất Lâm, Thương Ngô (Quảng Tây), Giao Chỉ (Bắc Bộ), Cửu Chân (Thanh Nghệ Tĩnh), Nhật Nam (từ Đèo Ngang trở vào Nam cho đến khoảng Quảng Nam – Đà Nẵng

Năm 106 TCN, đặt châu Giao Chỉ, thống suất 7 quận ở lục địa, tri sở đặt ở quận Giao Chỉ, là quận lớn nhất và quan trọng nhất Đứng đầu quận là chức thứ sử, phụ trách thanh tra công việc các quận Đứng đầu các quận có một viên thái thú, chuyên trông coi việc hành chính và thu cống phẩm trong quận Bên cạnh thái thú có viên đô úy phụ trách quân sự, chỉ huy quân lính đàn áp các cuộc đấu tranh của nhân dân địa phương Ở các huyện, nhà Hán vẫn duy trì phương thức cai trị của nhà Triệu, dùng người Việt trị người Việt, các Lạc tướng vẫn được cai quản địa phương của mình với tước hiệu huyện lệnh Cách cai trị của nhà Triệu và nhà Tây Hán rất thâm độc, vừa đảm bảo nguồn bóc lột vừa ít đụng chạm đến quyền lợi của tầng lớp quí tộc bản địa

Nhìn chung, tổ chức quyền lực của nhà Hán thiết lập trên đất Âu Lạc có phần chặt chẽ hơn thời nhà Triệu Chế độ quận huyện được xác lập khắp nơi Hệ thống quan lại xuyên suốt từ Trung ương đến châu và đến tận huyện (đơn

vị cơ sở) Phan Huy Lê nhận định: “Tuy nhà Hán đã đặt được bộ máy đô hộ ở cấp châu, cấp huyện Xong chính giới thống trị Hán tộc cũng phải thú nhận rằng tuy chúng chỉ có thể “dùng tục cũ mà cai trị”, chúng không nắm được huyện vì ở huyện vẫn phải theo chế độ lạc tướng cha truyền con nối của người Việt Điều đó có nghĩa là đẳng cấp quý tộc Việt cổ truyền vẫn giữ được thế mạnh là uy quyền của dân tộc mà cai quản dân Việt”[32, 159]

Từ năm 43, sau cuộc khởi nghĩa của Hai Bà Trưng thất bại, chế độ Lạc tướng cha truyền con nối của người Việt ở cấp huyện bị bãi bỏ Chế độ quận huyện của đế chế Hán được tăng cường Về sau một số ít người Việt trung thành với chính quyền đô hộ được cử giữ chức huyện lệnh, nhưng không có

Trang 23

quyền thế tập Tuy nhiên bọn thống trị Hán tộc vẫn không với tay được xuống dưới cấp huyện, vẫn không khống chế được cơ tầng xóm làng của xã hội Việt Nam [32, 217]

Có thể khẳng định rằng, sau những biện pháp quyết liệt của nhà Hán (Mã Viện), tổ chức quyền lực ở các quận huyện đã mạnh hơn trước, nhất là ở cấp huyện Tuy nhiên để quyền lực nhà Hán có hiệu quả thực tế, Mã Viện đã xem xét lệ tục của người Việt để rồi tâu lên Hán Quang Vũ là chưa thể áp dụng pháp chế nhà Hán trong cộng đồng dân Lạc Việt Bởi, theo Mã Viện thì luật Việt và luật Hán khác với nhau tới 10 điều, Mã Viện xin làm sáng tỏ “cựu chế” đối với người Việt Cựu chế ở đây chính là thể chế cũ dùng người Việt trị người Việt mà cai trị đã được đặt ra từ thời Hán Vũ Đế Theo Hậu Hán thư

“Viện tâu rằng: luật Việt và luật Hán khác nhau tới 10 việc, [nay] xin làm sáng tỏ cựu chế đối với người Việt” [36, 119] Như vậy, tuy đã phá được chế độ Lạc tướng, nhà Đông Hán vẫn áp dụng sách lược cũ mà trị Điều này đã biểu hiện xã hội Lạc Việt bấy giờ đã xây dựng được một cơ cấu xã hội vững chắc mà nền tảng là xóm làng của người Việt Chính vì vậy khiến cho chính sách thống trị của nhà Hán (và các triều đại tiếp sau) vẫn chỉ là một chính sách

“ràng buộc” lỏng lẻo Nhiều miền đất nước Việt cổ vẫn còn nằm ngoài phạm

vi khống chế của chính quyền phong kiến phương Bắc

Sau khi nhà Tấn diệt nhà Ngô, đã lập thêm quận mới (quận Cửu Đức) nhằm tăng cường ách thống trị chính quyền đô hộ đối với Âu Lạc Sau khi nhà Tần sụp đổ, nhà Tống kế đến là nhà Lương tiếp tục chủ trương lập thêm châu, quận mới của chính quyền đô hộ ở vùng Âu Lạc nhằm tăng cường việc quản lý và khống chế chặt chẽ hơn nhân dân bản địa, mở rộng phạm vi lệ thuộc vào Trung Quốc Cùng với việc thay đổi các đơn vị hành chính là việc tổ chức chặt chẽ hơn bộ máy thống trị của chính quyền đô hộ Đứng đầu châu vẫn là Thứ

Trang 24

tào,… cai quản Đứng đầu các huyện là các chức huyện lệnh do người Trung Quốc đảm nhận Bên cạnh đó, chính quyền đô hộ còn cho xây dựng các thành lũy lớn ở các quận, châu để đàn áp phong trào đấu tranh của nhân dân

Sang thời nhà Đường, hệ thống quận huyện của nhà Tùy bị bãi bỏ Năm

622, nhà Đường lập ra Giao Châu đô hộ phủ, tới năm 679 đổi thành An Nam đô

hộ phủ “Đô hộ phủ” là cơ quan cai trị bằng bạo lực quân sự các thuộc quốc

chu vi của đế chế nhà Đường, tức khu vực “ngoại địa” Việc thiết lập An Nam

đô hộ phủ đánh dấu sự thất bại của bọn thống trị Trung Quốc với âm mưu đồng

hóa nhân dân Việt cổ và biến Việt thành “nội địa” của Trung Hoa Ngoài ra, nhà Đường còn tiến hành thêm một số sửa đổi về phân chia khu vực hành chính, nhưng nhìn chung thì sửa đổi đó không lớn lắm

Trong nghìn năm Bắc thuộc, các triều đại phong kiến Trung Quốc luôn tìm cách biến Âu Lạc thành một bộ phận lãnh thổ của Trung Quốc, luôn tìm cách xóa bỏ quốc hiệu của dân tộc ta

Ngoài ra bọn thống trị Trung Hoa còn thực hiện chính sách di dân (theo hướng tự nguyện, lưu đày, lính thú,…) đến xen kẽ với dân Việt Đó cũng là chính sách lâu dài trong công cuộc đồng hóa, Hán hóa Di dân Hán vào đất Việt “sinh cơ lập nghiệp” bằng nhiều cách, như xâm chiếm ruộng đất, tài sản của dân Việt, kéo theo bè cánh phục vụ cho chính quyền Hán, có người đã trở thành các viên quan đắc lực trong quá trình Hán hóa, đàn áp dân Việt Nhiều người lấy vợ Việt và trở thành những đại tộc có thế lực mạnh, khuynh đảo đất nước Những quí tộc Hán và quan lại người Hán ở đất Việt, tăng cường các biện pháp cai trị Chẳng hạn, Thái thú Cửu Chân là Nhâm Diên và Thái thú Giao Chỉ là Tích Quang có quyền hành rất lớn át cả Thứ sử Trường hợp Thái thú Tô Định trong chính sách đàn áp bóc lột dân Việt đã dẫn đến cuộc khởi nghĩa của Hai Bà Trưng vào năm 40

Trang 25

1.2.2 Chính sách về kinh tế

Chính sách bao trùm của tất cả các chính quyền phong kiến Trung Quốc là ra sức vơ vét tài nguyên và của cải trên toàn cõi Việt cổ Tuy nhiên biện pháp của mỗi thời kỳ khác nhau Dựa vào một tổ chức quan lại, quân đội tương đối chặt chẽ và khá mạnh, chính quyền đô hộ ra sức bóc lột và đàn áp nhân dân các châu, quận Chúng ra sức chiếm đất, xây dựng cơ sở kinh tế riêng để duy trì lâu dài nền thống trị nước Việt

Thứ nhất, là thực hiện chính sách đồn điền Ngay từ thời nhà Hán thống trị

đã thực hiện chính sách đồn điền nhằm giữ đất đai mới chiếm được của nhân dân Việt Chúng đưa tội nhân, dân nghèo người Hán đến ở lẫn với người Việt,

xâm lấn, khai phá ruộng đất để lập đồn điền Theo Hậu Hán thư và Thủy kinh chú cho biết Mã Viện đi đến đâu đều đắp thành, đào ngòi đề thông đường, lấy

nước tưới tiêu Mã Viện còn “lập ấp trại” để một số quân lính làm ruộng gọi là “Mã lưu dân” Số người này có thể đến mấy vạn Thời Ngô, chính quyền đô hộ trực tiếp quản lý loại đồn điền do người Việt, người Hoa cày cáy, biến họ thành nông nô của nhà nước đô hộ Đây là chính sách chính quyền phong kiếân thực thi nhằm quản lý đất đai và thực hiện âm mưu lấy người Việt trị người Việt của chính quyền đô hộ

Thứ hai, chúng bắt nhân dân Việt cống nạp, đây cũng là một trong những

hình thức bóc lột nặng nề mà chính quyền đô hộ sử dụng Vào thời Nam Việt

(179TCN – 111TCN), Triệu Đà đặt ở Việt hai viên sứ giả chuyên lo việc đốc thúc cống phẩm Sứ giả nhà Triệu đã cố gắng tiến hành lập sổ hộ khẩu cư dân của hai quận Giao Chỉ, Cửu Chân (tổng số kê khai là 40 vạn dân)

Các loại sản phẩm lao động của nhân Việt, những của cải thiên nhiên thuộc phạm vi lãnh thổ nước ta đều là đối tượng cống nạp của chính quyền và bọn quan lại đô hộ Với chế độ cống nạp, bọn phong kiến phương Bắc đã vơ

Trang 26

tham đã lợi dụng chế độ cống nạp để vơ vét của cải, làm giàu cho cá nhân Sách Hậu Hán thư cho biết: “Xưa đất Giao Chỉ có nhiều sản vật quý, ngọc trai, sừng tê, ngà voi, đồi mồi, hương lạ, gỗ quý, lông chim trĩ, không thứ gì không có” Các Thứ sử trước sau phần lớn không thanh liêm Từ thời Đông Hán, sử

sách Trung Quốc đã ghi rằng “Ở đất Giao Chỉ thứ sử trước sau phần lớn không

thanh liêm, trên bợ đỡ kẻ quyền quý, dưới thì vơ vét của cải nhân dân, đến khi đầy túi rồi xin dời đổi” Bản thân Châu Thăng, thứ sử Giao Chỉ đã tâu với vua

nhà Hán “Giao Chỉ ở nơi xa cách, quan lại tập tục tham ô, làm đủ điều gian trá, trưởng sử tha hồ bạo ngược, bóc lột nhân dân …” [41, 163] “Thái thú Giao Chỉ thời Ngô là Tôn tử là người tham lam, bạo ngược, bắt hàng ngàn thợ khéo

ở nước ta sang xây dựng kinh đô Kiến Nghiệp Thứ sử Đặng Tuân của triều Ngô vừa đến Giao Chỉ đã tự tiện bắt dân nộp 3000 chim Công và nhiều lợn lớn, bắt dân làm phu áp tải các thứ đó sang Kiến Nghiệp để dâng về nhà Ngô” [32, 227] Thái thú Sĩ Nhiếp làm thái thú Giao Chỉ thường năm dâng cho nhà Ngô nào hương liệu, minh châu, lưu li, lông trả, đồi mồi, sừng tê, các loại quả, hàng ngàn tấm vải cát bá loại mịn, hàng trăm ngựa

Trải qua các triều đại đô hộ của Trung Quốc, cống phẩm mà chúng thu chủ yếu là những đặc sản ở nước ta Ở vùng đồi núi, chúng thu chủ yếu các loại gỗ quý, trầm hương, các loài thú quý,… Ở vùng đồng bằng, chúng thu các sản phẩm công mỹ nghệ và đặc sản công nghiệp Về thủ công mỹ nghệ, chúng

vơ quét nhiều nhất là hàng dệt Về đặc sản nông nghiệp, chúng bắt nhân dân Việt cổ cống nạp nhiều nhất là các loại hoa quả Nhà Hán từng đặt ở nước ta

hai chức quan đặc biệt, một là Tu quan chuyên thu hoa quả và các thứ thực phẩm ngon, hai là Quất quan chuyên coi việc thu nạp quả quýt Hai quan chức

này các thời đều có Ở vùng ven biển, chính quyền phong kiến thu chủ yếu là ngọc trai và san hô Chính công việc này đã cướp đi không biết sinh mạng người dân

Trang 27

Thứ ba, đại bộ phận nhân dân Việt phải nộp tô thuế và chịu lao dịch cho chính quyền đô hộ Chính sách tô thuế của chính quyền thống trị ngoại tộc rất

nặng, có đến hàng trăm thứ thuế, dân nghèo thậm chí phải bán vợ, đợ con để trang trải thuế má và kết quả dẫn đến nhiều nơi nông dân phá sản Cụ thể, thời Tây Hán ở các quận của châu Giao có nghề làm muối, bọn thống trị đặc chức

diêm quan để quản lý việc sản xuất muối và thu thuế muối Hàng năm riêng

thuế muối ở vùng Lĩnh Nam lên tới 40 vạn quan tiền Theo “Thái bình hoàn vũ ký”, cư dân châu Lục (miền ven biển vịnh Hạ Long) sống bằng nghề muối và mò ngọc trai, hàng năm mỗi hộ phải nộp thuế 100 hộc gạo Ngoài ra còn thuế đay, gai, bông và nhiều thuế khác gọi là “ngoại suất” Còn nham hiểm hơn chúng nắm lấy luôn đặc quyền mua bán sắt và rượu ở các miền phiên thuộc để tăng cường bóc lột kinh tế, kìm hãm sản xuất và chế ngự về mặt chính trị

Thời nhà Đường còn thực hiện chính sách tô, dung, điệu (thuế ruộng, thuế

người, nộp sản phẩm thủ công) Nhà Đường còn dựa theo tài sản, chia các hộ ở nước ta ra làm ba loại thuế: thượng hộ nộp 1 thạch 2 đấu; thứ hộ nộp 8 đấu; hạ hộ nộp 6 đấu; còn người thiểu số nộp một nữa đó, song bọn đô hộ vẫn thường ép các hộ thiểu số nộp cả số thuế theo hạng định chung Nhà Đường quy thứ tô, điệu của An Nam đều quy thành tơ tằm để nộp

Ngoài ra, hàng năm nhân dân Việt còn phải đi lao dịch rất cực khổ Dưới thời nhà Ngô, chúng bắt hàng nghìn, hàng vạn trai tráng đất Việt đi lính, làm bia thịt trong cuộc hỗn chiến Tam Quốc: Ngụy, Thục, Ngô Năm 231, nhà Ngô dời đô đã bắt hàng nghìn thợ thủ công giỏi ở Giao Chỉ lại bị cưỡng bức đưa sang xây dựng kinh đô Kiến Nghiệp cho nhà Ngô Đây cũng là một trong những lý do sâu xa dẫn đến những cuộc khởi nghĩa vũ trang của nhân dân Việt Nam chống lại thế lực phong kiến

Thứ tư, chính quyền phong kiến Trung Quốc đưa những thành tựu kinh tế

Trang 28

mới như cày bừa bằng trâu, sử dụng phân bón và những nông cụ bằng sắt được đưa vào Giao Chỉ, Cửu Chân từ thời Tích Quang, Nhâm Diêm và việc dẫn nước tưới tiêu dưới thời Mã Viện được triển khai trước hết ở vùng châu thổ này, là nơi đông đảo dân di thực người Hán Như vậy trong thời kỳ Bắc thuộc kinh tế ở nước ta có bước nhảy vọt Tuy nhiên, những thành tựu mà Trung Quốc đưa vào nhằm thực hiện chính sách bành trướng vùng Đông Nam Á

Thứ năm, để nối các quận trị, huyện trị, nhà Hán đã thiết lập một mạng

lưới giao thông thủy bộ, đặt các dịch trạm, bố trí các cảng khẩu để phục vụ cho

“công trình” bóc lột và bành trướng của Trung Quốc

Với chính sách bốc lột, vơ vét triệt để của bọn phong kiến phương Bắc, trong hơn nghìn năm bị đô hộ, nhân dân ta đã phải trải qua cuộc sống đói khổ, đầy đau thương, tủi nhục Trong hơn nghìn năm, các triều đại phong kiến phương Bắc đã “tích cực” thực hiện mọi biện pháp nhằm đàn áp nhân dân ta về quân sự, vơ vét về kinh tế, đồng hóa xã hội, biến nước ta thành quận huyện của Trung Quốc

1.2.3 Chính sách về văn hóa

Các thế lực phong kiến Trung Quốc muốn thủ tiêu văn hóa bản địa như trang phục, lễ nghi, phong tục, tập quán… để đồng hóa nhân dân ta Theo sử liệu, Tích Quang ở Giao Châu, Nhâm Diêm ở Cửu Chân trước sau dùng lối sống Hoa cải biến phong hóa Việt, từ lấy vợ lấy chồng nhất thiết phải theo “lễ nghĩa Trung Quốc”, đến việc mở trường dạy theo lễ nghĩa Trung Quốc, bắt dân Việt mặc y phục kiểu Trung Quốc,… Bên cạnh đó, chúng dùng vũ lực để ép nhân dân ta bỏ những tập tục của mình, cưỡng bức một bộ phận nhân dân phải theo những quy định sinh hoạt văn hóa của Trung Quốc

Mặt khác, chúng đưa dân Trung Quốc di cư sang nước Việt hồng mang sang phong tục tập quán lễ nghi, quy phạm đạo đức phong kiến Trung Quốc để truyền bá văn hóa một cách tự nhiên vào nước ta thông qua giao tiếp đời sống

Trang 29

thường nhật Ở dưới thời thống trị của nhà Triệu và đặc biệt là nhà Tây Hán do

di dân Hán sang đất Việt ngày càng đông, lại “ở lẫn với người Việt”, do đó dần dần giữa hai phương thức Việt và Hán có sự dung hòa và chuyển hóa lẫn nhau

Sau một thời gian đô hộ, những nghi lễ ma chay, cưới xin, giao tiếp xã hội và một số quy tắc sinh hoạt công đồng có nguồn gốc từ Trung Quốc bắt đầu xuất hiện ở Việt Nam Đời sống văn hóa của xã hội Âu Lạc cũng dần dần chuyển biến theo chiều hướng phức tạp hơn trước

1.2.4 Chính sách về tư tưởng

Phong kiến Phương Bắc đặt chân đến đất Nam không chỉ chuyên chở ý đồ chính trị mà còn kéo theo văn hóa bản địa Hành trang chủ yếu của văn hóa bản địa là Nho giáo, Lão – Trang, Đạo giáo và Phật giáo (có nguồn gốc từ Trung Quốc) với nội dung phục vụ cho mục tiêu đồng hóa Không có tài liệu thật chính xác về thời gian du nhập và truyền bá Nho giáo, Phật giáo, Đạo giáo vào Việt Nam Nhưng có lẽ từ đầu Công nguyên, cả tam giáo đều được người Việt Nam tiếp nhận bằng tâm thức của mình, thích nghi và bản địa hóa, nhưng cơ bản chỉ tiếp thu một số nghi lễ, triết lý phù hợp với tâm hồn người nông dân Việt Nam

Nho Giáo: Khổng Tử được xem là người sáng lập Nho giáo Khổng Tử

(551-479 tr.CN) tên là Khâu, tự là Trọng Ni, là người nước Lỗ (nay thuộc tỉnh Sơn Đông - Trung Quốc) Tổ tiên ông là quý tộc nước Tống, đã sa sút Thuở nhỏ, cảnh nhà khó khăn, cho nên ông phải làm nhiều nghề mưu sinh Từ năm

ba mươi tuổi về sau, ông vừa dạy học vừa hoạt động chính trị, từng làm chức

“trung đô tể” (chức quan đứng đầu một địa phương) và chức “tư khấu” (coi hình pháp, trị an) ở nước Lỗ trong một thời gian ngắn, và cũng đã từng chu du nhiều nước chư hầu để trình bày học thuyết của mình, nhưng trước sau đều thất

Trang 30

bại, ông tìm được ông vua nào nghe theo Về cuối đời, ông chuyên tâm dạy

học và chỉnh lý di sản văn hóa cổ

Về sau học thuyết của Khổng Tử đã được các môn đệ phát triển, trong đó nỗi bật có Mạnh Tử (Mạnh Kha, 372-289 TCN) phát triển học thuyết của Khổng Tử theo chiều hướng duy tâm, và Tuân Tử (Tuân Huống, 325-328 TCN) phát triển theo chiều hướng duy vật Tư tưởng Mạnh Tử được các học phái Nho gia đời sau kế thừa và phát triển mạnh mẽ Vì thế, tên ông thường được đứng chung với với tên thầy khi người ta đề cập đến Nho giáo, gọi là học thuyết Khổng –Mạnh Nho giáo từ Khổng Tử đến Mạnh Tử và Tuân Tử chưa mang nhiều tính thần bí và khắc nghiệt, người ta gọi đó là Nho Tiên Tần hay Nho nguyên thuỷ Đến thời Hán, Đổng Trọng thư (179TCN - 104TCN) đã phát triển Nho của Khổng - Mạnh theo hướng duy tâm thần bí và tăng thêm tính đẳng cấp nhiệt ngã gọi là Hán Nho Trên cơ sở Nho giáo Khổng – Mạnh kết hợp với thần học “sấm vĩ”, Đổng Trọng Thư đưa ra các thuyết “thiên nhân cảm ứng”, “thiên nhân tương dữ”, “thiên bất biến đạo diệc bất biến”, “tính tam phẩm”, “tam thống tam chính” Đặc biệt, tư tưởng của ông về “tam cương ngũ thường”, “dương tôn âm ti” đã trở thành các quy phạm chính trị – đạo đức bảo vệ trật tự đẳng cấp của chế độ phong kiến Như vậy có thể thấy, Nho giáo phát triển đến đời Hán đã được Đổng Trọng Thư nhào nặn và hệ thống hoá theo quanh điểm thần học, trở thành một trào lưu tư tưởng phản động thống trị đời sống tinh thần xã hội phong kiến Lưỡng Hán

Nội dung cơ bản của Nho giáo:

Về mặt thế giới quan: Nho giáo là một học thuyết duy tâm khách quan

Tuy trong quan niệm của người sáng lập Nho giáo là Khổng Tử cũng đã chứa đựng một số yếu tố hết sức tiến bộ và có tính duy vật như việc ông cho rằng sự vận động của vạn vật đều tuân theo “đạo” của nó, không phụ thuộc vào ý chí của ai: “Trời có nói gì đâu mà bốn mùa cứ vận hành, vạn vật cứ sinh hoá mãi

Trang 31

(Luận ngữ, Dương hoá, 18), “cũng như dòng nước chảy, mọi vật đều trôi đi không có gì ngừng nghỉ” (Luận ngữ, Tử Hãn, 16), hay cho rằng con người nên hướng vào cuộc sống thực tại, nỗ lực hành động trong cuộc sống chứ không nên tin vào những chuyện xa xôi, thần bí vì: “Đạo thờ người còn chưa thấu hiểu, sao biết được đạo thờ quỷ thần… Sự sống còn chưa biết, sao biết được sự chết” (Luận ngữ, Tiến Tấn, 11) Nhưng do những hạn chế bởi lợi ích giai cấp, bởi nhận thức, do sự biến đổi của thời cuộc khiến trong tư tưởng của ông không tránh khỏi có những yếu tố duy tâm, thần bí Dù là ông không đi sâu vào các vấn đề quan hệ giữa thể xác và linh hồn, có hay không có ma quỷ, về cuộc sống con người sau khi chết nhưng ông lại tin ở “mệnh trời” Trong quan niệm của ông, trời là một quan tòa công minh cầm cân nảy mực phán xét mọi việc Ông khuyên mọi người hãy phục tùng ý chí của trời, cũng như coi việc hiểu biết mệnh trời như một điều kiện cho sự hoàn thiện của con người Ông cho rằng, “người quân tử có ba điều sợ, mà điều sợ thứ nhất là sợ mệnh trời, sợ bậc đại nhân, sợ lời thánh nhân” (Luận ngữ, Quý thị, 8) Từ đó, ông có xu hướng coi mọi việc ở đời đều do trời sắp đặt, “sống chết có mạng, giàu sang tại trời”

(Luận ngữ, Nhan Uyên, 5)

Mạnh Tử đã kế thừa tư tưởng của Khổng Tử và phát triển mạnh thế giới quan duy tâm trong triết học Khổng Tử Trong quan niệm của mình, Mạnh Tử khẳng định ý chí và quyền uy của trời trong việc sáng tạo và chi phối vạn vật, từ sự biến hóa của giới tự nhiên đến sự biến đổi của đời sống con người, từ trật tự, địa vị trong xã hội đến tâm tính, đạo đức của con người Từ đó, ông nhấn mạnh tư tưởng “thiên mệnh”, rằng con người phải tuyệt đối phục tùng mệnh trời, an phận vì “không có việc gì xảy ra mà không do mệnh trời, người ta phải thuân theo mà nhận lấy cái số mệnh chính đánh ấy” (Mạnh Tử, Tận tâm thượng)

Trang 32

Tư tưởng này của Khổng Tử và Mạnh Tử đến đời Hán được Đổng Trọng Thư kết hợp với thần học, “sấm vĩ”, quan điểm Âm dương – ngũ hành đã hình thành nên một hệ thống triết học mang tính chất duy tâm thần bí rõ rệt với luận đề “thiên nhân cảm ứng” cho tất cả đều là do trời định Ông trời trong triết học Hán Nho dưới bàn tay nhào nặn của Đổng Trọng Thư là một ông trời có nhân cách, có ý thức, có đạo đức, ông trời sinh ra vạn vật và con người, chi phối tự nhiên và xã hội, theo dõi giám sát và có thể trừng phạt con người Những thứ mà con người có đều do trời ra, tất phải do trời điều hành, chi phối Trời điều hành, chi phối con người thông qua các vị quân vương trên thế giới này, các

“thiên tử” Họ thừa ý chí của trời mà gánh vác việc chăn dân trị nước Quyền của vua do trời trao cho (gọi là “vương quyền thần thụ”), mà trời là bậc chí cao vô thượng nên quyền của vua cũng là chí cao vô thượng Làm người thì phải tuân theo ý trời, phản lại đạo trời thì không thể thành công, nhất định sẽ bị trời trừng phạt Theo đó, con người phải tuyệt đối phục tùng quân vương, phải tuân theo mệnh lệnh, phép tắc, đạo đức luân lý của chế độ phong kiến, phản lại vua là chống lại trời Có thể thấy rõ tính duy tâm thần bí trong thế giới quan của triết học Hán Nho Từ Hán Nho trở về sau, khuynh hướng vương quyền kết hợp với thần quyền ngày một rõ

Tư tưởng về chính trị: Nho giáo đề cập đến lý tưởng “đại đồng” tức là một

xã hội bình đẳng về của cải, mọi người có đời sống an lành Khổng Tử còn nêu

ra tư tưởng là một quốc gia không sợ thiếu của cải mà chỉ sợ người quá nghèo, người quá giàu thì không thể công bằng được Không sợ nghèo mà chỉ sợ nội bộ không ổn định Nếu giàu nghèo giữa các thành viên trong một quốc gia được giải quyết thỏa đáng, nội bộ ổn định thì nhân dân mới có hạnh phúc, nước nhà mới giàu mạnh Xã hội lý tưởng trong quan niệm của Nho giáo là một xã hội bình trị, thống nhất ổn định vì mọi người vui vẻ, giữ phận, bằng lòng với sự hưởng thụ theo sự phân phối căn cứ vào đẳng cấp Luận ngữ nói: Người cai

Trang 33

quản quốc gia không lo thiếu của cải mà lo phân phối không đều, không lo nghèo đói mà lo dân không yên Để vươn đến lý tưởng đại đồng, Nho giáo chủ trương “nhân trị”, “đức trị” hay “lễ trị”, nghĩa là lấy đạo đức, lấy “nhân”,

“nghĩa”, “lễ”, “trí”, “dũng”, “hiếu”, “kính”, “đễ”… để giáo hóa con người, cải biến con người Đó là cơ sở để đảm bảo ổn định xã hội, duy trì trật tự xã hội theo nguyên tắc “chính danh định phận”, tức là xác định rõ địa vị, danh phận của mỗi người trong xã hội và kèm theo đó là những quyền lợi cũng như nghĩa vụ mà địa vị đó đem lại Theo chủ trương “nhân trị”, “đức trị” hay “lễ trị” thì người cầm quyền phải dùng đức hạnh của bản thân, lấy lễ nghĩa để giáo hóa dân chúng chứ không nên lạm dụng luật pháp, hình phạt để ép dân đi vào tôn

ti trật tự, như thế dân chúng dễ sợ hãy hay oán giận mà nổi lên chống lại Về sau, Mạnh Tử phát triển tư tưởng dân bản một cách hoàn chỉnh: quý trọng dân

rồi mới đến xã tắc, vua nhẹ hơn (Dân vi quí, xã tắc thứ chi, quân vi khinh)

Vấn đề đạo đức – luân lí: Nho giáo chủ trương con người cần phải có năm

cái đức thông thường (ngũ thường) đó là: nhân, nghĩa, lễ, trí, tín để có thể xử lý

tốt năm mối quan hệ phổ biến trong xã hội là quan hệ vua – tôi, cha – con, chồng – vợ, anh – em và bạn bè kết giao Trong các đức tính đó, Nho giáo đặt lên hàng đầu đức Nhân Nhân là điều hợp với đạo trời và lòng người, là gốc mở đầu của đạo đức, là lòng thương yêu người khác như yêu chính bản thân mình Lễ được coi như phương thức giúp người ta đạt tới chữ Nhân và Nhân lại chính là nội dung đích thực của Lễ Học thuyết Nho giáo cũng đặt ra những chuẩn mực nhất định đối với từng mối quan hệ phổ biến trong xã hội Trong mối quan hệ vua – tôi, Nho giáo Khổng – Mạnh đòi hỏi phải có sự ứng xử hai chiều, tức là vua phải tôn trọng và quý mến bề tôi; còn bề tôi phải biết giữ đạo trung khi thờ vua Trong mối quan hệ cha – con, Nho giáo đòi hỏi người làm cha phải có đức tính nhân từ, chăm sóc, dạy dỗ con cái nên người và làm

Trang 34

– chồng, Nho giáo đòi hỏi có sự hòa thuận trong đó chồng là trụ cột của gia đình, có trách nhiệm thương yêu, chăm lo cho vợ con, người vợ phải chăm lo vun vén cho gia đình mình và gia đình nhà chồng Trong quan hệ anh – em, Nho giáo đòi hỏi có sự thân mật, anh bao bọc, chở che cho em, nhường nhịn

em, làm em phải kính trọng và nghe lời anh Trong quan hệ bạn bè, Nho giáo nhấn mạnh đức tín, sự tin cậy lẫn nhau, thành thực tuân thủ lời hứa để mối quan hệ được bền vững Như vậy trong quan niệm của Nho giáo Khổng Mạnh, những mối quan hệ và hành vi ứng xử là có tính hai chiều, chứ không mang tính ép buộc một chiều của bề dưới đối với bề trên như Hán Nho sau này Đổng Trọng Thư đời Hán đã hệ thống hóa các phạm trù đạo đức thể hiện những mối quan hệ cơ bản giữa người với người trong xã hội, trở thành nội dung, tiêu chuẩn cho sự giáo hóa đạo đức phong kiến Ông đặc biệt nhấn mạnh

ba mối quan hệ cơ bản nhất trong xã hội: “Quân vi thần cương, phụ vi tử cương, phu vi thê cương” (tam cương) và tuyệt đối hóa một chiều đạo đức xử sự của người dưới đối với người trên, trong đó người dưới chịu sự chỉ bảo, sai khiến của người trên Ông cũng đặt ra tiêu chuẩn “tam tòng, tứ đức” tước đi

mọi quyền của người phụ nữ

Có thể thấy Nho giáo đặt ra một loạt tiêu chuẩn đạo đức cho việc hành xử, giao tiếp của con người trong xã hội Và theo quan niệm của Nho giáo thì tất cả những người thực hiện được những yêu cầu, những tiêu chuẩn đạo đức đó thì được coi là người quân tử Quân tử chính là mẫu người đạo đức lí tưởng của Nho giáo, phân biệt với tiểu nhân là hạng người thấp hèn trong xã hội không thể thực hiện được những tiêu chuẩn đạo đức mà đạo thánh hiền đặt ra

Nội dung truyền bá Nho giáo vào nước ta

Có thể nói Nho giáo vào Việt Nam từ khi người Hán đến nước ta trước Công nguyên Nhưng thực ra, “việc truyền bá có nề nếp là từ thế kỷ I sau Công nguyên” [68, 80] khi thái thú Giao Chỉ là Tích Quang và thái thú Cửu

Trang 35

Chân là Nhâm Diên tiến hành giáo hóa lễ nhạc ở hai quận này Nho giáo được

du nhập Việt Nam không phải bằng con đường giao lưu văn hóa mà nó được truyền vào Việt Nam cùng với sự xâm lược của chính quyền phong kiến nhà Hán (110 TCN đến năm 39 SCN) Bằng nhiều thủ đoạn khác nhau, qua các thời điểm khác nhau dưới thời Bắc thuộc, giai cấp phong kiến thống trị phương Bắc đã truyền bá Nho giáo vào Việt Nam, xem đó là công cụ tinh thần để thống trị và đồng hóa người Việt

Thời kỳ Bắc thuộc (179TCN – 905SCN), lực lượng truyền bá Nho giáo chủ yếu là các quan lại phong kiến của chính quyền Trung Quốc đô hộ Sát cánh với quan lại đô hộ là các nho sĩ Trung Quốc di cư sang nước ta bởi nhiều lý do lịch sử khác nhau Như chúng ta đã biết, Trung Quốc từ thời Tiền Hán (206TCN – 8SCN) đến cuối thời Đường (618 – 907) đã trải qua nhiều biến động với sự thay đổi ngôi vị của các lực lượng cầm quyền Trong quá trình đó, có nhiều nhà nho bị thất thế hoặc bị đày rồi bị phát phối đến nước ta, nhiều nhà nho do lo sợ thời thế đảo điên mà tìm đường sang nước ta lánh nạn Nhìn chung, họ đến nước ta trước sau ít nhiều không đồng nhất nhưng nói chung, tất cả họ đều có mối liên hệ với guồng máy chính quyền đương thời Nếu ở Trung Quốc, phần lớn họ là lực lượng đối nghịch hoặc bị coi là đối nghịch thì sang nước ta, hầu hết họ đều có xu hướng hợp tác Họ được quan lại đô hộ huy động vào việc truyền bá Nho giáo, chữ Hán, văn hóa Hán nhằm thực hiện âm mưu đồng hóa đối với nhân dân ta Tuy về sau, có một số người bản địa tham gia vào quá trình này nhưng chiếm tỉ lệ không đáng kể Trung tâm truyền bá Nho giáo lúc này là các trường học ở một số trung tâm châu trị, quận trị do bọn đô hộ lập nên nhằm đào tạo nên những người làm việc cho chính quyền phương Bắc Ở đây, việc mở trường và dạy chữ của chính quyền phương Bắc không phải không có tác dụng tích cực nhất định đối với nhân dân ta nhưng mục đích

Trang 36

vào nước ta thời kỳ này là một trong những vũ khí tinh thần lợi hại được chính quyền phong kiến phương Bắc sử dụng phục vụ cho mưu đồ chính trị của chúng

Để thực hiện âm mưu độc của các thế lực phong kiến, do đó những nội dung Nho giáo được truyền bá vào nước ta lúc này phải là những “nội dung nào cực đoan nhất, phù hợp cao nhất với lợi ích của giai cấp phong kiến đô hộ ngoại ban mới được phép truyền bá vào” [62, 40] Và nội dung của nó phải nhằm “khẳng định và cổ vũ mạnh mẽ cho tiếng nói tôn quân đại thống nhất, mà đỉnh cao của nền tôn quân đại thống nhất này là Hoàng đế Trung Hoa” [62, 48] Vì thế, tuy sử sách không chép cụ thể nội dung Nho giáo được truyền vào nước ta thời kỳ này nhưng ta có thể nhận thấy rằng, những tư tưởng “thiên mệnh”, “vương quyền thần thụ”, “thiên nhân hợp nhất”, “thiên nhân cảm ứng” mà Đổng Trọng Thư đưa ra là vô cùng thích hợp để truyền bá cho việc phục vụ một nền thống trị chuyên chế của nhà Hán, phục vụ cho quyền lực vô hạn của Hoàng đế Trung Hoa Những người truyền bá Nho giáo nổi tiếng thời kỳ này có Tích Quang, Nhâm Diên, Sĩ Nhiếp… đều là những người thông hiểu kinh điển Nho giáo đặc biệt kinh Xuân thu vốn được nhà Hán rất mực đề cao Trong việc truyền bá đáng chú ý nhất là Sĩ Nhiếp (157 – 226) – người được tôn là “Nam Giao học tổ” – là người hiểu biết rất rành rẽ sách “Xuân thu Tả thị” (vốn là sách của Tả Khâu Minh bắt chước theo Kinh Xuân thu của Khổng

Tử mà ra) Đại Việt sử ký toàn thư chép lời của Viên Huy nhà Hán gửi cho

thượng thư lệnh là Tuân Úc rằng: “Giao Châu sĩ phu quân đã học vấn sâu rộng lại thông hiểu chính trị… Khi việc quan có chút nhàn rỗi thì chăm xem các sách thư, truyện Phàm những chỗ biên chép không rõ ràng trong sách Xuân thu Tả thị truỵên, (tôi) đem hỏi, đều được ông giảng giải cho những chỗ nghi ngờ, đều có kiến giải của bậc thầy, ý tứ rõ ràng, chặt chẽ” [71, 163] Như vậy, không tránh khỏi việc truyền bá những tư tưởng về “thiên mệnh” về “thiên nhân cảm

Trang 37

ứng” vào nước ta của các nhà truyền bá Nho giáo thời kỳ này, bản thân họ thực chất, “đều coi sự tôn sùng quyền uy của Hoàng Đế Trung Hoa là nội dung hàng đầu của lễ” [62, 48]

Bên cạnh đó, chúng còn gieo rắc tư tưởng trọng nam khinh nữ, những quan niệm nam tôn nữ ti, tam tòng, tứ đức,… được hiểu với tinh thần bảo thủ và cực đoan nhất nhằm làm suy giảm sức đề kháng, gây nên sự phân hóa chia rẽ xã hội nước ta Tuy nhiên, suốt nghìn năm Bắc thuộc Nho giáo vẫn không

thẩm thấu sau vào xã hội người Việt Điều này là do: Trước hết, Nho giáo được sử dụng như công cụ tinh thần của bọn cai trị áp đặt; Thứ hai là do văn hóa Việt với văn hóa Hán có nhiều dị biệt…[14, 68- 69]; Thứ ba là vì chữ Hán –

phương tiện để chuyền tải đạo Nho rất khó học Nội dung Nho giáo rất phong phú, gồm nhiều triết lý cao siêu trong Tứ Thư, Ngũ Kinh,… nên nông dân Việt Nam ở làng quê khó có điều kiện học tập, tiếp thu một cách hệ thống, đầy đủ mà có thể tiếp thu một cách giáo điều, một lễ nghi đơn giản, gần gũi phù hợp với họ Vì vậy, hơn nghìn năm Bắc thuộc sử sách chỉ nhắc đến tên của vài người như Trương Trọng, Lý Cầm, Lý Tiến sang Đông Hán thi đỗ, được làm quan Tuyệt đại đa số nhân dân ở các làng quê vẫn giữ gìn và bảo vệ văn hóa, đạo đức truyền thống Đại cương lịch sử Việt Nam đã nhận định: “Dưới thời Bắc thuộc, Nho giáo cũng như toàn bộ hệ tư tưởng và văn học Trung Quốc nói chung chỉ ảnh hưởng ở một số vùng trung tâm châu trị và quận trị mà thôi, do dó ảnh hưởng của nó trong việc Hán hóa dân tộc Việt rất hạn chế” [51, 71]

Đạo Lão – Trang và Đạo giáo

Đạo giáo là một tôn giáo ra đời ở Trung Quốc vào thế kỷ thứ II SCN Cội nguồn tư tưởng của nó rất phức tạp, song có một cơ sở lý luận là học thuyết của phái Đạo gia, một học thuyết nổi tiếng của Trung Quốc thời cổ đại Người sáng

lập học thuyết Đạo gia là Lão Tử Theo Sử ký của Tư Mã Thiên, Lão Tử là

Trang 38

huyện Khổ, nước Sở Lão Tử có họ là Lý, tên Nhĩ, tự là Đam, hay Bá Dương Ông làm quan sử giữ kho chứa sách của nhà Chu Toàn bộ tư tưởng của Lão Tử

được trình bày cô động trong tác phẩm Đạo Đức kinh, nổi bật nhất với các nội

dung cơ bản sau:

Theo Lão Tử “đạo” là nguyên lý tuyệt đối, là bản nguyên của vũ trụ, là cái lẽ không huyền diệu không sanh, không diệt, là cái tự nhiên Cho nên Lão

Tử nói: Trời bắt chước đạo, đạo bắt trước tự nhiên Đạo là cái khởi nguyên cho

nên đạo sinh nhất, nhất sinh nhị, nhị sinh tam, tam sinh vạn vật Đạo là cái hư vô thì “đức” là cái hữu hình, là cái biểu hiện của đạo, là mẹ sinh ra vạn vật trời đất Đạo là cái huyền diệu thì Đức là cái cụ thể, cái hiện thực trong vũ trụ, là qui luật biến hóa của vạn vật

Từ nguyên lý tuyệt đối của Đạo, Lão Tử đề xuất nhân sinh quan vô vi

Theo Lão Tử “vô vi” là không làm trái với quy luật tự nhiên, không thái quá cũng không bất cập (vô vi nhi vô bất vi) Về chính trị, Lão Tử chủ trương cai trị theo đường lối không cưỡng bức, áp đặt, vô vi nhi trị mà dân vẫn yên lành Lão Tử cho rằng luân lý, pháp luật, phong tục đều trái với tự nhiên, trái với Đạo Lão Tử chủ trương nước nhỏ ít dân Về mặt này, tư tưởng của Lão Tử có tính bảo thủ, cố chấp

Đến thế kỷ thứ III TCN, Trang Tử (360 – 280 TCN) phát triển tư tưởng của Lão Tử theo chiều hướng chủ quan Theo ông, đạo là do chủ quan mà có,

do bản ngã ý thức Ông cho rằng: Trời đất với ta cùng sinh, vạn vật với ta là

một Ông xóa ranh giới giữa các sự vật và hiện tượng, giữa tồn tại và hư vô Về

tư tưởng vô vi, Lão Tử chủ trương vô vi nhi vô bất vi thì Trang Tử tuyệt đối hóa

vô vi, nghĩa là trở về với tự nhiên, với xã hội nguyên thủy, ở nơi đo muôn vật chung sống Ông chủ trương xuất thế, thoát tục cho tinh thần thanh tĩnh, phiêu diêu Trang tử phát triển tư tưởng của Lão Tử thành hệ thống triết học Lão – Trang có tính xuất thế, cao siêu, huyền ảo

Trang 39

Đạo giáo là một tôn giáo của Trung Quốc, không có liên quan gì với tư tưởng của Lão – Trang Trong cảnh loạn ly cuối thời Đông Hán (thế kỷ II), tư tưởng Lão Tử cộng với chất duy tâm mà Trang Tử đưa vào đã trở thành cơ sở cho việc thần bí hóa đạo gia thành Đạo giáo Nó dựa một cách hình thức vào khái niệm “Đạo” của Lão Tử và tôn Lão Tử làm giáo chủ gọi là “Thái Thượng Lão Quân”, coi ông là hóa thân của “Đạo” giáng sinh xuống cõi trần Mục đích của việc tu theo Đạo giáo là sống lâu

Đạo giáo khởi đầu bằng Ngũ đấu mễ đạo (Đạo 5 đấu gạo) – một thứ Đạo

giáo phù thủy do Trương Đạo Lăng sáng lập Ông tu luyện ở vùng núi Tứ Xuyên, ông lấy Lão Tử làm ngọn cờ, dùng bùa chú và phương thuật, nước phép và cỏ dại chữa bệnh để thu hút mọi người nhằm chống lại các thế lực phong kiến Đến thời Tam quốc, Trương Giác cũng dùng phương thuật, bùa phép để tập hợp nông dân tiến hành khởi nghãi Hoàng Cân chống lại chế độ

cai trị đương thời Từ thời Tấn về sau, Ngũ đấu mễ đạo phát triển theo hướng tu

tiên và thịnh hành trong giới quý tộc và từ đó, Đạo giáo dần dần cải biến thành Đạo giáo chính thống tiêu biểu là Cát Hồng, Khấu Liêm Chi, Lục Tu Tĩnh,…

sống vào thời Tấn, Nam – Bắc triều Đạo giáo có hai phái lớn:

- Đạo giáo thần tiên hay còn gọi đạo giáo quý tộc: dạy tu luyện, luyện đan trường sinh bất tử Phái này gắn bó chủ yếu với tầng lớp trên của xã hội

Tu luyện có hai cách là nội tu và ngoại tu Ngoại tu là dùng thuật trường sinh,

gọi là kim đan thu được trong lò luyện một số khoáng chất như thần sa, hùng

hoàng, từ thạch, vàng Nội tu là không luyện thuốc tiên mà coi cơ thể con người như cái lò luyện thuốc, coi các nhân tố vốn có của con người như tinh, khí, thần là các vị thuốc, vận dụng các phép tịch cốc (nhịn ăn), dưỡng khí, khí công, tinh công để làm cho ba vị thuốc ấy được luyện thành thang thuốc, tức là thành đan ở ngay trong cơ thể con người

Trang 40

- Đạo giáo bình dân hay còn gọi là đạo giáo phù thủy dùng các pháp thuật trừ tà, trị bệnh chủ yếu giúp người dân khỏe mạnh

Kinh điển của Đạo giáo được gọi là Đạo Tạng bao gồm các sách về lễ

nghi, giáo lý và cả các sách về chữa bệnh, dưỡng khí, bói toán, địa lý, thơ văn,… tổng cộng lên tới trên 5.000 quyển

Nội dung truyền bá Đạo Lão – Trang và Đạo giáo vào nước ta

Sau khi thống trị nước ta, các triều đại phong kiến Trung Quốc cũng tìm mọi cách lợi dụng truyền bá Đạo Lão – Trang và Đạo giáo vào nước Việt cổ nhằm thực hiện âm mưu của chúng Nhưng, “Đạo Lão – Trang trong thời kỳ Bắc thuộc chủ yếu lưu hành trong số người Hán, những người thất thế trên con đường chính trị, và bị ngược đãi tìm đến Lão – Trang để an ủi mình, để yên với số phận Ảnh hưởng này lúc đầu trong số người Việt chưa nhiều” [68, 83] Nhưng Đạo giáo thì bị các thế lực phong kiến lợi dụng triệt để, “Đạo giáo được truyền bá tới nước ta, có lẽ vào thời suy vi của nhà Đông Hán” [62, 309] Và để thực hiện mục đích các thế lực phong cũng không ngần ngại truyền bá mạnh mẽ, tìm cách lợi dụng Đạo giáo Bấy giờ, chính quyền phong kiến Trung Quốc đã thể chế hóa đội ngũ quan lại đô hộ Đội ngũ quan lại không chỉ là người nắm trọn quyền lực chính trị, quân sự và kinh tế trong tay mà còn là những đạo sĩ cao tay ấn, tài ba gồm đủ mọi phép biến hóa thần thông điển hình là như Sĩ Nhiếp là một nhà Đạo giáo thần tiên, như Cao Biền thời nhà Đường – là một tay phù thủy giỏi mánh lới tác động tinh thần, biết tự quảng cáo Dân gian có chuyện kể rằng, Cao Biền cưỡi con diều giấy, mang theo hàng ngàn can đồng, bay khắp nước ta, yểm hết long mạch nước ta Như vậy, “Đạo giáo đã thực sự bị chính quyền phong kiến phương Bắc tìm cách lợi dụng” [62, 311]

Vấn đề quan trọng hơn là khi Đạo giáo khi truyền vào được nhân dân thời Bắc thuộc tiếp cận khá nhanh và hiện tượng này nằm ngoài ý đồ của chính

Ngày đăng: 02/04/2021, 00:04

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Đào Duy Anh (1998), Việt Nam văn hoá sử cương (tái bản), Nxb. Tổng hợp Đồng Tháp Sách, tạp chí
Tiêu đề: Việt Nam văn hoá sử cương (tái bản)
Tác giả: Đào Duy Anh
Nhà XB: Nxb. Tổng hợp Đồng Tháp
Năm: 1998
2. Lê Ngọc Anh (1999), “Về ảnh hưởng của Nho giáo ở Việt Nam”, Triết học, số 3, tháng 6 - 1999 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Về ảnh hưởng của Nho giáo ở Việt Nam"”, Triết học
Tác giả: Lê Ngọc Anh
Năm: 1999
3. Nguyễn Vũ Tuấn Anh (1999), Hùng Vương qua truyền thuyết và huyền thoại, Nxb. Văn hóa - Thông tin, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hùng Vương qua truyền thuyết và huyền thoại
Tác giả: Nguyễn Vũ Tuấn Anh
Nhà XB: Nxb. Văn hóa - Thông tin
Năm: 1999
4. Huỳnh Công Bá (2006), Lịch sử tư tưởng Việt Nam, Nxb. Thuận Hóa, Huế Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sử tư tưởng Việt Nam
Tác giả: Huỳnh Công Bá
Nhà XB: Nxb. Thuận Hóa
Năm: 2006
5. Nguyễn Đổng Chi (2003), Lược khảo về thần thoại Việt Nam, Nxb. Khoa học xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lược khảo về thần thoại Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Đổng Chi
Nhà XB: Nxb. Khoa học xã hội
Năm: 2003
6. Doãn Chính (2004), Đại cương lịch sử triết học Trung Quốc, Nxb. Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đại cương lịch sử triết học Trung Quốc
Tác giả: Doãn Chính
Nhà XB: Nxb. Chính trị Quốc gia
Năm: 2004
7. Doãn Chính – Nguyễn Sinh Kế (2004), Về quá trình Nho giáo du nhập vào Việt Nam (từ đầu công nguyên đến thế kỷ XIX), Triết học, số 9, tháng 9 - 2004 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Triết học
Tác giả: Doãn Chính – Nguyễn Sinh Kế
Năm: 2004
8. Nguyễn Trọng Chuẩn (2006), Lịch sử tư tưởng triết học Việt Nam, tập 1, Nxb. Khoa học xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sử tư tưởng triết học Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Trọng Chuẩn
Nhà XB: Nxb. Khoa học xã hội
Năm: 2006
9. Nguyễn Trọng Chuẩn, Nguyễn Văn Hiên (2002), Giá trị truyền thống trước thách thức của toàn cầu hóa, Nxb. Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giá trị truyền thống trước thách thức của toàn cầu hóa
Tác giả: Nguyễn Trọng Chuẩn, Nguyễn Văn Hiên
Nhà XB: Nxb. Chính trị Quốc gia
Năm: 2002
10. Nguyễn Trọng Chuẩn – Phạm Văn Đức – Hồ Sỹ Quý (đồng chủ biên) (2001), Tìm hiểu giá trị văn hoá truyền thống trong quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá, Nxb. Chính trị Quốc gai, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tìm hiểu giá trị văn hoá truyền thống trong quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoa
Tác giả: Nguyễn Trọng Chuẩn – Phạm Văn Đức – Hồ Sỹ Quý (đồng chủ biên)
Nhà XB: Nxb. Chính trị Quốc gai
Năm: 2001
11. Lê Văn Chưởng (1999), Cơ sở văn hóa Việt Nam, Nxb. Trẻ, Thành phoá Hoà Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cơ sở văn hóa Việt Nam
Tác giả: Lê Văn Chưởng
Nhà XB: Nxb. Trẻ
Năm: 1999
12. Trương Thái Du (2007), Cổ sử Việt Nam một cách tiếp cận vấn đề, Nxb. Lao Động, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cổ sử Việt Nam một cách tiếp cận vấn đề
Tác giả: Trương Thái Du
Nhà XB: Nxb. Lao Động
Năm: 2007
13. Nguyễn Đăng Duy (2001), Đạo giáo với văn hóa Việt Nam, Nxb. Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đạo giáo với văn hóa Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Đăng Duy
Nhà XB: Nxb. Hà Nội
Năm: 2001
14. Nguyễn Đăng Duy (1998), Nho giáo với văn hóa Việt Nam, Nxb. Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nho giáo với văn hóa Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Đăng Duy
Nhà XB: Nxb. Hà Nội
Năm: 1998
15. Đảng Cộng sản Việt Nam (1997), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII, Nxb. Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb. Chính trị Quốc gia
Năm: 1997
16. Đảng Cộng sản Việt Nam (1998), Văn kiện Hội nghị lần thứ năm Ban chấp hành Trung ương khóa VIII, Nxb. Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Hội nghị lần thứ năm Ban chấp hành Trung ương khóa VIII
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb. Chính trị Quốc gia
Năm: 1998
17. Đảng Cộng sản Việt Nam (2001), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX, Nxb. Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb. Chính trị Quốc gia
Năm: 2001
18. Đảng Cộng Sản Việt Nam (2006), Văn Kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn Kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X
Tác giả: Đảng Cộng Sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb. Chính trị quốc gia
Năm: 2006
19. Trần Văn Giàu (2005), Bản lĩnh Việt Nam, Nxb. Trẻ, Thành phố Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bản lĩnh Việt Nam
Tác giả: Trần Văn Giàu
Nhà XB: Nxb. Trẻ
Năm: 2005
20. Trần Văn Giàu (1993), Giá trị tinh thần truyền thống của dân tộc Việt Nam, Nxb. TP. Hoà Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giá trị tinh thần truyền thống của dân tộc Việt Nam
Tác giả: Trần Văn Giàu
Nhà XB: Nxb. TP. Hoà Chí Minh
Năm: 1993

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w