1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Đặc điểm cấu tạo và ngữ nghĩa của từ gốc tiếng anh trên văn bản báo chí từ năm 2000 2008

99 18 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 99
Dung lượng 782,13 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Cách gọi từ ngoại lai, theo lí giải của tác giả Nguyễn Văn Khang, là có tính bao quát hơn là tính cụ thể, bởi vì hiện tượng vay mượn từ vựng trong tiếng Việt nói riêng, trong các ngôn n

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI & NHÂN VĂN

-o0o -

VŨ VĂN LĂNG

ĐẶC ĐIỂM CẤU TẠO VÀ NGỮ NGHĨA CỦA TỪ GỐC

TIẾNG ANH TRÊN VĂN BẢN BÁO CHÍ

Trang 2

MỤC LỤC

Trang

Các từ viết tắt trong luận văn

MỞ ĐẦU 01

0.1 Đối tượng nghiên cứu và lý do chọn đề tài 01

0.2 Phạm vi nghiên cứu, mục đích và nhiệm vụ của đề tài 06

0.3 Lịch sử vấn đề 08

0.4 Phương pháp nghiên cứu, nguồn ngữ liệu 11

0.5 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài 11

0.6 Bố cục của luận văn 12

CHƯƠNG MỘT: Một số vấn đề lý thuyết cơ sở 13

1.1 Vấn đề lý thuyết vay mượn từ vựng 13

1.2 Vấn đề từ và phân loại từ 16

1.3 Vấn đề cấu tạo từ và phương thức cấu tạo từ 20

1.4 Vấn đề nghĩa của từ và phân loại nghĩa của từ 23

1.5 Vấn đề nhân danh, địa danh 25

CHƯƠNG HAI: Cấu tạo, hình thức xuất hiện của các từ tiếng Anh trong tiếng Việt (trên văn bản báo chí) 26

2.0 Những nhận xét mở đầu 26

2.1 Các từ tiếng Anh được chuyển dịch ra tiếng Việt 27

2.2 Các từ tiếng Anh được sử dụng the lối phiên âm 30

2.3 Các từ tiếng Anh xuất hiện dưới hình thức nguyên dạng 32

2.4 Các từ tiếng Anh xuất hiện dưới dạng viết tắt 47

CHƯƠNG BA: Ngữ nghĩa của các từ tiếng Anh được sử dụng trong tiếng Việt (trên văn bản báo chí) 51

3.0 Tiểu dẫn 51

3.1 Trường từ vựng – ngữ nghĩa các từ thuộc lĩnh vực chính trị – xã hội 52

3.2 Trường từ vựng – ngữ nghĩa các từ thuộc lĩnh vực thể thao 57

Trang 3

3.3 Trường từ vựng – ngữ nghĩa các từ thuộc lĩnh vực báo chí 74

3.4 Trường từ vựng – ngữ nghĩa các từ thuộc lĩnh vực nghệ thuật – giải trí 80

3.5 Trường từ vựng – ngữ nghĩa các từ chỉ các sản phẩm quảng cáo 86

KẾT LUẬN 96

THƯ MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 99

Trang 4

CÁC TỪ VIẾT TẮT TRONG LUẬN VĂN

– Trên các tờ báo:

Trang 5

MỞ ĐẦU

0.1 Đối tượng nghiên cứu và lý do chọn đề tài

Có những ngôn ngữ đã trở thành công cụ giao tiếp chính thức không chỉ của một quốc gia, của nhiều quốc gia, mà còn được sử dụng rộng rãi như là một ngôn ngữ thứ 2, thứ 3, hoặc đã xâm nhập, hòa lẫn vào các ngôn ngữ bản ngữ của nhiều quốc gia trên thế giới Có thể nhận thấy rằng, trong thời đại ngày nay, các ngôn ngữ không tồn tại độc lập, cô lập, riêng rẽ mà ngược lại, chúng có xu hướng tiếp xúc với nhau, hòa lẫn, tác động qua lại với nhau Tiếng Anh là một trong những ngôn ngữ như vậy Cũng chính vì vậy mà trong vốn từ vựng của bất kỳ một ngôn ngữ nào cũng đều có một phần các từ có nguồn gốc từ các ngôn ngữ khác – lớp từ đó được gọi là từ VAY MƯỢN Vay mượn từ vựng là một xu thế, hơn thế nữa, có thể gọi là một quy luật, trong sự hình thành và phát triển vốn từ của các ngôn ngữ, đặc biệt là trong bối cảnh hội nhập và toàn cầu hóa hiện nay của thế giới hiện đại Trong lĩnh vực tự nhiên và cả trong lĩnh vực chính trị – xã hội,

khái niệm trái đất là “ngôi nhà chung” của tất cả chúng ta đã ngày càng trở

nên hiện thực trên nhiều khía cạnh, góc độ Vì vậy, trong lĩnh vực ngôn ngữ, việc các ngôn ngữ giao thoa, hòa nhập vào nhau ở mức độ ngày càng tăng là một hiện thực có tính tất yếu Trong tiếng Việt của chúng ta cũng vậy, hiện nay, xu hướng vay mượn các từ nước ngoài, trong đó đặc biệt là các từ gốc tiếng Anh, sử dụng trong hoạt động giao tiếp khẩu ngữ trong các lĩnh vực viết như: khoa học, báo chí, văn học nghệ thuật, hành chính công

vụ Trong lĩnh vực báo chí, tần số xuất hiện của các từ gốc tiếng Anh ngày một gia tăng với những sự thể hiện ngày càng đa dạng, không còn tính

“đơn điệu” như tình hình này ở vài thập niên trước đây, hợac xa hơn là ở

thế kỷ trước Chính vì vậy, chúng tôi chọn đề tài: “Đặc điểm cấu tạo và ngữ nghĩa của từ gốc tiếng Anh trên văn bản báo chí tiếng Việt” làm

đối tượng khảo sát của Luận văn Thạc sĩ của mình

Trang 6

Luận văn của chúng tôi đi vào khảo cứu một đối tượng, mà theo cách

gọi của tác giả Nguyễn Văn Khang (NVK, Từ ngoại lai trong tiếng Việt, NXBGD, 2006), đó là từ ngoại lai, mà trong đó, cụ thể là từ tiếng Anh được

sử dụng trong tiếng Việt Cách gọi từ ngoại lai, theo lí giải của tác giả

Nguyễn Văn Khang, là có tính bao quát hơn là tính cụ thể, bởi vì hiện tượng vay mượn từ vựng trong tiếng Việt nói riêng, trong các ngôn ngữ khác trên thế giới nói chung là một hiện tượng rất phức tạp, bởi tính ổn

định của nó không đồng đều, không giống nhau về mức độ “thuần hóa” (khái niệm “thuần hóa” do chúng tôi đặt ra để chỉ mức độ trở nên bản ngữ của các từ ngoại lai) Trong tiếng Việt, có một thực tế sau đây đang được

thể hiện:

1) Các từ tiếng Anh được sử dụng trong tiếng Việt chủ yếu với cách viết nguyên dạng và có nhiều biến thể đọc khác nhau;

2) Các từ Hán Việt (vì đã Việt hóa trên nhiều phương diện) được viết

và đọc theo cách viết và đọc của tiếng Việt;

3) Các từ tiếng Việt gốc Pháp lại có một số viết và đọc theo cách của tiếng Pháp, một số đã Việt hóa; trong số những từ đã Việt hóa, có một xu hướng mới là trở lại cách viết nguyên dạng

Không những thế, các từ ngoại lai này lại có những diễn biến về nghĩa khi đi vào tiếng Việt

Như chúng ta biết, vay mượn từ vựng là một hiện tượng thuộc lĩnh vực ngôn ngữ học xã hội, sự vay mượn từ vựng góp phần bổ vào vốn từ của một ngôn ngữ cả về lượng và chất Ngôn ngữ học lý thuyết cho rằng

đồng hóa là một nguyên tắc và cũng là tiêu chí để nhận diện từ vay mượn Cũng trên cơ sở đó, trong tiếng Việt, một từ được gọi là từ vay mượn khi chúng dựa vào mức độ Việt hóa của nó Nhưng trong bối cảnh xã hội –

chính trị toàn cầu hóa của thế giới ngày nay, thì đối với tiếng Việt, tiêu chí

“Việt hóa” của từ vay mượn có vẻ có phần bị lung lay, bởi các từ tiếng Anh đang ngày một xâm nhập vào tiếng Việt như là một sự thật không thể

Trang 7

cưỡng lại của dòng thác hòa nhập, lan tỏa giữa các ngôn ngữ, và như là một thách thức – nói như GS Nguyễn Văn Khang – và cũng là một sự chấp nhận đối với tiếng Việt Vì lý do đó, trong khi từ vay mượn gốc Hán đã được gọi là từ Hán Việt, từ vay mượn gốc Pháp được gọi là từ tiếng Việt gốc Pháp, thì đối với các từ tiếng Anh xuất hiện trên các văn bản của tiếng Việt hiện nay, chúng tôi nhất trí với cách dùng của GS Nguyễn Văn Khang,

đó là: TỪ TIẾNG ANH SỬ DỤNG TRONG TIẾNG VIỆT, chứ chưa gọi

đó là từ vay mượn Về vấn đề này, cũng nhân dịp trình báo Luận văn Thạc

sĩ của mình, chúng tôi xin được sự góp ý thảo luận thêm của các nhà khoa học

Luận văn của chúng tôi tập trung vào nghiên cứu các từ gốc tiếng

Anh được sử dụng chủ yếu trên báo Tuổi trẻ, Công an, Phụ nữ, Thanh Niên, Thể thao, Bóng đá năm 2008 – 2009 Trước tiên, chúng tôi xin giới

thiệu sơ lược về các tờ báo này:

Báo Tuổi trẻ là tờ báo xuất bản ngày, là cơ quan ngôn luận của

Đoàn TNCSHCM - Thành phố Hồ Chí Minh, gồm 20 trang phần chính và

24 trang phụ trương quảng cáo Phần chính gồm các trang như sau:

1/ Thời sự (chiếm vị trí những trang đầu với số trang nhiều nhất); 2/ Đời sống, đô thị;

Trang 8

13/ Thế giới muôn màu;

14/ Thế giới hôm nay

Báo Phụ nữ: Đây là tờ báo của cơ quan ngôn luận Hội Liên Hiệp

Phụ Nữ TP.Hồ Chí Minh, là báo xuất ngày, tổng số trang (phần nội dung chính): 16; và phần phụ trương quảng cáo: 24 trang Phần chính gồm các trang:

1/ Thời sự;

2/ Bạn đọc và báo;

3/ Hôn nhân và gia đình;

4/ Bạn gái trẻ;

5/ Cha mẹ và con cái;

6/ Văn hóa – Nghệ thuật;

7/ Hoạt động hội;

8/ Xã hội;

9/ Nhìn vào thế giới;

10/ Khỏe & đẹp

Báo Thanh niên: Đây là cơ quan ngôn luận “Diễn đàn của Hội

Liên hiệp Thanh niên Việt Nam”, báo ra hàng ngày, gồm 20 trang phần chính và 16 trang phụ trương quảng cáo Gồm các mục:

1/ Thời sự, đời sống đô thị;

2/ Bạn đọc và tuổi trẻ;

3/ Giáo dục;

4/ Sống khỏe;

5/ Nhịp sống số;

6/ Quảng cáo, hướng dẫn tiêu dùng;

7/ Văn hóa – nghệ thuật – giải trí;

8/ Kinh tế;

9/ Đầu tư tài chính;

Trang 9

10/ Thể thảo;

11/ Thế giới muôn màu;

12/ Thế giới hôm nay

Báo Thanh niên, thể thao & giải trí: (là ấn phẩm phụ của báo

Thanh niên), gồm 10 trang, bao gồm các tin tức, bài viết về Thể thao, giải trí, điện ảnh, quảng cáo, trong và ngoài nước

Báo Công an TP.Hồ Chí Minh: gồm 16 trang chính và 4 trang

quảng cáo Là tờ báo ra hàng ngày, gồm các mục:

Báo Bóng đá: Cơ quan ngôn luận của Liên đoàn bóng đá Việt

Nam, ra hàng ngày, gồm 24 trang, trong đó có 2 trang quảng cáo

Các bài viết trong tờ báo này có tiêu đề và nội dung phù hợp với các chủ đề của các trang tương ứng Và như vậy, các tin tức được đưa lên ở báo này cũng đã bao gồm được gần như mọi lĩnh vực đời sống chính trị – văn hóa – xã hội – khoa học của trong nước và thế giới

0.2 Phạm vi nghiên cứu, mục đích và nhiệm vụ của đề tài

Trang 10

Với đối tượng nghiên cứu như đã trình bày trên đây, Luận văn này

giới hạn đề tài nghiên cứu trên ngữ liệu báo Tuổi trẻ, báo Công an, báo Phụ

nữ , Báo Thanh niên, Báo Bóng đá và Báo Thanh niên, Thể thao và Giải trí Do thời hạn nghiên cứu có phần hạn chế và năng lực cá nhân chúng tôi

cũng có hạn, trên ngữ liệu này, chúng tôi đi sâu vào khảo sát hai bình diện sau đây: 1/ Bình diện cấu tạo – hình thức xuất hiện của các từ gốc tiếng Anh dùng trên các báo nói trên, và 2/ Bình diện ngữ nghĩa của các từ này được xem xét trong các ngữ cảnh cụ thể của văn bản Ở bình diện cấu tạo, hình thức xuất hiện của từ luận văn chúng tôi sẽ miêu tả và phân tích các từ gốc tiếng Anh trên các khuynh hướng chủ yếu: a) Khuynh hướng chuyển dịch các từ tiếng Anh ra tiếng Việt; b) Khuynh hướng dùng từ có biến đổi hình thức của từ gốc; c) Khuynh hướng giữ nguyên từ gốc và d) Khuynh hướng viết tắt từ gốc bằng các chữ cái đầu Ở đây, chúng tôi xin có một lưu

ý sau: Về khái niệm từ gốc Anh được sử dụng trong Luận văn này được

hiểu ở một mức độ chính xác tương đối: tính tương đối thể hiện ở chỗ:

1/ Về địa danh: Tất cả các địa danh của lãnh thổ nước Anh, nước Mỹ (dĩ nhiên là được viết bằng chữ cái tiếng Anh) và cả những địa danh không phải của hai quốc gia trên, nhưng được thể hiện bằng chữ cái La tinh, chữ cái tiếng Anh, như các quốc gia, các thủ đô ở Châu Phi, Châu Mỹ, v.v… cũng được coi là đối tượng khảo sát của đề tài Ví dụ:

Trang 11

Tên Quốc gia Thủ đô

2/ Về nhân danh: Tất cả các nhân danh được viết bằng chữ cái tiếng Anh nói riêng hay chữ cái La Tinh nói chung cũng được Luận văn đưa vào danh sách các ngữ liệu khảo sát

Ở bình diện ngữ nghĩa, Luận văn tập trung vào việc khảo sát các trường từ vựng – ngữ nghĩa của các từ gốc Anh được sử dụng trên các báo Việc miêu tả và phân tích các trường từ vựng – ngữ nghĩa của chúng sẽ cho chúng ta những nhận xét về tình hình sử dụng các từ gốc tiếng Anh trên các báo hiện nay

0.3 Lịch sử vấn đề

Nghiên cứu về từ vay mượn nói chung, từ vay mượn gốc châu Âu, trong đó, ở một giai đoạn nào đó – là vay mượn gốc Pháp, và hiện nay – là vay mượn gốc Anh – Mỹ, cũng đã có được một số những quan tâm nhất định của các nhà nghiên cứu Việt ngữ Nếu như trong vài thập niên trước đây, từ vay mượn gốc Hán, gốc Pháp là trung tâm chú ý nghiên cứu về vấn

đề từ vay mượn, thì trong thập niên này, có vẻ như tiêu điểm của sự thu hút nghiên cứu lại tập trung ở các từ vay mượn gốc Anh

Điều này cũng không có gì là ngạc nhiên vì trong những năm cuối của thế kỷ XX – đầu thế kỷ XXI, tiếng Anh đã đi vào trong đời sống hoạt động giao tiếp của nhiều quốc gia như một ngôn ngữ chính thức, hoặc như

Trang 12

là một sự bổ sung vào vốn từ của các ngôn ngữ trên các lĩnh vực kinh tế – văn hóa – chính trị, khoa học kỹ thuật … Ở Việt Nam, tiếng Anh là ngôn ngữ được giảng dạy sử dụng từ bậc tiểu học đến bậc đại học, sau đại học như là một ngoại ngữ có tính phổ biến Đồng thời, các từ tiếng Anh đã đi vào đời sống giao tiếp xã hội của người Việt trên bình diện khẩu ngữ và bình diện giao tiếp xã hội

Tuy nhiên, so với vốn từ vay mượn gốc Pháp thì từ vay mượn gốc Anh chưa có được những nghiên cứu rộng và sâu về nó, mà chỉ có một vài công trình có đề cập đến đối tượng này, chẳng hạn như nghiên cứu của tác giả Nguyễn Thị Bích Thủy (1) Ở công trình này, phần đề cập đến từ gốc Anh trên văn bản báo cũng còn dừng lại ở mức điểm qua rất sơ lược, chỉ vài trang, chưa thể hiện được tình hình thực tế của vấn đề này

Cũng trong năm 2006, tác giả Nguyễn Văn Khang đã cho ra mắt

công trình “Từ ngoại lai trong tiếng Việt” (NXBGD, HN, 2006) Trong công trình dày 441 trang này, tác giả đã “ưu ái” dành cho từ tiếng Anh được

sử dụng trong tiếng Việt 37 trang, bên cạnh phần lớn số trang dành cho hai

lớp từ vay mượn đã có vị trí và vai trò ổn định là từ Hán Việt và từ tiếng Việt gốc Pháp Trong phần khảo sát về từ tiếng Anh sử dụng trong tiếng Việt, ngoài một vài trang đặt vấn đề và giới thiệu bối cảnh ngôn ngữ – xã hội của việc xuất hiện các từ tiếng Anh trong tiếng Việt, tác giả cũng đã đề cập tới một số đặc điểm chung về từ loại, về hình thức xuất hiện, về ngữ nghĩa (nghĩa gốc, chuyển nghĩa, thu hẹp nghĩa,…) của từ tiếng Anh trong tiếng Việt Tuy nhiên, những khảo sát của tác giả Nguyễn Văn Khang chỉ mới dừng lại ở mức điểm qua, chưa đi sâu vào từng khía cạnh cụ thể của vấn đề Phần cuối của vấn đề “Từ tiếng Anh sử dụng trong tiếng Việt”, tác giả có phân tích các biến thể cách đọc các từ này trong tiếng Việt Song Luận văn của chúng tôi với mục đích là nghiên cứu từ tiếng Anh trong văn

(1 )

Nguyễn Thị Bích Thủy Vấn đề sử dụng các yếu tố Anh ngữ trong giao tiếp xã hội của người

Việt đương đại (Đề tài nghiên cứu khoa học cấp Bộ, ĐHSP.TPHCM.2006)

Trang 13

bản báo chí trên hai phương diện là phương diện cấu tạo – hình thái của nó

và phương diện ngữ nghĩa: các trường từ vựng – ngữ nghĩa của chúng, chứ không nghiên cứu bình diện âm, bình diện phát âm – cách đọc các từ này của người bản ngữ Việt

Ngoài ra, liên quan đến từ tiếng Anh dùng trong tiếng Việt còn có một số các luận án, luận văn tốt nghiệp đại học, ví dụ như Luận án “Khảo

sát hệ thống thuật ngữ tin học – viễn thông” (của Nguyễn Thị Kim Thanh, LATS, ĐHQGHN, 2005), khóa luận “Khảo sát các từ mượn tiếng Anh đang

sử dụng trong tiếng Việt đời sống” (của Đỗ Hồng Dương, ĐHQGHN, 2005) Khóa luận “Tình hình tiếp nhận thuật ngữ nước ngoài trong tiếng Việt trên cứ liệu tiếp nhận thuật ngữ kinh tế” (của Phạm Thị Thu Hiền, ĐHQGHN, 1999) Các luận án, khóa luận này có một phạm vi khảo sát

chung so với đề tài của chúng tôi là TỪ TIẾNG ANH DÙNG TRONG VĂN BẢN TIẾNG VIỆT, nhưng xét cụ thể thì mỗi một công trình đều có đối tượng nghiên cứu riêng Tuy nhiên đây cũng là các tài liệu tham khảo hữu ích cho chúng tôi trong quá trình nghiên cứu, thực hiện luận văn này

Vì vậy, có thể nói theo quan sát của chúng tôi thì luận văn của chúng tôi là công trình đầu tiên khai phá mảnh đất mới – từ gốc Anh được sử

dụng trên báo chí Việt (khảo cứu chủ yếu qua báo Tuổi trẻ, Phụ nữ, Công

an TP.Hồ Chí Minh, Thanh niên, Bóng đá, Thanh niên, Thể thao và Giải trí)

0.4 Phương pháp nghiên cứu và nguồn ngữ liệu

Luận văn này sử dụng các phương pháp nghiên cứu sau:

 Phương pháp miêu tả, phân tích hình thái học, cụ thể là miêu tả, phân tích cấu tạo, hình thức xuất hiện của các từ gốc Anh được sử dụng trên một số tờ báo xuất bản ở TP.Hồ Chí Minh

 Phương pháp phân tích ngữ nghĩa được vận dụng để phân tích nghĩa của các từ, từ đó phân loại chúng theo các tiêu chí của trường từ vựng – ngữ nghĩa

Trang 14

 Ngoài ra, để đi đến các nhận xét, nhận định nhằm chứng minh, lí giải các vấn đề mà đối tượng nghiên cứu đặt ra, luận văn của chúng tôi còn

sử dụng phương pháp so sánh khi thấy cần thiết

Ngữ liệu chủ yếu được lấy từ Báo Tuổi Trẻ, Báo Thanh Niên, Báo Phụ Nữ, Báo Công an TP.HCM, Báo Bóng đá, Báo Thanh niên, Thể thao

và giải trí, đồng thời lấy từ các văn bản Báo chí nói chung khác xuất bản ở Việt Nam

0.5 Ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiễn của đề tài

Nghiên cứu từ gốc tiếng Anh được sử dụng trên báo chí Việt Nam từ hai góc độ cấu tạo, hình thức xuất hiện và trường từ vựng – ngữ nghĩa có ý nghĩa khoa học ở chỗ các kết quả nghiên cứu này góp phần khẳng định một

xu thế phát triển vốn từ của một ngôn ngữ nói chung, vốn từ tiếng Việt nói riêng bằng một con đường có những tích cực và thuận lợi rất lớn – đó là con đường vay mượn Xu hướng này còn góp phần, ở một góc độ, một phương diện nào đó là làm cho các dân tộc xích lại gần nhau, có những điểm chung nhau nhiều hơn, lớn hơn, để thế giới có thể sống trong hòa bình, hợp tác và hữu nghị như mong muốn của tất cả chúng ta, mà điều này

đã chứng minh trong lịch sử ngôn ngữ thế giới nói chung, lịch sử tiếng Việt nói riêng qua hai cuộc tiếp xúc có thể nói là vĩ đại: Việt – Hán ; Việt – Pháp và hiện nay là Việt – Anh Giá trị thực tiễn của nó là góp phần làm cho người Việt nói chung, sinh viên, nghiên cứu sinh nói riêng ngày càng thích nghi với hiện thực giao tiếp giao thoa giữa tiếng Việt với các ngôn ngữ khác trên thế giới

0.6 Bố cục của Luận văn:

Luận văn có độ dài 104 trang, ngoài phần Dẫn nhập (12 trang), Kết luận (03 trang), Phần nội dung được chia thành 3 chương Chương một, trình bày một số vấn đề cơ bản về lí thuyết làm cơ sở nền tảng cho việc nghiên cứu (13 trang), chương hai đi vào khảo sát bình diện cấu tạo hình

thức xuất hiện của các từ tiếng Anh trên Báo Tuổi Trẻ, Báo Thanh Niên,

Trang 15

Báo Phụ Nữ, Báo Công an TP.HCM, Báo Bóng đá, Báo Thanh niên, Thể thao và giải trí (25 trang) và chương ba khảo cứu bình diện ngữ nghĩa của

các từ này, cụ thể là đi vào phân tích, phân loại các từ theo các tiêu chí của trường từ vựng – ngữ nghĩa (45 trang) Phần cuối của Luận văn là thư mục tài liệu tham khảo với 71 đầu sách, báo

Trang 16

CHƯƠNG MỘT:

MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÍ THUYẾT CƠ SỞ

1.1 VẤN ĐỀ LÍ THUYẾT VAY MƯỢN TỪ VỰNG

1.1.1 Vay mượn từ vựng là một hiện tượng phổ biến của các ngôn ngữ

trên thế giới

Trong hệ thống từ vựng của mỗi một ngôn ngữ, hầu như ở đâu cũng thấy hiện tượng vay mượn những yếu tố ngoại lai “Cũng như các nền văn hóa, các ngôn ngữ ít khi tự chúng đã đầy đủ… Nhu cầu giao lưu đã khiến cho những người nói một ngôn ngữ nào đó tiếp xúc trực tiếp hoặc gián tiếp với những người nói những ngôn ngữ lân cận hay có ưu thế về mặt văn hóa Sự giao lưu có thể có tính chất hữu nghị hay thù địch Nó có thể diễn

ra trên bình diện bình thường của những quan hệ kinh doanh hay buôn bán, hoặc có thể là một sự vay mượn hay trao đổi những giá trị tinh thần, nghệ

thuật, khoa học, tôn giáo” (Ed.Sapir.1949.tr.237- Dẫn theo Nguyễn Văn Khang trong tác phẩm “Từ ngoại lai trong tiếng Việt”, NXBGD, tr.9)

Như vậy, có thể nhận thấy, sự vay mượn các từ từ một ngôn ngữ khác là một hiện tượng tất yếu, có tính quy luật Tuy nhiên, do những điều kiện về chính trị, lịch sử, xã hội, văn hóa khác nhau, mức độ về số lượng các từ vay mượn trong các ngôn ngữ là khác nhau (2)

Mặc khác, trong vốn từ của một ngôn ngữ, mức độ vay mượn ở mỗi giai đoạn, mỗi thời kỳ cũng khác nhau Cụ thể ở Việt Nam, trong giai đoạn 1.000 năm Bắc thuộc (và có thể là hơn thế, cả về sau này) tiếng Việt vay mượn tiếng Hán với mức độ khác với thời kỳ thuộc Pháp vay mượn tiếng Pháp và khác với mức độ trong giai đoạn hiện nay dùng từ tiếng Anh trong giao tiếp của người Việt

(2 )

Xin xem một số con số được thống kê theo GS Nguyễn Văn Khang Từ vay mượn: tiếng Anh: 56%; tiếng Thụy Điển: 75%; tiếng Anbani: 90%; tiếng Đức: 25%, tiếng Ailen: 1% (NVK, sách đã dẫn, tr.10)

Trang 17

1.1.2 Vay mượn từ vựng là một trong những phương thức quan trọng để bổ sung cho vốn từ vựng của một ngôn ngữ

Theo lí thuyết kí hiệu học, thế giới khách quan thì vô hạn mà mỗi một hệ thống kí hiệu lại hữu hạn Không những thế, xét theo lí thuyết ĐỘ

DƯ (3), trong một hệ thống ký hiệu nào đó, độ dư của nó có thể lên đến rất nhiều Ví dụ, trong hệ thống kí hiệu tiếng Việt, xét từ góc độ âm vị học, ta

có 5 hệ thống âm vị: Hệ thống âm đầu: 22; âm đệm: 1; âm chính: 16, âm cuối: 8; Thanh điệu: 6 (đó là chưa kể với các âm vị có biến thể, thì một âm

vị lại có nhiều biến thể chữ viết thể hiện trên văn tự, như âm / K / có 3 biến thể văn tự là c, k, q ; âm / / có 2 biến thể là ng, ngh; âm / / có 2 biến thể là g, gh ; âm / ie / có 4 biến thể là iê , ia, yê, ya, v.v…) vậy, cứ làm một phép tính để biết số lượng âm tiết có thể có trong tiếng Việt là: 22 (âm đầu)

 1 (âm đệm)  16 (âm chính)  8 (âm cuối)  6 thanh = 16.896 âm tiết Trong 16.896 âm tiết có thể có về mặt khả năng theo mô hình cấu tạo âm tiết tiếng Việt, có rất nhiều âm tiết hiện nay chưa xuất hiện (chưa được sử dụng) trong tiếng Việt của chúng ta Lấy ví dụ như các âm tiết hẻng ; đẻng , mẻng , nghẻnh , lẻng, … Đó chính là ĐỘ DƯ của các hệ thống kí hiệu Tiếng Việt là một ngôn ngữ đơn tiết mà độ dư âm vị học còn lớn như vậy, các ngôn ngữ đa tiết như tiếng Anh, tiếng Pháp, tiếng Nga thì độ dư của chúng sẽ lớn gấp bội phần Nói như vậy có nghĩa là, hệ thống kí hiệu là hữu

hạn, trong cái hữu hạn đó lại có những cái không dùng đến

Vì vậy, bên cạnh tạo ra các từ, các tín hiệu mới theo phương thức của riêng mỗi ngôn ngữ, thì vay mượn là một nguồn bổ sung rất quan trọng

và tiết kiệm hơn rất nhiều, xét về mặt tư duy của con người Hay có thể nói,

vay mượn là việc dùng một cái có sẵn để gọi tên một sự vật, hiện tượng

mới của hiện thực khách quan Việc này có hai cái lợi: 1- tiết kiệm được trí lực ; 2- các con người của các quốc gia khác nhau có thể hiểu nhau hơn, vì tính “quốc tế” của các mã tín hiệu Chính vì vậy, một người Việt Nam khi

(3)

Trang 18

học tiếng Hán sẽ thuận lợi hơn rất nhiều khi cần tiếp thụ vốn từ tiếng Hán Ngành Y Dược Việt Nam sẽ rất thuận lợi khi tiếp xúc với y học thế giới, vì hiện nay các từ chỉ các loại tây dược trong y khoa đa số, chủ yếu là các từ vay mượn gốc châu Âu

1.1.3 Vay mượn từ vựng là một hiện tượng ngôn ngữ học xã hội

Như chúng ta biết, thế giới ngày nay là một “mái nhà chung” Mọi con người, mọi quốc gia trên thế giới đều đến lúc cần thiết phải hiểu nhau

Vì vậy khi một khái niệm, một từ nào đó xuất hiện ở một nơi nào đó trên thế giới thì sau đó nó sẽ được biết đến, được sử dụng ở một nơi khác, nếu các nơi này có liên hệ với nhau Và đó là nguyên nhân của sự vay mượn từ vựng trong các ngôn ngữ

Tình hình này có thể kể ra ở một số quốc gia như Trung Quốc, Nga, Pháp, v.v :Trong tiếng Hán có một số lượng từ vay mượn gốc Nhật, gốc Phạn ; trong tiếng Nga có một số lượng từ vay mượn gốc Hy- La Trong tiếng Pháp cũng vậy v.v… Và dưới tác động của các nhân tố ngôn ngữ – xã hội, các đơn vị từ vựng ngoại lai có thể nhập vào một ngôn ngữ nào đó bằng những con đường khác nhau và có thể tồn tại dưới những dạng ít nhiều khác nhau Thậm chí sự vay mượn này còn là “mượn của mượn”, ví

dụ trường hợp vay mượn của tiếng Hán từ tiếng Nhật là như vậy: Đầu tiên, tiếng Nhật mượn văn tự Hán, sau đó dùng văn tự này để ghi các từ vay mượn từ tiếng Anh trong công cuộc cách mạng khoa học kỹ thuật của mình Về sau, người Hán lại mượn lại những từ này của người Nhật

1.1.4 Vay mượn từ vựng là một hiện tượng ngôn ngữ – văn hóa

Cùng với vay mượn, tiếp xúc ngôn ngữ; văn hóa của các dân tộc, các quốc gia đã lan tỏa, hòa lẫn vào nhau Điển hình ở Việt Nam đó là sự lan tỏa và hòa nhập của văn hóa Trung Hoa trong hơn 1.000 năm, sau này là của văn hóa Pháp thời kỳ cuối TK 17, TK 18, TK 19, đầu TK 20 và hiện nay là văn hóa Âu – Mỹ Thực tế cho thấy, tiếp xúc văn hóa trước hết nhờ

sự tiếp xúc ngôn ngữ

Trang 19

1.2 VẤN ĐỀ TỪ VÀ PHÂN LOẠI TỪ TRONG TIẾNG VIỆT

từ Hiện thực ấy được giải thích trước hết bởi tính chất từ là đơn vị trung tâm, đơn vị cơ bản của hệ thống ngôn ngữ, đồng thời bởi tính phức tạp, tính không thuần nhất, tính đa diện của nó trong các ngôn ngữ trên thế giới, và sau đó là bởi các góc độ xem xét, nhìn nhận khác nhau của các nhà nghiên cứu Tuy nhiên, để chọn một định nghĩa nhằm làm cơ sở cho việc nghiên cứu, khảo sát đề tài này, chúng tôi tán đồng quan điểm được thể hiện trong tác phẩm “Cơ sở ngôn ngữ học và tiếng Việt” của Mai Ngọc Chừ, Vũ Đức

Nghiệu, Hoàng Trọng Phiến (NXBGD, HN, 2005) Theo đó, các tác giả

định nghĩa: “Từ là đơn vị nhỏ nhất có nghĩa của ngôn ngữ được vận dụng độc lập, tái hiện tự do trong lời nói để xây dựng nên câu” Theo các tác giả này, quan điểm về TỪ của họ gần với quan điểm của B.Golovin trong cuốn

“Dẫn luận ngôn ngữ học” (NXB Đại học Moskva, 1983 (bản tiếng Nga)),

và cũng có nhiều điểm gần với quan điểm của L.Bloom field – ông này cho

rằng “Từ là một hình thái tự do nhỏ nhất” (L.Bloomfield, Language, Newyork, 1933) và như vậy, theo quan điểm của Bloomfield, từ là hình thái nhỏ nhất có

thể xuất hiện độc lập

Cũng trên hướng quan niệm như vậy, V.B.Kasevich trong tác phẩm

“Những yếu tố cơ sở của ngôn ngữ học đại cương” (NXB.GD,HN, 1998, tr.100) đã đưa ra 3 tiêu chí có tính cốt lõi trong việc xác định từ, đó là: 1/

Từ có một độ độc lập nhất định; 2/ Từ có tính toàn vẹn bên trong và 3/ Từ

có quan hệ cú pháp độc lập

Trang 20

Tiêu chí thứ nhất thể hiện ở chỗ, với một độ tự do nhất định nào đó,

nó có thể di chuyển trong phạm vi của một đoạn văn bản (câu), thực từ có thể dùng biệt lập Còn bộ phận của từ (các yếu tố trong từ) thì khác: Nó không thể tự do di chuyển trong câu và trật tự các bộ phận trong từ cũng không thể thay đổi Ngoài ra, từ có thể có dạng thức ngữ pháp độc lập, trong khi đó, các bộ phận của từ thì không như vậy

Tiêu chí thứ hai thể hiện ở chỗ các bộ phận của từ không thể tách khỏi nhau bằng việc xen thêm các đơn vị thực (hoặc các từ hư khác) Trong khi đó, giữa các từ với nhau lại có thể xen thêm một chuỗi, mà về mặt lý thuyết là không hạn chế, những đơn vị thực

Tiêu chí thứ ba thể hiện ở chỗ: Nếu một đơn vị thực của một tổ hợp

mà lại có thể có những quan hệ cú pháp riêng không thuộc vào toàn tổ hợp, thì đơn vị đó được tách ra với tư cách là một từ riêng biệt Việc áp dụng tiêu chí này để bổ sung cho hai tiêu chí trên là cần thiết trong việc định từ Tuy nhiên các tiêu chí này cũng được áp dụng một cách hết sức linh hoạt, mềm dẻo

Và trong quá trình sưu tập, phân tích và xử lý ngữ liệu cho luận văn, chúng tôi đã vận dụng quan điểm và các tiêu chí để nhận diện và xác định

từ nói trên

1.2.2 Phân loại từ xét từ góc độ nguồn gốc:

Như đã nói ở trên, trong hầu như tất cả các ngôn ngữ trên thế giới, vốn từ vựng của chúng bao giờ cũng là một tập hợp các từ có nguồn gốc rất phong phú, đa dạng, sinh động, nếu chúng ta xem xét vấn đề một cách thật nghiêm túc và đến tận cùng kì lí Ví dụ, trong các ngôn ngữ châu Âu, chỉ tính các ngôn ngữ có số người sử dụng lớn như tiếng Anh, tiếng Pháp, tiếng Đức, tiếng Ý, tiếng Nga, v.v… vốn từ vựng của các ngôn ngữ này xét về mặt nguồn gốc không chỉ có lớp từ thuần – lớp từ do người bản ngữ tạo ra – mà còn có một số lượng không nhỏ các từ vay mượn Ở Châu Á cũng vậy: những ngôn ngữ lớn như tiếng Hán, tiếng Hàn, tiếng Nhật, tiếng Ấn

Trang 21

(Hindi) v.v… thì trong vốn từ của chúng cũng có tình hình tương tự Vì vậy khi tiến hành phân chia từ xét từ góc độ nguồn gốc, trong lí luận của ngôn ngữ học đại cương, người ta nhất trí phân chia vốn từ thành 2 loại:  Lớp

từ vay mượn: Đây là lớp từ không do người bản tạo ra, và  Lớp từ thuần:

là lớp từ do chính người bản ngữ tạo ra

Trong tiếng Việt chúng ta, ở lớp từ vay mượn, trong các nghiên cứu

về từ vựng tiếng Việt, các tác giả đều khẳng định rằng hai nguồn vay mượn chủ yếu ở đây là tiếng Hán và các ngôn ngữ châu Âu, trong đó chủ yếu là tiếng Pháp Hiện thực này có lẽ không cần phải lí giải nhiều vì nó đã được chứng minh trên phương diện ngôn ngữ – xã hội học và cả trên nhiều phương diện khác như lịch sử, văn hóa học, chính trị học, v.v…

Như vậy, trong hai nguồn vay mượn từ vựng trong tiếng Việt, đã từ lâu (2, 3 thế kỷ trước) đã có sự hiện diện của lớp từ gốc châu Âu, trong đó chủ yếu là lớp từ gốc Pháp

Nhưng trong vòng vài thập niên cuối của Thế kỷ XX và thập niên đầu của thế kỷ XXI, vốn từ vay mượn gốc châu Âu này ngày càng tăng trưởng về số lượng và phạm vi giao tiếp Trong xu hướng này, các từ gốc tiếng Anh cũng đã được sử dụng ngày càng nhiều trong đời sống sinh hoạt, giao tiếp khẩu ngữ, trong hội thoại của người Việt – đặc biệt là người Việt thế hệ 8X, 9X ; trong quảng cáo, biển hiệu, tên các siêu thị, các Plaza lớn ở các thành phố lớn, các trung tâm thương mại, kinh tế, văn hóa, v.v… và đã dần đi vào các phương tiện thông tin đại chúng

1.2.3 Về vấn đề từ gốc tiếng Anh (được sử dụng trong luận văn)

Trước hết, lớp từ mà luận văn này khảo cứu, một cách hiển nhiên, đó không phải là từ thuần Việt, mà là những từ gốc tiếng Anh (dựa vào hình thức chữ viết) Tuy nhiên, như đã nói ở phần dẫn nhập, trong các ngôn ngữ châu Âu, sự vay mượn lẫn nhau vốn từ là một hiện tượng khá phổ biến, vì vậy, cũng có thể gặp trường hợp một từ tiếng Pháp, hay một thứ tiếng nào

đó của châu Âu có hình thức chữ viết giống với tiếng Anh, mà chúng tôi

Trang 22

không nhận diện được, đưa lẫn vào đối tượng khảo cứu thì thiết nghĩ điều

đó cũng không làm ảnh hưởng nhiều đến tính toàn cục của vấn đề đang xem xét

Thứ nữa, trong các ngữ liệu mà chúng tôi thu thập, có thể có những

từ thật sự không phải là gốc Anh (ví dụ như tên riêng chỉ người; chỉ địa danh; chỉ các cơ quan, tổ chức, đoàn thể, v.v…) của các ngôn ngữ khác, quốc gia khác (không phải của tiếng Anh; nước Anh, nước Mỹ, mà là của các quốc gia dùng tiếng Anh như ngôn ngữ quốc gia chính thức Về các quốc gia này chúng tôi sẽ trình bày trong các chương sau), nhưng các từ chỉ các tên riêng đó được thể hiện trên văn tự bằng chữ cái La tinh – thứ chữ

mà tiếng Anh sử dụng và đó là dùng theo chữ cái tiếng Anh Tất nhiên, chúng tôi cũng tránh tối đa không đưa vào danh sách tên riêng của các dân tộc, quốc gia như Nhật, Hàn, Trung (khi chúng xuất hiện dưới dạng Hán-Việt) Và tất nhiên, cũng có thể có những nhầm lẫn nào đó trong quá trình khảo cứu, mặc dù chúng tôi hết sức cố gắng để khắc phục điều đó, nhưng quả là rất khó tránh khỏi sai sót Vì vậy, xin quí vị giáo sư, quí vị độc giả lượng thứ, nếu gặp những sai sót kiểu như vậy trong luận văn này của chúng tôi

1.3 VẤN ĐỀ CẤU TẠO TỪ VÀ PHƯƠNG THỨC CẤU TẠO TỪ

Trong các tài liệu, sách vở về ngôn ngữ học đại cương, chúng ta biết rằng các nhà ngôn ngữ học đều thống nhất với nhau ở chỗ cho rằng: Từ được cấu tạo từ các hình vị Như vậy, các thành tố bên trong từ là HÌNH

VỊ Một khái niệm có tính kéo theo ở đây cần được làm rõ : Hình vị là gì ?

Có thể giải thích ngay ở đây như sau: Hình vì là đơn vị ngôn ngữ nhỏ nhất

có nghĩa (nghĩa từ vựng hoặc nghĩa ngữ pháp) Một từ ít nhất phải bao hàm

một hình vị (Kasevich, Những yếu tố cơ sở của NNHĐC, NXBGD, 1998, tr.84)

Theo Kasevich, tất cả các loại hình vị được chia thành 2 nhóm: hình

vị thực (từ vựng), và hình vị hư (ngữ pháp)

Trang 23

Ví dụ: book s

Việc xác định hình vị thực và hình vị hư như sau:

Hình vị được coi là hình vị hư nếu bối cảnh của chúng được thay đổi

dễ dàng, ví dụ hình vị book trong từ books, là bối cảnh cho hình vị s, có thể được thay thế bằng bất kỳ một hình vị nào lấy từ danh sách mà trên thực tế

là vô hạn (như: pen, paper, v.v…) Trong khi đó, các vĩ tố biến đổi số khác

có thể thay thế cho hình vị s lại tạo thành một danh sách hết sức hạn chế Sau khi đã tách ra các hình vị còn lại là hình vị thực Nói chung, các hình vị thực là những GỐC TỪ (4)

Các từ được cấu tạo theo những phương thức khác nhau Chúng quy lại, có thể kể ra một số phương thức chủ yếu sau:

1/ Từ hóa hình vị Đây là phương thức cấu tạo có trong các trường hợp từ chỉ có một hình vị, hay nói như các tác giả của “Cơ sở ngôn ngữ học

và tiếng Việt” (sách đã dẫn) là “cấp cho hình vị cái tư cách đầy đủ của một

từ” (trang 40) Ví dụ: nhà, xinh, tốt, đi, học (tiếng Việt); man, hand, at, on, with, if (tiếng Anh); Ha, , cto oh, bot, tam (tiếng Nga)

2/ Tổ hợp 2 hay nhiều hình vị để tạo từ

2.1 Phương thức phụ gia: phương thức này có trong các trường hợp phụ thêm phụ tố vào gốc từ, hoặc từ đã có Ví dụ:

Trang 24

2.2 Ghép các gốc từ (hình vị có nghĩa từ vựng)

Ví dụ:

– Handphone ; subway, airport (tiếng Anh)

– Kopậeǔcịpoǔịeeǔ , mụoxog , nepexog (tiếng Nga)

– Hoa hồng, xã hội, chủ nghĩa (tiếng Việt)

3/ Phương thức láy: Lặp lại hình vị gốc về mặt ngữ âm theo những mức độ khác nhau nào đó

– Thmây thmây, thlay thla (tiếng Khmer)

– Loanh quanh, thỉnh thoảng, linh tinh (tiếng Việt)

– Đẹp đẽ, sạch sẽ, gọn gàng; đùng đùng, ầm ầm, ào ào

4/ Ngoài ra, có thể coi như đây cũng là một cách thức tạo từ mới, nếu nhìn nhận ở một góc độ nào đó – đó là VAY MƯỢN Vay mượn từ các ngôn ngữ khác những từ mà trong vốn từ của ngôn ngữ đó chưa có, hoặc đã

có nhưng chưa đáp ứng được chức năng định danh Đây cũng là một phương thức tạo từ có những ưu thế của nó, đồng thời nó cũng gây ra những cản trở nhất định trong việc tiếp thu của người bản ngữ, đặc biệt là các từ vay mượn từ ngôn ngữ khác xa về loại hình Thực ra, điều này cũng nằm trong quy luật phát triển của các sự vật, hiện tượng Một người dân Việt bình thường chưa từng có khái niệm “ngoại ngữ”, tất nhiên là sẽ khó khăn khi họ gặp các từ gốc Châu Âu trong hoạt động giao tiếp của mình Tuy nhiên những khó khăn loại này sẽ dần dần được cải thiện trong môi trường giao tiếp mà những yếu tố ngoại lai đang có xu hướng thâm nhập, hòa nhập ngày một gia tăng vào tiếng Việt, vào xã hội – cộng đồng người Việt Các thương xá, trung tâm thương mại như Diamond Plaza, Zen Plaa, Park son Big C Các Hotel như Sofitel Hotel, Carravel Hotel, Continental Hotel, v.v… đã dần trở nên không còn xa lạ trong hoạt động giao tiếp của người Việt

1.4 VẤN ĐỀ NGHĨA CỦA TỪ VÀ PHÂN LOẠI NGHĨA CỦA TỪ

Trang 25

Khái niệm nghĩa của từ là một vấn đề được nêu ra từ lâu trong các tài liệu về ngôn ngữ học lý thuyết Theo F.de Saussure thì nghĩa của từ (của tín hiệu ngôn ngữ) chính là mặt nội dung, là “cái được biểu hiện” của tín hiệu

Các tác giả cuốn “Cơ sở ngôn ngữ học và tiếng Việt”, cũng như các

tác giả cuốn “Dẫn luận ngôn ngữ” (Nguyễn Thiện Giáp chủ biên, NXBGDHN, 2007) đều thống nhất với nhau khi nói rằng nghĩa của từ là

những liên hệ được xác lập trong nhận thức của chúng ta giữa từ với những cái mà từ đó chỉ ra Như vậy, có thể nói rằng nghĩa của từ chính là cái mà

– Nghĩa ngữ dụng (tiếng Anh: Pragmatical meaning): nghĩa này còn được gọi là nghĩa biểu thái, nghĩa hàm chỉ, là nghĩa có được nhờ mối liên

hệ giữa từ với thái độ, cảm xúc, đánh giá của người nói trong ngữ cảnh cụ thể nào đó

– Nghĩa cấu trúc (tiếng Anh: Structural meaning): Đây là loại nghĩa xuất hiện khi từ tham gia vào hoạt động giao tiếp, tham gia vào các đơn vị bậc cao hơn như câu, văn bản

Mỗi một từ có thể có một nghĩa hoặc nhiều nghĩa Trong các nghĩa, thì nghĩa đầu tiên, nghĩa có trước nhất của từ là nghĩa GỐC, còn các nghĩa

Trang 26

có sau, các nghĩa được phát sinh từ nghĩa đầu tiên – đó là nghĩa PHÁI SINH

Liên quan đến khái niệm nghĩa là khái niệm TRƯỜNG TỪ VỰNG – NGỮ NGHĨA Trường này được gọi TRƯỜNG NGHĨA Trường từ vựng – ngữ nghĩa là tập hợp các đơn vị từ vựng có quan hệ với nhau theo một tiêu chí nào đó (quan hệ trực tuyến, quan hệ liên tưởng)

– Các loại trường từ vựng:

+ Trường trực tuyến bao gồm:

Trường biểu vật: Trường biểu vật là tập hợp các từ có cùng phạm vi biểu vật

Trường biểu niệm: Trường biểu niệm là tập hợp các đơn vị từ vựng

có cùng cấu trúc biểu niệm khái quát

+ Trường liên tưởng tự do: đó là tập hợp các đơn vị từ vựng gợi lên

do sự liên tưởng tự do với một từ trung tâm nào đó

1.5 VẤN ĐỀ NHÂN DANH, ĐỊA DANH:

Trong các cứ liệu mà chúng tôi thu thập được trên các báo nói trên,

có sự xuất hiện của nhân danh và địa danh Xin được trình bày cách thể hiện nhân danh của người Anh trong tiếng Anh như sau:

(5)

Xem Lê Trung Hoa (2005, 2006) “Địa danh Việt Nam, “Họ và tên người Việt Nam”,

NXB.GD

Trang 27

là các yếu tố từ vựng của ngôn ngữ này đã xâm nhập, lan tỏa vào vốn từ vựng của tiếng Việt, đã đi vào đời sống giao tiếp của mỗi người chúng ra, ở mọi tầng lớp khác nhau như tầng lớp trí thức, các nhà ngoại giao, các nhà khoa học, các doanh nhân, các tầng lớp nhân dân lao động bình thường Trong mỗi gia đình người Việt hiện nay, việc nghe và nói các câu có tính chào hỏi như Hello!, bai, bai, okê, v.v… không còn xa lạ

Trong số các từ tiếng Anh, xuất hiện trên văn bản báo chí Việt Nam (qua các tờ báo mà luận văn chúng tôi khảo sát) thì có thể thấy các xu hướng chính sau:

1/ Xu hướng chuyển dịch từ tiếng Anh sang từ tiếng Việt

2/ Xu hướng phiên âm, chuyển âm, phỏng âm

3/ Xu hướng giữ nguyên dạng ngôn ngữ gốc

Trong ba xu hướng này, xu hướng thứ nhất ít xuất hiện, vì các tờ báo

mà luận văn khảo sát không phải là các báo chuyên ngành khoa học như công nghệ thông tin, điện tử, v.v… các lĩnh vực mà có số lượng từ gốc tiếng Anh rất lớn

2.1 CÁC TỪ TIẾNG ANH ĐƯỢC CHUYỂN DỊCH RA TIẾNG VIỆT

Trang 28

Việc sử dụng các từ tiếng Anh trên các văn bản tiếng Việt bằng cách chuyển dịch từ ngoại lai đó sang ngôn ngữ bản ngữ là một cách vay mượn

có những ưu thế riêng của nó Ưu thế lớn nhất có thể thấy là nó tạo ra một lớp từ mới, có nội dung – ngữ nghĩa mới nhưng được thể hiện bằng các tín

hiệu của hệ thống cũ, và vì vậy nó được tiếp nhận dễ dàng hơn nhờ tính quen thuộc của các tín hiệu này, ít nhất là đối với những người không am

tường ngôn ngữ của từ ngoại lai này Mặt khác, nếu vay mượn các từ ngoại lai với một số lượng quá lớn, quá sự cho phép có thể làm phá vỡ diện mạo, bản chất của ngôn ngữ bản ngữ, trừ các trường hợp của những ngành khoa học có tính quốc tế cao như y học (đối với các từ chỉ tên các loại thuốc tân dược) Và trong giới hạn của luận văn này, chúng tôi chỉ chủ yếu khảo cứu các từ tiếng Anh xuất hiện dưới hình thức nguyên dạng, bởi lẽ, việc nhận diện các từ này không cần phải bỏ nhiều thời gian và công sức, so với các

từ thuộc loại chuyển dịch, và vì vậy, ít có sự tranh cãi về việc nó có phải là

từ gốc tiếng Anh hay không

Đây là hình thức xuất hiện của các từ tiếng Anh trong tiếng Việt với

xu thế khá mạnh mẽ trên loại hình văn bản báo chí Trên các thể loại văn bản khác, chẳng hạn như văn bản khoa học, cụ thể ở các văn bản có tính điển hình cho việc sử dụng các từ tiếng Anh, vì đó là các lĩnh vực khoa học mới, như lĩnh vực điện tử, công nghệ tin học, viễn thông, tài chính – chứng khoán, v.v… thì xu hướng này lại càng có một vị trí quan trọng trong giao tiếp thuộc phong cách khoa học Hàng loạt các thuật ngữ của tin học, của bưu chính – viễn thông – điện tử được chuyển dịch sang tiếng Việt

Ví dụ: tài khoản (account), thư trên mạng (blog), con chuột (mouse), máy tính (computer), máy tính xách tay (laptop), mạng (net), kết nối lại (link), khởi động (start), hộp thư điện tử (email)

Trong văn bản báo chí, ở các nội dung, các chủ đề khác nhau, chúng

ta thấy một số các trường hợp như sau:

Trang 29

– nhạc đồng quê (country music)

– thị trường hối đoái (exchange market)

– hạn ngạch nhập khẩu (import quotas)

– thuế giá trị gia tăng (Value – added tax: VAT)

Trang 30

Theo nhận định của tác giả Nguyễn Văn Khang (6) thì trong số các từ tiếng Anh xuất hiện trong tiếng Việt thì:

+ Chỉ có một số rất ít các từ tiếng Anh được Việt hóa về mặt ngữ âm

và tương đối ổn định theo cách viết của chính tả tiếng Việt, ví dụ cao bồi, chạy sô, tích kê, xì căng đan

+ Một số lượng rất nhỏ các từ tiếng Anh được dịch sang tiếng Việt

+ Một số lượng lớn các từ tiếng Anh xuất hiện trong các ấn phẩm

tiếng Việt được viết nguyên dạng tiếng Anh Và điều đó dẫn tới việc đọc các từ này còn có nhiều biến thể

Tuy nhiên, xét ở bình diện tín hiệu thì các từ tiếng Anh ở trường hợp

này là nguyên dạng

Nhưng đối với trường hợp này, chúng tôi không đi sâu vào khảo cứu, bởi tính chất đa lĩnh vực, việc xác định nó rất rộng, rất khó, khó có thể bao quát được trong tầm của một luận văn thạc sĩ Việc xác định các từ này có phải là gốc Anh hay không cần phải có những nghiên cứu chuyên sâu của mỗi ngành khoa học Mặt khác, nếu các từ gốc Anh này đã được chuyển dịch sang tiếng Việt, thì dĩ nhiên, hình thức của chúng cũng như hoạt động hành chức của nó như các yếu tố tiếng Việt, không có gì đặc biệt Vì vậy, ở mục này, chúng tôi chỉ dành một chút miêu tả như là để nhìn nhận trong cái tổng thể, toàn cục của từ tiếng Anh sử dụng trong văn bản tiếng Việt mà thôi

Vả lại, ngay cả những trường hợp này, không phải chúng luôn luôn chỉ xuất hiện dưới dạng chuyển dịch như vậy

2.2 CÁC TỪ TIẾNG ANH ĐƯỢC SỬ DỤNG THEO LỐI PHIÊN

ÂM VÀ VIẾT THEO CÁCH NÀY

Hình thức xuất hiện này không phải là một xu thế chiếm vị trí ưu thế trên báo chí hiện nay Đây là cách sử dụng có tính quán tính từ các cách sử dụng trước đây khi vay mượn lớp từ gốc châu Âu nói chung, gốc Pháp nói

(6 ) Nguyễn Văn Khang, sách đã dẫn, tr 398

Trang 31

riêng Rất nhiều từ vay mượn gốc tiếng Pháp có hình thức như vậy, ví dụ a xít, cà phê, sơ mi, mù soa, xi măng, apatit, pê đan, ghi đông, gác đờ bu, gác

đờ sên, áo blu, lốc, cà vạt, com lê, áp xe, v.v…

Trong luận văn này, chúng tôi dùng khái niệm phỏng âm với cách hiểu là từ đó không được viết nguyên dạng (theo văn tự Anh) mà có những biến đổi, song xét về mặt âm, nó có sự liên hệ với âm của từ gốc Anh

Ví dụ:

Trang 32

– cốc-tai (cocktail)

2.3 CÁC TỪ TIẾNG ANH XUẤT HIỆN DƯỚI HÌNH THỨC NGUYÊN DẠNG:

Đây là một xu hướng rất đáng chú ý và dẫn đến một sự cân nhắc trong việc dùng thuật ngữ TỪ VAY MƯỢN (TỪ NGOẠI LAI) hay là cách gọi TỪ TIẾNG ANH DÙNG TRONG TIẾNG VIỆT (cụ thể là trong văn bản báo chí) Luận văn của chúng tôi tập trung sự quan tâm nghiên cứu vào loại từ này, bởi tính HIỂN NHIÊN của cái gọi là TỪ TIẾNG ANH của chúng Và loại từ dùng theo lối nguyên dạng này nếu sử dụng với một tần

số lớn như thế nào đó sẽ dẫn đến hiện tượng TRỘN MÃ Tuy nhiên, theo khảo sát, nghiên cứu của chúng tôi thì trong văn bản báo chí tiếng Việt, loại này được dùng với một tần số chưa có gì đáng lo ngại, mặc dù luận văn chúng tôi chưa có điều kiện làm công việc thống kê này, nhưng nhìn một

Trang 33

cách tổng thể trên các tờ báo mà chúng tôi khảo cứu, thì có thể nhận xét như vậy

Xu hướng từ tiếng Anh xuất hiện trong tiếng Việt với dạng NGUYÊN NGỮ, đặc biệt đối với các từ chỉ nhân danh, địa danh, các từ chỉ các loại sản phẩm, hàng hóa mới, chất liệu mới… là một xu hướng tích cực, phù hợp với tình hình phát triển về vốn từ của một ngôn ngữ trong thời đại hội nhập quốc tế hiện nay Bởi, đối với các từ này, nếu dùng theo lối chuyển dịch âm thì sẽ dẫn đến nhiều nguy cơ sai lệch so với từ gốc, gây khó khăn cho việc tiếp nhận văn bản Theo chúng tôi, liên quan đến TÊN

RIÊNG (gồm nhân danh, địa danh…), thì cách tốt nhất là giữ nguyên ngữ,

bởi nếu dựa vào âm thì mỗi người, mỗi cá nhân có những cách phát âm khác nhau, thậm chí có những người có tật bẩm sinh về phát âm, hoặc không có khả năng phát âm những âm đặc thù, những âm “khó”, v.v Chưa kể, có thể có những tên riêng có chữ viết khác nhau nhưng được phát

âm giống nhau, hoặc ngược lại

Các từ tiếng Anh xuất hiện dưới hình thức NGUYÊN DẠNG chủ yếu tập trung ở các nhóm như sau:

2.3.1 Nhóm từ chỉ địa danh:

Đây là các địa danh của các quốc gia, vùng lãnh thổ có quan hệ với Việt Nam về chính trị, kinh tế, văn hóa, giáo dục, thương mại, v.v… hoặc chỉ đơn thuần là một địa danh địa lý có liên quan đến các sự kiện, chi tiết trong các bài viết trên các báo Có thể thấy một số tiểu nhóm:

a/ Tên quốc gia và thủ đô:

Trang 34

Tên Quốc gia Thủ đô

Trang 35

Tên Quốc gia Thủ đô

52.Korea (North) Pyong Yang

53 Korea (South) Seoul

Trang 36

Tên Quốc gia Thủ đô

78 Papua New Guinea Port Moresby

88 Serbia & Mongtenegro Belgrade Belgrade

Trang 37

Tên Quốc gia Thủ đô

108.United Arab Emirates Abu Dhabi

109 United Kingdom London

Trang 38

b Tên các thành phố, vùng, miền, khu trên thế giới

b.1/ Thành phố

– TP Pretoria (Brazil)

(TN, 23/6/2009) – TP Rustenburg (Mỹ)

(TN, 23/6/2009) – TP Recife (1 thành phố phía Bắc Brazul)

– TP Rome

(TN, 25/6/2009) – Marseille (Pháp)

– TP.Jackson (thuộc Mississippi – Mỹ)

(TN, 8/6/09) – Bang Amazonas (Peru)

– Vùng Abruzzo (Ý)

– Đảo Okinawa (Nhật)

– Đảo Gaza

(TN, 20/6/09) – Belylon Residence: Khu nhà đất xanh đang được mời bán ở Sài

Gòn

(TN, 29/6/09)

Trang 39

– Rich land property: Dự án tòa nhà khu liên kế ở Hà Nội

(TN, 29/6/09) – Damascus (1 vùng của Serya)

– Nadal (cầu thủ tenis)

– Sampras (cầu thủ tenis)

– Federer (tay vợt vĩ đại nhất lịch sử)

– Wenger (huấn luyện viên gặp giới truyền thông)

– Tại Brazil, thị trưởng thành phố Rio de Janeiro cho biết sẽ dựng

tượng cố ca sĩ tại khu Dona Marta, nơi Jackson từng đến quay một video

– Chuyện riêng của gia đình Williams

(TN, 4/7/2009) – Federer lần thứ 7 có mặt ở chung kết (Tiêu đề một bài báo)

(2 sân dùng trong giải đấu Confederations Cup 2009)

Trang 40

(TT, 4/7/09) – Beckham bị tẩy chay (tiêu đề một bài báo)

(TT, 4/7/09) – Canh bạc quyết định của Owen

(TT, 4/7/09) – Tất nhiên, M.U đang có rất nhiều tiền đạo giỏi như Berbafov, Roney, Macheda, Feaizer, Campbell, nên Owen sẽ phải cạnh tranh khốc liệt

(TT, 4/7/09) – Các nhân viên cứu hộ phát hiện Vulovic vùi trong tuyết và cho

rằng cô đã thiệt mạng

(TT, 4/7/09) – Koepcke, khi đó 17 tuổi rơi từ độ cao 3.218 m xuống vùng

Amazon cùng chiếc ghế máy bay mà cô bị kẹt trong đó

(TT, 4/7/09) – Ban đầu, Parrado và một hành khách khác Roberto Canessa ăn

tuyết để chống chọi với cái đói

(TT, 4/7/09)

– Nhóm có lương cao hàng đầu bao gồm những trợ lí thân cận

của Obama

(TT, 4/7/09) – Chuyến thăm Nga của ông Obama (tiêu đề bài báo)

(TN, 4/7/09) – Vào hôm qua, ông Jannati cùng thông báo những người bị bắt

“đã thừa nhận hành vi phạm pháp”

(TT, 4/7/09) – Đút túi tỉ bạc từ vụ Denilson (tiêu đề bài báo)

(TN, 2/7/09)

Ngày đăng: 02/04/2021, 00:03

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w