1.2 MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU Từ những lý do đã nêu ở phần 1.1, có thể trình bày một số mục đích của khóa luận như sau: 1.2.1 Miêu tả một cách toàn diện về hệ thống và đặc điểm của lớp đại từ
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
Trang 3ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
Trang 5Thư cảm ơn
Trong quá trình vừa công tác giảng dạy vừa tham gia khóa cao học ngành ngôn ngữ học 2006-2009, chúng tôi tôi vô cùng biết ơn tất cả các thầy cô ở các chuyên đề đã tận tình giảng dạy, hướng dẫn, gọi mở để chúng tôi có được kiến thức nền tảng và chuyên môn về ngôn ngữ học trước khi thực hiện khóa luận tốt nghiệp này
Đặc biệt, xin được bày tỏ lòng tri ân sâu sắc đến TS Nguyễn Thị Phương Trang đã tận tình hướng dẫn để chúng tôi hoàn thành luận văn này
Xin chân thành cảm ơn Quý thầy cô và các sinh viên ở trường Tiếng Việt Sài Gòn, giảng viên và sinh viên khoa Việt Nam học, trường ĐH KHXH&NV TP.HCM đã giúp đỡ bằng cách chia sẻ, trao đổi kinh nghiệm cùng chúng tôi hoàn thành quá trình khảo sát và phỏng vấn của luận văn
Cuối cùng, xin chân thành cảm ơn bạn bè và những người thân của tôi đã tạo điều kiện thuận lợi và giúp đỡ chúng tôi trong quá trình thực hiện luận văn
Huỳnh Cẩm Thúy
Trang 7QUY ƯỚC VIẾT TẮT
Trong luận văn, chúng tôi có sử dụng 6 ngữ viết tắt, cụ thể như sau:
HVCH&NCS : học viên cao học và nghiên cứu sinh VLS : trường Tiếng Việt Sài Gòn
ĐHKHXH&NV TP.HCM : trường Đại học Khoa học XH và nhân văn thành phố Hồ Chí Minh
ĐBSCL : Đồng bằng sông Cửu Long
Trang 9Mục lục
Dẫn nhập
1 Lý do chọn đề tài nghiên cứu 1
1.1 Lý do chọn đề tài 1
1.2 Mục đích nghiên cứu 2
2 Lịch sử nghiên cứu đề tài 3
2.1 Trực tiếp liên quan đến hệ thống từ xưng hô thân tộc 3
2.2 Gián tiếp liên quan đến việc tìm hiểu văn hóa qua ngôn ngữ 9
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 12
3.1 Đối tượng nghiên cứu 12
3.2 Phạm vi nghiên cứu 13
4 Phương pháp nghiên cứu và nguồn tư liệu nghiên cứu 14
4.1 Phương pháp nghiên cứu 14
4.2 Nguồn tư liệu nghiên cứu 16
5 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài 17
5.1 Ý nghĩa lý luận 17
5.2 Ý nghĩa thực tiễn 18
6 Bố cục của đề tài 19
Nội dung Chương 1 Một số vấn đề lý thuyết hữu quan 21
1 Vai giao tiếp 21
2 Quan hệ giao tiếp 23
Trang 102.1 Quan hệ vị thế (còn gọi là quan hệ quyền thế) 24
2.2 Quan hệ thân hữu (còn gọi là quan hệ kết liên) 25
3 Về cách gọi từ xưng hô thân tộc 26
4 Khái quát về những định tố của từ xưng hô thân tộc trong tiếng Việt và khả năng hoạt động của chúng 27
4.1 Những định tố của từ xưng hô thân tộc trong tiếng Việt 27
4.2 Khả năng hoạt động của từ xưng hô thân tộc trong tiếng Việt 29
5 Khái niệm về xưng hô và ứng dụng của vấn đề xưng hô 32
5.1 Khái niệm xưng hô 32
5.2 Đặc điểm về cách xưng hô của người Việt 35
5.3 Những ứng dụng cụ thể của vấn đề xưng hô 42
6 Đặc điểm của các từ xưng hô tiếng Việt trong sự so sánh với tiếng Anh 44
7 Tiểu kết 56
Chương 2: Đặc điểm của các từ xưng hô thân tộc trong tiếng Việt 57
1 Đặc điểm của từ xưng hô thân tộc 57
2 Cách sử dụng từ xưng hô thân tộc trong gia đình và ngoài xã hội 64
2.1 Cách sử dụng từ xưng hô thân tộc trong gia đình 64
2.2 Cách sử dụng từ xưng hô thân tộc ngoài xã hội 66
3 Cách xưng hô giữa các thành viên trong gia đình ở phương ngữ Nam Bộ 68
3.1 Đặc điểm trong cách xưng hô giữa các thành viên trong gia đình ở phương ngữ Nam bộ 69
3.2 Đặc điểm trong cách xưng hô giữa các thành viên trong gia đình ở TP.HCM 71
3.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến cách xưng hô trong gia đình người Việt 72
Trang 114 Bước đầu tìm hiểu về sự hình thành của các từ xưng hô thân tộc trong
tiếng Việt 75 4.1 Sự khác nhau giữa cách gọi anh hai/ chị hai và anh cả/ chị cả trong
phương ngữ Nam bộ và Bắc bộ xét từ góc độ văn hóa –lịch sử và quá trình tiếp xúc ngôn ngữ 75 4.2 Nguồn gốc các từ chị, dì, anh hai trong hệ thống từ xưng hô thân tộc
và một số cách gọi tên của các thành viên trong gia đình 80
5 Mối quan hệ ngôn ngữ- văn hóa trong hệ thống từ xưng hô thân tộc tiếng Việt 82 5.1 Quan hệ giữa ngôn ngữ và văn hóa 82 5.2 Biểu hiện của mối quan hệ ngôn ngữ- văn hóa trong việc sử dụng từ
xưng hô thân tộc tiếng Việt 83
6 Tiểu kết 97
Chương 3: Ứng dụng của từ xưng hô thân tộc và việc dạy tiếng Việt cho người nước ngoài 99
1 Một số lỗi điển hình của người nước ngoài về cách sử dụng từ xưng hô
thân tộc trong tiếng Việt 99 1.1 Lỗi dùng tôi thay vì con, cháu khi nói với người lớn tuổi trong gia đình 99 1.2 Lỗi dùng tôi thay vì cô, chú, bác, anh khi nói với trẻ em 99 1.3 Lỗi dùng mình thay vì em và chúng mình thay vì chúng ta (quan hệ vợ
- chồng) 99 1.4 Lỗi dùng con ấy, cháu ấy thay vì cháu (giới thiệu con, cháu mình với người khác trong mối quan hệ với người khác hoặc gọi con, cháu người
khác) 100 1.5 Lỗi dùng chúng ta thay vì chúng tôi 102
Trang 122 Sự tiếp nhận của người nước ngoài về văn hóa gia đình Việt Nam qua các
từ xưng hô thân tộc trong tiếng Việt 104
2.1 Các giai đoạn của sự thẩm nhận văn hóa qua ngôn ngữ: 104
2.2 Kết quả khảo sát 108
2.3 Phân tích kết quả thống kê 113
2.4 Phân tích kết quả phỏng vấn sâu 6 giáo viên 121
2.5 Phân tích kết quả phỏng vấn sâu 3 sinh viên 127
2.6 Nhận xét về giáo trình dạy tiếng Việt hiện nay 129
3 Một vài đề xuất trong việc giảng dạy và trong việc biên soạn giáo trình dạy từ xưng hô thân tộc cho người nước ngoài : 131
3.1 Beginners (Vỡ lòng): 131
3.2 Elementary (Sơ cấp) 131
3.3 Intermediate (Trung cấp) : 132
3.4 Upper-Inter & Advance (cuối trung cấp và cao cấp) : 133
4 Tiểu kết 135
Kết luận 136
Danh mục tài liệu tham khảo 140
Phụ lục
Trang 131.1.1 Nhu cầu học tiếng Việt và tìm hiểu văn hóa Việt của người nước ngoài
Trước xu thế hội nhập hiện nay, số lượng người nước ngoài đến du lịch, sinh sống, học tập, làm việc và nghiên cứu lịch sử-văn hóa tại Việt Nam ngày càng nhiều, nhu cầu học tiếng Việt như một ngoại ngữ của họ cũng ngày càng tăng Người nước ngoài đến định cư tại Việt Nam gồm nhiều đối tượng
và với các mục đích khác nhau nhưng có một điểm chung là tất cả đều sinh sống, làm việc, học tập và nghiên cứu trong môi trường văn hóa Việt, cùng với cộng đồng người Việt
Như chúng ta đã biết, mỗi một dân tộc đều có một nền văn hóa riêng, mang đậm bản sắc dân tộc đó Vì vậy, sự khác biệt về văn hóa đã gây không ít khó khăn trong quá trình giao lưu, tiếp xúc giữa các dân tộc Do đó, với những nét khác biệt so với văn hóa thế giới cùng những bản sắc độc đáo của văn hoá Việt Nam khiến nhiều người nước ngoài không tránh khỏi khó khăn khi giao tiếp và làm việc trong cộng đồng người Việt Đó cũng là nguyên nhân khiến việc tìm hiểu văn hóa qua ngôn ngữ Việt của họ luôn trở thành
Trang 14nhu cầu bức thiết đối với bất kỳ ai muốn hòa nhập và tìm hiểu về đất nước và con người nơi đây
1.1.2 Những khó khăn do đặc thù về văn hóa Việt khi người nước ngoài học tiếng Việt
Một người nước ngoài khi đặt chân đến một nơi đất khách bao giở cũng gặp rất nhiều khó khăn trong giai đoạn đầu Ngoài những khó khăn chung về giao thông như: tình trạng kẹt xe, luật giao thông; việc trả giá mua hàng khi đi mua sắm; sự chênh lệch về các dịch vụ giữa người bản xứ và người nước ngoài; thời tiết… thì những khó khăn do đặc thù về văn hóa khiến họ đặc biệt quan tâm và nó ảnh hưởng không nhỏ đến đời sống tinh thần của họ Đặc thù văn hóa này được thể hiện qua quan niệm, lối suy nghĩ, cách ứng xử của người Việt đối với những người trong gia đình, họ hàng, bạn bè, đồng nghiệp
và những người xung quanh Trong đó, “văn hóa gia đình” là một phần không thể thiếu trong tất cả những điều người nước ngoài muốn tìm hiểu về văn hóa Việt Nam; hay nói cách khác, nó đóng một vai trò tích cực và quan trọng trong xu thế “lấy chồng ngoại” đang ngày càng gia tăng trong XH hiện đại ngày nay của phụ nữ Việt Bước đầu tìm hiểu và phân tích các từ xưng hô trong gia đình Việt sẽ góp phần khắc phục những khó khăn, rào cản về văn hóa- ngôn ngữ mà bất kỳ ai đang sinh sống, học tập, làm việc nơi đất khách đều gặp phải và mong muốn được sống hòa nhập vào cộng đồng ấy trong thời gian sớm nhất Nó không chỉ giúp họ tự tin hơn khi giao tiếp với cộng đồng người Việt mà còn hiểu hơn về ngôn từ tiếng Việt vốn phong phú, đa dạng và giàu sức biểu cảm
1.2 MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU
Từ những lý do đã nêu ở phần 1.1, có thể trình bày một số mục đích của khóa luận như sau:
1.2.1 Miêu tả một cách toàn diện về hệ thống và đặc điểm của lớp đại từ
nhân xưng tiếng Việt trong gia đình trên bình diện văn hóa- ngôn ngữ học,
Trang 15bằng các thủ pháp của ngữ dụng học
1.2.2 Với định hướng ứng dụng là dạy tiếng Việt cho người nước ngoài,
thông qua các biện pháp so sánh, đối chiếu giữa hệ thống đại từ xưng hô trong tiếng Anh và tiếng Việt, chúng tôi thử bước đầu tìm hiểu về sự hình thành một số từ xưng hô thân tộc (DTT) cũng như giới thiệu thêm về mối quan hệ giữa các thành viên trong gia đình Việt, vốn là các yếu tố chi phối trực tiếp đến một hệ thống đại từ xưng hô khá lớn trong tiếng Việt Qua đó, góp phần giải thích về đặc trưng văn hóa và tâm lý nhận thức của người bản ngữ về gia đình
1.2.3 Tạo ra cơ sở lý luận và thực tiễn cho việc dạy tiếng Việt như một ngoại
ngữ và góp phần tìm hiểu sự tiếp nhận văn hóa gia đình của người nước ngoài qua hệ thống các các từ xưng hô
2 LỊCH SỬ NGHIÊN CỨU ĐỀ TÀI:
Qua tìm hiểu bước đầu, chúng tôi được biết, từ trước đến nay, có một số công trình nghiên cứu, các ấn phẩm, các bài báo, tạp chí đề cập đến vấn đề văn hóa gia đình cũng như DTT Tuy nhiên, các công trinh nghiên cứu trên chỉ dừng lại ở việc mô tả và khái quát hóa hệ thống từ chỉ quan hệ thân tộc để xưng gọi và nghiên cứu chúng dưới góc độ ngôn ngữ học, trong hệ thống từ loại tiếng Việt, mà chưa tiếp cận dưới góc độ ngôn ngữ - văn hóa một cách có
hệ thống, cũng như chưa đưa ra định hướng ứng dụng trong việc dạy tiếng Việt như một ngoại ngữ Hoặc một số bài báo chỉ dừng lại ở việc nghiên cứu mối quan hệ giữa ngôn ngữ và văn hóa trong quá trình dạy tiếng Việt cho người nước ngoài một cách khái quát Có thể chia lịch sử nghiên cứu thành hai nhóm lớn:
2.1 Trực tiếp liên quan đến hệ thống DTT :
Trang 162.1.1 A Vietnamese reference grammar, Laurence C Thompson,
Mon-Khmer studies XIII-XIV”, Seattle (1965): đây là công trình đầu tiên đề cập khá đầy đủ hệ thống DTT của tiếng Việt phân chia theo chia theo giới tính
nam, nữ, theo tôn ty, trật tự về các thế hệ từ thấp lên cao và trình bày được
phần nào đặc điểm của các lớp từ này
2.1.2 Sự hành chức của đại từ trong tiếng Việt và tiếng Anh, Nguyễn
Thị Kiều Thu (luận án tiến sỹ ngữ văn), (2005): Công trình nghiên cứu chức năng và khả năng kết hợp của các đại từ trong văn bản trên cả 3 bình diện của ngôn ngữ: ngữ kết, ngữ nghĩa và ngữ dụng, cũng như nêu rõ đặc trưng của tất cả các tiểu loại đại từ trong hệ thống từ loại tiếng Việt Luận
án chia đại từ xưng hô thành đại từ thực thụ và nhóm đại từ hóa và vì sự xuất hiện thường xuyên của nhóm từ này, mà tác giả chọn chúng làm đối tượng nghiên cứu Đồng thời, tác giả luận án cũng chỉ ra rằng do các đại từ thực thụ chiếm số lượng ít và không có nét nghĩa lễ độ nên việc được sử dụng các danh từ thân tộc như đại từ là rất phổ biến Vì thế, các danh từ này trở thành một bộ phận không thể tách rời của tiểu loại đại từ xưng hô
tiếng Việt, là điểm đặc sắc của đại từ tiếng Việt
2.1.3 Ngữ nghĩa và ngữ pháp đại từ tiếng Hán (so sánh với lớp từ
tương đương trong Tiếng Việt), Nguyễn Thị Tuyết Thanh, (luận án tiến
sỹ ngữ văn), (2002): Luận án này tập trung nghiên cứu một cách có hệ thống, toàn diện lớp đại từ tiếng Hán trên hai bình diện ngữ nghĩa và ngữ pháp, và tiến hành so sánh với những từ tương đương trong tiếng Việt Để
từ đó phát hiện ra những tương đồng và khác biệt giữa hai ngôn ngữ cùng chung một loại hình (loại hình đơn lập) Đồng thời, luận án khảo sát ngữ nghĩa, ngữ pháp nhóm đại từ nhân xưng tiếng Hán trong đối sánh với lớp
từ xưng hô của tiếng Việt, để làm nổi bật vấn đề xưng hô là một yếu tố văn hoá có nội hàm phong phú mang đậm bản sắc của mỗi dân tộc Luận án khẳng định xưng hô tiếng Hán, tiếng Việt có liên quan đến các yếu tố văn
Trang 17hoá, XH, tâm lý của hai dân tộc Hán, Việt
2.1.4 Vài khác biệt trong phương ngữ xưng hô Nam – Bắc Việt (trên cơ
sở đối sánh các danh thân tộc), Bùi Minh Yến, Hội nghị ngữ học trẻ, Đà
Nẵng, (2002): Tác giả trình bày những nét khác biệt cơ bản về phương ngữ xưng hô Nam- Bắc Việt Ngôn ngữ xưng hô bằng danh thân tộc ttrong phương ngữ Nam, ở phạm vi gia đình, xét vốn từ sử dụng có phần hẹp hơn trong phương ngữ Bắc nhưng xét về kiểu loại thì đặc biệt hơn Còn xét về mặt biểu thái xưng hô bằng danh thân tộc trong phương ngữ Nam biểu thị loại thái độ thân mật/ suồng sã trong khi phương ngữ Bắc ưa biểu thái thân
mật/ tôn xưng
2.1.5 Từ xưng hô có nguồn gốc từ danh từ thân tộc trong tiếng Việt,
Trương Thị Diễm (2002): Tác giả đi vào tìm hiểu cơ sở của việc chuyển hoá từ danh từ thân tộc thành từ xưng hô, khảo sát hoạt động của danh từ thân tộc trong xưng hô giao tiếp cũng như chức năng của danh từ thân tộc trong xưng hô giao tiếp Cuối cùng tác giả kết luận rằng, trong hệ thống xưng hô tiếng Việt, lớp từ xưng hô có nguồn gốc từ danh từ thân tộc tuy có
số lượng ít nhưng giữ một vai trò rất quan trọng, được sử dụng khá linh hoạt và xuất hiện ở cả ba ngôi xưng, với tần số sử dụng khá cao, bổ sung
cho số lượng các danh từ nhân xưng với số lượng còn hạn chế
2.1.6 Ngôn từ xưng gọi trong gia đình người Việt ở nông thôn Đồng
bằng sông Cửu Long (ĐBSCL), (luận văn thạc sỹ ngữ văn), Quách Văn
Nghiêm (2007): công trình này tập trung nghiên cứu các từ ngữ và phương thức xưng hô trong gia đình người Việt ở xã Phú Tân, huyện Phú Tân, Cà Mau Đồng thời, tác giả cũng nhấn mạnh đến các yếu tố tác động đến cách
xưng hô Trong đó, yếu tố tôn ty, thứ bậc, thế hệ và tuổi tác là có tác động
mạnh mẽ nhất Ngoài ra, các yếu tố như đặc trưng văn hóa, điều kiện môi trường tự nhiên, lịch sử khai phá vùng đất ĐBSCL cũng có ảnh hưởng ít nhiều, góp phần tạo nên cách xưng hô đặc trưng riêng của địa phương,
Trang 18vùng miền
2.1.7 Phương ngữ Nam Bộ-Những khác biệt về từ vựng-ngữ nghĩa so
với phương ngữ Bắc Bộ, Trần Thị Ngọc Lang (1995): tác giả đã dành cả
một chương để nói về cách xưng hô trong phương ngữ Nam Bộ Ở đó tác giả đã nêu lên một cách khái quát về cách xưng hô chung của người Việt trong phạm vi thân tộc và XH Song tác giả chưa nghiên cứu cụ thể các cách xưng hô của người Việt mà chủ yếu tập trung vào nghiên cứu sự khác biệt trong cách xưng hô giữa hai phương ngữ Nam Bộ và Bắc Bộ qua cách
xưng hô của người Việt
2.1.8 Ứng xử ngôn ngữ trong giao tiếp gia đình người Việt, Nguyễn
Văn Khang (chủ biên), (1996): Có 5 bài viết liên quan đến ngôn ngữ giao
tiếp gia đình, cụ thể là
Nghi thức lời nói trong giao tiếp gia đình người Việt, Nguyễn Văn
Khang, tr 5-93
Các cung bậc của ngôn ngữ trong giao tiếp vợ chồng người Việt,
Mai Xuân Huy, tr 34-54
Tên người Việt và cách sử dụng chúng trong giao tiếp gia đình,
Sự bộc lộ giới tính trong giao tiếp ngôn ngữ gia đình người Việt,
Nguyễn Văn Khang, tr 176-188
Các công trình trên đi vào khảo sát từng vấn đề cụ thể của giao tiếp ngôn ngữ trong gia đình như xưng hô, nghi thức chào hỏi, giao tiếp vợ chồng, cách sử dụng tên riêng, giới tính trong giao tiếp, lễ phép trong giao
Trang 19tiếp… Mỗi bài viết là một sự thử nghiệm, tìm tòi dựa trên những cứ liệu thực tế của giao tiếp ngôn ngữ trong cuộc sống gia đình người Việt mà các
tác giả có điều kiện thu thập, ghi chép được
2.1.9 Mối quan hệ ngôn ngữ-văn hóa trong các từ xưng gọi tiếng Việt,
Hữu Đạt, trong “Việt ngữ học dưới ánh sáng các lý thuyết hiện đại”, NXB KHXH, 2005, tr 131-147
Bài viết này trình bày khái niệm văn hóa, quan hệ giữa ngôn văn hóa và biểu hiện của mối quan hệ này trong hệ thống từ xưng gọi tiếng Việt Đồng thời, tác giả có so sánh trong việc biểu thị mối quan hệ ngôi thứ nhất và ngôi thứ hai giữa tiếng Anh, tiếng Pháp và tiếng Việt Bài viết cũng thể hiện quan điểm khẳng định, trong quá trình giao tiếp, các từ xưng
ngữ-hô chịu sự chi phối của quan hệ thân tộc và một số quan hệ XH khác
2.1.9.3 Cần tìm hiểu thêm về cách xưng hô trong tiếng Việt;
trong Việt Nam những vấn đề ngôn ngữ văn hóa (Đặc san của tạp chí
Ngôn ngữ và Đời sống), Stankevich, N.V, Hội Ngôn ngữ học Việt
Nam- Trường ĐH Ngoại ngữ Hà Nội, Hà Nội, tr.66-69
2.1.9.4 Đại danh từ nhân xưng tiếng Việt, Nguyễn Phú Phong,
Tạp chí Ngôn ngữ, số 1-1996, tr.8-19: Bài viết trình bày cái nhìn của
tác giả về hai hệ thống đại danh từ nhân xưng trong tiếng Việt rất phân biệt nhau: một hệ thống đặt trọng tâm vào ngôi (tức là vai trò nói, nghe trong đối thoại), đó là hệ thống đại danh từ chính hiệu; một hệ thống
Trang 20đặt nặng khái niệm con người trong quan hệ đẳng cấp (danh từ chỉ quan
hệ họ hàng, đẳng cấp trong XH), hệ thống này chứa hầu hết những từ vay mượn ở từ loại danh từ để sử dụng trong chức năng của một đại danh từ Đồng thời, tác giả cũng đề cập đến số nhiều của đại danh từ
nhân xưng
2.1.9.5 Cần phân biệt từ xưng hô với đại từ xưng hô, Nguyễn
Thị Trung Thành, Tạp chí Ngôn ngữ & Đời sống, số 3-2007, tr.1-3: Tác
giả trình bày quan điểm cần phân biệt đại từ xưng hô với danh từ dùng
để xưng hô Trong đó, bài viết cũng nêu rõ không phải chỉ có nhóm danh từ chỉ quan hệ họ hàng mới được dùng vào mục đích xưng hô, mà
cả nhóm danh từ chỉ chức danh, nghề nghiệp cũng được dùng để xưng
hô Và đưa ra kết luận rằng đại từ xưng hô chỉ là một bộ phận nhỏ nằm trong từ xưng hô Tuy nhiên, bài viết chỉ dừng lại ở phạm vi bài báo với những khái niệm và nêu một số cách sử dụng từ xưng hô trong hoạt động giao tiếp, mà không nêu rõ cách sử dụng DTT trong gia đình và
nhiều khó khăn đối với những người nước ngoài học tiếng Việt
2.1.9.7 Về nhóm DTT trong tiếng Việt và tiếng Nhật, Hoàng
Anh Thi, Tạp chí Ngôn ngữ, số 9-1999, tr.43-55: Bài viết trình bày về
hai nhóm DTT trong tiếng Việt và tiếng Nhật; đồng thời xem xét sự khác nhau về khả năng đóng vai từ xưng hô trong hoạt động giao tiếp ở
Trang 21lớp từ này trong hai ngôn ngữ
2.1.9.8 “Từ xưng hô” thuộc hệ thống nào?, Nguyễn Thị Ly
Kha, Tạp chí Ngôn ngữ & Đời sống, số 6-2007: Bài viết trình bày chức
năng của ba tiểu loại đại từ xưng hô trong tiếng Việt, trong đó có danh
từ xung hô thân tộc Tác giả cho rằng nếu dạy sử dụng phương tiện xưng hô tiếng Việt mà không dạy trường hợp danh từ thân tộc chuyển
loại thì khó có thể gọi là dạy sử dụng tiếng Việt
Những công trình trên rõ ràng có đề cập ít nhiều đến lớp đại DTT trong tiếng Việt nhưng chưa đưa ra một định hướng ứng dụng cụ thể mà chỉ trình bày trong việc so sánh với một ngôn ngữ khác hoặc trình bày khái quát
về nó trong một phạm vi nhất định, trong giới hạn của một bài báo, tạp chí
2.2 Gián tiếp liên quan đến việc tìm hiểu văn hóa qua ngôn ngữ:
2.2.1 “Giao tiếp và giao tiếp giao văn hoá” Nguyễn Quang (2002):
Trong tác phẩm, tác giả có đề cập đến các quan hệ xưng hô trong tiếng Việt Tuy nhiên, tác giả không liệt kê một cách đầy đủ các cách xưng hô trong từng đối tượng giao tiếp mà chủ yếu phân tích các cặp xưng hô, đặc biệt là các cặp danh từ thân tộc theo “quan hệ vòng” mà theo ông nó thể hiện rõ bản chất văn hoá con người Việt Cuối cùng tác giả so sánh cách xưng hô của người Việt với cách xưng hô của người Anh, Pháp và kết luận, hệ thống xưng hô trong tiếng Việt phong phú hơn hệ thống xưng hô của tiếng Anh, Pháp
2.2.2 Trên các tạp chí chuyên ngành:
2.2.2.1 “Văn hoá và ngôn ngữ giao tiếp của người Việt”, Hữu Đạt (2000), đây là một công trình nghiên cứu khá công phu và tỉ mỉ về cách xưng hô trong gia đình của người Việt Cụ thể, ông đã chia tất cả các mối quan hệ trong gia đình ra để nghiên cứu, phân tích cách xưng hô của họ Theo đó tác giả cho rằng, các cách xưng hô giữa các thành viên trong gia đình không bất biến mà luôn thay đổi theo độ tuổi cũng như
Trang 22cấp bậc, vị thế của các thành viên trong gia đình Trong bài viết, tác giả cũng đề cập đến sự bất bình đẳng giới trong cách xưng hô giữa các thành viên trong gia đình
2.2.2.2 “Sốc” văn hóa trong tiến trình thủ đắc ngoại ngữ và tiếng Việt đối với người nước ngoài, Nguyễn Thiện Nam, Tạp chí
Ngôn ngữ, số 4-1997, tr.49-54: Tác giả trình bày một số nội dung của
“sốc” văn hóa khi người nước ngoài học tiếng Việt và các giai đoạn của sự thẩm nhận văn hóa qua ngôn ngữ Bài viết cũng cho rằng lựa chọn đúng từ xưng hô trong tiếng Việt là một vấn đề khó và tế nhị, mang đặc trưng văn hóa trong quá trình dạy tiếng Việt cho người nước ngoài
2.2.2.3 Cách chào hỏi của người Việt và người Mỹ: những nét tương đồng và khác biệt, Vũ Minh Huyền – Hà Cẩm Tâm, Tạp chí
ngôn ngữ và đời sống, số 3-2008, tr.24-33: bài viết trình bày khá cụ thể kết quả kháo sát về cách chào hỏi của người Việt và thực hiện sự so sánh với cách chào hỏi của người Mỹ, dựa trên những đặc trưng văn hóa của mỗi dân tộc Tác giả cũng đề cập đến các vai giao tiếp trong các tình huống sử dụng nghiên cứu
2.2.2.4 Dạy thành tố văn hóa trong dạy - học ngoại ngữ, Phạm
Thị Hoa, Tạp chí Ngôn ngữ và Đời sống, số 3-2008: Bài viết phân tích
mối quan hệ giữa ngôn ngữ, tư duy và văn hóa, qua đó, khẳng định quá trình dạy và học ngoại ngữ phải gắn liền với việc tìm hiểu về văn hóa của dân tộc nói thứ tiếng đó; đồng thời xác định vai trò của người người giáo viên trong việc nhận thức mối quan hệ giữa ngôn ngữ và văn hóa trong quá trình giảng dạy
2.2.2.5 Tìm hiểu văn hóa qua ngôn ngữ, Đỗ Hữu Châu, Tạp chí
Ngôn ngữ, số 10-2000, tr.1-18: Bài viết đề xuất phương thức tiếp cận
bản sắc văn hóa của một XH qua ngôn ngữ của XH đó Tác giả lấy
Trang 23cách hiểu về ngôn ngữ (ngôn ngữ là công cụ của văn hóa bởi vì không
có ngôn ngữ, không một hoạt động văn hóa nào có thể diễn ra được) và cách hiểu về văn hóa ( bao gồm những hiểu biết trả lời câu hỏi “là gì?”
và “như thế nào?”) làm điểm xuất phát về lý luận hướng đến việc nghiên cứu ngôn ngữ- văn hóa dân tộc
2.2.3 Bên cạnh đó, còn có một số bài viết khác như:
2.2.3.1 Cách xưng hô của người Nam bộ, Nguyễn Thế Truyền,
Tạp chí Ngôn ngữ và đời sống, số 10-1999, tr.13-14
2.2.3.2 Một vài nhận xét về danh từ chỉ quan hệ thân thuộc trong tiếng Việt hiện đại, Nguyễn Tài Cẩn, Thông báo khoa học, Đại
học tổng hợp Hà Nội, số 1-1962, tr.144-145
2.2.3.3 Cần tìm hiểu thêm về cách xưng hô trong tiếng Việt;
trong Việt Nam những vấn đề ngôn ngữ văn hóa (Đặc san của tạp chí
Ngôn ngữ và đời sống), Stankevich, N.V, Hội Ngôn ngữ học Việt
Nam- Trường Đại học Ngoại ngữ Hà Nội, Hà Nội, tr.66-69
2.2.3.4 Tìm hiểu sự sai lệch ngữ nghĩa của người thụ ngôn trong ngôn giao xuyên văn hóa, Tôn Diễn Phong, Tạp chí Ngôn ngữ,
số 7-1999, tr.26-29
Ngoài ra, còn có các công trình nghiên cứu về ngôn ngữ thông qua việc tìm hiểu về văn hóa bằng tiếng nước ngoài, chúng tôi chỉ mới bước đầu khảo sát thông tin liên quan trực tiếp đến công trình, trên Wikipedia: Bài viết trình bày hệ thống đại từ xưng hô trong quan hệ gia đình và
XH Riêng DTT, bài viết nhấn mạnh quan hệ cấp bậc, tôn ty, vai về giữa các
thành viên trong gia đình, bằng một thành ngữ khá thú vị: Bé bằng củ khoai,
cứ vai mà gọi (Small as a potato, but call by rank) Ngoài ra, bài viết còn
hướng dẫn cách dùng DTT, tác giả cho rằng lớp từ này thừa hưởng từ các thế
hệ trước (ông bà, cha mẹ) truyền lại cho thế hệ sau Cách xưng hô trong gia
Trang 24đình được sử dụng dựa trên quan hệ huyết thống và hôn nhân nhưng nó lại được ứng dụng một cách linh hoạt ngoài XH, chẳng hạn: hai người yêu nhau
có thể gọi anh, em như giữa anh em trong gia đình
Như vậy, có thể thấy trong thời gian qua đã có khá nhiều công trình nghiên cứu về ngôn từ xưng hô của người Việt nói chung và danh từ thân tộc nói riêng Kết quả đạt được của các công trình nghiên cứu này là khác nhau cả
về nội dung lẫn cách tiếp cận vấn đề Song dù kết quả của các công trình nghiên cứu này đạt được ở mức độ nào, cũng đã ít nhiều mang lại cho chúng tôi những gợi mở hết sức bổ ích và đặc biệt hơn, đó chính là cơ sở nền tảng giúp chúng tôi đi vào nghiên cứu, hoàn thiện đề tài luận văn của mình
3 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU:
3.1 Đối tượng nghiên cứu :
Lớp DTT trong tiếng Việt, được dùng như là đại từ trong hệ thống từ loại tiếng Việt
Trong ấn phẩm “A Vietnamese reference grammar, Laurence C Thompson, Mon-Khmer studies XIII-XIV”, Seattle [136, tr.295-296], Thompson đã giới thiệu sơ nét về đặc điểm của DTT và đưa ra hệ thống DTT chia theo giới tính (nam, nữ), gồm có 22 từ (không kể các cách gọi khác nhau
tùy theo từng vùng, miền, địa phương)
Sơ đồ của Thompson đi từ thế hệ thấp lên thế hệ cao hơn:
Em (trai) (em dâu) Em (trai) (em rể) Cha mẹ: cha, thầy, bố, ba mẹ, me, má
Họ hàng:
Trang 25Chú (thím) cô (dượng)
Ông/bà
Bên ngoại ông (ngoại) bà (ngoại)
Cháu cháu (trai) (dâu) cháu gái (rể)
Tuy nhiên, xét về mặt sơ đồ về cách xưng hô giữa các thành viên trong gia đình, chúng tôi cũng khảo sát thêm sơ đồ Hệ thống DTT của tác giả Hoàng Anh Thi [21, tr.29] cho biết gồm 18 từ, theo 4 mối quan hệ
Cô
Dì Cậu
Mợ Thím
3.Em
Anh
Chị 4.Con Mẹ
Bố
Trang 26sánh, đối chiếu giữa tiếng Việt và tiếng Anh, để giúp người nước ngoài dễ dàng nắm bắt và phân biệt trong giai đoạn đầu học tiếng Việt như một ngoại ngữ Chúng tôi tập trung khảo sát và trình bày vai trò và đặc điểm của các từ xưng hô về quan hệ gia đình trong tiếng Việt ở phương ngữ Nam bộ (trong sự
so sánh, đối chiếu với hệ thống từ loại tương đương trong các phương ngữ khác)
Cuối cùng, với phương pháp phỏng vấn, chúng tôi nêu một số ý kiến đánh giá và nhận định của các sinh viên nước ngoài học tiếng Việt về các từ xưng
hô trong gia đình Việt; cũng như những khó khăn trong quá trình giảng dạy từ
xưng hô của các giáo viên dạy tiếng Việt như một ngoại ngữ
4 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU VÀ NGUỒN TƯ LIỆU NGHIÊN CỨU:
4.1 Phương pháp nghiên cứu:
Trên cơ sở lý luận về thực từ trong ngôn ngữ học các những nguyên tắc
về vai giao tiếp trong ngữ dụng học, cùng những phương thức điều tra XH học dưới góc độ văn hóa- ngôn ngữ học, luận văn cố gắng xem xét và bước đầu tìm hiểu các từ xưng hô trong gia đình Việt bằng các phương pháp như sau:
4.1.1 Phương pháp phân tích ngữ dụng học
Dùng các thủ pháp ngữ dụng học để phân tích các vai giao tiếp, ngữ cảnh và hiệu quà gia tiếp trong quá trình giao tiếp dựa vào các yếu tố trong và ngoài ngôn ngữ, dưới sự chi phối của một môi trường văn hóa nhất định là gia
đình
4.1.2 Phương pháp quy nạp
Dựa vào việc phân tích các ngữ liệu trong các công trình nghiên cứu về đại từ nhân xưng, tiếp xúc ngôn ngữ, phương ngữ, về văn hóa – ngôn ngữ học nói chung và văn hóa gia đình nói riêng, các bài viết về chủ đề gia đình và các
Trang 27từ xưng hô trong gia đình trong các giáo trình dạy tiếng Việt cho người nước ngoài ở VN cũng như một số nước trên thế giới, các câu ca dao, thành ngữ, tục ngữ về quan hệ gia đình…, chúng tôi thử giải thích, phân tích để làm rõ
đặc điểm của hệ thống từ xưng hô về gia đình trong phương ngữ Nam bộ
4.1.3 Phương pháp so sánh, đối chiếu
Trên cơ sở những đặc điểm về từ xưng hô trong gia đình ở phương ngữ Nam bộ, chúng tôi tiến hành so sánh, đối chiếu với hệ thống từ xưng hô của các phương ngữ khác, cũng như hệ thống từ xưng hô về gia đình trong tiếng Anh, để góp phần giải thích chi tiết hơn cho người nước ngoài học tiếng Việt như một ngoại ngữ, cũng như đóng góp một phần nhỏ cho các công trình
nghiên cứu về văn hóa- ngôn ngữ học
4.1.4 Phương pháp phân tích tổng hợp
Đây là thủ pháp chủ yếu của khóa luận, sau tất cả những nguồn tư liệu thu thập được, chúng tôi tiến hành phân tích tổng hợp theo lôgích dựa trên bình diện lịch sử - văn hóa và ảnh hưởng của quá trình tiếp xúc ngôn ngữ để
cố gằng tìm hiểu và giải thích nguồn gốc của các từ xưng hô trong gia đình Việt dưới góc nhìn của giáo viên giảng dạy tiếng Việt như một ngoại ngữ Đồng thời, phân tích những câu ý nghĩa của các câu ca dao, tục ngữ, thành ngữ về gia đình dưới góc độ văn hóa – ngôn ngữ học để làm rõ các mối quan
hệ giữa các thành viên trong gia đình người Việt- vốn là nhân tố chính chi phối đến quá trình giao tiếp, sử dụng các DTT
Chúng tôi tiến hành phân tích và giải thích nguồn gốc của các từ xưng
hô trên dựa trên 2 nguyên nhân chính: do sự ảnh hưởng của tiếp xúc ngôn ngữ
và phương ngữ; cũng như sự chi phối bởi mối quan hệ giữa các thành viên trong gia đình với nhau Và để chứng minh bằng những cứ liệu cụ thể hơn nữa với mong muốn khẳng định các từ xưng hô Việt có một tôn ty trật tự nhất định, rất phong phú, đa dạng tùy theo từng vùng, miền; tùy theo mối quan hệ thân - sơ xuất phát từ mối quan hệ giữa các thành viên trong đại gia đình Việt,
Trang 28chúng tôi dùng những cứ liệu là các câu ca dao, tục ngữ, thành ngữ Việt Nam
để minh họa
4.1.5 Phương pháp phỏng vấn
Để góp phần nâng cao tính thực tiễn của khóa luận, chúng tôi tiến hành thực hiện cuộc điều tra XH học bằng bảng câu hỏi phỏng vấn 100 người nước ngoài đang học tập, công tác và sinh sống trên địa bàn TPHCM và phỏng vấn sâu 5 người trong số họ, để khảo sát quá trình tiếp nhận văn hóa gia đình của
họ qua việc học các DTT Đồng thời, cũng thực hiện cuộc phỏng vấn tương tự với 20 giáo viên và phỏng vấn sâu 5 người trong số họ, để khảo sát quá trình
truyền đạt và giải thích các DTT tiếng Việt như một ngoại ngữ
4.1.6 Phương pháp thống kê
Sau khi tiến hành phỏng vấn, chúng tôi tập hợp bảng câu hỏi theo phương pháp thống kê để phân loại và đưa ra kết quả ban đầu về quá trình tiếp nhận văn hóa gia đình của người nước ngoài qua việc học các DTT, cũng như những khó khăn trong quá trình dạy các DTT tiếng Việt như một ngoại ngữ
Cuối cùng, tập hợp lại tất cả những điều vừa trình bày theo một hệ thống và đi đến kết luận chứng minh việc tìm hiểu các từ xưng hô trong gia đình dưới góc độ văn hóa – ngôn ngữ học là một điều hết sức cần thiết trong việc giảng dạy tiếng Việt cho người nước ngoài vì nó giúp họ tránh khỏi những khó khăn do đặc thù về văn hóa khi đang sinh sống, học tập và làm việc trong cộng đồng Việt, cũng như nâng cao khả năng sử dụng ngôn ngữ và đẩy mạnh hiệu quả trong nghi thức giao tiếp
4.2 Nguồn tư liệu nghiên cứu:
- Những câu ca dao, tục ngữ, thành ngữ trong Tục ngữ ca dao Việt Nam,
NXB Văn Hóa thông tin, Hà Nội, 1999 và bài đồng dao Việt về gia đình
của Triều Nguyên, Đặc điểm của một số bài đồng dao nói về quan hệ gia
Trang 29đình, tạp chí Ngôn ngữ & Đời sống, số 5.2008, tr.36
- Những bài đọc về chủ đề gia đình trong giáo trình dạy tiếng Việt cho người nước ngoài ở VN cũng như một số nước trên thế giới
- Các bài báo về văn hóa (gồm “Vietnamese ancestor worship”,
Vietnamese family meals”, “Names and titles in Vietnamese families”,
“Modern Vietnamese family”, “The Vietnamese family”, “The Vietnamese family relationship”) và ô chữ về quan hệ gia đình trên chuyên mục Viet
language -Viet culture, báo Thanhnien Daily, 2008
- Các tác phẩm văn học: Chuyện tình kể trước lúc rạng đông (Dương Thu Hương, NXB Văn học Hà Nội, 1986), Tuyển tập của Nguyễn Công Hoan (NXB Văn học Hà Nội, 1984), Giấc mơ của ông lão vườn chim (Anh Đức, 1979), Hòn đất (Anh Đức, 1975), Đôi bạn (Lê Văn Thảo,
hệ với những đặc trưng về văn hóa để phân tích sâu hơn tiểu loại đại từ xưng hô trong mối quan hệ văn hóa – ngôn ngữ học
- Theo quan điểm của ngữ dụng học, quá trình giao tiếp là quá trình tương tác chịu tác động của nhiều nhân tố Đề tài khẳng định giá trị của các thủ pháp ngữ dụng học để phân tích các vai giao tiếp, ngữ cảnh và hiệu
Trang 30quả giao tiếp dựa vào các yếu tố trong và ngoài ngôn ngữ, đồng thời cũng
lý giải xem xét từ góc độ ứng xử dưới sự chi phối trong một môi trường văn hóa là gia đình
5.2.2 Trong việc giảng dạy tiếng Việt như một ngoại ngữ
Sự hiểu biết của người học đối với các quy tắc ứng xử lời nói không kém phần quan yếu so với việc hiểu biết các quy luật ngôn ngữ, bởi vì nó gắn liền với đặc trưng dân tộc, với phong tục, tập quán của mỗi dân tộc
Do đó, tìm hiểu về đại từ xưng hô là yếu tố tiên phong để đạt được hiệu quả giao tiếp cũng như nhận biết được các quy tắc ứng xử lời nói của người đối thoại Cách xưng hô của người Việt với một số lượng lớn các từ ngữ và giao tiếp tiếng Việt được thực hiện trên một sự giả định, dùng quan
hệ gia đình để giao tiếp XH, đã gây ra một khó khăn lớn đối với người nước ngoài khi giao tiếp bằng tiếng Việt, là một minh chứng sinh động cho
sự cần thiết của việc tìm hiểu các danh DTT dưới góc độ văn hóa- ngôn ngữ học cũng như phát hiện các cơ chế và vận dụng thành thục chúng để nâng cao hiệu quả giao tiếp trong cộng đồng người Việt
Các kiến thức về danh DTT không chỉ giúp người nước ngoài hiểu
Trang 31cách xưng hô trong đời sống hàng ngày khi tiếp xúc với gia đình người Việt mà còn giúp họ thấy tự tin hơn trong những công việc có liên quan đến tìm hiểu hồ sơ lý lịch của gia đình Việt
5.2.3 Trong quá trình hội nhập khu vực hiện nay
Nghiên cứu các từ xưng hô trong gia đình Việt ở TP.HCM rất có ý nghĩa, góp phần vào việc lý giải một số nguồn gốc của ngôn từ thông qua quá trình tiếp xúc ngôn ngữ, giao lưu văn hóa
Ngoài ra, khóa luận cũng hy vọng sẽ đóng góp vào công tác biên –phiên dịch từ tiếng Việt ra tiếng nước ngoài và ngược lại; đồng thời cũng góp thêm một phần tư liệu trong công việc biên soạn sách liên quan đến văn hóa- ngôn ngữ học hoặc giáo trình dạy tiếng Việt cho người nước ngoài
5.2.4 Đóng góp
Với những phát hiện và kiến nghị của mình, chúng tôi hy vọng đề tài sẽ đóng góp một phần nhỏ tư liệu cho công tác nghiên cứu văn hóa – ngôn ngữ học, quá trình dạy và học tiếng Việt, cũng như tập hợp nguồn tư liệu cho các công trình nghiên cứu sắp tới có liên quan đến quá trình tiếp xúc ngôn ngữ
6 Bố cục của đề tài: Ngoài phần Dẫn nhập và Kết luận, khóa luận gồm có
3 chương:
- Chương 1: Một số vấn đề lý thuyết hữu quan Chương này trình bày những khái niệm có liên quan gián tiếp đến lớp DTT Qua đó, rút ra đặc điểm cách xưng hô của người Việt và những ứng dụng cụ thể của vấn đề xưng hô
- Chương 2: Đặc điểm và sơ nét về sự hình thành của các DTT Trước hết, chúng tôi nêu đặc điểm và tiến hành phân tích khả năng hoạt động của lớp DTT trong tiếng Việt
Trang 32Dựa trên những luận cứ trên, chúng tôi tiếp tục khảo sát cách sử dụng của DTT tiếng Việt trong gia đình và ngoài XH, sau đó tiến đến phân tích cụ thể hơn đặc điểm của các từ xưng hô trong gia đình Việt ở phương ngữ Nam bộ Trong phạm vi giới hạn về trình độ của người thực hiện và độ dài của khóa luận, chúng tôi chỉ thử cố gắng tìm hiểu, lý giải bước đầu về sự hình thành của các DTT
- Chương 3: Sự tiếp nhận của người nước ngoài về văn hóa gia đình Việt Nam qua các DTT trong tiếng Việt
Đầu chương nêu ra một số lỗi điển hình của người nước ngoài về cách sử dụng DTT trong tiếng Việt và tóm tắt các giai đoạn thẩm nhận văn hóa qua ngôn ngữ Sau đó, chúng tôi tiến hành phân tích kết quả khảo sát 94 người nước ngoài có quốc tịch châu Âu và Trung Đông để tìm hiểu
sự tiếp nhận văn hóa Việt của họ thông qua hệ thống DTT Kế đến, là kết quả phỏng vấn sâu 5 giáo viên dạy tiếng Việt cho người nước ngoài và 3 sinh viên nước ngoài
Cuối cùng, nêu ra một số nhận xét về giáo trình dạy tiếng Việt hiện nay, và hướng đến đề xuất một số ứng dụng trong trong việc giảng dạy và trong việc biên soạn giáo trình dạy DTT cho người nước ngoài
- Khóa luận có tổng cộng 3 sơ đồ, 8 bảng và 1 biểu đồ
Trang 33NỘI DUNG
Chương 1:
Một số vấn đề lý thuyết hữu quan
1 Vai giao tiếp
Con người trong giao tiếp ngôn ngữ không chỉ bó hẹp trong vai người nói (SP1) hoặc người nghe (SP2) chung chung mà các thành viên của hệ thống giao tiếp XH cụ thể Một số nhân tố đã được thiết lập trước đối với giao tiếp đó chính là những nhân tố khách quan bên ngoài Chúng gồm vị trí tương
đối của các tham thoại
Các nhà ngôn ngữ học đã dùng thuật ngữ vai giao tiếp để biểu hiện vị thế XH của nhân vật hội thoại Vai giao tiếp là cơ sở để các nhân vật hội thoại
dựa vào nhằm tổ chức và biểu hiện vị thế XH của mình trong giao tiếp Vị thế
đó dựa vào những giá trị XH liên quan đến tuổi tác, giới tính và cương vị XH
Vị thế XH của nhân vật hội thoại có liên quan đến vai giao tiếp, và chi phối
Trang 34đến việc lựa chọn cách xưng hô cho phù hợp
Trong quan hệ vai, mỗi tham thoại có một số ngôn ngữ cá nhân tương ứng với từng quan hệ vai của nó Khi cá nhân chuyển từ cương vị này sang cương vị khác, tức chuyển vai thì cá nhân đó đồng thời cũng đã chuyển mã, tức chuyển sang một biến thế ngôn ngữ cá nhân khác thích hợp với quan hệ vai mới
Các vai giao tiếp thường được phân thành hai nhóm, vai thường xuyên và vai lâm thời Căn cứ vào mối quan hệ phụ thuộc lẫn nhau giữa các thành viên trong cặp vai có thể chia quan hệ vai thành hai nhóm
a Vai người nói ngang hàng với vai người nghe (SP1 = SP2)
b Vai người nói không ngang hàng với vai người nghe
c Vai người nói thấp hơn vai người nghe (SP1 < SP2)
d Vai người nói cao hơn vai người nghe (SP1 > SP2)
Để có được một phát ngôn thỏa đáng XH, người giao tiếp phải nhận thức được chính bản thân mình trong quan hệ với người đối thoại đồng thời phải đoán nhận đúng hình ảnh của người đối thoại với tất cả thuộc tính về động cơ, mục đích, nhân cách, địa vị XH, học vấn, lối sống, cá tính,… và hoàn cảnh trong đó giao tiếp diễn ra
Ví dụ của G Yule (2003)
Ví dụ 1: Sinh viên hỏi thầy giáo: Xin lỗi, thưa thầy Buckingham, em có thể
thưa chuyện với thầy một chút được không ạ?
Ví dụ 2: Giảng viên hỏi đồng nghiệp: Này Bucky, bàn chuyện một chút được
Trang 35thầy, xưng em Còn ở ví dụ 2, vai người nói ngang hàng với vai người nghe thì chọn cách gọi tên
2 Quan hệ giao tiếp
Để có thể giao tiếp được với nhau, giữa những người tham gia giao tiếp phải có một mối quan hệ qua lại nhất định, đó chính là quan hệ giao tiếp Có thể nói, quan hệ giao tiếp được xây dựng trên cơ sở hệ thống các mối quan hệ
XH, trên cơ sở cấu trúc của XH đó
Trước hết, khi nói đến quan hệ giao tiếp là muốn nói đến mối quan hệ giữa các thành viên tham gia một cuộc giao tiếp cụ thể Là một “thực thể đa chức năng”, mỗi một người có rất nhiều vai từ ở trong gia đình đến ra ngoài
XH Ví dụ, một người đàn ông ở trong gia đình là cha trong quan hệ với con,
là con trong quan hệ với cha, là chồng trong quan hệ với vợ, là anh trong quan
hệ với em… Ỏ ngoài XH, anh ấy có thể là thủ trưởng của nhân viên cấp dưới, nhưng lại là cấp dưới trong quan hệ với phó giám đốc và giám đốc, và cũng
có thể là thầy giáo trong quan hệ với học viên… Tất cả những mối quan hệ đan xen đó làm nên một mạng các quan hệ với rất nhiều vai khác nhau
Bất kỳ sự nói năng nào người ta cũng phải tiến hành lựa chọn theo cách trả lời cho được những câu hỏi như: nói gì, nói như thế nào, sử dụng loại câu
gì, từ ngữ gì và âm thanh (ngữ âm) như thế nào? Để ý thức được cái sẽ nói đến trong giao tiếp, phải tính đến những nhân tố có liên quan đến khoảng cách
XH và mức gắn bó giữa những người giao tiếp hay còn gọi là quan hệ XH giữa họ Mối quan hệ này rất đa dạng và phức tạp Căn cứ vào những nhân tố liên quan đến khoảng cách XH và mức gắn bó giữa những nhân vật giao tiếp
có hai loại quan hệ giao tiếp là quan hệ vị thế và quan hệ thân hữu
Trang 362.1 Quan hệ vị thế (còn gọi là quan hệ quyền thế 1 ): là quan hệ trên- dưới,
sang-hèn, tôn-khinh Đây là quan hệ được thiết lập trước quá trình giao tiếp, được xếp vào những nhân tố khách quan bên ngoài, dựa vào những giá trị XH
liên quan đến tuổi tác, giới tính và cương vị XH
Raph Fasold [132] đã sử dụng thuật ngữ “ngữ nghĩa quyền thế” và giải thích rằng, ngữ nghĩa của các đại từ chỉ quyền thế không mang tải nội dung có
đi có lại, được cố định như là thói quen bắt buộc trong giao tiếp XH cũng như giao tiếp gia đình
Trong phần lớn những tương tác XH, những người tham dự không có một khó khăn nào để quyết định họ có cùng hoặc không cùng vị thế XH Trong trường hợp vị thế XH không bình đẳng thì người nào ở bậc trên, người nào ở bậc dưới cũng được xác định một cách rõ ràng
Ví dụ: bố mẹ là bậc trên so với con cái, thầy giáo là bậc trên so với học sinh, sĩ quan là bậc trên so với binh lính…
Vị thế XH có thể phụ thuộc vào giới tính và tuổi tác Căn cứ vào tuổi tác thì những người nhiều tuổi hơn ở bậc trên so với những người ít tuổi hơn
Các cặp từ xưng hô trong tiếng Việt như: ông-cháu, chú-cháu, anh-em,
chị-em, bác-tôi… phản ánh sự khác biệt về tuổi tác của các nhân vật giao tiếp
Trong XH phương Tây, phụ nữ thường ở vị thế cao hơn đàn ông, họ nói: các
bà, các ông và các cô, chứ không nói các ông, các bà, các cô Ở VN thì
ngược lại, với cách gọi: Kính thưa các cụ, các ông, các bà, các anh, các chị…
Để đánh đấu khoảng cách XH, trong tiếng Việt cũng như nhiều ngôn ngữ khác người ta còn dùng hình thức hô gọi gồm cả chức vụ lẫn họ tên Chẳng hạn, sinh viên thấy mình ở vị thế thấp hơn so với thầy, nên thường nói thầy Cao Xuân Hạo hay GS Cao Xuân Hạo, chứ không gọi tên trống không Trong trường hợp vị thế XH bình đẳng thì họ có ý xưng hô khiêm tốn hơn Nói chung, chúng ta tham gia vào một dải rộng những tương tác XH mà ở đó
1
Cách gọi của Nguyễn Văn Khang [88]
Trang 37chiếm ưu thế là những khỏang cách XH được quy định bởi những nhân tố bên ngoài Ví dụ: ông với cháu, cô với cháu, anh với em, chị với em, chú với
cháu, thầy với trò, thủ trưởng với nhân viên
2.2 Quan hệ thân hữu (còn gọi là quan hệ kết liên) thường được thương
lượng trong quá trình giao tiếp Raph Fasold gọi đây là quan hệ ngang bằng
và ngữ nghĩa kết liên là một sự sẻ chia giữa mọi người ở mức độ gần gũi, thân mật Đó là những nhân tố bên trong đối với giao tiếp, có thể xảy ra khi khoảng cách XH thay đổi và được đánh dấu trong quá trình giao tiếp
Những tình huống sáng chú, chiều anh, tối chúng mình thể hiện rõ ràng
sự thay đổi cách xưng hô và đó là dấu hiệu của sự rút ngắn khoảng cách
Ví dụ:
Khoảng 7 giờ anh mới tới nơi, dựng xe tít ngoài ngõ chứ không dắt vào nhà như mọi bận
Lưu ngạc nhiên hỏi :
- Sao anh lại để xe ngoài ấy?
Mộc đáp :
- Khóa rồi Tôi vào một tí rồi đi ngay
Anh không còn xưng anh và gọi Lưu là em như trước Anh xưng tôi một cách rành rẽ vẽ một đường mực đen giữa hai người Lưu biết nhưng không đủ can đảm công nhận đều đó Lưu cung cúc ra ngoài ngõ, bưng chiếc xe đạp khóa của Mộc và dựng dưới hiên nhà :
- Cho nó yên tâm Mất của bao giờ làm ra được Chị nói trống không để
khỏa lấp nỗi ngượng ngùng Mộc ngồi yên lặng trong ghế
(Dương Thu Hương, Chuyện tình kể trước lúc rạng đông, NXB Văn học Hà Nội, 1986, tr.174)
Các nhân tố bên ngoài và các nhân tố bên trong chẳng những ảnh hưởng
Trang 38đến những cái chúng ta nói mà còn ảnh hưởng cả đến việc chúng ta giải thích như thế nào Hãy đọc đoạn văn sau đây của Nguyễn Quang Thân:
Anh gọi chị là bà làm chị kiêu hãnh, sau đó là chị làm chị ấm lòng và cuối cùng là em làm chị sung sướng Cuộc cách mạng về xưng hô ấy chỉ diễn
ra trong vòng 15 phút Phút thứ 16 thì anh nói đã thuê hai hec-ta rừng thông chiều nay để không ai được lai vãng qua Phút thứ 17 thì lưng chị đã lấm đầy cát và sau đó chị bắt đầu cuộc hành trình vào thiên đường lần đầu tiên trong đời (Vũ điệu của cái bô, Văn nghệ số 423, ngày 26-10-1991)
Lời tâm sự của nhà văn Nguyễn Công Hoan cũng là một minh chứng:
" và nhất là khi nghe thấy Bác gọi tôi bằng chú và xưng bằng mình thì rõ ràng tôi thấy như không phải tôi đang ngồi trước một nhà chính trị lớn, một bậc khai quốc Có cái gì thật là dễ dãi, là quen thuộc, là hấp dẫn, là thân mật của tình cha con" (Tuyển tập, NXBVăn học Hà Nội, 1984)
Khi xác định được vai của người tham dự giao tiếp ở vào một quan hệ nào
đó thì sẽ có sự lựa chọn phong cách ngôn ngữ tương ứng để giao tiếp sao cho thỏa đáng Chẳng hạn, nếu vai của người giao tiếp ở vào quan hệ quyền thế thì phải chọn phong cách ngôn ngữ tương đối chính thức, còn khi vai của người giao tiếp ở vào quan hệ kết liên thì phong cách ngôn ngữ có phần tùy
tiện, thoải mái hơn
3 Về cách gọi từ xưng hô thân tộc:
Chúng tôi chọn cách gọi này vì thiết nghĩ tên gọi này chỉ quan hệ gần gũi, huyết thống, một hệ thống các cách xưng hô trong dòng họ, gia đình, mang một phạm vi rộng Đa số các nhà nghiên cứu sử dụng cách gọi này, chẳng hạn như: Hữu Đạt, Hoàng Anh Thi, Nguyễn Văn Khang, Bùi Minh Yến, Trần Ngọc Thêm, Cao Xuân Hạo… Chỉ có một số tác giả dùng cách gọi
“từ quan hệ họ hàng”, chẳng hạn như Nguyễn Trung Thành Chúng tôi thiết nghĩ cách gọi này có phần hơi tạo khoảng cách, có phần giống với từ bà con,
họ hàng, không chỉ trực tiếp một số thành viên mang tính huyết thống,
Trang 39ruột rà trong gia đình như: cha, con, mẹ, vợ, chồng, anh, chị
4 Khái quát về những định tố của từ xưng hô thân tộc trong tiếng Việt
và khả năng hoạt động của chúng:
4.1 Những định tố của từ xưng hô thân tộc trong tiếng Việt
4.1.1 Khái niệm định tố:
Tất cả những yếu tố như giới tính, nam hay nữ, vai bề trên hay bề dưới, quan hệ giữa các nhân vật giao tiếp như thế nào… được hàm chứa trong từ xưng hô tạo nên một tập hợp các định tố của từ xưng hô (cái mà từ xưng hô chuyên dụng không có)
4.1.2 Các định tố của từ xưng hô thân tộc trong tiếng Việt
Từ thân tộc (còn gọi là các danh từ chỉ quan hệ họ hàng), đóng một vai trò khá đặc biệt trong các nhóm danh từ nói riêng và hệ thống từ loại nói chung, bởi lẽ phần lớn các từ trong số này có khả năng đóng vai trò xưng hô như những đại từ xưng hô chuyên dụng khác Tuy nhiên, khác với từ xưng hô chuyên dụng, DTT trong tiếng Việt ngoài chức năng quy chiếu, chỉ xuất nhân vật giao tiếp còn có chức năng định vị, chỉ ra ngôi vị, vai giao tiếp của các
nhân vật tham gia giao tiếp Chẳng hạn từ chị nếu được dùng để xưng, tức là
để trỏ bản thân chủ thể giao tiếp (CTGT), ngoài việc quy chiếu CTGT, người đầu tiên phát ra hành vi tự xưng, nó còn chỉ ra vai của CTGT là vai bề trên cùng thế hệ của đối tượng giao tiếp (ĐTGT), là nữ giới Tất cả những yếu tố như giới tính, nam hay nữ, vai bề trên hay bề dưới, quan hệ giữa các nhân vật giao tiếp như thế nào… Được hàm chứa trong từ xưng hô tạo nên một tập hợp các định tố của DTT (cái mà từ xưng hô chuyên dụng không có) Cụ thể trong DTT tiếng Việt có các định tố sau:
4.1.2.1 Giới tính
Trong tiếng Việt, các từ xưng hô chỉ nhân vật giới tính bậc dưới (cháu,
chắt, con, em) không chứa định tố giới tính Còn các từ chỉ nhân vật giao tiếp
Trang 40bậc trên thì có thể chia thành 2 nhóm theo tiêu chí giới tính như sau:
- Nam: ông, chú, cậu, ba, anh
- Thế hệ trên : bác // chú, dì, cô, cậu
- Cùng thế hệ với ego : anh, chị // em
4.1.2.3 Huyết thống
Huyết thống là một định tố quan trọng trong hệ các định tố xưng hô của tiếng Việt Chứng kiến sự sử dụng từ xưng hô, người ngoài cuộc cũng có thể hiểu quan hệ của nhưng nhân vật đang thực hiện hành vi xưng hô Chẳng hạn
sự sử dụng từ mợ làm tự xưng từ biết cái nhân vật giao tiếp đóng vai chủ thể
ấy không có quan hệ huyết thống với ego Dựa trên tiêu chí huyết thống, ta có đối lập sau :
- Có huyết thống: chú, cậu, cô, dì