Đối tượng Đối tượng nghiên cứu là một số đặc tính cơ bản của văn hóa phương Đông: tính tổng hợp, tính linh hoạt, tính quân bình âm dương thể hiện trong hệ thống luận trị Đông y.. Trần N
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
LUẬN VĂN THẠC SĨ VĂN HÓA HỌC
Người hướng dẫn khoa học:
PGS.TS PHAN THU HIỀN
Thành phố Hồ Chí Minh – Năm 2008
Trang 2MỤC LỤC
QUY ƯỚC TRÌNH BÀY - 3
DẪN NHẬP -4
1 Lý do chọn đề tài -4
2 Mục đích nghiên cứu -4
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu -5
4 Lịch sử nghiên cứu vấn đề -5
5 Phương pháp nghiên cứu -8
6 Nguồn tư liệu -9
7 Những đóng góp của luận văn -9
8 Bố cục luận văn - 10
Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG 1.1 Văn hóa chăm sóc sức khỏe Nghiên cứu văn hóa học y học - 11
1.1.1 Văn hóa chăm sóc sức khỏe - 11
1.1.2 Nghiên cứu văn hóa học y học - 12
1.2 Đông y trong so sánh với Tây y từ góc độ loại hình văn hóa - 15
1.2.1 Phương pháp so sánh loại hình văn hóa - 15
1.2.2 Đông y – Tây y qua so sánh loại hình - 16
1.3 Đông y trong lịch sử hình thành và phát triển - 16
1.4 Một số tư tưởng cột trụ làm nền tảng Đông y - 23
1.4.1 Thuyết âm dương - 23
1.4.2 Thuyết ngũ hành - 25
1.4.3 Thuyết tạng tượng - 27
1.4.4 Thuyết kinh lạc - 29
Tiểu kết - 32
1
Trang 3Chương 2
TÍNH TỔNG HỢP TRONG HỆ THỐNG LUẬN TRỊ ĐÔNG Y
2.1 Tính tổng hợp trong lý luận Đông y - 34
2.2 Tính tổng hợp trong chẩn đoán định bệnh Đông y - 45
2.3 Tính tổng hợp trong cách thức điều trị Đông y - 52
2.4 Tính tổng hợp trong dược học Đông y - 58
Tiểu Kết - 62
Chương 3 TÍNH LINH HOẠT TRONG HỆ THỐNG LUẬN TRỊ ĐÔNG Y 3.1 Tính linh hoạt trong lý luận Đông y - 63
3.2 Tính linh hoạt trong chẩn đoán định bệnh Đông y - 68
3.3 Tính linh hoạt trong cách thức điều trị Đông y - 72
3.4 Tính linh hoạt trong dược học Đông y - 78
Tiểu kết - 89
Chương 4 TÍNH QUÂN BÌNH ÂM DƯƠNG TRONG HỆ THỐNG LUẬN TRỊ ĐÔNG Y 4.1 Tính quân bình âm dương trong lý luận Đông y - 90
4.2 Tính quân bình âm dương trong chẩn đoán định bệnh Đông y - 96
4.3 Tính quân bình âm dương trong cách thức điều trị Đông y -103
4.4 Tính quân bình âm dương trong dược học Đông y -109
Tiểu kết -116
KẾT LUẬN - 117
TÀI LIỆU THAM KHẢO - 123
Phụ lục 1.BẢNG THUẬT NGỮ CHÚ GIẢI VẮN TẮT -131
2 TIỂU SỬ CÁC DANH Y -137
2
Trang 4QUY ƯỚC TRÌNH BÀY
1 Danh mục tài liệu tham khảo của luận văn được sắp xếp theo thứ tự của họ tên tác giả
2 Xuất xứ tài liệu trích dẫn được ghi theo mẫu [W X;Y: Z], trong đó:
- W: tên tác giả Trong trường hợp tên đơn vị giữ bản quyền dài sẽ được viết
tắt bằng các chữ cái đứng đầu trong tên của đơn vị đó, đồng thời tên của đơn vị
đó được ghi rõ trong thư mục tài liệu tham khảo (Ví dụ: HVTYQC 1991 [Học viện Trung y Quảng Châu] : Trung y chẩn đoán học giảng nghĩa )
- X: năm xuất bản
-Y: tên của quyển sách nhỏ trong một tác phẩm lớn (Ví dụ: Tác phẩm Hải
thượng y tông tâm lĩnh gồm 28 tập, 66 quyển Quyển 1: Nội kinh yếu chỉ; quyển
2: Y gia quan niệm v.v… Như vậy sẽ ghi [Lê Hữu Trác 2001; Nội kinh yếu chỉ: 67] )
- Z: số trang
- Nếu dẫn tham khảo nhiều trang liên tục với nhau thì ghi số trang đầu và số trang cuối, giữa các số trang cách nhau bằng dấu gạch ngắn (Ví dụ: [Harrison 1999; 11-30])
- Nếu dẫn tài liệu tham khảo nhiều trang không liên tục với nhau thì giữa các số trang cách nhau bằng dấu phẩy (Ví dụ: [Lê Hữu Trác 2001;Vệ sinh yếu quyết:
Trang 52 Mục đích nghiên cứu
Việc nghiên cứu Đông y trong văn hóa chăm sóc sức khỏe truyền thống phương Đông rất cần thiết cho xã hội ngày nay Trong thế giới ngày nay, Tây y và Đông y có khuynh hướng tiếp cận nhau trong các lãnh vực y học, hai nền y học này đang giao thoa với nhau để hướng đến chăm sóc sức khỏe toàn vẹn cho con người Chúng tôi ý thức được điều này nên cố gắng nghiên cứu những giá trị ưu việt của Đông y trong tổng thể giá trị của văn hóa phương Đông để tính văn hóa của Đông y ngày càng nâng cao, phục vụ thiết thực trong đời sống con người về thể chất lẫn tinh thần
Chúng tôi mong nắm vững một cách tổng quát về các nguyên lý cơ bản của Đông y và các tư tưởng Phật giáo, Lão giáo, Khổng giáo được vận dụng vào phép dưỡng sinh, luyện đạo trường sinh Các học thuyết đặc thù của y học cổ truyền như học thuyết âm dương, học thuyết ngũ hành, học thuyết thiên địa vạn vật đồng nhứt thể, học thuyết tạng tượng, học thuyết kinh lạc Các học thuyết này được vận dụng
4
Trang 6vào biện chứng sinh lý và bệnh lý của con người trong việc bảo vệ sức khỏe Ngoài
ra, còn các phương pháp chữa bệnh không dung thuốc như châm cứu, xoa bóp và các bài thuốc địa phương, những tín ngưỡng dân gian
Ngày nay, vẫn còn nhiều điều bí ẩn trong cơ thể con người, vẫn còn những lý luận y học cần tìm hiểu và giải đáp, còn nhiều những căn bệnh mới đã, đang, sẽ tiếp tục phát sinh chưa có phương pháp đối phó Y học thế giới với nhiệm
vụ cao cả là đưa con người ra khỏi bệnh tật, trong đó nền y học cổ truyền có một đóng góp rất quan trọng Vì thế, người nghiên cứu y học với nhiệm vụ nghiên cứu y học cổ truyền là nhiệm vụ cấp bách của giới y học để phục vụ cho sức khỏe con người và phát huy văn hóa đạo đức trong nhiệm vụ chăm sóc sức khỏe Bên cạnh
đó, việc nghiên cứu y học cổ truyền kết hợp y học hiện đại để xây dựng một nền y học Việt Nam và gìn giữ di sản văn hóa dân tộc là điều cần làm hơn cả
Với những lý do trên, chúng tôi chọn đề tài : ĐẶC TÍNH VĂN HÓA PHƯƠNG ĐÔNG TRONG HỆ THỐNG LUẬN TRỊ ĐÔNG Y để làm luận văn thạc sĩ chuyên ngành văn hóa học
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tượng
Đối tượng nghiên cứu là một số đặc tính cơ bản của văn hóa phương Đông: tính tổng hợp, tính linh hoạt, tính quân bình âm dương thể hiện trong hệ thống luận trị Đông y
3.2 Phạm vi nghiên cứu
Phạm vi nghiên cứu của luận văn nằm trong lãnh vực hệ thống luận trị Đông y bao gồm lý luận, chẩn đoán, điều trị và dụng dược ( phần dược chỉ nghiên cứu trong phạm vi liên quan đến điều trị)
4 Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Khi tìm hiểu nền văn minh phương Đông, các nhà nghiên cứu đặc biệt quan tâm đến vần đề y học phương Đông Trên thế giới, bên cạnh nền y học phương Tây được phổ biến rộng rãi, còn có các nền y học khác của các nước phương Đông đã
5
Trang 7đóng góp thành công trong việc chăm sóc sức khỏe cho con người Chính những cách thức xử lý chăm sóc sức khỏe cho con người khác hẳn với nền y học phương Tây đã thu hút các nhà nghiên cứu ngày càng tiếp cận với nền y học phương Đông Điều đó cho thấy y học phương Đông đã khẳng định vai trò song hành với y học phương Tây trong việc bảo vệ sinh mạng của con người
Hiện nay các nhà nghiên cứu văn hóa Việt Nam cũng quan tâm đến mối quan
hệ giữa văn hóa và y học Đến nay có những công trình nghiên cứu đã đề cập một cách khái quát về y học từ góc nhìn văn hóa Tuy nhiên, phần lớn các công trình chỉ nêu lên vấn đề một cách khái quát và có phần thiên về lý luận y học hoặc thiên về giải luận văn hóa học chưa làm sáng tỏ được tính văn hóa của Đông y
Nhìn chung, vấn đề quan hệ giữa y học và văn hóa trong thời gian qua đã có những công trình nghiên cứu Chúng tôi trình bày ý kiến tiêu biểu nhất về mối quan
hệ này trong phạm vi tư liệu đã có trong tác phẩm “Đọc Kim Dung tìm hiểu văn hóa Trung Quốc”, Nguyễn Duy Chính đã đề cập đến vấn đề Đông y Trong đó,
Nguyễn Duy Chính đã xác định vai trò của Đông y trong văn hóa Trung Quốc Ông
đã khái quát toàn bộ hoạt động của Đông y Ông gắn liền Đông y với đời sống con
người “khi người Âu Tây nghiên cứu về y thuật Trung Hoa họ muốn coi y học như một ngành riêng mà quên rằng quan niệm chữa bệnh bắt nguồn và tồn tại theo đời sống con người” [ Nguyễn Duy Chính 2002: 40] Như vậy, nền văn hóa của một
dân tộc qui định đời sống của dân tộc đó, tạo nên cách sống riêng của từng dân tộc, cho nên y học gắn liền với đời sống con người Nguyễn Duy Chính cũng cho rằng “
Tất cả các môn nho–y–lý–số đều cùng một nguồn gốc, từ một quan điểm mà người
ta cho là mọi thứ trong trời đất đều cùng một thể và nếu như nhất pháp thông, thì vạn pháp thông” [Nguyễn Duy Chính 2002: 40] Đó cũng chính là tư tưởng chính
dẫn đường cho những luận thuyết của Đông y, Nguyễn Duy Chính trong bài viết của ông bàn bạc những đặc tính văn hóa trong y học Tuy nhiên, ông chưa chỉ rõ những đặc tính của văn hóa trong y học và chưa thật sự bàn luận đến sự quan hệ
giữa văn hóa và y học Nguyễn Duy Chính cũng đúc kết “cho đến giờ phút này, con người ngày càng đi sâu vào những tổng hợp mới, trong đó đời sống được coi là một
mô hình đa phương dung chứa nhiều quan niệm, nhiều nguồn văn hóa, nhiều xu thế
6
Trang 8Những quan điểm cứng nhắc, bất biến không những bị xem là lỗi thời mà còn khó
có thể được chấp nhận trong một xã hội văn minh” [ Nguyễn Duy Chính 2002: 69]
Trong tác phẩm “Triết lý văn hóa phương Đông”, Nguyễn Hùng Hậu nêu lên
vấn đề triết lý âm dương ngũ hành và sự vận dụng của nó trong y học cổ truyền Triết lý âm dương ngũ hành đã chi phối toàn bộ hoạt động của Đông y Âm dương ngũ hành là những sản phẩm triết lý của nền văn hóa phương Đông mang những khái niệm trừu tượng, khái quát đầu tiên nhằm giải thích sự sinh trưởng biến hóa của vũ trụ Đông y vận dụng những tư tưởng đó vào thực tiễn chữa bệnh cho con người và giải thích mọi vấn đề của Đông y Nguyễn Hùng Hậu viết nhiều về cơ sở
lý luận của y học trên nền tảng âm dương ngũ hành, Nguyễn Hùng Hậu chưa thật sự
đề cập đến tính văn hóa của y học và mối quan hệ giữa văn hóa và y học
“Tác phẩm tư tưởng Lão Trang trong y thuật phương Đông”, Trần Văn Tích
đã nêu lên tầm ảnh hưởng tư tưởng của Lão Trang vào lý luận Đông y Ông cho rằng cái lớn nhất của Đông y không phải chủ yếu dựa vào những dữ kiện dầu sao thì cũng chỉ là vật chất trong thời gian và không gian, mà Đông y sở dĩ được tồn tại là
do tư tưởng chỉ đạo của nó Đông y được tồn tại và phát triển vững mạnh trong lòng các dân tộc Đông Á cho mãi đến bây giờ Có thể nói, ông trình bày một cách tổng quát, sâu sắc về Đông y và bàn bạc trong tác phẩm ông cũng đề cập đến những đặc tính của văn hóa trong y học Trong đó, Lão Trang để những dấu ấn sâu rộng nhất trong mọi hoạt động của Đông y Trong những trang đầu tiên Trần Văn Tích viết :
“sự phát triển của văn hóa, những bước tiến của các nền văn minh ở những thời đại xưa cũ thường không vượt quá giới hạn của một số quốc gia, một số vùng nhất định, tạo thành những cái nôi văn hóa, những trung tâm văn minh, vì thế, những nhân vật ưu tú, những người “khổng lồ” trong văn hóa phần nhiều cũng từ những nước, những nơi ấy phát sinh và vươn mình Lão Tử là một người “khổng lồ” của triết học Đông Á, và tầm ảnh hưởng của tác giả Đạo Đức Kinh còn vươn dài qua rất nhiều địa hạt, chẳng hạn y học” [Trần Văn Tích 1974:14] Cuối cùng, ông cũng kết luận một điều quan trọng là theo ông “căn bản triết học của y học phương Đông là một hình cánh quạt mà trung tâm là Lão học” [Trần Văn Tích 1974: 169]
Tuy nhiên, Trần Văn Tích chỉ nhấn mạnh tầm ảnh hưởng của Lão Trang vào y học
mà chưa chỉ rõ những vấn đề y học và văn hóa
7
Trang 9Tác phẩm “ Tìm về bản sắc văn hóa Việt Nam” (1996/2004), Trần Ngọc
Thêm là người đầu tiên trong nghiên cứu văn hóa Việt Nam có những tư tưởng mới
mẻ và khái quát được vấn đề văn hóa và y học
Trong những nghiên cứu về văn hóa Việt Nam trước đó, có những công trình nghiên cứu thiên về mặt khái quát cơ sở lý luận của Đông y hoặc có những công trình viết chủ yếu về văn hóa chỉ đề cập phớt qua về Đông y Những hiện tượng phản ánh mối liên hệ văn hóa và y học chỉ ở mức gợi ý hoặc bàn luận sơ qua mà chưa xác định rõ mối quan hệ chặt chẽ giữa văn hóa và y học, nói cách khác chưa xác định được y học là bộ phận trong văn hóa, trong hệ thống giá trị văn hóa
Trần Ngọc Thêm với cách tiếp cận hệ thống loại hình đã tổng kết nền tảng của Đông y như một bộ phận trong tổng thể khối giá trị văn hóa phương Đông nói chung, văn hóa Đông Á nói riêng Đây thật là một đóng góp quan trọng, làm cho mối quan hệ văn hóa và y học càng được xác định và trở thành một hệ thống vấn đề quan trọng
Một vấn đề nữa được Trần Ngọc Thêm nêu lên rõ ràng qua phần văn hóa
nhận thức- nhận thức về con người và vũ trụ Ông viết “con người tự nhiên như một
mô hình âm dương ngũ hành” và “bản chất của vũ trụ : triết lý âm dương” Từ triết
lý âm dương đã hình thành hai loại hình văn hóa là loại hình văn hóa trọng tĩnh trọng âm và loại hình văn hóa trọng động trọng dương Qua nhận thức về con người
và vũ trụ, trong đó triết lý đạo học tam giáo và triết lý âm dương, ngũ hành, tam tài cũng là những triết lý được ứng dụng vào toàn bộ hoạt động của Đông y Trần Ngọc Thêm đã phát họa toàn cảnh mối quan hệ giữa văn hóa và y học và đặc tính văn hóa của y học Tuy nhiên, những vấn đề cốt lõi về văn hóa và y học Trần Ngọc Thêm thật sự chưa bàn luận hết Trần Ngọc Thêm đã có một cái nhìn tổng hợp giữa mối quan hệ Nho–y–lý–số Tuy nhiên, phạm trù văn hóa và y học còn rất nhiều vấn đề cần bàn luận tổng quát mà không bỏ qua những cơ sở sâu sắc mấu chốt của vấn đề y học Đây là một công việc cần được quan tâm thêm nữa
5 Phương pháp nghiên cứu
Đông y gắn liền với văn hóa phương Đông Sự tiếp cận nghiên cứu y học trong mối quan hệ văn hóa rất cần thiết và có ý nghĩa thực tiễn, vì qua đó độc giả có
8
Trang 10thể hiểu một cách cơ bản về lý luận Đông y và nhìn thấy được vấn đề chủ yếu trong văn hóa chăm sóc sức khỏe con người là điều cần thiết Để thực hiện luận văn này, chúng tôi đã áp dụng một số phương pháp tiếp cận văn hóa học như :
- Phương pháp nghiên cứu hệ thống liên ngành
Phân tích lý luận, cách chẩn đoán, điều trị, dược học như các yếu tố trong
6 Nguồn tư liệu
Thực hiện luận văn này, tác giả sử dụng nguồn tư liệu bao gồm tất cả các mặt của y học cổ truyền như : tư liệu về lý luận y học, tài liệu nghiên cứu y học cổ truyền, y học dân gian, và các sách liên quan đến những tài liệu y học cổ truyền gồm các sách kinh điển và các sách y luận của các y gia Bên cạnh đó, chúng tôi tham khảo những tài liệu liên quan đến lịch sử, triết học, tôn giáo, y học dân gian, những kinh nghiệm dân gian Luận văn cũng tham khảo những vấn đề liên quan y học – văn hóa và quan điểm chủ trương chính sách của Đảng và Nhà nước về y học
7 Những đóng góp của luận văn
1 Giới thiệu một cách khái quát về hệ thống luận trị của Đông y thông qua tác phẩm kinh điển và các sách y luận của Việt Nam và Trung Quốc
2 Phân tích Đông y về các mặt lý, pháp, phương, dược một cách chi tiết để tìm ra những đặc tính của văn hóa truyền thống phương Đông nói chung, truyền thống văn hóa dân tộc nói riêng
9
Trang 113 Nêu lên một số đề nghị, giải pháp nhằm phát huy và giữ gìn bản sắc y học truyền thống Việt Nam, đồng thời khắc phục hạn chế của y học cổ truyền trong văn hóa chăm sóc sức khỏe con người
8 Bố cục luận văn
Chương 1 : Những vấn đề chung, trình bày những khái niệm lý luận cơ bản
như Đông y, văn hóa chăm sóc sức khỏe, phương pháp so sánh loại hình Chương này cũng giới thiệu khái quát lịch sử hình thành và phát triển Đông y, một số tư tưởng trụ cột làm nền tảng Đông y
Chương 2 : Tính tổng hợp trong hệ thống luận trị Đông y, phân tích những
vấn đề như quan niệm tinh – khí – thần; Quan hệ giữa thể xác và tinh thần, giữa sinh học và tâm lý học; Quan hệ giữa con người và vũ trụ; sự kết hợp Nho – Y - Lý – Số; Kết hợp giữa châm cứu và dùng thuốc trong trị liệu; Kết hợp giữa tam giáo và
y học…cho thấy đặc tính tổng hợp của Đông y
Chương 3 : Tính linh hoạt trong hệ thống luận trị Đông y, trình bày sự
uyển chuyển, mềm dẻo, gia giảm trong quá trình lý, pháp, phương, dược của Đông
y
Chương 4 : Tính quân bình âm dương trong hệ thống luận trị Đông y, cân
bằng âm dương giữa con người với môi trường, vũ trụ Tư tưởng này thể hiện qua quan niệm phân tích những cách thức của Đông y để duy trì, tái thiết lập cân bằng
âm dương trong bản thân con người; Quân bình âm dương trong chẩn đoán nguyên nhân và tạng phủ, chẩn đoán lục kinh; Quân bình âm dương, khí huyết, tâm thận; Quân bình âm dương trong sử dụng và bào chế dược liệu
10
Trang 12Chương 1
NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG
1.1 Văn hóa chăm sóc sức khỏe Nghiên cứu văn hóa học y học
1.1.1 Văn hóa chăm sóc sức khỏe
Tổ chức y tế thế giới cho rằng : “Sức khỏe là trạng thái thoải mái toàn diện
về vật chất lẫn tinh thần và xã hội” [vi.wikipedia.org/wiki/y-h%E1%BB%8Dc]
Sức khỏe tinh thần là khái niệm chỉ tình trạng tâm thần và cảm xúc tốt của mỗi cá nhân Theo tổ chức y tế thế giới thì không có định nghĩa chính thức cho sức khỏe tinh thần Các nền văn hóa khác nhau, các đánh giá chủ quan và các giả thuyết khoa học khác nhau, đều có ảnh hưởng đến những định nghĩa khác nhau về sức khỏe tinh thần Tình trạng thoải mái, không có rối loạn về tinh thần chưa được coi là sức khỏe tinh thần Chính lòng tự tin, luôn giữ tốt các mối quan hệ, có một cuộc sống độc lập,
dễ hồi phục mọi căng thẳng và tình huống khó khăn trong cuộc sống, mới được coi
là dấu hiệu của một sức khỏe tinh thần Bản thân sức khỏe là một giá trị, chăm sóc sức khỏe để không ốm đau, chữa khỏi bệnh nhanh chóng đều là giá trị văn hóa
Y học là ngành khoa học nghiên cứu và thực hành Mục đích của y học là phát triển hiểu biết về cơ thể con người và các bệnh tật để chăm sóc sức khỏe cho con người Y học được phát triển từ lâu ở phương Tây (truyền thống Hippocrates) ở
Ấn Độ (y học Ayurvedic) và Trung Quốc (Đông y)
Y học phương Đông và y học phương Tây là hai thuật ngữ chỉ các nền y học của hai khu vực: phương Đông và phương Tây Y học phương Tây bao gồm y học của các nước Âu Mỹ Y học phương Đông là những nền y học dân tộc bao gồm các nước của các khu vực phương Đông như Đông Á, Đông Nam Á, Nam Á ( tiểu lục địa Ấn Độ) và Tây Á Y học phương Tây bao gồm cả truyền thống và hiện đại Y học phương Đông chỉ có truyền thống Thuật ngữ Đông y là cách nói tắt của y học phương Đông, cũng là cách nói trong dân gian để chỉ y học Đông Á gồm các nước: Trung Quốc, Nhật Bản, Triều Tiên, Tây Tạng và Việt Nam
Y học phương Tây được phát triển theo truyền thống Hippoccrates Y học phương Tây cho rằng, bệnh là do rối loạn chức năng của một số hệ thống hay một
11
Trang 13bộ phận nào đó của cơ thể Muốn xác định nguyên nhân và chữa trị, đòi hỏi chứng minh dựa trên thực tế của các ngành dịch tể học, giải phẫu học, sinh lý học, vi sinh học v.v… Tất cả những phương pháp, từ nội khoa cho đến ngoại khoa, muốn được cộng đồng công nhận phải thông qua nghiên cứu thống kê, thực nghiệm rõ ràng Các ngành cơ bản của Tây y đều dựa trên cơ sở thực nghiệm khoa học, trước khi đi đến mọi kết luận về bệnh tật và sức khỏe của con người như giải phẫu học, sinh hóa học, thống kê sinh học, tế bào học, phôi học, dịch tể học, di truyền học, mô phôi học, miễn dịch học, vi sinh học, thần kinh học, dinh dưỡng, sinh lý học, bệnh học, dược học, độc chất học, triệu chứng học Chuyên ngành chẩn đoán có chẩn đoán hình ảnh, sinh hóa, vi sinh Chuyên khoa có nội khoa, ngoại khoa, sản khoa, nhãn khoa, nhi khoa, phụ khoa, huyết học, chấn thương chỉnh hình, tai mũi họng, răng hàm mặt, tâm thần học, gây mê hồi sức…
Đông y phát triển dựa trên nền tảng triết học, văn hóa dân tộc, tôn giáo, đời sống xã hội để lý giải và điều trị bệnh tật cho con người Đông y cho rằng con người bệnh là do trạng thái mất cân bằng âm dương, và ngũ hành sinh khắc trong cơ thể bị phá vỡ Cơ thể con người không theo kịp sự vận hành biến hóa của tự nhiên
Hệ thống lý luận của y học dân tộc Trung Quốc và Việt Nam dựa vào các sách kinh điển có nguồn gốc từ cổ xưa, các tác phẩm kinh điển này chỉ đạo mọi hoạt động của
y học cổ truyền Ngoài ra, còn rất nhiều tác phẩm có giá trị về y học, được người đời sau sáng tác qua các triều đại từ cổ xưa đến ngày nay Các học thuyết âm dương, ngũ hành, thuyết vận khí, thuyết thiên địa vạn vật đồng nhất thể, thuyết kinh lạc, thuyết tạng tượng, là những học thuyết đặc thù của Đông y Các học thuyết đó
đã xây dựng mọi nền tảng lý luận của Đông y, đồng thời xây dựng quan điểm con người là một chỉnh thể toàn diện, thống nhất giữa các bộ phận nội bộ trong cơ thể con người, giữa nội bộ cơ thể con người với tự nhiên Cho nên, từ các mối quan hệ con người và cộng đồng xã hội, tự nhiên đã xây dựng một quan điểm về sức khỏe của con người một cách tổng hợp toàn diện
Lý luận về quan hệ giữa y học và văn hóa, về chuyên ngành văn hóa học y học không nhiều Dưới đây, chúng tôi chủ yếu lược thuật từ mục từ Ethnomedicine
do Michael.H.Logan viết, trong tự điển Bách khoa Nhân học Encyclopedia of
12
Trang 14Cultural Anthropology của Nhà xuất bản Henry Holt and company, New York
1992
Bệnh tật là một trạng thái phổ quát trong tồn tại của con người Tất cả các dân tộc đều phải ứng phó với thách thức này để sinh tồn Trong mọi nền văn hóa đều có một lãnh vực phức tạp những thông tin cho bệnh nhân, thầy thuốc để ứng xử với những thực tế có tính sinh lý học, xã hội học, tâm lý học của bệnh tật Những thông tin này giúp cho những thành viên của một nền văn hóa giải thích, chẩn đoán, điều trị các loại bệnh tật Những nền văn hóa đa dạng khác nhau có những lý thuyết
về bệnh tật và điều trị khác nhau
A.A.Belik cho rằng y học dân gian như một bộ phận hữu cơ của văn hóa cổ
truyền, ông viết : “Y học dân gian như một mặt thực tiễn của văn hóa trong các xã hội truyền thống là một hệ thống toàn vẹn đa chức năng Nó cho phép hiểu được người ta hành động trong văn hóa truyền thống như thế nào Lĩnh vực nghiên cứu nền văn hóa theo gốc nhìn này hiện nay là một môn học đang phát triển mạnh mẽ, giải quyết nhiều bài toán rất quan trọng đặt ra trước các nước công nghiệp như hành vi ngoài lề, nghiện ma túy, vấn đề ô nhiễm và miễn dịch, văn hóa v v…
[A.A.Belik 2000: 222] Như vậy, tiếp cận y học có ý nghĩa trong văn hóa Bởi vì, y học là một yếu tố đặc biệt của văn hóa Y học biểu hiện quá trình thực tiễn của văn hóa trong khi tiếp cận với con người, bệnh tật trong các cộng đồng nào đó Y học liên hệ trực tiếp hoặc gián tiếp với các ngành như xã hội học, tâm lý học, sinh học, dân tộc học, chủng học, nhân học
Khi nghiên cứu văn hóa thì y học là một mặt quan trọng trong tổng thể giá trị của một nền văn hóa Bởi vì, mỗi một dân tộc có một nền y học đặc trưng phản ánh toàn bộ hoạt động thực tiễn và nhận thức về đời sống bệnh tật, về sức khỏe của
con người trong xã hội đó Như vậy “Dân tộc học y học có thể được định nghĩa như chuyên ngành khoa học nghiên cứu những thông tin về quan niệm và cách thức mà những thành viên của một nền văn hóa nhất định phân loại chẩn đoán, lý giải nguyên nhân và điều trị các loại bệnh tật” [David Levincon – Melvin Ember 1996 :
436]
13
Trang 15Văn hóa học là ngành khoa học khám phá, nghiên cứu tác động qua lại giữa môi trường tự nhiên, môi trường xã hội, môi trường sinh học với cách thức con người tri nhận và ứng phó với bệnh tật trong mỗi nền văn hóa
Y học là khái niệm bao trùm những vấn đề liên quan đến bệnh tật và chăm sóc sức khỏe của cư dân trong một nền văn hóa nào đó
Y học giúp giải thích bệnh tật, những thành viên trong một cộng đồng sử dụng những lý thuyết bệnh tật để cắt nghĩa một bệnh nào đó Thí dụ như sự xâm nhập của một đối tượng lạ vào thân thể người bệnh Nguyên nhân cuối cùng giải thích vì sao vấn đề đó lại xảy ra, có thể là sự giận dữ của linh hồn hoặc phù thủy do hành xử của bệnh nhân không thích đáng tác động đến Chúa trời, yêu quỷ giáng họa, trả thù Có lý thuyết bệnh tật có cách cắt nghĩa bên ngoài, cho rằng một dữ kiện bên ngoài như Thần, Chúa, số phận quyết định bệnh tật hoặc và cũng quyết định sự thành bại khi điều trị bệnh tật Có lý thuyết khác thì mang tính bên trong cho rằng mọi trách nhiệm đều ở con người quyết định Sau khi so sánh lý thuyết bệnh tật của những nền văn hóa khắp thế giới, các nhà nhân học, văn hóa học kết luận rằng trong
sự giải thích bệnh tật thì sự xâm nhập của một đối tượng hoặc sự xâm nhập của một linh hồn, mất cấu trúc, mất quân bình giữa những phẩm chất đối lập như hàn và nhiệt chẳng hạn, những thế lực hùng mạnh, lòng tham, hành xử thái quá, cư xử không đúng với thần linh, và những vi phạm khác Có thể nói rằng hệ thống y học
đã đóng góp những chức năng thật sự quan trọng như một hình thức cổ xưa đầy hiệu quả trong điều khiển xã hội
Y học cổ truyền các nước có kiến thức rộng lớn về sử dụng những sản phẩm
từ thiên nhiên như thảo mộc, khoáng vật, động vật để trị bệnh Y học cổ truyền của các dân tộc đã có những hiệu quả điều trị trong những bệnh thần kinh, tâm lý, giảm huyết áp, tránh thai, giảm cholesterol, chống bệnh ung thư, virus AIDS, HIV Y học phương Tây đã thừa kế, học hỏi những thành tựu của y học dân tộc cổ truyền về sử dụng các thuốc có nguồn gốc tự nhiên Tuy nhiên, nếu như nhiều cư dân bản địa đang có nguy cơ diệt vong, nhiều rừng bị chặt, bị cháy rụi thì những tri thức bản địa
về văn hóa học y học của thế hệ già sẽ không được thế hệ trẻ kế thừa
14
Trang 161.2 Đông y trong so sánh với Tây y từ góc độ loại hình văn hóa
1.2.1 Phương pháp so sánh loại hình
Để làm rõ những đặc tính văn hóa phương Đông trong hệ thống luận trị
Đông y, chúng tôi sử dụng phương pháp so sánh loại hình, khái niệm loại hình văn
hóa của Trần Ngọc Thêm Sau đây xin giới thuyết phương pháp và khái niệm đó
Trần Ngọc Thêm đã phân biệt sự khác nhau về các đặc trưng của hai loại
hình văn hóa Nguyên lý để qui định loại hình văn hóa dựa trên nguyên tắc phân
biệt cơ bản, đó là sự khác biệt về tự nhiên, lịch sử, địa lý, cách sống, ứng xử với môi
trường tự nhiên, lối tổ chức cộng đồng, ứng xử với môi trường xã hội, tư duy nhận
thức và ứng xử
Nhìn chung, từ những khác nhau về những đặc trưng cơ bản, Trần Ngọc
Thêm đã phác họa một cách tổng thể hai loại hình văn hóa : loại hình văn hóa gốc
du mục trọng động, trọng dương và loại hình văn hóa gốc nông nghiệp trọng tĩnh,
trọng âm Hai loại hình văn hóa này luôn biến đổi đang cài với nhau qua quá trình
giao lưu văn hóa Từ khái quát của hai loại hình văn hóa đã giúp lý giải những vấn
đề mấu chốt của Đông y
Loại hình
Tiêu chí
VĂN HÓA GỐC NÔNG NGHIỆP
Lối tổ chức cộng đồng Trọng tình cảm, trọng văn,
trọng phụ nữ
Trọng sức mạnh, trọng võ, nam giới
Ưng xử với môi trường xã hội Bao dung; mềm dẻo
Â
M Độc tôn, cứng rắn
Loại hình
VĂN HÓA TRỌNG TĨNH (TRỌNG ÂM)
VĂN HÓA TRỌNG ĐỘNG (TRỌNG DƯƠNG) Bảng 1: Hai loại hình văn hóa dưới góc độ triết lý âm dương [Dẫn theoTrần Ngọc Thêm 2004: 106]
15
Trang 171.2.2 Đông y – Tây y qua so sánh loại hình
Y học như định nghĩa ở trên là hệ thống nhận thức và ứng xử của con người trước bệnh tật Cho nên, y học liên quan đến các thành tố văn hóa nhận thức và văn hóa ứng xử với môi trường tự nhiên
Nhìn từ quan điểm loại hình văn hóa của Trần Ngọc Thêm, Đông y phản ánh
đặc điểm tư duy tổng hợp trọng quan hệ, cách ứng xử hòa hợp với tự nhiên; Tây y
phản ánh đặc điểm tư duy phân tích, cách ứng xử chinh phục tự nhiên Những đặc điểm đó thể hiện rõ qua hệ thống luận trị bao gồm lý luận, chẩn đoán, điều trị, dược học của Đông y và Tây y Luận văn của chúng tôi sẽ phân tích những đặc tính văn hóa phương Đông trong hệ thống luận trị Đông y bao gồm tính tổng hợp, tính linh hoạt, tính quân bình âm dương, có liên hệ đối chiếu với Tây y
1.3 Đông y trong lịch sử hình thành và phát triển
Trung Quốc cổ xưa là nơi đã hình thành và phát triển Đông y rất sớm Y học dân tộc cổ truyền Trung Quốc, trong đó y học thời Tần Hán trở về trước đã xác lập mọi nền tảng cơ bản, các tác phẩm kinh điển ngày càng hoàn thiện, đồng thời phát triển vững vàng về kinh nghiệm thực tiễn và nhận thức lý luận Trong suốt quá trình lịch sử y học, trải qua các triều đại Trung Quốc đã hình thành nhiều học phái làm cho y học trở nên phong phú, đa dạng
Y học cổ truyền Trung Quốc được hình thành và phát triển trong quá trình lịch sử lâu đời, đời sống văn hóa phát triển y học cũng theo con người mà phát triển Những thành tựu về trước tác từ trước đến nay có rất nhiều tác phẩm bao gồm những nội dung cơ bản về các khoa như ngoại khoa, nội khoa, nhi khoa, phụ khoa, châm cứu, xoa bóp, đạo dẫn và các quyển bản thảo về dược học Đến ngày nay các học giả và giới y học vẫn tiếp tục nghiên cứu phát triển không ngừng
Đi vào nghiên cứu lãnh vực y học dân tộc cổ truyền các nước Đông Á còn gọi là Đông y Đây là những nước có nền y học dân tộc cổ truyền mà các quốc gia phương Tây ngày nay phải để tâm nghiên cứu Bởi vì Đông y có các sách kinh điển chỉ đạo lý luận, chẩn đoán, phương pháp điều trị, dược thảo thiên nhiên Với đường lối điều trị của Đông y khác hẳn với phương pháp của Tây y làm cho Đông y trở thành một nền y học truyền thống nằm ngoài hệ thống Tây y Điều quan trọng hơn
16
Trang 18nữa Đông y lớn về tầm vóc, tuổi tác, và sự cống hiến cho nhân loại trong suốt quá
trình lịch sử y học như lời nhận định của Trần Văn Tích : “Nó lớn về tầm vóc Vươn dài từ Mông Cổ, Tây Tạng, Mãn châu qua Triều tiên, Nhật bản; phủ trùm lên cả lục địa Trung Hoa; phát một rễ rất vững vàng trên mảnh đất quê hương Việt Nam chúng ta; đâm những cành bóng rợp mát qua ảnh hưởng sâu đậm vào các nền y học
Ả Rập, Ba Tư, Ấn Độ Đông y đã lấy đối tượng phục vụ là khối nhân loại khổng lồ của miền Đông Nam Á, nghĩa là một phần tư nhân lọai Thứ nữa, nó lớn về tuổi tác Năm mươi thế kỷ phồn thực trên lưu vực những con sông Dương tử, Hoàng hà; ba mươi thế kỷ ngự trị bên triền núi cao Phú sĩ, nơi thung lũng dãy Hy mã lạp sơn; không dưới hai mươi thế kỷ bầu bạn với tiền nhân chúng ta qua những Tuệ Tĩnh, Chu văn An, Nguyễn Nho, Lãn Ông … Đông Y đã thực sự vượt ra khỏi thời gian và không gian, đã trở nên một thành phần mật thiết của bầu khí quyển triết lý văn hóa
mà ông cha ta không ngừng hô hấp.”
Lịch sử Đông y bắt đầu từ thời thượng cổ cho đến thời kỳ đồ đá Con người không ngừng đấu tranh với thiên tai, bệnh tật, thú dữ để sinh tồn Dần dần những ý thức về phòng bệnh và chữa bệnh phát triển theo đời sống con người Trong giai đoạn này con người đã biết dùng vật nhọn để châm vào mụn nhọt, khởi đầu của phương pháp châm chích; con người cũng biết dùng lửa để sưởi ấm, xoa bóp giảm đau, khởi đầu cho phương pháp cứu Những hiện tượng chống lại với bệnh tật khởi đầu cho những ý niệm cơ bản về y học, do đó chính đời sống văn hóa xã hội gắn liền với y học
Thời kỳ hái lượm con người đã biết phân biệt động thực vật nào ăn được và làm thuốc trị bịnh Thời kỳ này y học dần dần đi sâu vào lãnh vực dược học Theo truyền thuyết thì vua Thần Nông đã nếm các loài cây cỏ để tìm tính dược của các loại để chữa bệnh
Thời kỳ bộ tộc, con người sống thành quần thể, nhóm có tổ chức tập thể, sinh hoạt văn hóa tiến bộ dẫn đến y học dần dần cũng được xác lập Thời đại nhà
Ân Thương đã chữa được nhiều loại bệnh Trong thời kỳ này con người chưa phân biệt y học và tín ngưỡng Cho nên thường thể hiện bằng lối trị bệnh theo kiểu cúng kiến để trừ tà Người trị bệnh là những pháp sư, thầy pháp, đạo sĩ, đồng thời cũng là thầy thuốc nắm vững y thuật
17
Trang 19Đến thời Xuân Thu Chiến Quốc (771 – 221), xã hội Trung Hoa chuyển sang chế độ phong kiến Thời kỳ này nền văn hóa Trung Hoa tiến bộ vượt bực dẫn đến y học cũng phát triển không ngừng, có những bước ngoặc quan trọng là y học đã có nền tảng lý luận và phát triển nhiều ngành chuyên môn khác nhau Điều quan trọng nhất là các danh y thời này không chấp nhận phương thức trị bệnh của pháp sư, thầy pháp, đồng bóng, cho nên y thuật đã tách rời tín ngưỡng huyền thuật Trong thời
Chiến Quốc các y gia đã tổng kết kinh nghiệm về y học soạn thành quyển Nội Kinh
và mượn danh Hoàng Đế làm tên tác giả Bộ sách này là tác phẩm được giới y học dân tộc các nước phương Đông tham khảo Tác phẩm này ghi chép những vấn đề khái quát cơ bản về y học Trong tác phẩm đã đưa ra những quan điểm tiến bộ đến ngày nay vẫn được xem là chân lý như mối tương quan giữa con người và tự nhiên, mối quan hệ giữa con người và đời sống xã hội đều ảnh hưởng đến bệnh tật Trong suốt giai đoạn Tần Hán trở về trước, có rất nhiều trước tác đều căn cứ từ thuyết âm dương, ngũ hành, thiên nhơn hợp nhất làm cơ bản để ứng dụng và diễn giải chẳng những trong y học mà còn áp dụng và suy diễn đến các ngành khác như thiên văn, phong thủy, tướng số v.v…
Sau Nội kinh các tác phẩm lần lượt ra đời, đó là Thần nông bản thảo, Thương hàn luận và Kim quỉ yếu lược là những tác phẩm kinh điển đầu tiên của y học Trung Hoa Thần nông bản thảo kinh được hình thành từ cuối đời Đông Hán Tác phẩm
tập hợp kinh nghiệm về dược học từ thời Hán trở về trước Tác phẩm này cũng do
sự thêm thắt của danh y thiên về huyền học làm cho y học có phần huyền bí, xa rời thực tế Các nhà huyền thuật sử dụng thuốc với nhiều mục đích khác như thuốc dùng vào việc ướp xác, khoái lạc tình dục và chế tạo thuốc trường sinh bất tử
Thương hàn tạp bệnh và Kim quỉ yếu lược do Trương Trọng Cảnh (Trương Cơ)
sáng tác vào thời Đông Hán Hai tác phẩm này tổng kết kinh nghiệm trị bệnh, phòng bệnh và lý luận thực tiễn lâm sàng, đồng thời thể hiện sự tiến bộ đáng kể về y học trong tiến trình phát triển của Trung y, tác phẩm đã chuyển từ kinh nghiệm thực tiễn
trị bệnh sang lý luận có phương pháp khoa học Qua các tác phẩm Nội kinh, Thần nông bản thảo, Thương hàn luận và Kim quỉ yếu lược cho thấy sự tương quan giữa
văn hóa và y học rất mật thiết, rất nhiều thành tựu của tư tưởng triết học, văn hóa đã
18
Trang 20được ứng dụng vào y học Ngoài các tác phẩm trên còn rất nhiều sáng tác rất giá trị của các danh y thế hệ đời sau
Từ Ngụy Tấn Nam Bắc Triều (220- 589 sau Công nguyên) đến Tùy Đường Ngũ Đại (581 – 960 sau Công nguyên) y học Trung Quốc đã có những thành tựu nổi bật, quan trọng là thời kỳ này y học có khuynh hướng đi sâu vào chuyên môn hóa Hầu hết các khoa đã được các danh y lý giải, chẩn đoán, điều trị và dùng thuốc đều được xử lý sâu sắc có hệ thống và khoa học trong trị bệnh
Từ thời Đường đến thời Minh ( 618 - 1644 ) về phương diện dược học được các danh y sáng tác và tu bổ không ngừng bao gồm các công trình của tập thể và các
sáng tác của cá nhân Các công trình của tập thể, thời Đường có Tân tu bản thảo, thời Ngũ Đại có Thục bản thảo, thời Tống có Khai bảo tân bình định bản thảo, Khai bảo trùng định bản thảo, Gia hữu bổ chú bản thảo Các công trình cá nhân, thời Đường có Bản thảo thập di do Trần Tàng Khí soạn, thời Tống có Nhật hoa tử chư gia bản thảo do một người không rõ danh tánh soạn, Kinh sử chứng loại bị cấp bản thảo do Đường Thận Huy soạn, Bản thảo diễn nghĩa do Khấu Tông Thích soạn
Dược học từ đó trở đi ngày càng phát triển đa dạng Đến thời nhà Minh, có công trình to lớn của danh y Lý Thời Trân là nhà dược học vĩ đại của Trung Hoa Ông đã
tổng kết các kinh sách và thực tiễn kinh nghiệm của ông để biên soạn quyển Bản thảo cương mục bao gồm 1892 dược vật, đồng thời đưa ra cơ sở để phân loại Đến thời nhà Thanh, Triệu Học Mẫn sáng tác Bản thảo cương mục thập di, thêm vào
716 loại thực vật mà Bản thảo cương mục chưa bàn đến
Về các phương diện phương thang trong dược học, quyển Thương hàn tạp bệnh luận của Trương Trọng Cảnh đã sáng tác và ghi chép tất cả các phương thuốc
trị bệnh đầu tiên của Trung Quốc được giới y học tôn là “phương thư chi tổ” Thời
Đường có Thiên Kim yếu phương và Thiên kim dực phương, Ngoại đài bí yếu Thời Tống có Thái bình thánh huệ phương và Tễ cục phương, Tễ sinh phương Thời Thanh có Xuyên nhã nội ngoại biên của Triệu Học Mẫn sưu tập rất nhiều những
phương thuốc dân gian Sách vỡ về dược vật và phương thang được các danh y thu thập từ các nơi thành một kho tàng kinh nghiệm rất có giá trị
19
Trang 21Các sách bàn về chẩn đoán, người xưa cũng có nhiều kinh nghiệm chẩn đoán
Thời Tấn có Vương Thúc Hòa viết mạch kinh Kế thừa cơ sở Nội kinh, các danh y
đời sau cũng theo đó phát triển sâu sắc về mạch học như Cao Dương Sinh, Thôi Tử
Hư, Lý Thời Trân, Lý Sĩ Tài Thời Tùy có Sào Nguyên Phương soạn bộ Chư bệnh nguyên hầu luận, chép hơn 1700 loại bệnh tật, bàn về các triệu chứng của bệnh rất tinh tế Thời Tống có Trần Vô Trạch viết Tam nhân cực nhất bệnh chứng phương luận, quyển sách bàn luận về nguyên nhân gây bệnh Bàn về phương pháp chẩn
đoán xem lưỡi bắt đầu từ thời Nguyên Cho đến thời nhà Thanh, danh y Diệp Thiên
Sĩ viết về Ôn nhiệt luận, trong đó tổng kết các phương pháp chẩn đoán bệnh bằng cách xem lưỡi
Châm cứu có sớm nhất, được bàn luận sâu sắc đầu tiên trong Nội kinh, theo
thời gian ngành châm cứu đạt đến chỗ tinh thâm về lý luận và thực tiễn Các sách
giá trị to lớn về châm cứu sau Nội kinh có bộ Châm cứu giáp ất kinh của Hoàng
Phủ Mật Đời Tống, Vương Duy Nhất tổng hợp tất cả học thuật của châm cứu để
soạn thành tác phẩm Đồng nhân thủ huyệt châm cứu đồ kinh, tác phẩm này là một
công trình giá trị cả lý thuyết lẫn thực hành, Vương Duy Nhất đã đúc tượng hai người bằng đồng (hình người) có ghi huyệt đạo trên hình nhân rất có hệ thống để tiện tham khảo Thời Nguyên, Hoạt Bá Nhân theo kinh nghiệm thực tế đã kết hợp hai mạch Nhâm và Đốc trong kỳ kinh bát mạch vào hệ thống 12 kinh chính, ông
viết cuốn Thập tứ kinh phát huy Thời Minh, Dương Kế Châu tập hợp tất cả các thành tựu đời trước, thêm vào kinh nghiệm trị liệu riêng của ông để soạn bộ Châm cứu đại thành, bộ này mang nội dung khái quát toàn diện về châm cứu từ trước đến
nay
Trong nghiên cứu ngọai khoa, cuối thời Đông Hán danh y Hoa Đà là người sáng tạo phẫu thuật ngoại khoa sớm nhất nhân loại Thật đáng tiếc sách của ông đã không còn lưu truyền lại đời sau Về các phương thuốc điều trị ngoại khoa Lưu Quyên Tử do Cung Khánh Tuyên kết tập được các thuốc điều trị ngoài da, rắn cắn, cầm máu, mụn nhọt, giải độc, giảm đau v.v… Thời Đường, Lân Đạo Nhân soạn
quyển Lý thương tục đoạn bí phương là sách ghi chép chuyên khoa về pháp gãy xương của Trung Quốc Thời Nguyên, Ngụy Diệc Lâm soạn cuốn Thế y diệu đắc phương, sách tổng kết các kinh nghiệm chữa ngoại phương và chữa bị gãy xương
20
Trang 22sống Thời Minh có Trần Thực Công viết Ngoại khoa chính tông Thời Thanh có Vương Hồng Tự viết Ngoại khoa toàn sinh tập bên cạnh đó thì thời nhà Minh, Ngô
Hữu Khả đưa ra thuyết về nguyên nhân gây bệnh truyền nhiễm Ông cho rằng có một loại khí không thuộc lục khí, nó có tên là “lệ khí” Lệ khí là loại khí có tính chất truyền nhiễm ác liệt do khí hậu hạn lâu, nắng gắt sản sinh ra chất độc hại Con người cảm nhiễm phải khí này phát sinh thành bệnh dịch tràn lan, lệ khí này xâm nhập vào miệng và mũi, không đi vào bì phu Đây là phát hiện mới đóng góp cho y học Ngoài ra thời Thanh, Vương Thanh Nhiệm xem trọng khoa giải phẫu, ông viết
bộ Y lâm cải thác đính chính lại những quan niệm sai lầm của sách cũ về mặt mổ
xẻ, đưa ra lý luận các bệnh ung sang, ứ huyết đã đóng góp về mặt thực tiễn cho y học
Như vậy, y học Trung Quốc nói riêng, Đông y nói chung đã tiến bộ về mọi phương diện trên lãnh vực y khoa
Nghiên cứu phụ khoa, có tác phẩm Kim quỉ yếu lược đã bàn đến Thời Đường, danh y Tôn Tư Mạc với tác phẩm Thiên kim yếu phương Cao Ân soạn quyển Kinh hiệu sản bảo Thời Tống có bộ Phụ nhân đại toàn lương phương của Trần Tự Minh
đã tổng kết đầy đủ tất cả sách vở về phụ khoa từ trước Thời Thanh lại có Phó Sơn
soạn quyển Phó thanh chủ nữ khoa đã đóng góp kinh nghiệp và kiến thức về lý luận thai sản rất đầy đủ Thời Minh có Vương Khải Đường viết Nữ khoa chứng trị chuẩn thằng, Thông Hành viết Tế âm cương mục, Vạn Mật Trai viết Vạn thị nữ khoa Phần nhi khoa, thời Tống có bộ Lô Tín kinh và Tiểu nhi dược chứng chân quyết của Tiền Ất, Tiểu nhi đậu chẩn phương luận của Trần Văn Trung Từ thế kỷ
16 đối với bốn chứng chẩn, đậu, kinh, cam là bốn loại bệnh thông thường gặp của trẻ con đã được tích lũy kinh nghiệm và phát huy qua các triều đại
Về các luận thuyết của các y gia Lưu Hoàn Tố, Tự Thủ Chân (giữa khoảng
1115 – 1260) đặc biệt tôn trọng thuyết vận khí Ông cho rằng “ngũ vận lục khí biến hóa có quan hệ mật thiết với bệnh tật con người Sinh khí trong thân thể tuỳ thuộc ngũ vận lục khí hưng suy trong bốn mùa, các thứ khí như phong, thấp, táo, hàn trong bệnh lý có thể hóa theo hỏa sinh ra nhiệt” [Trần Đình Sóc, Nguyễn Danh Lập
1987: 5] Lưu Hoàn Tố cho rằng các bệnh sinh ra trong cơ thể đều thuộc hỏa, đó là
21
Trang 23cách lý luận “lục khí đô tòng hóa hỏa” của ông Đối với bệnh tật của con người, ông luôn chủ trương lý luận và phép trị là giáng tâm hỏa, ích thận thuỷ và thiên về dùng thuốc hàn lương Do đó, Lưu Hoãn Tố trở thành phái chuyên về lý luận “hàn lương” hay phái “chủ hỏa”
Trương Tòng Chính tự Tử Hòa (1155 – 1260) kế thừa các tư tưởng Lưu
Hoàn Tố, thuyết của ông cũng chú trọng hỏa và nhiệt Ông cho rằng: “Chữa bệnh không nên để cho tà khí tồn tại trong cơ thể con người, nếu không khử trừ tà khí thì
sẽ tổn thương chính khí” [Trần Đình Sóc, Nguyễn Danh Lập 1987: 5] Từ luận
thuyết đó, ông lập ra phép hãn, hạ, thổ để công hạ Ông cho rằng triệt tiêu hết tà khí thì chính khí sẽ vẹn toàn, cần chi phải dùng thuốc bổ Trong trị liệu, ông cũng hay dùng thuốc hàn lương và thiên về phép công hạ Do đó, Trương Tử Hòa trở thành trường phái chuyên về lý luận “công hạ”
Lý Cảo, tự Đông Chi, hiệu Đông Viên (1179 – 1251) đưa ra luận thuyết khác
hẳn với hai danh y trên Lý Đông Viên đề xuất: “Tỳ vị tổn thương sẽ phát sinh trăm bệnh” Luận điểm của ông là: “Bệnh nội thương hình thành do nguyên khí trong cơ thể không đầy đủ, nguyên khí không đầy đủ do tỳ vị tổn thương Con người khỏe mạnh hay không do nguyên khí quyết định, nguyên khí hư hay thực do tỳ vị quyết định” [Trần Đình Sóc, Nguyễn Danh Lập 1987: 6] Như vậy, luận thuyết của Lý
Đông Viên chú trọng đến nguyên khí và tỳ vị Ông quan niệm rằng tỳ thổ luôn nắm chủ động về sinh lý, bệnh lý, vì thổ là nguồn gốc sinh ra muôn vật Từ luận điểm đó ông sáng lập phép bổ trung ích khí, thăng dương ích vị trong điều trị bệnh tật Trong chữa bệnh ông luôn chủ trương bổ thổ Do đó, Lý Đông Viên trở thành phái “bổ thổ”
Chu Đan Khê, tự Ngạn Tu, hiệu Chánh hanh (1281 – 1358) quan niệm rằng
“tướng hỏa tác động trong cơ thể là căn nguyên của can thận, can thận mất sự điều hòa cho nên tướng hỏa vọng động sinh bệnh” [Trần Đình Sóc, Nguyễn Danh Lập
1987: 6] Từ luận điểm đó, của Chu Đan Khê sáng lập ra thuyết “Dương thường hữu dư, âm thường bất túc”, ông chữa bệnh tư âm làm đường lối chính Do đó, Chu Đan Khê trở thành trường phái “bổ huyết tư âm”
Đến đời sau, y học lại chia làm nhiều phái Nhưng chung qui chỉ còn hai phái chính là phái thời phương của Tống y và phái kinh phương của Hán y
22
Trang 24Tóm lại, y học Trung Hoa đã hình thành một nền y học cổ truyền lâu đời giá trị đến tầm vóc nhân loại Các phương diện y học và hệ thống luận trị đều mang tính lý luận thực tiễn và khoa học Càng về sau y học Trung Quốc nói riêng, y học các nước dân tộc phương Đông nói chung phát triển đã hình thành một nền y học thuộc phương Đông, đến ngày nay các nhà nghiên cứu y học phương Tây cũng phải ngạc nhiên và phải quan tâm đến Càng về sau, các y gia càng có thêm những phát huy mới thời nào cũng có nhân tài nên nền Đông y của phương Đông không ngừng phát triển
Nhìn chung, người xưa quan niệm y học là phương kỹ (một kỹ thuật hành y) chia y học ra làm bốn loại bao gồm y kinh loại, kinh phương loại, phòng trung loại
và thần tiên loại Bốn loại này là bốn phương diện khác nhau trong một vấn đề y học Y kinh loại bao gồm các sách y học chính thống để phòng và chữa trị cho con người Kinh phương loại bao gồm các sách bàn về các phương thang, dược thảo ứng dụng trong điều trị bệnh tật Phòng trung loại là bàn về phương pháp tình dục như thế nào để bảo tồn nòi giống và khỏe mạnh Thần tiên loại là bàn về các phương pháp điều trị bệnh bằng phương pháp ngoại công tập luyện để có một sức khỏe cường tráng và sống trường thọ Phòng trung loại và thần tiên loại do các nhà danh
y thiên về huyền thuật thêm thắt, bàn luận, phóng đại, cho nên có những vấn đề chưa được kiểm chứng xác thực Trong lịch sử y học, chính vì sự tranh luận giữa các danh y chính thống tuân thủ những nguyên tắc y học và thực tiễn lâm sàng và các danh y thiên về huyền thuật, họ luôn mâu thuẫn, đối kháng lẫn nhau làm cho y học thêm phong phú, đa dạng
1.4 Một số tư tưởng cột trụ làm nền tảng Đông y
1.4.1 Thuyết âm dương
Triết lý âm dương là sản phẩm của các dân tộc phương Đông Khởi điểm phát sinh triết lý âm dương là vùng nông nghiệp lúa nước Đông Nam Á cổ đại Hay nói cách khác là khu vực phương Nam Phương Nam có nghĩa là bao gồm cả vùng Hoa Nam và Bắc Việt Nam Vùng Hoa Nam và Bắc Việt Nam là địa bàn cư trú của chủng Nam Á Triết lý âm dương được người Hán tiếp thu và phát triển hoàn thiện
“Nền văn hóa sông Hoàng Hà đã hấp thu tinh hoa của nền văn hóa nông nghiệp, Nam Á (Bách Việt) và với tư duy phân tích, đã nhanh chóng hệ thống hóa, quy
23
Trang 25phạm hóa để phát triển thành văn hóa Trung Hoa rực rỡ, rồi đến lượt mình, phát huy ảnh hưởng trở lại phương Nam và các dân tộc xung quanh”[Trần Ngọc Thêm
2004 : 66]
Quá trình hình thành triết lý âm dương được bắt đầu từ trong cuộc sống của con người nông nghiệp Người nông dân luôn tiếp xúc với những hiện tượng tự nhiên trong quá trình lao động như cây cỏ, đất đai, sông nước, trời đất, nắng mưa, sấm sét, lạnh nóng, đêm ngày, nhật nguyệt, xuân hạ, thu đông, phương Nam, phương Bắc vô vàn những mặt đối lập trong thiên nhiên Con người nông nghiệp nhận thức rằng trong thiên nhiên các sự vật hiện tượng luôn tồn tại hai chiều, hai mặt, hai phương diện trong một thực thể thống nhất Từ những ý niệm đó, người nông dân dần dần tiến tới xác định bản chất của các mặt đối lập, kết quả tất yếu triết
lý âm dương được hình thành và phát triển Như vậy, triết lý âm dương là sự tổng hợp những tri thức của con người, thông qua những hiện tượng trong vũ trụ Để khái quát hóa, biểu tượng hóa về âm dương, tổ tiên người Nam Á đã dùng ký hiệu biểu thị cho âm là vạch ngắn đứt ( - -) và biểu thị cho dương là vạch dài liền ( )
Âm dương vận hành, biến hóa theo hai qui luật tổng quát :
Quy luật về bản chất các thành tố : không có gì hoàn toàn âm hoặc hoàn toàn dương, trong âm có dương và trong dương có âm Quy luật trên cho thấy âm dương cùng nương tựa nhau tồn tại, có khi đan xen với nhau trong sự phát triển Ví dụ như thể hiện qua sự phân chia thời gian trong một ngày có 24 giờ : ban ngày thuộc dương từ 6 giờ sáng đến 12 giờ trưa là phần dương của dương Từ 12g đến 18 giờ là phần âm của dương; ban đêm thuộc âm, từ 18 giờ đến 24 giờ là phần âm của âm, từ
0 giờ đến 6 giờ là phần dương của âm Từ quy luật trên cho ra hai hệ quả giúp cho việc xác định tính chất âm dương của một đối tượng nào đó Hệ quả một : Muốn xác định tính chất âm dương của một vật trước hết phải xác định được đối tượng so sánh Hệ quả hai : Để xác định tính chất âm dương của một vật, sau khi đã xác định đối tượng so sánh, còn phải xác định cơ sở so sánh nữa
Quy luật về quan hệ giữa các thành tố : âm và dương luôn gắn bó mật thiệt với nhau, vận động và chuyển hóa cho nhau: âm phát triển đến cùng cực thì chuyển thành dương, dương phát triển đến cùng cực thì chuyển thành âm
Quy luật trên nói lên sự vận động chuyển hóa không ngừng của hai mặt âm dương Như khí hậu bốn mùa trong một năm luôn biến đổi từ lạnh sang nóng, từ
24
Trang 26nóng sang lạnh Từ lạnh sang nóng là quá trình âm tiêu dương trưởng, từ nóng sanh lạnh là quá trình dương tiêu âm trưởng Do đó, mà cơ thể con người và vũ trụ biến đổi không ngừng Vận động của hai mặt âm dương mang tính giai đoạn, tới mức độ nào sẽ chuyển hóa gọi là dương cực sinh âm và âm cực sinh dương Hàn cực sinh nhiệt và nhiệt cực sinh hàn Do đó, trong quá trình phát triển của bệnh
tật việc xác định bản chất là âm hay dương vô cùng quan trọng
Các quy luật âm dương và phạm trù của nó được biểu diễn bằng
một hình tròn, có hai hình cong chia diện tích làm hai phần bằng nhau
phản ánh toàn bộ hai quy luật về bản chất, và chuyển hóa của triết lý âm
dương Một phần là âm, một phần là dương Trong phần âm có phần
dương và trong phần dương có phần âm
Nguyên Lý âm dương
1.4.2 Thuyết ngũ hành
Triết lý ngũ hành thể hiện rõ cơ thể con người như một chỉnh thể thống nhất
và tác động qua lại với nhau giữa các bộ phận Triết lý ngũ hành là những khái niệm mang tính khái quát, trừu tượng đầu tiên của con người phương Đông, nhằm giải thích nguồn gốc và quá trình tiến hóa của con người và vũ trụ Ngũ hành gồm có năm thành tố là thủy–hỏa-mộc–kim–thổ, mỗi thành tố mang tính chất và đặc trưng riêng Thứ tự của ngũ hành đựơc sắp xếp theo một trật tự nhất định, ban đầu là thủy–hỏa–mộc–kim–thổ, về sau được biến đổi thứ tự là kim-mộc–thủy–hỏa–thổ Căn cứ vào tính chất của ngũ hành, người xưa đem tất cả các sự vật hiện tượng quy nạp vào ngũ hành để làm cơ sở giải thích mối quan hệ và vận động chuyển hóa lẫn nhau của vạn vật Vì thế triết lý ngũ hành cùng với triết lý âm dương là sản phẩm của tư duy tổng hợp và trọng quan hệ của người phương Đông
Ngũ hành vận động theo một quy luật nhất định, đó là quy luật tương sinh, tương khắc, tương thừa, tương vũ Đây là đường lối tư duy tổng hợp đặc thù của con người phương Đông, luôn quan niệm vạn sự vạn vật không cô lập tồn tại, chúng luôn vận động chuyển hóa, chồng chéo lẫn nhau tạo thành một sự tuần hoàn không gián đoạn, không ngừng nghỉ trong vũ trụ
Ngũ hành tương sinh là quá trình vận động giữa các thành tố của ngũ hành, chúng liên hệ, xâm nhập chuyển hóa cho nhau Tương sinh có nghĩa là hỗ trợ giúp
đỡ của hành này cho hành kia phát triển Quan hệ này thiết lập trật tự theo chiều kim đồng hồ Trong mối quan hệ tương sinh không có sự cắt nhau mà theo một trật
25
Trang 27tự nhất định Trong mối quan hệ tương sinh, kết quả mỗi hành đều có hai mối quan
hệ, đó là cái nó sinh ra và cái sinh ra nó Quan hệ tương sinh được biểu diễn như sau:
• Thủy sinh Mộc (nước giúp cho cây cối tươi tốt)
• Mộc sinh Hỏa ( gỗ làm nguyên liệu cho lửa cháy)
• Hỏa sinh Thổ (tro bụi do lửa đốt cháy làm cho đất mầu mỡ)
• Thổ sinh Kim (trong lòng đất sinh ra kim loại)
• Kim sinh Thủy ( kim loại nóng chảy trở về thể lỏng)
Hình 1 : Ngũ hành tương sanh
Ngũ hành tương khắc có nghĩa là ức chế, ngăn cản, loại trừ nhau Mối quan
hệ này được thiết lập theo trật tự ngược chiều kim đồng hồ, hành này gây trở ngại hành kia theo trật tự nhất định Mỗi hành đều có hai mối quan hệ tương khắc là cái
nó khắc và cái khắc nó biểu hiện như sau:
• Thủy khắc Hỏa (nước dập tắt lửa)
• Hỏa khắc Kim (lửa nung chảy kim loại)
• Kim khắc Mộc (dao chặt cây)
• Mộc khắc Thổ (cây hút chất màu của đất) Hình 2 : Ngũ hành tương khắc
• Thổ khắc Thủy (Đất đắp đê ngăn nước)
Quy luật tương sinh, tương khắc của ngũ hành là hai con đường vận động thể hiện mối quan hệ thống nhất của vũ trụ và con người Trong tương sinh đã nảy sinh tương khắc và trong tương khắc đã có tương sinh, tương khắc và tương sinh là hai mặt của một vấn đề thống nhất Chỉ cần một bên bị phá vỡ, có sinh mà không có khắc và ngược lại có khắc mà không có sinh thì vạn vật không có sự sinh hóa, thế giới vạn vật không tồn tại Tư duy nhận thức của người phương Đông luôn hướng tới khái niệm tổng thể, toàn diện, bao trùm Cho nên lối tư duy tổng hợp là đặc điểm của con người phương Đông, từ trừu tượng hóa, khái quát hóa trong nhận thức vạn
sự vạn vật, người xưa không dừng ở quy luật sinh khắc, mà còn xây dựng quy luật tương thừa, tương vũ trong ngũ hành Quá trình sinh khắc trong ngũ hành mất cân bằng sẽ xảy ra hiện tượng gọi là tương thừa, tương vũ
Tương thừa có nghĩa là lấn áp, xâm phạm, hành này khắc hành kia mạnh quá, gọi là tương thừa Tương vũ có nghĩa là tạng này không khắc được tạng kia gọi
là tương vũ Ý muốn nói, bản thân hành nào đó trong ngũ hành quá thịnh, thì hành
26
Trang 28vốn khắc nó không những không chế được nó mà còn bị nó xâm lấn, tác động ngược trở lại, có nghĩa là không khắc được nhau, đó là sự phản khắc Như vậy, sự thịnh suy quá độ của các hành sẽ gây sự vận hành không cân đối sinh ra các hiện tượng mất cân bằng trong vũ trụ, trong con người Thí dụ, trong ngũ hành thì hành hỏa khắc hành kim Trong trạng thái bình thường hỏa khắc kim cân đối quá trình khắc chế bình thường, nhưng nếu hỏa quá mạnh, sẽ lấn át kim (vàng bị đốt), hiện tượng này gọi là tương thừa, nhiều khi hỏa quá yếu thì kim sẽ quật trở lại diệt hỏa (bị dập tắt) hiện tượng này gọi là tương vũ
Tương sinh Tương khắc Tương thừa Tương vũ
Hình 3 : Ngũ hành tương sinh
tương khắc (trái)
Hình 4 : Mô hình chế hóa của ngũ hành
a) Ngũ hành tương sinh; b) Ngũ hành tương khắc; c) Quan hệ chế hóa
Bằng nhận thức tư duy tổng hợp, người xưa tiến thêm một bước cao, là đã kết hợp thuyết âm dương, ngũ hành để giải thích toàn bộ cấu trúc của con người và
vũ trụ thành một chỉnh thể toàn diện, thuyết ngũ hành trong hệ thống luận trị Đông
y đã giải thích toàn bộ mối quan hệ giữa các cơ quan chức năng trong cơ thể Từ thuyết ngũ hành phát triển thêm các thuyết đặc thù của Đông y để lý giải toàn bộ hệ
thống luận trị của Đông y, đó là thuyết tạng tượng, thuyết kinh lạc
1.4.3 Thuyết tạng tượng
Khái niệm “Tạng” là các tổ chức cơ quan trong cơ thể, “Tượng” là biểu hiện của hình thái sinh lý, bệnh lý của nội tạng phản ánh ra bên ngoài cơ thể Vì thế quan sát cơ thể sống để nghiên cứu qui luật hoạt động của nội tạng gọi là “tạng tượng”[Trần Thúy, Phạm Duy Nhạc 1994: 32] Học thuyết tạng tượng không dựa
vào giải phẩu học, mà dựa trên quan điểm con người và hoàn cảnh bên ngoài là một thể thống nhất Thông qua quan sát, nghiên cứu thực tiễn chữa bệnh, có thể nhận thức về học thuyết tạng tượng như sau : Mỗi một tạng chủ yếu bao gồm cơ năng hoạt động sinh lý của tạng đó và mối liên hệ hữu cơ giữa tạng đó với tạng khác Hệ thống hoạt động và tổ chức cơ quan có mối liên hệ lẫn nhau trong hoạt động của các
27
Trang 29tạng Học thuyết tạng tượng đã phản ảnh đầy đủ sự thống nhất trong nội bộ cơ thể,
và sự thống nhất giữa cơ thể với hoàn cảnh bên ngoài Tính thống nhất này biểu hiện ở mọi hoạt động trong hệ thống ngũ tạng
Nội dung của học thuyết tạng tượng bao gồm mọi tổ chức cơ quan trong nội
bộ cơ thể con người, và các qui luật âm dương, ngũ hành thống lãnh mọi hoạt động của tạng tượng Tùy theo vai trò, tính chất và công năng của mỗi cơ quan trong tạng phủ mà phân loại, quy nạp theo âm dương, ngũ hành Những tổ chức cơ quan có hệ thống như ngũ tạng, lục phủ, phủ kỳ hằng, ngũ quan, cửu khiếu, tinh, khí, thần đều vận động theo quy luật của cơ thể con người và ngoài giới tự nhiên Tạng tượng gồm hai phần Một, các cơ quan bộ phận hợp thành hệ thống đó là Tạng : các cơ quan nội tạng Hai, cơ năng hoạt động và tính chất của các cơ quan trong mối quan
hệ giữa các tạng, đó tức là tượng (hình tượng, biểu tượng) hình thái và cơ năng Nói đến cơ thể học trong tạng tượng, Đông y không phân chia thành các bộ phận, hoạt động riêng rẽ như y học phương Tây (Bộ máy hô hấp, hệ tuần hoàn, hệ tiêu hóa, hệ thần kinh, hệ bài tiết) mà chúng kết hợp tất cả các cơ quan bộ phận cùng thực hiện những chức năng nhất định thành những hệ thống liên hệ chặt chẻ trong hệ thống luận trị Nói đến sinh lý học trong tạng tượng, người xưa chú ý đến năm cơ quan chung nhất, quan trọng nhất, qui định hầu hết các hiện tượng lâm sàng, sinh lý và bệnh lý học của các cơ quan bộ phận trong toàn thân Năm cơ quan của từng tạng kết hợp với nhau để tạo nên cơ năng chung của tạng tượng, biến ứng năm khí ngũ tạng là : cơ năng phát động thuộc mộc, đó là vận động của thần kinh, cơ thịt Cơ năng phát triển thuộc tâm (tâm bào) thuộc hỏa, đó là vận động sản sinh ra năng lượng cho quá trình chuyển hóa khí huyết Cơ năng tiết xuất thuộc tỳ thổ, đó là vận động đưa các chất dinh dưỡng để nuôi cơ thể, đưa các chất ra ngoài cơ quan bộ phận của mình Cơ năng hấp thụ thuộc phế kim, đó là vận động thu hút các chất từ
cơ quan bộ phận khác vào cơ quan bộ phận mình Cơ năng tàng trử thuộc thận thủy,
đó là vận động dự trữ chất ở trong cơ quan bộ phận của mình Năm cơ quan nói trên của tạng tượng, đã diễn ra trong cả hệ thống tạng tượng để tạo ra và duy trì mọi chức năng của cơ thể Trong cơ thể con người, người xưa đã xây dựng được mười hai mô hình cơ thể sinh lý học với mười hai hệ thống tạng tượng Người xưa mượn tên để đặt tên cho mười hai tạng tượng là : can, tâm, tỳ, phế, thận, tâm bào, đởm, tiểu trường, đại trường, vị, tam tiêu, bàng quang Mười hai tên trên là mười hai cái
28
Trang 30tên của mười hai hệ thống cơ thể sinh lý tạng tượng chớ không phải là mười hai tên của mười hai cơ quan trong cơ thể học Mỗi tên đều mang nội dung phức tạp phong phú hơn những cơ quan cụ thể
Quan niệm chỉnh thể là một trong những đặc điểm cơ bản của văn hóa nông nghiệp nói chung và của Đông y nói riêng Đối với vạn sự vạn vật, Đông y đều từ quan điểm trọng quan hệ của văn hóa phương Đông, các sự vật luôn liên quan với nhau, dựa vào nhau, chế ước lẫn nhau, nhưng luôn thống nhất Sự thống nhất biểu hiện rất chặt chẽ và giữa tạng với tạng, giữa phủ với phủ, giữa phủ với tạng, giữa tạng phủ với thiên nhiên Để cho thấy mối quan hệ toàn cảnh của ngũ hành trong con người
1.4.4 Thuyết kinh lạc
Thuyết kinh lạc cùng với thuyết âm dương ngũ hành, thuyết tạng tượng, thuyết tam tài, thuyết vận khí xây dựng nên hệ thống luận trị của Đông y Thuyết
kinh lạc xuất hiện sớm nhất Khi tác phẩm Hoàng đế nội kinh ra đời, con người biết
dùng châm cứu và án ma để điều trị bệnh tật, lúc đó chưa có phương pháp dùng thuốc Thuyết kinh lạc là hệ thống lý luận đặc thù của Đông y, nói về sự vận hành của âm dương ngũ hành trên các đường kinh mạch của con người kết thành chỉnh thể thống nhất Kinh lạc là tên gọi chung của kinh mạch và lạc mạch trong cơ thể, kinh là đường thẳng, là cái khung của hệ kinh lạc đi ở phần sâu, còn lạc là đường ngang từ kinh mạch chia ra làm thành mạng lưới đi khắp cơ thể và đi ở phần nông Cấu tạo của hệ thống kinh lạc bao gồm mười hai đường kinh mạch chính, mười hai kinh biệt đi ra từ mười hai kinh chính, mười hai kinh cân nối liền các đầu xương ở
tứ chi đi ở phần ngoài, không nối với tạng phủ, bát mạch kỳ kinh, mười lăm biệt lạc,
365 lạc rất nhiều tôn lạc
( 1) Mười hai đường kinh chính trong hệ thống kinh lạc
Mười hai đường kinh chính trong hệ thống kinh lạc là những đường kinh vận
hành khắp toàn thân theo quy luật nhất định của nó “Thiên Hải luận” sách Linh khu viết : “Mười hai kinh mạch trong thì thuộc với tạng phủ, ngoài thì chằng với tay
chân khớp xương” [Huỳnh Minh Đức 1989: 604] Điều 23 trong Nạn kinh nói :
“Kinh mạch là để vận hành khí huyết thông lợi âm dương, làm cho thân thể vinh nhuận 15 biệt lạc, đều theo chỗ hội tụ của nó như các vòng không đầu mối, chuyển vận để tươi nhuận khắp cơ thể” [Huỳnh Minh Đức 1988: 128] Như vậy, hệ thống
29
Trang 31kinh lạc của mười hai kinh chính có vai trò vận hành tuần hoàn không ngừng, thông đạt âm dương, làm cho gân xương, da thịt, các tổ chức khí quan đều được nuôi dưỡng, duy trì hoạt động bình thường của con người Cho nên, nắm vững hệ thống và quy luật vận hành bình thường của mười hai kinh chính thì mới phát hiện
dấu hiệu bệnh lý khi xảy ra trên các đường kinh “Thiên Kinh mạch” sách Linh khu nói : “Kinh mạch có thể quyết đoán được sống chết, xử lý được trăm bệnh, điều hòa được hư thực, không thể không thông hiểu được” [Huỳnh Minh Đức 1989: 254]
Mười hai kinh chính là mười hai kinh mạch của tạng phủ, cũng là những đường kinh chủ của hệ thống kinh lạc, chúng liên hệ nhau tạo thành một chỉnh thể biểu hiện qua sự vận hành biểu lý tương truyền, thượng hạ tương truyền, nghĩa là kinh
âm chủ ở lý, kinh dương chủ ở biểu, tức là quan hệ giữa âm dương phối hợp nhau, kinh âm thuộc tạng liên hệ với kinh dương thuộc phủ Thượng hạ tương truyền cũng
là quan hệ giữa thủ kinh và túc kinh truyền dẫn lẫn nhau Như vậy sự tuần hoàn trên dưới, trong ngoài chặt chẽ Căn cứ vào sự tuần hoàn của mười hai đường kinh làm
cơ sở cho lý luận Đông y Khi có bệnh lý xảy ra, thường lưu ý đến bản thân đường kinh đó, sự truyền dẫn của chúng và những mối tương quan với các đường kinh khác, và mối liên hệ với tạng phủ của đường kinh đó Cho nên, luôn đứng trên lập trường tổng hợp để quan sát, lý luận mọi diễn biến của sinh lý và bệnh lý của con người mới đạt đến toàn diện
( 2) Kỳ kinh bát mạch trong hệ thống kinh lạc
Kỳ có nghĩa là đơn độc, gọi là kỳ kinh, vì là những đường kinh không phối hợp về âm dương, biểu lý một cách cố định Kỳ kinh bát mạch là những đường kinh vận hành khác đường với mười hai kinh chính, có tác dụng điều tiết khoảng giữa mười hai kinh chính Kỳ kinh bát mạch bao gồm tám kinh mạch, đó là Đốc mạch, Nhâm mạch, Xung mạch, Đới mạch, Âm kiểu, Dương kiểu và Âm duy, Dương duy Người xưa kết hợp mười hai kinh chính với mạch Nhâm và Đốc thành hệ thống vận hành kinh mạch chủ yếu của toàn thân Căn cứ vào phạm trù hoạt động của mỗi kinh mạch mà quan sát, lý luận khi bệnh lý xảy ra cho con người
( 3) Mười hai kinh biệt trong hệ thống kinh lạc
Kinh biệt là những đường kinh nhánh của mười hai kinh chính, còn gọi là chính kinh biệt hành Các đường kinh này có nhiệm vụ nối các kinh âm với kinh dương để phối hợp biểu lý Đường vận hành của kinh biệt vượt ra ngoài mối quan
30
Trang 32hệ phối hợp trong ngoài lẫn nhau của sáu kinh dương, sáu kinh âm Người xưa gọi
là lục hợp Lục hợp bao gồm : một, Túc thái dương với túc thiếu âm dưới thì hợp ở khoeo chân trên thì hợp ở sau gáy Hai, Túc thiếu dương với túc quyết âm cùng hợp nhau ở chỗ lông mu Ba, Túc dương minh với túc thái âm hợp nhau ở háng Bốn, Thủ thái dương với thủ thiếu âm hợp nhau ở đầu và mắt Năm, Thủ thiếu dương với thủ quyết âm hợp nhau ở dưới hoàn cốt Sáu, Thủ dương minh với thủ thái âm hợp nhau ở cuống họng Lục hợp nói rõ hai kinh âm dương của sáu tổ chức liên hệ chặt chẽ với nhau Căn cứ vào chỗ ra, vào, ly, hợp của kinh biệt, biểu hiện đường thông trong thân thể với tạng phủ của các kinh mạch càng trở nên chặt chẻ hơn qua các đường kinh biệt Phạm vi sinh lý và bệnh lý, nhất là vùng đầu mặt đều có tác dụng trên một số đường kinh biệt
( 4) Mười hai đường kinh cân trong hệ thống kinh lạc
Các kinh này tuần hoàn phần ngoài thân thể và chân tay, các đốt xương không vào trong nội tạng, nên gọi là kinh cân Đặc điểm chủ yếu của kinh cân là vượt ra ngoài tổ chức của kinh lạc, nó ở phía ngoài thân thể con người, không như mười hai kinh chính vận hành cả trong lẫn ngoài và các kinh biệt thì chú trọng ở tạng phủ Theo chỗ khởi hành và kết thúc của các kinh cân đều từ ngón chân, ngón tay, đi qua chỗ đốt xương cổ tay, khuỷu tay, nách, vai, mắt cá, đầu gối, đùi, háng, rồi chia ra ở ngực, lưng, đến đầu mình, có nhiều bộ vị kinh cân đến mà các đường kinh khác không đến Bệnh ở kinh cân phần nhiều thuộc gân, thịt, đầu,mình Mười hai kinh cân bao gồm các kinh cân thủ túc Thái dương, kinh cân thủ túc Thiếu dương, kinh cân thủ túc Dương minh, kinh cân thủ túc Thái âm, kinh cân thủ túc Thiếu âm, kinh cân thủ túc Quyết âm
Mười lăm biệt lạc là chi nhánh từ các kinh đi ra, đảm nhiệm sự liên lạc giữa kinh này với kinh kia gọi là biệt lạc Biệt lạc gồm có mười hai biệt lạc của mười hai kinh mạch, hai mạch Nhâm, Đốc và đại lạc của tỳ Mỗi kinh đều có một lạc để liên lạc kinh âm và kinh dương và truyền dẫn qua lại giữa kinh âm và kinh dương làm thành một sợi dây chằng liên lạc với Mạch xung; biệt lạc của Đốc đường chạy riêng
về thái dương liên lạc với mạch Nhâm và kinh mạch túc thiếu âm Tỳ có một đại lạc riêng có thể tổng quát các lạc của âm dương Phương hướng tuần hoàn của đại lạc của mười hai kinh phần nhiều ở chân tay, đến tạng phủ, đầu mặt nhưng không sâu, dài bằng các đường kinh Cho nên bệnh của các đường lạc phần nhiều không phức
31
Trang 33tạp như bệnh của kinh Ngoài ra, 365 lạc chạy khắp toàn thân, đối xứng hai bên tả hữu, chỗ mà các lạc ấy hội với kinh mạch là chỗ của 365 huyệt, cho nên gọi là 365 huyệt hội
Tiểu kết chương 1
Đông y là thuật ngữ dùng để chỉ nền y học cổ truyền Trung Quốc, Việt Nam
và các nước Đông Á Trong Đông y mọi lý luận, điều trị dựa trên nền tảng triết học
cổ Trung Hoa như thuyết âm dương, thuyết ngũ hành, thuyết tạng tượng, thuyết kinh lạc Trong khi đó, y học hiện đại phương Tây hay Tây y đứng trên quan điểm khoa học cho rằng bệnh là do rối loạn một số chức năng nào đó trong cơ thể đòi hỏi phải chứng minh, xác định dựa trên dịch tể học, giải phẫu học, sinh lý học, vi sinh học v.v… từ đó truy tìm phép chữa và phòng ngừa Tất cả các phương pháp, từ thuốc nội khoa cho đến thuốc ngoại khoa, trước khi phổ biến sử dụng cho con người đều phải qua sự thẩm định, xét nghiệm và qua nghiên cứu thống kê mới được cộng đồng chấp nhận Y học Trung Hoa có một quá trình lịch sử lâu đời, hệ thống luận trị của y học dần dần hình thành và phát triển vững mạnh Từ thời viễn cổ cho đến các triều đại phong kiến, y học Trung Hoa không ngừng phát triển các phương diện để mang đến sức khỏe cho con người Trong suốt quá trình y học lịch sử luôn gắn liền với đời sống văn hóa xã hội Bởi vì văn hóa phát triển đưa đến nhận thức con người càng cao thì y học càng tiến bộ
Nghiên cứu văn hóa học y học, tất cả các dân tộc đều phải ứng phó với những thách thức của bệnh tật để sinh tồn và khỏe mạnh Những nền văn hóa khác nhau đưa đến những lý thuyết về bệnh tật và cách thức giải quyết khác nhau Văn hóa học với tư cách ngành khoa học khám phá, sự nghiên cứu tác động qua lại giữa con người, môi trường, xã hội để ứng phó với bệnh tật trong mỗi nền văn hóa Luận văn sử dụng phương pháp so sánh loại hình Đông y và Tây y trong quan hệ văn hóa
phương Đông và văn hóa phương Tây Chúng tôi kế thừa lý luận từ công trình Tìm
về bản sắc văn hóa Việt Nam của Trần Ngọc Thêm phân biệt sự khác nhau và so
sánh những đặc trưng của hai loại hình văn hóa Hai loại hình văn hóa, đó là loại hình văn hóa gốc nông nghiệp trọng tĩnh, trọng âm và loại hình văn hóa gốc du mục
32
Trang 34trọng động, trọng dương Từ sự khác nhau cơ bản của lối tư duy phân tích phương Tây và lối tư duy tổng hợp phương Đông của hai loại hình văn hóa đưa đến quan niệm về con người và vũ trụ rất khác nhau, cũng dẫn đến lý luận và điều trị trong y học khác nhau Cho nên, nghiên cứu y học tức là nghiên cứu bộ phận quan trọng
trong nền văn hóa của mỗi dân tộc
33
Trang 35Chương 2
TÍNH TỔNG HỢP TRONG
HỆ THỐNG LUẬN TRỊ ĐÔNG Y
2.1 Tính tổng hợp trong lý luận Đông y
Lý luận Đông y thể hiện rõ tư duy tổng hợp
2.1.1 Lý luận Đông y xem xét cơ thể con người như một chỉnh thể thống nhất với quan hệ hữu cơ giữa các cơ quan
Đối với cơ thể con người, Đông y có một cái nhìn bao quát toàn thể về quan
hệ giữa các bộ phận trong cơ thể Đông y quan niệm các cơ quan trong cơ thể không phải là những bộ phận riêng lẻ, từng chức năng riêng biệt mà tất cả các tổ chức trong cơ thể luôn tồn tại trong cái tổng thể mà nó là thành phần Các cơ quan trong
cơ thể tuy có sự khác biệt nhau về chức năng, về đặc điểm, tính chất nhưng chính sự khác nhau của từng tính phận của mỗi cơ quan đã giúp cho sự điều hòa sinh lý bình thường của toàn thân Mỗi cơ quan trong cơ thể vốn dĩ chằng chịt, phụ thuộc vào nhau trong một cơ thể sống, đồng thời chúng luôn tiến hành đúng theo quy luật trong cộng đồng cơ thể Vì thế, thầy thuốc Đông y luôn xem xét cơ thể con người một cách toàn diện và đặt chúng trong mối quan hệ để khám phá bệnh tật Cho nên bệnh ở tạng tâm không chỉ là bộ phận của tâm mà còn là một hệ thống của tạng tâm với mối liên hệ của nó với tạng thận, tạng tỳ, tạng can Từ đó, định hướng xử lý toàn cảnh khi có bệnh tật xảy ra và phương thức nâng cao tổng trạng cơ thể là chiến thuật luôn được đề cao Do đường hướng tổng hợp bất phân cho nên Đông y chủ trương toàn khoa mà không phân thành chuyên khoa.Thầy thuốc Đông y xử lý mọi trường hợp và mọi phương diện đều trên lập trường cơ thể con người là một chỉnh thể với quan hệ hữu cơ giữa các cơ quan Trong khi đó, Tây y xem xét cơ thể con người bằng tư duy phân tích, xem xét tập trung vào cơ quan hay bộ phận bị bệnh, cho nên tiến hành khám phá bệnh tật bằng cách tổng kiểm tra từng bộ phận, phân tích chi li, cân đo số liệu Sau đó, mở cuộc tấn công vào cứ địa của vi trùng để triệt tiêu tận gốc Điều quan trọng là Tây y không quan tâm đến mối quan hệ qua lại giữa các bộ phận trong cơ thể, do đó Tây y chia cơ thể ra từng bộ phận để phân khoa,
34
Trang 36mỗi khoa chuyên môn về một lãnh vực Mỗi chuyên khoa lại chia thêm từng khoa nhỏ hơn nữa Bác sĩ chuyên về phổi, bác sĩ chuyên về tim mạch v.v… Đôi khi gặp những bệnh khó khăn, các bác sĩ thường hợp lại với nhau để hội chẩn lấy ý kiến chung nhất, kết hợp sự hiểu biết của mỗi bác sĩ để tiến hành điều trị hay khảo sát tâm, sinh lý bệnh nhân Như vậy, Tây y không quan niệm cơ thể con người là một chỉnh thể bất phân mà luôn phân tích, chia cắt, mổ xẻ để tiến hành các vấn đề y khoa
Ngũ tạng bao gồm: Tâm là tạng hỏa, hỏa sinh thổ, nên tâm là mẹ của tỳ, tâm chủ về huyết, tương ứng với mùa hạ, phương Nam, ngoài khai khiếu ở lưỡi, thể hiện mượt mà ở mái tóc, tinh hoa tươi tốt ở sắc mặt, sắc của hỏa chủ về đỏ Tạng tâm cùng với phủ tiểu trường quan hệ biểu lý với nhau Công năng chủ yếu của tâm là
chủ thần minh Thần minh là hoạt động tinh thần, ý thức tư duy Sách Tố vấn, “ Thiên Linh lan bí điển luận” nói : “Tâm giữ chức vụ quân chủ, thần minh từ đó mà
ra, cho nên chủ không sáng suốt thì mười hai tạng đều nguy” [Nguyễn Tử Siêu
1992: 120] Tâm cùng phế ở bộ vị thượng tiêu
Can là tạng mộc, chủ về sơ tiết, coi sự phân bố dương khí toàn thân, tương ứng với khí sinh phát của mùa xuân, can với đởm cùng biểu lý với nhau, thuộc
phương Đông Sách Tố vấn, “ Thiên Linh lan bí điển luận” : “Can giữ chức tướng quân trong cơ thể, can tàng huyết khác với tâm chủ huyết chỉ vào sự điều tiết lượng huyết, can và thận ở vị trí hạ tiêu Can là mẹ, tâm là con” [Nguyễn Tử Siêu 1992: 151] “ Thiên Ngũ tạng sinh thành” sách Tố vấn nói “Người ta ngủ thì huyết vào can” [Nguyễn Tử Siêu 1992: 146], can khai khiếu ra mắt, can chủ gân, tinh hoa của
can phô ra ở móng tay, móng chân
Tỳ là tạng thổ, tỳ vị cùng biểu lý với nhau, bộ vị tỳ và vị ở trung tiêu Tỳ chủ việc vận hóa Sự hấp thu và tiêu hóa thức ăn và quá trình vận chuyển tân dịch là do
tỳ vị Tỳ chủ về việc vận hóa chất tinh vi trong đồ ăn uống, cho nên tỳ được các danh y gọi là “nguồn gốc hậu thiên” Tỳ chủ về tứ chi cơ nhục toàn thân Tỳ thống huyết cho nên tỳ có quan hệ chặt chẽ với huyết, huyết là tinh khí của đồ ăn uống
hóa ra, cho nên tỳ còn mệnh danh là “nguồn sinh ra huyết, tâm tàng trữ huyết”
Phế là tạng thuộc kim, phương Tây, ứng với mùa thu, phế khai khiếu ở mũi, cùng với đại trường biểu lý với nhau Phế chủ khí, chủ về hô hấp Phế trợ cho tạng tâm trong việc điều tiết, tức là tâm là vòng tuần hoàn lớn, phế là tuần hoàn nhỏ
35
Trang 37Tâm chủ huyết, phế chủ khí, tuần hoàn khí huyết do hai tạng này chủ trì Phế chủ túc giáng, sự vận hành bài tiết dịch có liên quan đến vai trò của khí ở phế, nếu phế không còn khả năng tuyên giáng thì việc bài tiết trắc trở Cho nên, y học quan niệm
“phế là nguồn nước trên”
Thận là tạng thuộc thủy, phương Bắc, mùa đông, đóng vai trò quan trọng trong ngũ tạng lục phủ, thận cùng với bàng quang biểu lý với nhau, thận khai thiếu
ở tai, vinh nhuận ra tóc, thận giữ vai trò tàng tinh, thận chủ thủy, thận chủ mệnh môn, mệnh môn là tạng liên hệ chặt chẽ với thận, rất quan trọng trong cơ thể Nguyên khí tiên thiên tàng chứa ở mệnh môn Cho nên Đông y quan niệm : “nguồn gốc tiên thiên ở thận”
Giữa ngũ tạng, lục phủ có mối quan hệ gọi là biểu lý tương hợp Thí dụ như quan hệ phế với đại trường, tâm với tiểu trường v.v… Giữa tạng với tạng cũng có mối quan hệ với nhau như phế thận, tỳ thân, tâm thận, tâm tỳ v.v… mối quan hệ này thể hiện bình thường của cơ thể, nhưng khi xảy ra bất thường thì xuất hiện hàng loạt những chứng trạng của chính nó, liên hệ gần với nó, liên hệ xa với nó, tùy trường hợp bệnh tình mà biểu hiện Ngoài ra, còn có mối quan hệ giữa ngũ tạng và ngũ quan như tai, mắt, mũi, lưỡi, miệng thông với tinh khí của ngũ tạng Cửu khiếu
là hai tai, hai mắt, miệng, mũi, lưỡi và tiền âm, hậu âm, chín khiếu liên hệ chặt chẽ với tạng phủ Tai thông với thận, mũi với phế, mắt với can, miệng với tỳ, tiền âm với can thận, hậu âm với phế thận Như vậy, tạng phủ trong cơ thể liên hệ với các chức năng khác trong cơ thể tạo thành một chỉnh thể thống nhất Vì thế, hệ thống luận trị Đông y dựa trên quan điểm toàn diện chỉnh thể và các mối liên hệ qua lại với nhau
Lục phủ bao gồm Đởm, Vị, Bàng quang, Tiểu trường, Đại trường, Tam tiêu Công năng lục phủ là tiêu hóa thức ăn uống và hấp thu phân bố tân dịch,bài tiết phế liệu, cặn bã, lục phủ còn gọi là phủ truyền hóa Tam tiêu là đường nguyên khí chuyển hóa ra vào, tam tiêu chủ khí, chủ thủy, thống lãnh toàn bộ hoạt động khí hóa trong cơ thể Thượng tiêu từ họng xuống miệng trên dạ dày, trung tiêu ở trung quản
vị, hạ tiêu từ trung tiêu xuống chỗ bụng dưới Như thế, có thể thấy được thượng, trung, hạ của tam tiêu bao gồm đủ ngũ tạng lục phủ, mười hai đường kinh mạch Tam tiêu có công năng hô hấp, tiêu hóa thức ăn uống, hấp thu bài tiết, Ngoài ra còn
36
Trang 38một phủ đặc biệt, người xưa gọi là phủ kỳ hằng bao gồm não, tủy, xương, mạch, đởm và tử cung
2.1.2 Lý luận Đông y xem xét quan hệ giữa thể xác và tinh thần, giữa sinh lý học và tâm lý học
Lý luận Đông y thể hiện rõ tư duy tổng hợp qua xem xét con người cả hai mặt thể xác và tinh thần Xem xét thể xác của con người là quan sát những vấn đề thuộc về bên ngoài, đó là phần thân xác của con người và phần vật chất Phần thân xác bao gồm những hoạt động sinh lý, bệnh lý trong cơ thể con người Phần vật chất bao gồm những vấn đề nhu cầu sống, ăn, mặc, ở và cách sống của con người trong một cộng đồng xã hội Xem xét tinh thần của con người là quan sát những vấn đề thuộc về bên trong đời sống nội tâm của con người như đời sống tình cảm, hành vi,
cá tính, lý trí, những vấn đề sâu sắc nhất, cốt yếu nhất, ẩn sâu trong tâm hồn con người Tây y cũng xem xét con người bao gồm các ngành đi sâu vào thể xác và tinh
thần của con người, đó là ngành sinh lý học, sinh học và tâm lý học “Sinh lý học là nghiên cứu các quá trình cơ học, vật lý, sinh hóa xảy ra trong cơ thể con người”
[Sinh lý học – Wikipedia] Trong đó, Tây y tìm hiểu cơ thể con người bằng cách xem xét hoạt động của tất cả các cấu trúc, bộ phận, chức năng trong cơ thể con
người “Sinh học là môn học về sự sống Nó mô tả những đặc điểm và tập tính của sinh vật, cách thức các cá thể và loài tồn tại và những tác động lẫn nhau của môi trường” [Sinh học – Wikipedia] Như vậy, sinh học nghiên cứu cấu trúc của sự
sống qua tế bào học, di truyền học, sinh học phân tử Tâm lý học là ngành khoa học nghiên cứu hành vi, tinh thần, tư tưởng của con người Tâm lý học được định nghĩa
một cách rộng rãi như là “khoa học nghiên cứu những hành vi, những tiến trình tâm thần của con người” [tâm lý học – Wikipedia] Tâm lý học có nguồn gốc của từ
(spychology) là Spyche (tâm lý) rất gần với từ Soul (linh hồn) Tâm lý học trước đây đã được xem như một nghiên cứu về linh hồn của con người, về sau tâm lý học được xem như một ngành y khoa nghiên cứu những bệnh thuộc về tâm thần
Như vậy, cả hai nền y học đều quan tâm đến con người cả hai mặt thể xác và tinh thần Nhưng có sự khác nhau rất cơ bản, Đông y thể hiện tư duy tổng hợp, trọng mối quan hệ Trong khi Tây y thể hiện rõ lối tư duy phân tích qua các ngành học nghiên cứu về tâm sinh lý con người Tây y chia sinh lý học ra từng ngành nhỏ như sinh lý hệ tuần hoàn, sinh lý hệ hô hấp, hệ thần kinh, hệ nội tiết, hệ tiêu hóa, hệ
37
Trang 39tiết niệu… lại phân nhỏ thêm từng chuyên khoa thuộc nội khoa hay ngoại khoa… Sinh học cũng phân thành chuyên khoa như ngành tế bào học, ngành di truyền học, ngành sinh học phân tử… lại chia thêm thành nhiều ngành nhỏ Ngành tâm lý học được phân thành các ngành như tâm lý trẻ em, tâm lý thanh niên, tâm lý học trị liệu, tâm lý học lâm sàng v.v… Trong khi đó, Đông y không tách ra thân một nơi, tâm một ngã mà luôn gắn liền quan hệ giữa thân tâm, quan hệ giữa sinh lý học và tâm lý học Điều này được thể hiện trong hệ thống luận trị của Đông y qua quan niệm tinh, khí, thần của Đông y Đông y tác động vào cả ba mặt : tâm bệnh, ý bệnh, thân bệnh của con người
Quan niệm tinh, khí, thần
Quan niệm về tinh, khí, thần là đặc điểm chủ yếu và quan trọng trong Đông
y Đông y cho rằng tinh, khí, thần là ba báu vật của toàn thân Ba báu vật này mang tính chất và đặc điểm khác nhau, nhưng bổ sung cho nhau, chỉ cần một vật không đầy đủ thì cơ thể sẽ không hoàn chỉnh, hay không sống được Quan niệm về tinh khí thần vừa trừu tượng, vừa cụ thể Trừu tượng, vì khí và thần có danh mà không có hình, nhưng nó là năng lực quyết định sinh tử của con người; nó cụ thể vì tinh là vật chất trong cơ thể, có thể thấy được, nó cùng khí và thần không thể tách rời Cái vô hình thúc đẩy cho cái hữu hình phát triển, còn hữu hình tác động nuôi dưỡng ngược lại cái vô hình Nói cách khác, tinh khí thần là ba năng lực sinh tồn của con người Con người đầy đủ tinh, khí, thần hay không đầy đủ được biểu hiện qua năng lực sung mãn và bản chất yếu đuối trong cơ thể của mỗi người
cơ thể Từ bào thai, con người thọ nhận tinh huyết ban đầu của cha mẹ mà thành hình, gọi là tiên thiên, là vật chất ban đầu của sinh mệnh, cái đến với sự sống
“Thiên Bản thần” sách Linh khu : “cái đến với sự sống gọi là tinh” [Huỳnh Minh
Đức 1989: 208] Trong quá trình sống, con người sinh trưởng luôn bị tiêu hao và không ngừng bổ sung qua ăn uống gọi là tinh hậu thiên “Thiên Thượng cổ thiên
chân luận” sách Tố vấn nói: “Thận chủ thủy, chứa đựng tinh của năm tạng sáu phủ
mà cất giữ lấy, cho nên ngũ tạng thịnh thì tinh có thể tràn đầy ra” [Nguyễn Tử Siêu 1992: 12] Tinh là cơ sở của sự sống, tinh tràn đầy thì cơ thể khỏe mạnh Tinh còn
được người xưa gọi là chân âm hay nguyên âm, là cơ sở vật chất của nguyên khí
toàn thân “Thiên Kim quỉ chân ngôn luận” sách Tố vấn : “tinh là nguồn gốc sinh
38
Trang 40mệnh con người, cho nên giữ được tinh thì mùa xuân không bị bệnh ôn” [Nguyễn
Tử Siêu 1992: 43]
Huyết thuộc lãnh vực của tinh nhưng khác nhau về nguồn gốc và chức năng
trong cơ thể “Thiên Quyết khí luận” sách Linh khu viết : “Trung tiêu bẩm thụ khí, giữ lấy chất dịch biến hóa rồi đỏ ra gọi là huyết” [Huỳnh Minh Đức 1989: 590]
Vậy huyết là thể dịch sắc đỏ, theo đường mạch mà vận hành không ngừng trong cơ thể, nguồn sinh ra huyết từ thức ăn uống, do trung tiêu tỳ vị vận hóa Công năng của huyết là nuôi dưỡng cơ thể, huyết là vật chất quan trọng duy trì hoạt động sống của
cơ thể, không có huyết sinh mệnh cũng không còn
Tân và dịch giống nhau ở chỗ đều là chất lỏng, nhưng đục và đặc lại khác
nhau Tân trong mà lỏng, theo khí đi ra phần ngoài, dịch đặc mà đục lưu hành trong khoảng gân xương, các khớp Tân và dịch tuy có chủ về phần ngoài, phần trong khác nhau, nhưng đều từ thức ăn uống hóa sinh hai thứ cùng một thể, cho nên thường gọi chung là tân dịch Tân cũng là thứ thể dịch của cơ thể, đồ ăn uống sinh
ra, tân theo khí của tam tiêu phân bố toàn thân, chủ yếu là da thịt làm cho da lông tươi nhuận Mồ hôi và nước tiểu từ tân mà ra, cho nên vật chất trong thân người đi
ra da lông là mồ hôi, còn đi xuống bàng quang là nước tiểu Dịch cũng từ đồ ăn uống sinh ra, theo huyết và đi khắp bên trong cơ thể, thấm ra ngoài mạch lưu thông
và chứa lại chỗ não, tủy, xương, khớp làm cho các khớp nhuận trơn, bổ ích não tủy, làm nhuận tai, mắt, mũi Sự tuần hoàn của tân dịch là thấm vào bên trong để nuôi dưỡng da thịt, gân xương, não tủy và các bộ phận của cơ thể, trong đó phần vô dụng như thủy dịch biến thành mồ hôi, nước tiểu tiết ra ngoài Sự tuần hoàn của tân dịch
và sự bài tiết của thủy dịch là mấu chốt quan trọng để duy trì sự thăng bằng thủy dịch trong cơ thể
động trong cơ thể như khí của thủy cốc Khí là năng lực hoạt động của tạng phủ, như khí của năm tạng, khí của sáu phủ, khí của kinh mạch Khí có hàm nghĩa rất rộng, bao gồm khí trong thiên nhiên và khí trong cơ thể con người Trong cơ thể, khí đại biểu cho tổng nguồn sinh lực của cơ thể và sức hoạt động của toàn thân Cơ thể con người có nhiều loại khí như nguyên khí, vệ khí, vinh khí nhưng tổng quát thì có hai nguồn khí, đó là khí tiên thiên và khí hậu thiên Khí tiên thiên bẩm thọ từ cha mẹ còn gọi là nguyên khí; khí hậu thiên là khí có từ đồ ăn, thức uống cộng với
39