Ví dụ: ảnh hưởng văn hóa Hán đến Việt Nam, Nhật Bản, Triều Tiên hoặc là những công trình đơn thuần nghiên cứu về chữ Hán, ngôn ngữ Hán, quan hệ giữa Trung Hoa và Việt Nam trong tiến trìn
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
LƯU TUYẾT NGA
CHỮ HÁN VÀ HIỆN TƯỢNG HÁN HÓA Ở MỘT SỐ NƯỚC
Trang 2Em xin cảm ơn GS.VS.TSKH Trần Ngọc Thêm, TS Hồ Minh Quang,
TS Nguyễn Tấn Lộc, TS Nguyễn Thị Minh Hồng đã nhiệt tình phê bình, đóng góp ý kiến cho em trong buổi bảo vệ thử, giúp em hoàn thành luận văn tốt nghiệp
Đặc biệt, em xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành đến TS Lê Đình Khẩn – người thầy đã tận tình dìu dắt em trong những bước đi ban đầu đến với khoa học
Em xin cảm ơn gia đình, nhất là anh Huỳnh Vĩnh Phước đã tạo điều kiện thuận lợi để em có thể học tập và nghiên cứu khoa học
Thành phố Hồ Chí Minh Tháng 08 năm 2009
Trang 3MỤC LỤC Lời cảm ơn 2 Mục lục 3 Dẫn nhập 5 Chương Một: Quan hệ giữa Trung Hoa với một số nước Hán hóa12
§1 Khái niệm và một số vấn đề cơ bản 13
Trang 4Tiểu kết chương Một 60 Chương Hai: Hiện tượng Hán hóa ở Việt Nam 61
§3 Nguyên nhân Hán hóa ở Việt Nam 62
3.1 N
guyên nhân cưỡng bức 62 3.2 N
guyên nhân phi cưỡng bức 66
§4 Vai trò của chữ Hán trên các phương diện Hán hóa 67
hữ Hán với phong tục tập quán 91
Tiểu kết chương Hai 97 Chương Ba: Chữ Hán, nhịp cầu nối giữa Việt Nam với các nước khu vực Hán hóa 99
§5 Chữ Hán với nền văn tự các nước Hán hóa 100
5.1 C
hữ Hán với chữ Nôm ở Việt Nam 100 5.2 C
hữ Hán với nền văn tự Nhật Bản 102
Trang 5hữ Hán với nền văn tự Triều Tiên 105
§6 Chữ Hán trong quan hệ bang giao 108
6.1 V iệt Nam và Trung Hoa 108
6.2 V iệt Nam và Triều Tiên 115
6.3 V iệt Nam và Nhật Bản 121
Tiểu kết chương Ba 127
Kết luận 128
Tài liệu tham khảo 134
Trang 6DẪN NHẬP
1 Lý do chọn đề tài
Từ nhận định của một triết gia phương Tây cho rằng: Văn minh phương Tây và văn minh phương Đông đã phác họa lên bức tranh nhân loại, nếu như văn minh phương Tây đi tìm vẻ đẹp rực rỡ của ban ngày, thì văn minh phương Đông đi tìm vẻ đẹp huyền bí của bóng đêm Xuất phát từ tinh thần hiếu học và sự yêu thích văn hóa Trung Hoa, chúng tôi luôn ôm ấp một ao ước sẽ được nối tiếp các bậc tiền bối đi tìm “vẻ đẹp huyền bí của bóng đêm ấy” Tuy nhiên, trước một nền văn hóa đồ sộ phát triển rực rỡ và lâu đời như vậy, chúng tôi chỉ dám đến với nó bằng những bước đi chập chững ban đầu
mà thôi Chúng tôi nhận thấy hướng nghiên cứu này là phù hợp với chuyên môn rộng đã được đào tạo ở bậc Cao học
Thứ hai, qua bài viết của nhà nghiên cứu lão thành Phạm Đức Dương [30: 215 – 224], chúng tôi nhận được những gợi ý cho hướng nghiên cứu của mình Trong bài viết này, ông đã nêu những đặc trưng của các nền văn hóa trong sự so sánh một cách tinh tế và hấp dẫn, rất có giá trị cho các nhà nghiên cứu thế hệ sau Đó là hướng quan sát văn hóa một cách khách quan trong việc đưa ra nhận định vấn đề “tiếp xúc và giao lưu văn hóa” Tuy nhiên, đây chỉ là một bài viết mang tính gợi mở, chứ không phải là một công trình có chiều sâu nghiên cứu cần thiết Đó chính là một trong những l ý do thúc đẩy chúng tôi cần phải kế thừa và tiếp tục đi sâu hơn
Thứ ba, trong quá trình theo học ngành Châu Á học, chúng tôi đã được học và đọc những giáo trình, những bài nghiên cứu của tác giả Lê Đình Khẩn
về những vấn đề “tiếp xúc ngôn ngữ Hán Việt”, về “chữ Hán”… và nhận thấy
Trang 7rằng, ở lĩnh vực này vẫn còn chỗ trống dành cho chúng tôi Hơn nữa, chúng tôi muốn trở lại vốn kiến thức về chữ Hán, về văn hóa Hán… đã được học ở bậc đại học xem đó như là kiến thức ban đầu cho công việc nghiên cứu
Vì tất cả những lý do nêu trên, chúng tôi quyết định chọn vấn đề “chữ Hán và hiện tượng Hán hóa ở một số nước Đông Á” làm đề tài nghiên cứu
3 Lịch sử vấn đề
Chúng tôi nhận thấy có rất nhiều công trình nghiên cứu có liên quan đến một số vấn đề văn hóa Đông Á Ví dụ: ảnh hưởng văn hóa Hán đến Việt Nam, Nhật Bản, Triều Tiên hoặc là những công trình đơn thuần nghiên cứu về chữ Hán, ngôn ngữ Hán, quan hệ giữa Trung Hoa và Việt Nam trong tiến trình lịch sử, quan hệ giữa Trung Hoa với Nhật Bản, Triều Tiên hay là tiếp xúc văn hóa Việt Nam và Trung Hoa…
Theo sự hiểu biết của chúng tôi về tài liệu, chúng tôi chưa tìm thấy công trình nào nghiên cứu về vai trò của chữ Hán trong quá trình Hán hóa ở danh mục tài liệu tham khảo Đề tài “Chữ Hán và hiện tượng Hán hóa ở một
số nước Đông Á” của chúng tôi sẽ nghiên cứu vấn đề này
Trang 8Hán hóa là hiện tượng đã xảy ra từ rất lâu đời ở những quốc gia trong khu vực Đông Á Trong đó: Nhật Bản, Triều Tiên và Việt Nam là những quốc gia bị Hán hóa nặng nề nhất và vẫn còn đang tiếp diễn Vì lẽ này, người viết chọn ba quốc gia trên làm “địa bàn” nghiên cứu Nội dung của luận văn đề cập đến: Sự ảnh hưởng một chiều của văn hóa Trung Hoa (người viết chỉ xét những phương diện văn hóa có liên quan đến vai trò của chữ Hán) đối với các nước Việt Nam, Nhật Bản, Triều Tiên; nguyên nhân dẫn đến quá trình Hán hóa mạnh mẽ, lâu dài và sâu sắc ấy trong quá trình giao lưu tiếp xúc văn hóa thời cổ - trung đại
5 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn
Suốt thời gian dài trong lịch sử, quan hệ giữa Việt Nam với Trung Hoa
đã có những lúc thăng trầm Song, quan hệ giao lưu lâu đời về các mặt lịch
sử, kinh tế, văn hóa, ngôn ngữ, phong tục, “không thể chối cãi được rằng, chúng ta đã bị tiêm nhiễm quá sâu, thậm chí có thể nói rằng văn hóa phương Bắc như một thứ ma phiến mà chúng ta vốn quen dùng” [54: 191] Trong xu thế hội nhập như hiện nay, việc củng cố và bảo tồn văn hóa dân tộc là trọng yếu Hướng phát triển chung của nhân loại tiến bộ là “không chấp nhận chạy theo tăng trưởng kinh tế đơn thuần mà hy sinh văn hoá, hy sinh con người như chủ nghĩa tư bản cổ điển đã từng thực hiện” [80: 23] mà xác định văn hóa
là mục tiêu, là động lực cho sự phát triển của xã hội Vì thế, củng cố và bảo tồn phát huy văn hóa dân tộc là việc làm cấp bách Chúng ta cần phải phân biệt cái gì là văn hóa của dân tộc, cái gì là văn hóa du nhập trong quá trình giao lưu tiếp xúc văn hóa Nghiên cứu văn hóa dân tộc cần phải so sánh với những dân tộc khác để nhận dạng đúng đắn về nền văn hóa dân tộc mình, rút
ra những tương đồng và dị biệt trong quá trình giao lưu tiếp xúc Chúng tôi nhận thấy đề tài “Chữ Hán và hiện tượng Hán hóa ở một số nước Đông Á”
Trang 9đáp ứng được những nhu cầu thực tiễn đã nêu trên, cần thiết cho việc nghiên cứu trong bối cảnh nước Việt Nam hiện nay
6 Phương pháp nghiên cứu và nguồn tư liệu
Văn hóa của nhân loại thể hiện muôn hình vạn trạng khác nhau Những nhà khoa học, những người làm nghiên cứu văn hóa chỉ có thể tiếp cận văn hóa ở một hay một vài bình diện nhất định Vì vậy, để đảm bảo tính xác thực
và khách quan cao, trong quá trình học tập nghiên cứu đề tài, người viết đã đọc và so sánh rất nhiều tài liệu có liên quan của rất nhiều bậc thầy uy tín,
tham khảo những nhận xét đánh giá vấn đề của từng tác giả, tập phân tích đúc
kết, tổng hợp những nhận xét ấy, kết hợp với việc bày tỏ quan điểm và nhận định riêng của chính mình Để sắp xếp hệ thống công trình nghiên cứu này,
chúng tôi đã sử dụng phương pháp quy nạp và phương pháp diễn dịch Ngoài
ra, chúng tôi còn kết hợp những phương pháp nghiên cứu khác như là:
Phương pháp nghiên cứu văn hóa học so sánh, cho phép chúng tôi
nhận định và rút ra những nét tương đồng, dị biệt của những nền văn hóa khác nhau trong cùng khu vực
Phương pháp nghiên cứu đồng đại – lịch đại, giúp chúng tôi có cái
nhìn chi tiết về tiến trình văn hóa qua các thời kỳ, các giai đoạn trong lịch sử của từng dân tộc được đề cập trong quá trình nghiên cứu
Nguồn tư liệu được sử dụng chủ yếu bằng tiếng Việt, tiếng Hán được ghi cụ thể trong mục tài liệu tham khảo Ngoài ra, người viết còn khai thác chọn lọc tài liệu trên Internet Để đảm bảo tính trung thực và chính xác của luận văn, những tài liệu được sử dụng trích dẫn trong luận văn được người viết ghi chú dẫn nguồn cụ thể
7 Bố cục của luận văn gồm ba phần:
Trang 10Dẫn nhập, nội dung, kết luận
Trong phần nội dung gồm có ba chương:
Chương I: Quan hệ giữa Trung Hoa với một số nước Đông Á
Chương này làm rõ một số khái niệm cơ bản, cung cấp một cái nhìn tổng thể về các nước thành viên (Nhật Bản, Triều Tiên, Việt Nam) nằm trong vùng xảy ra hiện tượng Hán hóa ở khu vực Đông Á Đây là chương cơ sở, bước đầu nói về ảnh hưởng một chiều của văn hóa Trung Hoa với các nước Nhật Bản, Triều Tiên và Việt Nam trong quá trình giao lưu tiếp xúc văn hóa
thời cổ – trung đại, gồm có ba tiểu mục:
Tiểu mục thứ nhất và tiểu mục thứ hai là ảnh hưởng của văn hóa Trung
Hoa đối với văn hóa Nhật Bản và Triều Tiên, người viết lấy niên đại lịch sử theo Trung Hoa và chỉ chọn những yếu tố, sự kiện, niên đại cần thiết nhằm làm rõ sự tác động của văn hóa Trung Hoa đối với các nước này
Phần tiểu mục thứ ba viết về quan hệ giữa Trung Hoa và Việt Nam,
người viết học theo các nhà nghiên cứu lịch sử văn hóa Việt Nam, phân chia lịch sử giao lưu văn hóa Việt Nam với Trung Hoa làm hai giai đoạn (thời kỳ Bắc thuộc và thời kỳ nhà nước phong kiến Việt Nam giành độc lập) làm cơ sở cho hai chương nối tiếp và phát triển thêm
Chương II: Hiện tượng Hán hóa ở Việt Nam
Hiện tượng Hán hóa ở Việt Nam bàn đến vấn đề xã hội Việt Nam chịu ảnh hưởng sâu sắc, lâu dài nền văn hóa Hán Sau thời gian dài giao lưu tiếp xúc với Văn hóa Trung Hoa, nền văn hóa Việt Nam bị Hán hóa trên các phương diện: ngôn ngữ văn tự, triết học, tôn giáo, văn học nghệ thuật, phong tục tập quán Nguyên nhân của việc ảnh hưởng ấy là sự cưỡng bức văn hóa và
sự tự nguyện tiếp thu văn hóa Trung Hoa
Trang 11Trong quá trình Hán hóa ấy, vai trò của chữ Hán vô cùng quan trọng
Nó vượt khỏi chức năng văn tự bình thường trở thành công cụ tri thức văn hóa có tác động mạnh mẽ đến các phương diện văn hóa xã hội Việt Nam
Chương III: Chữ Hán, cầu nối giữa Việt Nam với các nước trong
khu vực Hán hóa
Chữ Hán không những có vai trò quan trọng đối với việc hình thành nền văn tự của các nước trong khu vực Hán hóa, mà nó còn là phương tiện tạo mối quan hệ bang giao giữa các nước trong khu vực Hán hóa với nhau, có thể xem chữ Hán như một nhịp cầu nối Vì thế, chương Ba nêu những vấn đề sau:
- Vai trò của chữ Hán đối với nền văn tự của các nước Nhật Bản,
Triều Tiên, chữ Nôm ở Việt Nam
- Vai trò của chữ Hán trong quan hệ bang giao của Việt Nam với
Trung Hoa, Nhật bản, Triều Tiên
Nội dung của chương Ba như là một minh chứng về vai trò quan trọng của chữ Hán trong việc hình thành nền văn tự các nước Hán hóa Triều Tiên, Nhật Bản, cũng như đối với việc hình thành và phát triển chữ Nôm ở Việt Nam, dẫn đến hiện tượng đồng văn trong khu vực Đông Á
Nhờ hiện tượng đồng văn này mà các dân tộc Việt Nam, Triều Tiên, Nhật Bản, Trung Quốc hiểu nhau, thông cảm, chia sẽ, giúp đỡ, gắn bó với
nhau hơn
Thông qua nội dung của chương Ba cũng như toàn luận văn, người viết muốn giải thích một nhân tố vô cùng quan trọng làm nên quá trình Hán hóa lâu dài và sâu sắc ở một số nước Đông Á Đó là chữ Hán Chữ Hán không những ẩn chứa những giá trị luân lý tư duy của dân tộc Hán mà còn là công cụ chuyển tải văn hóa Trung Hoa sang các nước Đông Á, giữ vai trò cực kỳ quan
Trang 12trọng trong quá trình Hán hóa Đông Á Nó đã khiến cho các dân tộc Đông Á hiểu nhau hơn, gần gũi và gắn bó hơn trong việc thúc đẩy mối quan hệ giao lưu tiếp xúc văn hóa
Trang 13QUAN HỆ GIỮA TRUNG HOA VÀ MỘT SỐ
NƯỚC ĐÔNG Á
Trang 14§1 Khái niệm và một số vấn đề cơ bản
1.1 Khái niệm Đông Á
Đông Á là một phần lãnh thổ của lục địa châu Á, nhiều triệu năm trước,
do các vận động kiến tạo vỏ trái đất, sự trôi dạt va chạm của các địa mảng, những vụ nổ dữ dội dưới đáy đại dương nên khu vực này trở thành nơi có địa hình đa dạng, bao gồm cả đại lục, bán đảo, quần đảo, với những dãy núi hùng
vĩ như Himalaya, Côn Luân trên lãnh thổ Trung Quốc, Bạch Đầu Sơn trên biên giới đại lục và bán đảo Triều Tiên…
Khái niệm Đông Á còn được hiểu là một vùng văn hóa trong sự phân biệt với những vùng văn hóa khác: Nam Á, Tây Á, Bắc Á “Đông” được sử dụng trong sự phân biệt đối lập với Đông, Tây, Nam, Bắc, Đông Nam, Đông Bắc, Đông Tây, Tây Bắc, Tây Nam Bài viết này dùng theo kiểu đối lập đôi: Đông Á bao gồm văn hóa Đông Nam Á và Đông Bắc Á (chính Đông) Các quốc gia thuộc khu vực này gồm có: Trung Quốc, Việt Nam, Lào, Campuchia, Thái Lan, Singapore, Malaysia, Indonesia, Phillipines, Myanma, Brunei, Đông Timor, Đài Loan, Nhật Bản, Triều Tiên
Theo các nhà nghiên cứu châu Á tiền sử, từ hàng triệu năm về trước, khu vực Đông Á này đã diễn ra quá trình chuyển biến từ người vượn thành người Tại Vân Nam Trung Quốc, đã tìm thấy những di cốt hóa thạch của người vượn ở Nguyên Mưu, di cốt hóa thạch của Homo Erectus – tổ tiên người hiện đại ở Chu Khẩu Điếm, Lam Điền (Trung Quốc), ở Chichibu (Nhật Bản) Hóa thạch của Homo Sapiens (người thông minh, người hiện đại) cũng
đã được tìm thấy ở Chu Khẩu Điếm và nhiều nơi khác trên bán đảo Triều Tiên và quần đảo Nhật Bản, hàng loạt các di chỉ khảo cổ thời đồ đá cũ được
Trang 15phát hiện ở khu vực này đều có niên đại cách đây từ dưới một triệu năm cho tới vài chục nghìn năm Những di chỉ có niên đại dưới 30.000 năm cách ngày nay ở khu vực Đông Bắc Á đều có dấu vết hiện diện của con người hiện đại Nhiều luồng di cư lớn từ lục địa (phía bắc và tây bắc) hướng về miền duyên hải, bán đảo và quần đảo ở phía đông đã tạo nên những quá trình cộng cư hỗn huyết lâu dài Các nhà nghiên cứu nhân chủng học cho rằng cư dân khu vực này chủ yếu thuộc chủng Mongoloid phương Bắc là tổ tiên của người Trung Quốc, Triều Tiên, Nhật Bản [3: 61 – 81] Đến thời đồ đá giữa (khoảng 10.000 năm), một dòng người thuộc chủng Mongoloid này thiên di về phía Đông Nam, tới vùng nay là Đông Dương thì dừng lại Tại đây đã diễn ra sự hợp chủng giữa họ với cư dân Melanesien bản địa (thuộc đại chủng Úc), dẫn đến kết quả là sự hình thành chủng Indonesien (còn gọi là cổ Mã Lai) với nước da ngâm đen, tóc dợn sóng, tầm vóc thấp… Họ cư trú trên toàn bộ địa bàn Đông Nam Á cổ đại Chủng Indonesien được chia thành hai chủng nhỏ là chủng Nam Đảo (Austronesien) và chủng Nam Á (Austroasiatic, Bách Việt) [84: 55 – 58]
Do khu vực Đông Á rộng lớn, địa hình đa dạng, khí hậu thuộc vành đai
ôn đới và cận nhiệt đới nên văn hóa vùng Đông Á cũng rất đa dạng, phức tạp:
có cả văn hóa của các dân tộc gốc du mục, văn hóa gốc nông nghiệp, văn hóa vùng hải đảo Tuy nhiên, các dân tộc này đều chịu ảnh hưởng nền văn hóa Trung Hoa sâu sắc, lâu dài trong tiến trình giao lưu tiếp xúc, tiếp biến văn hóa (nhất là văn hóa của Nhật Bản, Triều Tiên và Việt Nam), làm nên những nét tương đồng về văn hóa của các quốc gia này Đó là một phác đồ về tổ chức và thể chế quản lý xã hội dựa trên học thuyết Nho giáo, một nền văn chương và học thuật phong phú, đa dạng ghi bằng chữ Hán, một tôn giáo được ảnh hưởng rất sâu rộng là Phật giáo đã được Trung Quốc hóa
Trang 16Các nhà nghiên cứu đã từng gọi các quốc gia ở khu vực Đông Á là những nước đồng chủng đồng văn Có lẽ do những quốc gia này giao lưu tiếp xúc với văn hóa Trung Hoa Chữ Hán đã thể hiện vai trò là một phương tiện giao lưu tiếp xúc có nhiều ưu thế và được chấp nhận rộng rãi Chữ Hán còn là nhân tố quan trọng trong quá trình Hán hóa một số nước Đông Á
1.2 Sơ lược về một số nước trong khu vực Hán hóa
1.2.1 Khái niệm Hán hóa
Hán hóa là hiện tượng văn hóa xã hội của một số nước chịu ảnh hưởng của văn hóa Trung Hoa Trong bài viết này, người viết muốn nói khái niệm
Hán hóa theo quan niệm của nhà nghiên cứu L Vandermeerch “Hán hóa hay
“thế giới Hán hóa mới” là tập hợp những nước chịu ảnh hưởng nền văn hóa, văn minh Trung Hoa lâu dài và sâu sắc như Nhật Bản, Triều Tiên, Singapore, Việt Nam… do lệ thuộc một số nguyên nhân về chính trị, văn hóa hoặc về dân số Hán hóa còn là thuật ngữ chỉ những nước sử dụng văn tự của người Hán” [35: 279] (Trích lại)
1.2.2 Sơ lược về Trung Hoa, Nhật Bản, Triều Tiên, Việt Nam
Trung Hoa là một nước rộng lớn, có lịch sử văn hóa lâu đời Người Trung Hoa cho rằng tổ tiên của họ là Hoàng Đế và Viêm Đế, sinh sống ở lưu vực Hoàng Hà Theo nghiên cứu khoa học, thì tổ tiên của người Hán có nguồn gốc du mục, xuất phát từ phía tây bắc vùng Trung Á Văn hóa của người Hán được trải qua hai giai đoạn:
Giai đoạn đầu: tổ tiên người Hán sống định cư tại thượng nguồn sông Hoàng Hà và làm nông nghiệp khô (trồng kê, mạch) Về sau, họ tiến dần đến
hạ lưu và thâu tóm cả vùng lưu vực sông Hoàng Hà cùng với nền văn hóa nông nghiệp khô ở đây
Trang 17Giai đoạn thứ hai: người Trung Hoa bành trướng lãnh thổ từ bắc xuống nam Đến thời Tần Hán, nước Trung Hoa đã trở thành một đế quốc rộng lớn Cùng với sự bành trướng về phía nam, văn hóa sông Hoàng Hà đã hấp thụ những tinh hoa văn hóa nông nghiệp của văn hóa Bách Việt ở phía nam sông Dương Tử Với óc phân tích, người Trung Hoa đã nhanh chóng hệ thống hóa, quy phạm hóa để phát triển thành văn hóa Trung Hoa rực rỡ, đến lượt mình phát huy ảnh hưởng trở lại phương Nam và các dân tộc khác [84: 66]
Vị trí địa lý của nước Trung Hoa ngày nay được xác định ở phần phía đông lục địa Á – Âu, giáp với Triều Tiên ở tây bắc, với Liên Xô và Mông Cổ
ở phía bắc, với Apganixtan, Pakixtan, Nepan, Xích Kim, Butan và Ấn Độ ở phía tây nam, với Miếng Điện, Lào và Việt Nam ở phía nam, ở phía đông và đông nam có biên giới biển giáp với Nhật Bản, Philippin, Malaysia, Brunei và Indonesia
Diện tích lãnh thổ được xác định là 9.600.000km2, chiều dài nam – bắc trên lãnh thổ đất liền khoảng 5.500km, chiều rộng đông – tây trên đất liền khoảng 5.200km Địa hình cao ở phía tây, nhiều núi non và cao nguyên, thấp dần về phía đông và đông nam, nhiều đồng bằng châu thổ, sông ngòi Nước Trung Hoa còn được mệnh danh là con đẻ của hai dòng sông huyền thoại Đó
là Hoàng Hà dài trên 5.400km và Trường Giang dài khoảng 6.300km, là nơi bắt đầu của nền văn minh Trung Hoa cổ đại Đất nước với 33% là đồi núi, 26% là cao nguyên, 19% là bồn địa, 12% bình nguyên, 10% là gò núi Miền tây bắc khô hạn, bán khô hạn tạo nên quần thể thực vật – chủ yếu là thực vật hoang mạc, và thảo nguyên Nhờ đồng cỏ mênh mông, ngành chăn nuôi của Trung Hoa đã phát triển từ rất sớm Bên cạnh nền chăn nuôi du mục lâu đời, Trung Hoa còn có nền kinh tế nông nghiệp trù phú Vùng Hoàng thổ – lưu vực trung và hạ lưu sông Hoàng Hà – rất thích hợp cho nền nông nghiệp khô
Trang 18ở phía bắc, và phù sa của sông Trường Giang là dòng sữa nuôi dưỡng nền nông nghiệp lúa nước ở vùng Giang Nam, hình thành nền văn hóa, văn minh nông nghiệp ở Trung Hoa Nước Trung Hoa ngày nay trên một tỉ dân, gồm 56 dân tộc, trong đó chiếm số đông là dân tộc Hán, Mãn, Mông, Hồi, Tạng [Encyclopedia of newchina 1991: 11 - 59]
Nhật Bản là một quần đảo ở về phía tây Thái Bình Dương, phía Đông lục địa Á – Âu, gồm bốn đảo lớn: Hokaido, Honshu, Shikoku, Kyushu và khoảng 3.900 đảo nhỏ, tạo thành một dãy vòng cung kéo dài từ bắc xuống nam khoảng 4.000km, cách Trung Quốc khoảng 650km, cách Triều Tiên khoảng 200km, tổng diện tích là 378.000km2 [23: 181]
Nước Nhật 70% diện tích là đồi núi, trong đó có nhiều núi lửa Biểu tượng của Nhật Bản là hoa anh đào và ngọn núi Phú Sĩ cao 3.776m Khí hậu Nhật Bản có bốn mùa rõ rệt Vùng phía bắc, mùa đông giá lạnh và có băng tuyết Sông ngòi thường ngắn, độ dốc cao, nước chảy xiết Một vài đồng bằng rộng lớn, đất đai màu mở, tạo điều kiện tốt cho việc trồng trọt và cuộc sống định cư của người Nhật như: đồng bằng Kanto, đồng bằng Kinai, đồng bằng vịnh Ise [2: 18 – 55]
Người Nhật tự hào nước Nhật được tạo nên do hai vị thần Izanaghi (nam thần) và Izanami (nữ thần) Thủy tổ của Hoàng gia Nhật Bản là Thái dương thần nữ Amaterasu Vị thiên hoàng (Nhật hoàng) đầu tiên của người Nhật là Jimmu Tenno [61: 193]
Theo nghiên cứu khoa học, nước Nhật được tạo nên do sự vận động của
vỏ trái đất Dân cư sớm nhất của quần đảo Nhật Bản là người Ainu với đặc điểm vóc dáng lực lưỡng, râu tóc rất rậm Tiếp theo đó nhiều dòng người từ các miền tây, tây bắc, đông bắc, đông nam lục địa theo hai ngã đường bộ,
Trang 19đường thủy và có lẽ cả từ các quần đảo ở phía nam xa xôi nữa, đã kéo đến quần đảo này Qua nhiều đợt di cư liên tiếp kéo dài hàng chục nghìn năm, lâu dần hòa trộn với nhau thành một tộc người thống nhất cao độ về thể hình, ngôn ngữ, phong tục tập quán – đó là dân tộc Nhật Bản, thuộc đại chủng Mongoloid, nhánh Mongoloid phương bắc Một bộ phận người Ainu đã chuyển dần lên phương bắc và tiếp tục tồn tại thành những cộng đồng có nhiều sắc thái riêng biệt ở nhiều vùng, chủ yếu là Hokaido Nhật Bản còn được mệnh danh là đất nước mặt trời mọc [23: 181]
Triều Tiên là một trong những quốc gia cổ xưa nhất trên thế giới Tương truyền, nước Triều Tiên cổ (choson cổ) do một nhân vật thần thoại là Tangun lập nên vào năm 2.333 trước Công nguyên Cũng có một số người cho rằng nước Triều Tiên cổ được lập nên ở tây nam Mãn Châu, kinh đô ở Asadal và lãnh thổ của nó cũng bao trùm lên cả miền tây bắc của bán đảo Triều Tiên, lại có ý kiến khác cho rằng cội nguồn của nước Triều Tiên cổ là Cộng hòa dân chủ nhân dân Triều Tiên, kinh đô được đặt ở Waggomsong, nay là Pyongyang (Bình Nhưỡng) Thời Choson cổ được chia làm ba giai đoạn: Tangun, Kija và Wiman Theo “Tam quốc di sử” vào khoảng năm 1.120 trước Công nguyên, Kija là cháu của vua Yi ở Trung Hoa đã cùng với khoảng 2000 thuộc hạ thân tín kéo sang bán đảo Triều Tiên, xưng vương khởi đầu thời kỳ Kija Choson Cũng theo tài liệu này khoảng năm 194 trước Công nguyên, Wiman là một tướng quân của Trung Hoa đã cướp ngôi hoàng đế Choson cổ sau khi theo phò vị vua này một thời gian, lập ra Wiman Choson Bấy giờ vua của Choson cổ là Chun buộc phải lui xuống miền phía nam, nơi tương truyền đã ra đời vương quốc Chin Theo các tư liệu cổ, thì Choson được xem là một quốc gia ngạo mạn và tàn bạo Vương triều này có thế lực
Trang 20rất hùng mạnh ở miền tây nam Mãn Châu thống trị cả vùng tây bắc bán đảo
và thường gây chiến với các tỉnh miền bắc Trung Hoa [69: 32]
Tên của Triều Tiên bắt nguồn từ triều đại Koryo (Cao Ly) từ năm 936 đến năm 1392 Ngoài ra, Triều Tiên còn được biết với các tên gọi khác như Choson (Triều Tiên cổ), hay là “vùng đất buổi sáng yên tĩnh” [13: 11] Đây là một bán đảo nằm ở phía đông bắc lục địa châu Á, diện tích trên 222.209km2với hơn 3.400 đảo nhỏ nằm rải rác trên cả biển Phía bắc bán đảo giáp Cộng hòa nhân dân Trung Hoa và Cộng hòa liên bang Nga, phía tây bắc, phía đông, phía đông nam là biển Chiều ngang đông – tây của bán đảo hẹp (trung bình khoảng trên 220km), chiều bắc – nam của bán đảo dài khoảng 800 đến 900km (từ vĩ độ bắc 43000’36’’ xuống đến vĩ độ bắc 33006’43’’)
Phía đông và đông – bắc bán đảo nhiều núi, phía tây nam nhiều gò đồi Núi cao nhất trên bán đảo là dãy Paektusan (Bạch đầu Sơn) ở mỏm đông – bắc, cao tới 2.750m, trên đảo Cheju – đảo lớn nhất ở biển Nam, có núi Halla cao 1.920m Paektusan là núi lửa đã ngưng hoạt động, trên đỉnh là hồ nước trong suốt Sườn phía đông bán đảo có dãy Taebaeksan (Thái Bạch Sơn) cao trên 1.554m – nơi tương truyền là chốn đế đô của vương quốc cổ xưa trong huyền sử Triều Tiên Núi Keumgang (Kim Cương) cao 1.685m, với hàng nghìn mỏm đá hình thù kỳ lạ xen giữa rừng xanh thác bạc, vốn là một thắng cảnh nổi tiếng Sông Amnok (Yalou, Áp Lục Giang) dài 790km, là biên giới thiên nhiên giữa Triều Tiên và Trung Hoa Sông Tuman (Đồ Môn Giang, Đậu Mãn giang) dài 521km đổ ra biển Đông, là biên giới thiên nhiên giữa Triều Tiên và Nga Sông Han (Hán Giang) dài 514km chảy qua Seoul được coi như một trong những địa bàn tạo dựng nên nền văn hóa cổ xưa của Triều Tiên Do chịu ảnh hưởng của gió mùa, nhìn chung nước Triều Tiên có mùa đông khô hanh, lạnh giá và mùa hè nóng ẩm, mưa nhiều Mùa xuân cây cối tươi tốt, hoa
Trang 21nở khắp nơi, mùa thu tiết trời khô ráo, là mùa thu hoạch các cây lương thực gieo giống từ mùa xuân và cây ăn quả lưu niên Mùa xuân cũng là thời điểm diễn ra nhiều lễ hội tạ ơn Trời Đất cầu cho mưa thuận gió hòa, ăn mừng mùa màng bội thu
Về mặt dân tộc: người Triều Tiên thuộc về gia đình các chủng tộc Turkic, Tungusic và Mông Cổ Dù con người thuộc thời kỳ đồ đá cũ bắt nguồn từ Triều Tiên, nhưng người ta tin rằng các dân tộc thời kỳ đồ đá mới, trong tiến trình lịch sử lâu dài, được hợp nhất lại với nhau giống như họ đã kết hợp với các nhóm sắc tộc mới đến Triều Tiên sau này, cuối cùng đã trở thành
tổ tiên của người Triều Tiên hiện nay [23: 117 - 148]
Nước Việt Nam nằm ở phía đông nam lục địa châu Á, phía bắc giáp với Trung Hoa, phía tây giáp với Lào và Campuchia, phía đông và nam giáp với biển Đông (Thái Bình Dương), có diện tích là 331.590km2 đất liền và 700km2thềm lục địa Địa hình khá đặc biệt: hình cong như chữ S, miền Bắc và miền Nam phình rộng ra, ở giữa miền Trung thì eo hẹp lại
Địa hình miền Bắc tương đối phức tạp, rừng núi trải dài suốt từ biên giới Việt – Trung cho đến tây bắc Thanh Hóa với nhiều ngọn núi cao như Phanxipang 3.142m, nhiều khu rừng rậm, rừng cổ (Cúc Phương), ở đây có những dảy núi đá vôi như Cao Bằng, Bắc Sơn, Hòa Bình – Ninh Bình… cùng với hàng loạt những hang động, mái đá, nhiều rừng rậm và loại cây ăn quả khác nhau, động vật phong phú, nhiều loại đá, quặng đã tạo nên hoang cảnh độc đáo và những điều kiện thuận lợi cho sự sống và phát triển của con người miền Bắc
Địa hình miền Trung với dải Trường Sơn trải dọc phía tây cũng tạo nên nhiều điều kiện thuận lợi cho con người sinh sống, vùng đất đỏ Tây Nguyên
Trang 22được phủ lớp dung nham núi lửa nên bằng phẳng và phì nhiêu, sớm trở thành nơi cư trú lâu dài của con người cũng như là nơi phát triển nhiều loại thực vật, động vật quý hiếm
Nước Việt Nam có nhiều sông ngòi Hai con sông lớn nhất là sông Hồng và sông Cửu Long Sông Hồng bắt nguồn từ Vân Nam (Trung Hoa) chảy xuôi ra biển Đông theo hướng tây bắc – đông nam với lưu lượng lớn (từ 700m3/giây đến 28.000m3/giây), hàng ngày hàng giờ chuyển phù sa bồi lấp vịnh biển góp phần tạo nên cả một đồng bằng rộng lớn (diện tích khoảng 16.000km2, thuận lợi cho sự phát triển nông nghiệp và tụ cư của con người, là nơi hình thành nền văn minh Việt bản địa Sông Cửu Long ở phía nam, bắt nguồn từ Tây Tạng (Trung Hoa) sau khi chảy qua địa phận của hai nước Lào, Campuchia với lưu lượng lớn từ 4000m3/ giây đến 100.000m3/giây, đã chuyển dần phù sa tạo nên đồng bằng Nam bộ rộng lớn với diện tích là 40.000km2, đây là vựa thóc lớn nhất nước Việt Nam thuộc khu vực nhiệt đới và một phần xích đạo Nhờ gió mùa hàng năm, khí hậu trở nên điều hòa, ẩm, thuận lợi cho
sự phát triển của sinh vật Nhìn chung, khí hậu Việt Nam thuận lợi cho sự phát triển nông nghiệp – nhất là nông nghiệp lúa nước
Theo truyền thuyết kể rằng, dân tộc Việt Nam thuộc họ Hồng Bàng Truyện kể: vua đầu tiên của họ Hồng Bàng là Lộc Tục, cháu của Viêm Đế họ Thần Nông, con một nàng tiên ở núi Ngũ Lĩnh Lộc Tục làm vua ở phương nam, lấy hiệu là Kinh Dương Kinh Dương vương Lộc Tục lấy con gái của vua hồ Động Đình là Long Nữ, sinh ra Sùng Lãm, nối ngôi vua xưng là Lạc Long Quân Lạc Long Quân lấy Âu Cơ, sinh ra trăm trứng, nở thành trăm con trai Năm mươi con theo cha xuống biển, năm mươi con theo mẹ về núi Đến đất Phong Châu, những người con này cùng tôn người con trưởng làm vua, xưng là Hùng vương, đặt tên nước là nước Văn Lang Nước này đông giáp
Trang 23với biển Nam Hải, tây đến Ba Thục, bắc đến hồ Động Đình, nam giáp nước
Hồ Tôn (Chiêm Thành) Vua chia nước ra làm mười lăm bộ: Giao Chỉ, Chu Diên, Vũ Ninh, Phúc Lộc, Việt Thường1, Ninh Hải, Dương Tuyền, Lục Hải,
Vũ Định, Hoài Hoan, Cửu Chân, Bình Văn, Tân Hưng, Cửu Đức đều là đất thần thuộc của Hùng Vương, còn bộ gọi là Văn Lang nơi đóng đô 2 [60: 131 – 140] Nhà nghiên cứu khoa học Việt Nam Trần Ngọc Thêm [84: 53 - 58] thì cho rằng dân tộc Việt Nam có nguồn gốc từ chủng Nam Á (Austroasiatic, Bách Việt) Trương Hữu Quýnh [92: 10] chia dân tộc Việt Nam ra thành tám nhóm theo ngôn ngữ:
• Việt – Mường (gồm Việt, Mường, Chứt…)
• Tày – Thái (gồm Tày, Nùng, Thái, Bố Y, Cao Lan, Lào…)
• H’mông – Dao (gồm H’mông, Dao, Pà Thẻn)
• Tạng – Miếng (gồm Hà nhì, Lô Lô, Xá…)
• Hán (Hoa, Sán Dìu…)
• Môn – Khơme (khơ – mú, Kháng, Xinh – mun, Hrê, Xơ – đăng, Bana, Cơ – ho, Mạ, Khơ – me…)
• Mã Lai – Đa Đảo (gồm Chăm, Gia – rai, Êdê, Ra – glai…)
• Hỗn hợp Nam Á (Gồm La Chí, La Ha, Pu Péo…)
1.3 Vài nét về chữ Hán
1 Việt Thường : “Sử Tàu chép rằng năm tân mão (1109tcn Tây lịch), đời vua Thành Vương nhà Chu có nước Việt Thường ở phía nam xứ Giao Chỉ sai xứ đem chim bạch trĩ sang cống, nhà Chu tìm người làm thông ngôn mới hiểu được tiếng, và ông Chu Công Đán lại chế ra xe chỉ nam để đem sứ Việt Thường về nước” [91: 25]
2 Việt sử lược chép nước Văn Lang gồm 15 bộ lạc, trong đó có 10 như Toàn thư đã viết (Giao Chỉ, Vũ Ninh, Việt Thường, Ninh Hải, Lục Hải, Hoài Hoan, Cửu Chân, Bình Văn, Cửu Đức, Văn Lang), và 5 bộ lạc với tên khác (Quân Ninh, Gia Ninh, Thang Tuyền, Tân Xương, Nhật Nam)
Trang 24Trung Quốc có một nền văn tự đồ sộ và sớm được hoàn thiện Chữ Hán đóng vai trò vô cùng quan trọng trong quá trình Hán hóa ở Nhật Bản, Triều Tiên, Việt Nam và một số nước ở Đông Á khác Có người gọi chữ Hán là loại chữ vuông, là văn tự biểu ý , chữ Hán xuất phát từ ngôn ngữ đơn lập, cũng có nhiều người cho rằng chữ Hán là loại văn tự ngữ tố hoặc văn tự âm tiết ngữ
tố Mấy nghìn năm nay, chữ Hán theo văn hóa, chính trị, xã hội, lịch sử của dân tộc Trung Hoa không ngừng phát triển và tự hoàn thiện
Phương pháp tạo chữ Hán có từ rất lâu đời, phương thức biểu ý trực tiếp, có những chữ chỉ căn cứ vào hình chữ mà tìm ra ý nghĩa của nó – người Trung Hoa gọi là “据 形 索 义” Về phương diện chức năng cấu trúc chữ Hán xưa nay đều mang tính biểu ý đặc thù Vì thế, các nhà nghiên cứu văn tự học gọi chữ Hán là văn tự biểu ý, sự phối hợp giữa mỗi nét chấm, nét phẩy của nó
đều biểu thị ý nghĩa nhất định Chẳng hạn như chữ nhật 日 biểu thị mặt trời, chữ nguyệt 月 biểu thị mặt trăng, chữ sơn 山 biểu thị núi hay chữ hưu 休
người dựa vào cây, biểu thị nghỉ ngơi… Chữ Hán dùng đường nét ghi lại ý nghĩa của sự việc Một số nhà nghiên cứu chữ Hán từng phát biểu: chữ Hán là loại chữ phát triển từ văn tự đồ họa Trong quá trình hình thành chữ Hán, những chữ được tạo ra đầu tiên là những chữ mang tính đồ họa tương đối đậm
nét, gọi là chữ biểu ý như chữ mã 馬, chữ ngư 魚 Còn những chữ không thể
dùng phương pháp tượng hình để vẽ ra thì dùng cách chỉ ra ý nghĩa ở một bộ phận nào đó của một chữ nhất định hoặc phối hợp mấy chữ lại để biểu thị chữ
mới Ví dụ: chữ bản 本 là thêm một nét ngang ở phần dưới của chữ mộc 木
biểu thị gốc của cây [22: 804]
Trang 25Phương pháp biểu ý để tạo chữ số lượng có hạn, nên người xưa đã dùng một chữ hoặc hình vẽ một sự vật nào đó làm phù hiệu biểu thị âm đọc, ghi lại một từ đồng âm hoặc gần âm với chữ này Những chữ được cấu tạo theo cách như vậy, mặt chữ không hề có liên quan gì với ý nghĩa mà nó biểu thị Ví dụ
như chữ tài 才 vốn là chữ tượng hình có nghĩa “cây non”, người xưa đã lấy
âm của nó để chỉ một nghĩa khác như tài năng trong chữ 才 能 hay nhân tài
才 人 Hoặc là động từ lai 來 có nghĩa là đến được mượn âm của chữ lai 萊
biểu thị lúa mạch Cách tạo chữ này cũng có nhiều hạn chế, vì bởi từ đồng âm hay gần âm trong ngôn ngữ cũng không nhiều, dần dần cách tạo chữ theo kiểu
hình thanh được hình thành Với cách này, người ta dùng phù hiệu biểu thị ý
nghĩa kết hợp lại với phù hiệu biểu thị âm đọc, tạo ra chữ mới
Về sau, những nhà văn tự học mới quy nạp và khái quát lại, tổng cộng
có sáu cách tạo thành chữ Hán, được gọi là “Lục thư”
Từ “Lục thư” được tìm thấy rất sớm trong thư tịch cổ Trung Quốc (周 礼。地 官) nhưng không thấy người ta phân tích tên gọi cũng như giải thích
gì đến “Lục thư” Đến thời Đông Hán, xuất hiện sự giải thích khác nhau giữa các học thuyết của những nhà nghiên cứu Hán tự Thuyết thứ nhất (汉 书。艺
文 志 của Ban Cố 班 固) nói về “Lục thư” là cách tạo chữ, gồm có: tượng hình, tượng sự, tượng ý , tượng thanh, chuyển chú, giả tá Thuyết thứ hai (周
礼 của 郑 众) có ghi “Lục thư: tượng hình, hội ý, chuyển chú, giả tá, khải thanh” Thuyết thứ ba (trong thuyết văn giải tự 说 文 解 字 của Hứa Thận) thì
Trang 26“Lục thư” gồm có: chỉ sự, tượng hình, hình thanh, hội ý, chuyển chú, giả tá Cách sắp xếp và tên gọi “Lục thư” của các học giả trên không giống nhau, cho nên từ thời Đông Hán về sau, có rất nhiều cách nói về nó, nhưng điểm chung là tất cả họ đều thừa nhận “Lục thư” là cách tạo chữ Hán Từ đời Thanh trở đi khi nói đến “Lục thư”, người ta thường sử dụng cách sắp xếp thứ
tự theo kiểu của Ban Cố, và giải thích tên theo Hứa Thận Đối với giả tá và chuyển chú, còn rất nhiều tranh luận Có nhiều người cho rằng, nó thực chất
là những biện pháp về sử dụng chữ, chứ không phải là cách tạo ra chữ mới, chỉ bốn cách còn lại mới thật sự là phương pháp tạo chữ Hán Đến nay, nhiều người vẫn còn sử dụng theo cách “Lục thư”, nhưng cũng có một số người muốn phá bỏ cái khung qui củ Những thập niên ba mươi của thế kỷ hai mươi, nhà văn tự học Đường Lan 唐 兰 đã đề xuất chủ trương thuyết “Tam thư”: tượng hình, tượng ý, hình thanh Những thập niên năm mươi, Trần Mộng Gia
陈 梦 家 cũng đề xuất thuyết “Tam thư” chủ trương lấy văn tự cổ phân thành
ba loại hình cơ bản: tượng hình, giả tá, hình thanh Mặc dù, sử dụng theo học thuyết nào đi nữa, các nhà văn tự học Trung Hoa, cũng như thế giới vẫn phải thừa nhận “lục thư” và tính biểu ý rất đặc thù của chữ Hán [100: 47] Người Trung Hoa sáng tạo ra chữ Hán theo các nguyên tắc sau:
* Tượng hình: đặc điểm của phép tạo chữ này, người ta dùng những
đường nét miêu tả hình trạng của sự vật khách quan, khiến cho người xem liên tưởng đến sự vật cụ thể khi nhìn thấy hình vẽ Cách tạo chữ này được xem là phương pháp văn tự biểu ý trực tiếp thời cổ Những chữ này được phát hiện nhiều trong giáp cốt văn, trên chuông đồng, trong những hang động bằng đá…
Trang 27Một trong số chữ tượng hình này đã đặt nền móng đầu tiên cho nền
nghệ thuật hội họa của Trung Hoa sau này Ví dụ: Chữ dương 羊 là sơn dương, chỉ loài dê núi Hình chữ như một cái đầu dê chính diện, đặc điểm là hai sừng cong xuống.Cổ văn thường mượn chữ dương để chỉ nghĩa chữ tường
祥 có nghĩa là tốt đẹp (cát dương hay cát tường) (hình 1.3.1) Chữ ngưu 牛,
hình chữ giống đầu con bò, lộ ra đôi sừng cong queo, vểnh lên phía trên, phía dưới là mõm nhọn (hình 1.3.2)
* Chỉ sự: là cách tạo chữ bằng phương thức dùng những phù hiệu có
tính đặc thù ghi lại sự vật khách quan, biểu thị một khái niệm nào đó Những
ký hiệu này hoặc người ta thêm vào chữ tượng hình độc thể hoặc thêm vào những vị trí đặc thù của ký hiệu một đại diện sự vật cụ thể Ví dụ: cặp chữ
sau: Chữ thượng 上 (hình 1.3.3) nghĩa là ở phía trên và chữ Hạ 下 (hình
1.3.4) nghĩa là phía dưới Hai chữ này đều do hai nét ngang tạo thành Nét
Trang 28ngang dài hơn một chút là chỉ mặt đất, nét ngang ngắn hơn là kí hiệu chỉ sự
việc Có một cách giải thích khác: nét ngang dài ở phía dưới chữ thượng上 là
biểu thị cho mặt nước, nét ngang ngắn ở trên là nét phù hiệu chỉ sự vật, ý
muốn nói vật ở trên mặt nước Nét ngang dài ở trên chữ hạ 下 biểu thị mặt nước, nét ngang ngắn ở dưới là nét phù hiệu chỉ sự vật, ý muốn nói vật ở phía dưới mặt nước [100: 47] Hai chữ này chỉ khác nhau chủ yếu ở vị trí nét phù
hiệu chỉ sự vật Để tránh lẫn với chữ nhị 二 (hai, đôi, số hai) cũng có hai nét
ngang trên dưới như nhau, hình dạng hai chữ nêu trên dần dần thay đổi như ngày nay [40: 732, 243]
* Hội ý: trên cơ sở chữ tượng hình, chỉ sự, người ta đã tạo ra chữ hợp
thể, lấy ý nghĩa phối hợp của hai hay nhiều chữ tượng hình độc thể hoặc chữ
chỉ sự kết hợp lại biểu thị một ý nghĩa mới, gọi là chữ hội ý Ví dụ: chữ tùng hay tòng 从 (1.3.5) có nghĩa là phục tùng, tùy tùng Chữ này được tạo nên từ
tổ hợp hình hai người, một người đứng sau lưng một người khác, nghĩa gốc là
đi theo, nghĩa mở rộng là phục tùng [40: 760] Hay chữ thiệp 涉 (1.3.6) nghĩa gốc là lội qua sông Trong thuyết văn: có nghĩa đi bộ qua sông Hình chữ
Trang 29giống như một dòng sông uốn khúc, hai bên bờ đều có dấu chân người Đây là một chữ hội ý Ngày nay vẫn còn thành ngữ: “bạt sơn thiệp thủy” (trèo đèo lội suối [40: 686]
* Hình thanh (hài thanh): chữ Hán được tạo theo cách kết hợp âm
thanh và ý nghĩa Mỗi chữ được hợp thành bởi hai phần: phần hình (biểu ý) và phần thanh (âm đọc) Trong các phép tạo chữ, hình thanh là quan trọng nhất Theo sự phát triển của chữ Hán, chữ hình thanh ngày càng nhiều Trong số chữ mới của hậu thế sáng tạo, đại đa số là chữ hình thanh Trong kho tàng chữ Hán hiện đại, loại chữ này chiếm hơn 90%
Chữ 河 (hà: sông) và 诗 (thi: thơ) là hai chữ hình thanh điển hình Bên
trái của chữ hà 河 là phần biểu thị ý nghĩa Ba chấm thủy là tượng trưng cho
nước – con sông thì phải có nước, bên phải của chữ là phần biểu thị âm đọc
Bên trái của chữ thi 诗 là phần biểu thị ý nghĩa, bộ ngôn 言 là tượng trưng cho ngôn từ – trong thơ phải có lời Bên phải của chữ là phần thanh biểu thị
âm đọc
Sự hình thành và phát triển của chữ Hán qua các thời kỳ sau:
Trang 30Giáp cốt văn: Đầu tiên, người ta tìm thấy chữ Hán trên vỏ rùa, xương
thú nên gọi là “giáp cốt văn”, được phát hiện ở vùng An Khư, Hà Nam – thủ
đô của triều Thương (1711 – 1066 TCN) – Chữ giáp cốt mang tính đồ họa rất lớn, nét bút nhỏ và gầy, mặt chữ vẫn chưa định hình
Kim văn: loại chữ viết trên chuông, vạc, trên những vật bằng đồng
Người xưa gọi vật bằng đồng là kim nên gọi là kim văn, được dùng vào thời
đại Tây Chu Chữ kim văn còn được gọi là chung đỉnh văn, tiến bộ hơn chữ giáp cốt, nét bút thô khỏe, đầy đặn, bố cục cân đối, xu thế phù hiệu hóa, bắt đầu có quy luật
Triện thư: chữ đại Triện và tiểu Triện là thứ văn tự được lưu hành ở
nước Tần vào thời Xuân thu chiến quốc, đến thời Hán không dùng nữa Mặt chữ tiểu Triện cân đối, chỉnh tề, giản hóa và định hình hơn chữ Kim văn Tiểu Triện là một mắt xích quan trọng trong lịch sử diễn biến hình thể của chữ Hán, đặtnền móng cho chữ Lệ, chữ Khải sau này
Lệ thư: ban đầu là một thể chữ ứng phó bởi nhu cầu bức xúc do giản
lược chữ tiểu Triện mà thành, được sử dụng vào thời đại nhà Tần Trong thời gian này, chữ tiểu Triện được thông dụng hơn, là chữ quy phạm Lệ thư đã biến nét bút viết vòng tròn nét liền của tiểu Triện thành nét vuông gấp bằng thẳng, biến dáng chữ dài tròn của tiểu Triện thành vuông dẹt Lệ thư đã phá
vỡ truyền thống tượng hình của chữ Hán cổ, kết cấu đơn giản hơn, đặt nền móng cho chữ Hán hiện đại
Khải thư (chữ Khải): được gọi là chính thư, chân thư Chữ Khải được
hình thành vào cuối thời Hán và phát triển vào thời kỳ Ngụy Tấn, được sử dụng đến nay, trở thành chữ chuẩn của chữ Hán hiện đại Chữ Khải kế thừa
ưu điểm của chữ Lệ Kết cấu chữcân đối, rõ ràng, đổi nét bút lượn sóng của
Trang 31chữ Lệ thành nét bằng thẳng, hình dáng chữ cũng đổi từ dẹt sang vuông vắn, tiện lợi hơn khi viết Sự xuất hiện của chữ Khải đánh dấu sự định hình và hoàn thiện của chữ Hán
Thảo thư: là thể viết linh hoạt, phóng khoáng, rất khó đọc, ý nghĩa
thực dụng không lớn Trong nghệ thuật thư pháp của chữ Hán, loại chữ này có phong cách riêng, có giá trị thưởng thức
Hành thư: là thể chữ nằm giữa Thảo thư và Khải thư, dễ viết hơn Khải
thư, dễ đọc hơn Thảo thư, có giá trị thực dụng cao, là thể chữ được ứng dụng rộng rãi nhất
Chữ giản thể: dạng chữ này chủ yếu thông dụng ở nước Cộng hòa
nhân dân Trung Hoa và Singapore, được các nhà nghiên cứu sáng lập ra vào năm 1965 Tổng số chữ được giản hóa là 2.274, trong đó không ít trường hợp
là chữ giản thể đã có từ xa xưa, do trải qua quá trình phức tạp hóa, trở thành Khải thư Cũng có nhiều trường hợp lấy chữ giản thể bằng cách “Thảo thư Khải hóa”, tức là đơn giản chữ Khải theo bút pháp của chữ Thảo Chữ Khải
nào có cách viết giản hóa kèm theo, gọi là chữ phồn thể, phân biệt với chữ
giản thể Loại chữ phồn thể này, hiện vẫn còn được sử dụng ở một số nơi như:
Đài Loan, Hồng Kông… những nơi có người Hoa sinh sống [100: 49]
Trang 321.3.7 Chữ viết thời đại nhà Thương – Ân
Trang 331.3.8 Chữ viết thời đại Tây Chu
Trang 341.3.9 Chữ viết đời nhà Tần
1.3.10 Chữ viết cuối đời Tần đến đời nhà Hán
Trang 351.3.11 Chữ viết lưu hành cuối thời Hán và lưu hành cho đến nay
1.3.12 Chữ viết xuất hiện đầu nhà Hán
Trang 361.3.13 Chữ viết được sử dụng phổ biến ở đời Tam quốc và đời Tần
§2 Giao lưu văn hóa Trung Hoa với các nước
2.1 Trung Hoa với Nhật Bản
Từ thế kỷ thứ hai trước Công nguyên, Trung Hoa và Nhật Bản đã trao đổi văn hóa với nhau Trung Hoa ở vị trí “xuất khẩu văn hóa” còn Nhật Bản ở
vị trí “nhập khẩu văn hóa” Lúa nước, kỹ thuật canh tác nông nghiệp, đồ sắt,
đồ đồng và kỹ thuật chế tạo các thứ ấy nối tiếp nhau truyền sang Nhật Bản, thúc đẩy sự phát triển của xã hội Nhật Bản Thời kỳ Tây Hán, sự đi lại giữa hai nước Trung – Nhật ngày một gia tăng Hơn ba mươi nước của Nhật lần lượt cử sứ giả sang Trung Hoa vào thời Hán Vũ Đế Thời Đông Hán, Nhật đã
cử sứ thần giao hảo với nhà Hán Hán Quang Vũ Đế lấy ấn vàng tặng quốc vương Nhật Chiếc ấn vàng này đã tìm thấy ở thôn Kỳ, đảo Cửu Châu Chí Hạ nước Nhật Năm thứ hai (238) đầu Ngụy Cảnh Tam quốc, nữ vương nước
Trang 37Nhật Yamathai sai sứ thần đến Lạc Dương, sau đó mười năm, Ngụy Cảnh và
nữ vương nước Nhật chính thức cử sứ thần qua lại tất cả sáu lần Cũng trong thời kỳ này, nhân viên kỹ thuật người Trung Hoa liên tiếp dời sang Nhật ở Trong số họ, có những tay nghề dệt vải, nuôi tằm, ươm tơ, có cả những bậc thầy may mặc, làm đồ sứ, nấu bếp…, họ mang theo kỹ thuật tiên tiến của Trung Hoa, góp phần làm cho công nghệ may mặc, nuôi tằm, ươm tơ của Nhật Bản phát triển nhanh chóng Đồng thời cả văn hóa nghệ thuật, tư tưởng học thuật của nước này cũng truyền vào nước Nhật Người Nhật lúc đầu vốn không có chữ viết Đến thế kỷ thứ nhất Công nguyên, chữ Hán du nhập Nhật Bản, đến thế kỷ thứ sáu, nhờ sự giới thiệu thâm nhập của các học giả Ngũ kinh, lịch sử, y học tư tưởng Nho học của Trung Hoa truyền bá vào Nhật Bản Thời Lương Vũ Đế, đạo Phật cũng nhờ sự truyền bá này mà vào nước Nhật [52: 501]
Thời kỳ này, hai nước Trung Hoa – Nhật Bản chủ yếu giao lưu qua đường biển: một đường xuất phát từ Đăng Châu (Bồng Lai, Sơn Đông) băng qua Bột Hải men theo bán đảo Liễu Đông đến bờ phía tây bán đảo Triều Tiên chuyển qua Nhật Bản, một đường từ Sở Châu (Hoài An, Giang Tô) ra cửa sông Hoài men theo bán đảo Sơn Đông lên hướng bắc, phía đông qua Hoàng Hải sang bán đảo Triều Tiên đến Nhật, một đường nữa từ Dương Châu hoặc Minh Châu (Ninh Ba, Chiết Giang) ra biển, băng ngang qua biển Đông đi thẳng đến Nhật Bấy giờ, nước Nhật vào thời kỳ chế độ nô lệ tan rã, là giai đoạn chế độ phong kiến đang hình thành và củng cố Người Nhật hết sức ca ngợi sự cực thịnh của văn hóa nhà Đường Vì thế, hàng loạt sứ giả, lưu học sinh và tăng lữ có học vấn của Nhật được đề cử rầm rộ sang Trung Hoa học tập những yếu tố văn hóa tiên tiến của nhà Đường Sự giao lưu văn hóa giữa
Trang 38hai nước Trung Hoa và Nhật Bản vào giai đoạn này cực kỳ thịnh vượng [98: 21]
Năm thứ năm Đường Trinh Quán (631) đến năm thứ ba Khai Thành, Nhật Hoàng cử hàng loạt các phái đoàn lưu học sinh và tăng lữ có học vấn sang Trung Hoa, cộng tất cả có mười ba lần, kể cả đón sứ giả nhà Đường đến
và đưa sứ giả nhà Đường về sáu lần, tổng cộng là mười chín lần Những lưu học sinh và tăng lữ này ở lại Trung Hoa, có người lưu cư từ hai mươi đến bốn mươi năm Trong đó, có những nhân vật có tên tuổi: Chiêu Hoành, Cao Hướng Huyền Lý, Cát Dật Thê, Đạo Từ, Nam Uyên Thanh An, Cát Bị Chân
Bị, Huyền Phỏng, Không Hải, Tăng Mân, Tối Trưng… sau khi về nước, đóng vai trò hết sức lớn lao trong việc truyền bá văn hóa Trung Hoa trên nước Nhật Theo cuốn sách được biên soạn cuối thế kỷ thứ chín của Nhật Bản nhan
đề Nhật Bản kiến tại Thư mục lục thi: lúc bấy giờ, Nhật Bản có giữ sách chữ
Hán là 1579 bộ, hơn 16.000 cuốn, nội dung nêu đủ các mặt chính trị, văn học, triết học, sử học, nghệ thuật, khoa học kỹ thuật…[52: 503]
Thái tử Sotoku đã sử dụng các học thuyết: Nho gia, Pháp gia đúc kết ra
“17 điều Hiến pháp” ban hành năm 604 Đây là cương lĩnh chính trị đầu tiên tương đối hoàn chỉnh của chế độ trung ương tập quyền trong lịch sử nước Nhật Người Nhật mô phỏng chế độ nhà Đường, xây dựng chế độ phong kiến tập quyền, tiến hành hàng loạt cải cách trong nước, bãi bỏ chế độ tư hữu điền trang, định ra chế độ ruộng đất thu nhập theo tổ nhóm, điều tiết chế độ cho vay và thưởng công, làm hộ tịch, sửa đổi kinh sư của nha môn triều đình, tham khảo luật lệ nhà Đường từng bước xây dựng, củng cố chế độ phong kiến
tập quyền ở Nhật Bản theo mô hình phong kiến Trung Hoa [30: 277]
Cũng như các lĩnh vực xã hội khác, người Nhật học theo chế độ giáo dục nhà Đường Ở kinh sư lập trường đại học, các môn học gồm minh kinh
Trang 39(kinh sách triết lý), kinh truyền (truyền bá sách kinh điển Khổng Mạnh…), minh pháp (phương pháp, chế độ luật pháp), các sách toán học, các môn học cũng giống như của Trung Hoa Luật lệ phép tắc của nhà Đường trở thành nội dung chủ yếu cho nền giáo dục của Nhật Bản Chế độ khoa cử của nhà Đường cũng được xác lập trên nước Nhật, thông qua việc thi cử mà tuyển chọn bổ nhiệm quan lại Ông Các Bị Chân Bị đã từng lưu học lâu năm ở triều Đường,
về nước đề xướng các quy tắc lễ nghi trong trường học
Những năm đầu thời nhà Đường, có hơn chín mươi tăng lữ Nhật Bản đến Trung Hoa học giáo lý Phật giáo Họ học các loại sách kinh điển về Phật giáo Thời Đường Cao Tông, các nhà sư Tri Năng, Tri Tiên theo học Huyền Trang, sau khi về nước Nhật trở thành người sáng lập Tam luận tông Nhật Bản Thời Võ Tắc Thiên, vị tăng có học vấn là Đạo Từ đã học Tam luận ở Trường An, sau đó trở thành ông thủy tổ của phái Tam luận Nhật Bản Viêm Hành học Mật giáo ở Trung Hoa, Tối Trưng, Viên Nhân học đạo Thiên đài hải tông, Đạo Tụy học Chân ngôn tông Ngoài ra, các vị cao tăng của Trung Hoa cũng sang Nhật truyền đạo Hòa thượng Giám Chân, rất nổi tiếng Ông
đã sang Nhật sáu lần Năm Đường Thiên Bảo thứ 13, Giám Chân đã nhận chức vụ cao nhất trong giới tăng ni, nắm giữ quyền lớn nhất truyền đạo luật, xây ngôi chùa lớn để tập hợp giới luật nhà Đường Ông đã trở thành vị chủ sự đình chùa của phái Luật tông Nhật Bản, được tôn sùng làm làm tổ sư của Luật tông Những loại Phật giáo đã được Trung Hoa hóa khi đi vào Nhật Bản, thiền tông trở thành đạo Phật của giới quý tộc người Nhật [23: 643 – 653]
Sau khi tư tưởng Nho gia truyền vào Nhật Bản, nó ảnh hưởng mạnh
mẽ, sâu sắc đến tư tưởng của người Nhật Sách Nho giáo trở thành loại sách bắt buộc phải đọc của giới đại sĩ phu Nhật Sau khi Cát Bị Chân Bị về nước, ông đã cho truyền giảng Lễ ký, Hán thư trên nước Nhật Từ đó về sau, nước
Trang 40này có khá nhiều bậc Nho học tinh thông kinh sử: Quan Nguyên Thị Thanh Công, Thị Thiện, Đạo Chân Tam Thế Những vị này trở thành tiến sĩ văn chương, được tôn là Nho học thế gia, thơ văn các vị sáng tác đều tuyên truyền cho việc tinh thông “trung, hiếu, nhân, ái, cương thường đạo giáo” [52: 504] Người Nhật rất yêu thích văn học nhà Đường, nhất là giới nhân sĩ Nền văn học nước này, chịu ảnh hưởng mạnh mẽ, mang nhiều nét của nền văn học Trung Hoa Các tập thơ văn của các tác giả nỗi tiếng Trung Hoa nối tiếp nhau vào nước Nhật Thơ Bạch Cư Dị hình tượng tươi sáng, ngôn ngữ dễ hiểu, được giới nhân sĩ người Nhật hâm mộ Tập ngâm vịnh thơ Hán thời Bình An
đã tuyển chọn 589 bài thơ Hán, trong đó có 137 bài của Bạch Cư Dị Hai
trường ca của Bạch Cư Dị là Trường hận ca và Tùy bà hành được lưu hành
rộng rãi, thậm chí còn được cải biến thành kịch bản để ca xướng Các loại hình văn thơ của văn học sử Trung Hoa cũng ảnh hưởng đến Nhật Các tập thơ in thành sách cổ xưa nhất của Nhật Bản vào thời nhà Đường có tác phẩm
Hoài thông tảo, Lãng vân tập, Văn hoa tú lệ tập, Kinh quốc tập Các tập thơ
này đều chịu ảnh hưởng lối văn biền ngẫu của thời kỳ Lục triều và Sơ Đường
ở Trung Hoa Trong tập Kinh quốc có đăng bài Ngư ca theo thể tạp ngôn của hoàng đế Ta Nga Bài này viết phỏng theo bài từ Ngư phụ của Trương Chí Hòa người Trung Hoa, Ngũ thất điệu của Nhật Bản được phát triển trên cơ sở
Ngũ thất ngôn của Trung Hoa, Trường ca Nhật Bản cũng phỏng theo thơ cổ
Nhạc Phủ của Trung Hoa Tiểu thuyết dài nổi tiếng nhất của Nhật Bản là cuốn
Nguyệt thị vật ngữ cũng lấy từ tứ thơ trong Trường hận ca của Bạch Cư Dị
Ngoài ra, các bài Du yến, Tặng đáp, Hòa ca, Đề vịnh, Tống biệt… cũng đều
thu nhận ý từ các nhà thơ đời Đường Cuối thời nhà Đường, nền văn học Trung Hoa ở Nhật Bản không còn thịnh như thời kỳ đầu, song trong nền văn học Nhật Bản vẫn mang nhiều nét của văn học Trung Hoa [23: 846 – 862]