Tuy nhiên cũng phải kể đến bài viết Hiểu như thế nào về khái niệm cách đọc Hán – Nhật và từ Hán – Nhật của Trần Sơn trên tạp chí Nghiên cứu Nhật Bản số 1[5]/1996 [66], cũng đã khái quát
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
KHOA ĐÔNG PHƯƠNG HỌC
-
HỒ NGỌC THỂ HÀ
CÁC ĐƠN VỊ GỐC HÁN TRONG TIẾNG NHẬT
VÀ CÁCH THỨC BẢN NGỮ HÓA CÁC ĐƠN VỊ ẤY
LUẬN VĂN THẠC SĨ CHUYÊN NGÀNH CHÂU Á HỌC
Mã số: 603150
Người hướng dẫn khoa học
TS LÊ ĐÌNH KHẨN
Thành phố Hồ Chí Minh – 2008
Trang 2LỜI CẢM ƠN
Xin chân thành cảm ơn:
- Tiến sĩ LÊ ĐÌNH KHẨN, người đã giảng dạy, hướng dẫn chúng tôi hoàn thành luận văn này với cả tinh thần trách nhiệm và lòng nhiệt thành
- Quý thầy cô Khoa Đông Phương học và quý thầy cô giảng dạy lớp Cao học Châu Á học 2004, những người đã nhiệt tình cung cấp cho chúng tôi những kiến thức bổ ích, giúp chúng tôi hoàn thành chương trình cao học
- Phòng Đào tạo sau đại học trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân Văn Tp Hồ Chí Minh đã tạo điều kiện thuận lợi cho chúng tôi học tập, nghiên cứu và thực hiện Luận văn
- Quý thầy cô tại thư viện Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân Văn, các quý thầy cô tại thư viện khoa Đông Phương đã giúp đỡ chúng tôi trong quá trình tìm kiếm tư liệu cho việc học và hoàn thành luận văn Sau cùng, xin cảm ơn tất cả bạn bè, người thân đã quan tâm và là nguồn động viên lớn cho chúng tôi trong thời gian nghiên cứu
Xin chân thành cảm ơn
Tp Hồ Chí Minh, ngày 10/01/2008
Hồ Ngọc Thể Hà
Trang 3MỤC LỤC
MỤC LỤC 3
DẪN NHẬP 6
1 Lý do chọn đề tài 6
2 Mục đích nghiên cứu 7
3 Lịch sử nghiên cứu đề tài 7
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 9
5 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài 10
6 Phương pháp nghiên cứu và nguồn tư liệu 10
7 Bố cục Luận văn 11
CHƯƠNG 1
VẤN ĐỀ VỀ TIẾP XÚC NGÔN NGỮ HÁN – NHẬT VÀ CÁC ĐƠN VỊ GỐC HÁN TRONG TIẾNG NHẬT 13
1.1 SƠLƯỢCVỀTIẾPXÚCNGÔNNGỮ 14
1.1.1 Khái niệm 14
1.1.2 Các kiểu và xu hướng tiếp xúc ngôn ngữ 18
1.1.2.1 Tiếp xúc tự nhiên 18
1.1.2.2 Tiếp xúc phi tự nhiên 18
1.1.2.3 Tiếp xúc tự giác 19
1.1.2.4 Tiếp xúc không tự giác 19
1.2 TIẾPXÚCNGÔNNGỮHÁN–NHẬT 20
1.2.1 Nhân tố xã hội tác động đến tiếp xúc Hán – Nhật 20
1.2.2 Nhân tố ngôn ngữ tác động đến tiếp xúc Hán – Nhật 22
1.2.3 Vai trò của tiếng Hán đối với tiếng Nhật và ngược lại 24
1.2.3.1 Vai trò của các đơn vị gốc Hán đối với tiếng Nhật 24
1.2.3.2 Từ Hán Nhật đối với tiếng Hán 26
Trang 41.3 CÁCĐƠNVỊGỐCHÁNTRONGTIẾNGNHẬT 27
1.3.1 Tiếng gốc Hán 27
1.3.2 Từ gốc Hán 28
1.3.2.1 Từ đơn 28
1.3.2.2 Từ ghép 29
1.3.3 Ngữ gốc Hán trong tiếng Nhật 30
1.3.3.1 Ngữ tự do 31
1.3.3.2 Ngữ cố định 32
1.4 TIỂUKẾTCHƯƠNG1: 35
CHƯƠNG 2
VẤN ĐỀ CÁCH THỨC BẢN NGỮ HÓA CÁC ĐƠN VỊ GỐC HÁN TRONG TIẾNG NHẬT 37
2.1 TỪĐƠNVÀCÁCHTHỨCBẢNNGỮHÓA 39
2.1.1 Mượn hình, mượn nghĩa và âm đọc gần giống 39
2.1.2 Mượn hình, mượn nghĩa nhưng không mượn âm: 40
2.1.3 Mượn hình, không mượn nghĩa, không mượn âm 45
2.1.4 Kokuji 国字- mượn nét để tạo chữ 46
2.1.5 Sửa đổi hình 49
2.1.6 Sửa đổi nghĩa 50
2.1.7 Sửa đổi âm 52
2.2 TỪGHÉPVÀCÁCCÁCHTHỨCBẢNNGỮHÓA 66
2.2.1 Mượn nghĩa, thay đổi trật tự 66
2.2.2 Từ ghép âm thuần Nhật kunyomi 68
2.2.3 Thêm yếu tố Nhật vào từ 70
2.2.4 Konshugo 混種語( hỗn chủng ngữ ) 75
2.2.5 Mượn tự để tạo từ 79
Trang 52.2.5.1 Từ ghép Nhật Hán 79
2.2.5.2 Hội nghĩa để tạo từ 82
2.2.5.3 Chuyển nghĩa 83
2.2.5.4 Tạo từ nhưng không mượn nghĩa 84
2.3 THÀNHNGỮVÀCÁCHTHỨCBẢNNGỮHÓA 86
2.3.1 Mượn nguyên hình – nghĩa và âm đọc Hán Nhật 86
2.3.2 Kết hợp với yếu tố tiếng Nhật 89
2.3.3 Dịch nghĩa 91
2.4 TIỂUKẾTCHƯƠNG2 94
CHƯƠNG 3
VẤN ĐỀ GIẢNG DẠY TỪ NGỮ GỐC HÁN TRONG TIẾNG NHẬT CHO NGƯỜI VIỆT 98
3.1 NHỚNGHĨACHỮQUAHÌNHẢNH 99
3.2 TỪĐƠN-TỪGHÉPVỚIÂMKUNYOMI–ÂM ONYOMI 101
3.3 NHẬNDIỆNTỪLOẠI 103
3.4 NHẬPTHANHVÀKANJI 104
3.5 SỰTƯƠNGĐỒNGGIỮAÂMHÁNVIỆTVÀHÁNNHẬT 107
3.5.1 Nguyên âm trong Hán Việt và Hán Nhật 107
3.5.2 Vần trong Hán Việt với âm Hán Nhật 114
3.5.3 Phụ âm trong Hán Việt với phụ âm trong Hán Nhật 120
KẾT LUẬN 124
TÀI LIỆU THAM KHẢO 130
PHỤ LỤC 140
PHỤ LỤC 1: BẢN ĐỐI CHIẾU TỪ HÁN VIỆT – HÁN NHẬT THÔNG DỤNG 140
PHỤ LỤC 2: ÂM ĐỌC KANJI NHẬT 152
Trang 6DẪN NHẬP
1 Lý do chọn đề tài
Có thể nói nếu không có Kanji thì tiếng Nhật không còn là tiếng Nhật
nữa Kanji 漢字 dịch theo âm Hán Việt là Hán tự (chữ Hán), nhưng nếu hiểu
Kanji chỉ là chữ Hán thì không phải vậy Thông thường, nói đến 字, người ta
luôn nghĩ đó chỉ là đơn vị văn tự - chữ viết Tuy nhiên, 字 là thuật ngữ mà ở
đây chúng tôi dùng để chỉ đơn vị đặc biệt trong tiếng Hán và trong tiếng Nhật
Nó có thể được vận dụng độc lập hay không độc lập; về mặt ngữ âm, tương
đương với một âm tiết; về mặt văn tự, nó được ghi lại bằng một chữ Hán 字 có
một hình thể cấu tạo nhất định bằng sự sắp xếp các “nét” theo chuẩn mực, nó
cũng có thể là một từ đơn vì nó có ý nghĩa cơ bản ban đầu nhất định như 月
(tsuki mặt trăng), 明(akarui sáng), 木 (ki cây), 車 (kuruma xe), 酒 (sake
-rượu),v.v… Có thể nói, hình - âm - nghĩa là ba phương diện trong một 字, hay
còn gọi là đơn vị “một thể ba ngôi”
Cho nên, ở đây, thay vì nói là Hán tự, xin được dùng từ Kanji để nói về các đơn vị tiếng Hán nói chung được du nhập vào Nhật Bản Kanji đóng một vai trò vô cùng to lớn trong hệ thống ngôn ngữ Nhật Bản Kanji cũng đã ăn sâu vào tâm thức của người Nhật Cho nên, một người muốn giỏi tiếng Nhật phải giỏi Kanji Nhưng Kanji không phải là một khái niệm đơn giản, vì như đã nói, Kanji trong tiếng Nhật không phải chỉ nói về chữ Hán mà đó là cả một hệ thống
Trang 7các đơn vị gốc Hán Đây cũng là điều mà luận văn này sẽ đề cập đến ở những chương sau
Ở Việt Nam hiện nay, số lượng người học tiếng Nhật ngày càng nhiều Nhưng chỉ dừng lại ở trình độ sơ cấp, lượng học viên cứ giảm dần khi học ở cấp
độ cao hơn Một trong những trở ngại đó là Kanji Điều khó khăn nhất của việc học Kanji là có quá nhiều âm đọc trong cùng một chữ nên khó nhớ và cũng không biết khi nào thì dùng âm đọc nào cho thích hợp Đề tài này nhằm tìm ra những quy luật hoạt dụng các âm đọc ấy từ cách thức Nhật hóa để có thể giúp người học tiếng Nhật giảm bớt những khó khăn do hệ thống Kanji gây ra
2 Mục đích nghiên cứu
Nghiên cứu về các đơn vị gốc Hán và cách thức Nhật hóa trong tiếng Nhật nhằm mục đích bổ sung kiến thức cho người học Kanji Việc kế thừa các công trình đi trước cho người viết có cách nhìn tương đối khái quát Vấn đề được nghiên cứu này cũng sẽ là nền tảng cho việc nghiên cứu những quy tắc trong phát âm từ Kanji, quy tắc biến đổi nghĩa,… nhằm góp phần cho việc dạy
và học Kanji dễ dàng hơn
Vì năng lực và thời gian có hạn, nên luận văn này chỉ nhằm mục đích giới thiệu khát quát nhất các đơn vị gốc Hán trong tiếng Nhật Đồng thời cũng giới thiệu vài nét về cách thức Nhật hóa các đơn vị gốc Hán ấy Sau này nếu có
cơ hội tiếp tục nghiên cứu, sẽ nghiên cứu sâu hơn về những quy tắc nhớ khi học Kanji trong tiếng Nhật thông qua quá trình bản ngữ hóa
3 Lịch sử nghiên cứu đề tài
Về các công trình nghiên cứu Kanji trong tiếng Nhật, có thể kể ra một số sách như sau:
Trang 8Tác giả Takashima Toshio viết khá kỹ và giải thích rất rõ ràng trong
quyển漢字と日本人 - Kanji to Nihonjin (người Nhật với chữ Hán) [85] về vấn
đề bản ngữ hóa âm Hán trong tiếng Nhật Chúng tôi cũng rất đồng ý với cách giải thích của ông về sự biến đổi trong cơ cấu phát âm của người Nhật khi có sự tiếp xúc với tiếng Hán Bài viết của ông lý giải được vấn đề có nhiều cách đọc trong một chữ Kanji và cũng đưa ra được quy luật của việc phát âm như vậy
Còn Harihiko với quyển An encyoclopedia of the Japanese languages
(Bách khoa của tiếng Nhật) [75] thì có đưa ra vấn đề sáng tạo từ Kanji mới của
người Nhật để ghi chép những khái niệm mới của kỹ thuật phương Tây Đây cũng là một cách giải thích cho việc bản ngữ hóa đơn vị gốc Hán về mặt nghĩa của từ
Còn Toudou Akiyasu trong sách 漢 字 と 文 化 圏 - Kanji to sono
Bunkaken (Hán Tự và vùng văn hóa Hán) [86] tuy là nhìn Kanji dưới góc độ
văn hóa nhưng cũng đã gợi mở một cách giải thích cho việc chỉnh sửa Hán tự
về mặt hình và nghĩa cho phù hợp với tư duy, quan niệm và văn hóa của người Nhật
Một số học giả ở Việt Nam cũng đã có những công trình liên quan đến đề tài mà chúng tôi đang tìm hiểu Nói đến việc nghiên cứu Hán tự ở Việt Nam phải kể đến các tên tuổi như Lê Trí Viễn, Nguyễn Tài Cẩn, Đặng Đức Siêu, Phan Ngọc,…
Tuy nhiên, vấn đề về các đơn vị gốc Hán trong tiếng Nhật vẫn còn nhiều khía cạnh chưa được tìm hiểu sâu sắc lắm ở Việt Nam Thông thường chỉ là các bài viết nhỏ trên các tạp chí Thỉnh thoảng cũng có vài khóa luận của sinh viên ngành Nhật Bản đề cập đến một cách sơ lược Nhìn chung, các tác giả thường nghiên cứu về các cấu tạo chữ Hán, về âm Hán Nhật onyomi và âm thuần Nhật kunyomi, về nét tương đồng giữa âm Hán – Việt và Hán – Nhật, về cách sử
Trang 9dụng chữ Kanji,…cũng chưa có công trình nào nghiên cứu sâu sắc đến vấn đề bản ngữ hoá các đơn vị gốc Hán trong tiếng Nhật Có một số bài viết có đề cập đến cách tiếp nhận chữ Hán của người Nhật nhưng chỉ dừng lại ở cấp độ từ ghép chứ chưa hệ thống được toàn bộ từ vựng tiếng Nhật
Tuy nhiên cũng phải kể đến bài viết Hiểu như thế nào về khái niệm cách
đọc Hán – Nhật và từ Hán – Nhật của Trần Sơn trên tạp chí Nghiên cứu Nhật Bản số 1[5]/1996 [66], cũng đã khái quát được quá trình tiếp xúc ngôn ngữ Hán
– Nhật và các phương cách tiếp biến của người Nhật Ông cũng đã có sự so sánh ngắn gọn với quá trình tiếp xúc ngôn ngữ Hán – Việt
Dù chỉ là tổng hợp các công trình đi trước, hy vọng luận văn này có được chút hữu ích trong cách nhìn về tiếp xúc ngôn ngữ và cách thức bản ngữ hóa tiếng Hán của người Nhật Chúng tôi rất mong luận văn này có thể đóng góp,
dù là nhỏ, cho các công trình nghiên cứu tiếp theo
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Chúng tôi sẽ quan tâm giải quyết mảng từ vựng gốc Hán từ cấp độ đơn vị
nhỏ nhất là tiếng cho đến đơn vị lớn nhất là ngữ (nhưng thời gian có hạn nên chúng tôi chỉ kể đến phần thành ngữ, cụ thể là thành ngữ 4 chữ)
Về phần từ, cần phân biệt từ gốc Hán với khái niệm từ ngoại lai Nói đến
từ ngoại lai, có lẽ đây là quan niệm khác nhau giữa Việt Nam và Nhật Bản Nếu
nhìn với tư cách một người Việt, chúng tôi sẽ nói từ gốc Hán là từ ngoại lai trong ngôn ngữ Nhật Bản Nhưng đối với người Nhật, khi nói đến từ ngoại lai
(外来語) thì đây là vấn đề còn tranh cãi Hầu như người Nhật đều xem từ gốc
Hán không phải từ ngoại lai Từ ngoại lai của Nhật Bản là những từ gốc tiếng nước khác - ngoài gốc Hán Chính vì thế, trong quá trình viết, chúng tôi có sự
Trang 10so sánh với mảng từ ngoại lai theo cách nói của người Nhật Cũng chỉ dừng lại
ở mức độ so sánh chứ không đặt trọng tâm vào mảng từ ngoại lai này
5 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
Đây là đề tài mà nếu thực hiện thành công thì sẽ có ý nghĩa:
- Góp phần minh họa cho tính đa dạng của lý thuyết tiếp xúc ngôn ngữ
- Góp phần rút ngắn thời gian cho việc dạy và học tiếng Nhật
- Có thể dùng làm tài liệu tham khảo cho những ai muốn đi sâu nghiên cứu về ảnh hưởng của tiếng Hán đối với tiếng Nhật
+ Góp phần giải quyết những khó khăn mà sinh viên ngành Nhật Bản học thường gặp phải hiện nay khi phải đối mặt với lớp từ ngữ gốc Hán trong tiếng Nhật
6 Phương pháp nghiên cứu và nguồn tư liệu
Đề tài có đề cập đến một số bình diện của ngôn ngữ học và lý thuyết tiếp xúc ngôn ngữ Do đó, phương pháp chủ yếu của luận văn là phương pháp nghiên cứu so sánh – đối chiếu Đây là phương pháp được dùng để so sánh sự khác nhau và giống nhau giữa quá trình tiếp xúc ngôn ngữ Hán, so sánh nét tương đồng và khác biệt trong cách thức bản ngữ hóa của Việt Nam và Nhật Bản
Ngoài ra đề tài có liên quan đến việc lý giải của sự biến đổi tư duy logic ngôn ngữ nên có kết hợp phương pháp lịch đại và đồng đại, giúp có cái nhìn
“tọa độ” và hiểu sâu và toàn diện hơn
Trong việc phân tích, xử lý dữ liệu, chúng tôi cố gắng so sánh một cách khái quát về sự giống và khác trong quá trình phát triển ngôn ngữ Hán ở Nhật
Trang 11Bản và Việt Nam, trên cơ sở xuất phát từ hai kiểu tiếp xúc ngôn ngữ, nên phương pháp ngôn ngữ học so sánh cũng được vận dụng
Chúng tôi bước đầu cũng làm quen với phương pháp mô hình hóa để lập nên mô hình, bảng biểu trên cơ sở quy nạp các lý thuyết ngôn ngữ và thực tế sử dụng ngôn ngữ
Đồng thời cũng sử dụng nhiều phương pháp khác như: hệ thống, cấu trúc, phân loại, phân tích, chứng minh, tổng luận,…
Ngoài những tài liệu liên quan trực tiếp đến đề tài, luận văn còn tiếp nhận nguồn tài liệu từ các khoa học khác như: lịch sử, văn hóa, nhân học,… bằng một số ngôn ngữ Việt, Anh, và Nhật
Bên cạnh đó, luận văn còn sử dụng nguồn tư liệu khác từ các tạp chí, báo, mạng Internet,…
Nguồn tư liệu trên được tập hợp từ các thư viện, các cá nhân, các phương tiện thông tin đại chúng, khảo sát thực tế, cùng với những kiến thức, kinh nghiệm của chúng tôi trong quá trình học tập và giảng dạy từ nhiều năm qua
7 Bố cục luận văn
Ngoài phần dẫn luận và kết luận, bố cục luận văn được chia làm 3 chương
- Chương I: VẤN ĐỀ VỀ TIẾP XÚC NGÔN NGỮ HÁN – NHẬT VÀ CÁC ĐƠN VỊ GỐC HÁN TRONG TIẾNG NHẬT
Đây là chương mở đầu tạo nền tảng lý luận cho các chương sau với các khái niệm về lý thuyết tiếp xúc ngôn ngữ Bên cạnh đó, chúng tôi giới thiệu về quá trình tiếp xúc ngôn ngữ ngữ Hán – Nhật để thấy nét đặc trưng của sự tiếp xúc tiếng Hán và tiếng Nhật
Trang 12Mặt khác, chúng tôi cũng giới thiệu khái quát về các đơn vị gốc Hán cơ bản trong tiếng Nhật Tiếp tục tìm hiểu về nét đặc thù của chữ Hán để làm cơ sở cho việc nghiên cứu vấn đề bản ngữ hóa các đơn vị gốc Hán này trong tiếng Nhật Nói chung đây là chương đệm để bật lên những đặc điểm mới của chữ Hán trong tiếng Nhật ở chương sau
- Chương II: VẤN ĐỀ CÁCH THỨC BẢN NGỮ HÓA CÁC ĐƠN VỊ GỐC HÁN TRONG TIẾNG NHẬT
Đây là chương chính của luận văn, viết về các cách thức bản ngữ hóa từ
và ngữ gốc Hán trong tiếng Nhật Chương này vừa cho thấy được sự tiếp xúc ngôn ngữ Nhật – Hán, vừa mở ra những quy tắc biến đổi chữ Hán trong tiếng Nhật, vừa có so sánh đôi nét với cách thức bản ngữ hóa tiếng Hán của Việt Nam
Đồng thời, cũng trong chương này, bước đầu đưa ra một số ý kiến nhỏ mang tính lý luận, tạo cơ sở cho những quy tắc nhớ Kanji trong tiếng Nhật ở chương sau Nếu có điều kiện nghiên cứu thêm thì sẽ trở thành quy tắc nhớ để dạy và học Kanji hiệu quả hơn
- Chương III: VẤN ĐỀ GIẢNG DẠY TỪ NGỮ GỐC HÁN TRONG TIẾNG NHẬT CHO NGƯỜI VIỆT
Đây là chương mang tính thực tiễn khi một số phương pháp nhớ Kanji được đưa ra từ những cách thức bản ngữ hóa các đơn vị gốc Hán trong tiếng Nhật ở chương II Với mong muốn giúp ích một phần cho việc giảng dạy và học tập Kanji, một số quy tắc về ba phương diện hình – nghĩa – âm đã được đưa
ra Đồng thời, sự tương đồng giữa âm Hán Việt và Hán Nhật thông qua cái gốc chung là Hán tự cũng góp phần vào quy tắc nhớ âm đọc Kanji dễ dàng hơn
Trang 13Tuy nhiên, vẫn còn nhiều thiếu sót và chưa nghiên cứu kỹ hết những
phương pháp nhớ Kanji vì thời gian có hạn Người viết vẫn hy vọng có cơ hội
để có thể tiếp tục nghiên cứu kỹ lưỡng hơn ở thời gian tiếp theo
CHƯƠNG 1
VẤN ĐỀ VỀ TIẾP XÚC NGÔN NGỮ HÁN – NHẬT VÀ CÁC
ĐƠN VỊ GỐC HÁN TRONG TIẾNG NHẬT
Trang 14
1.1 SƠ LƯỢC VỀ TIẾP XÚC NGÔN NGỮ
1.1.1 Khái niệm
Tiếp xúc ngôn ngữ là hiện tượng ngôn ngữ phổ biến trong đời sống xã hội giao tiếp của con người Thuật ngữ “tiếp xúc ngôn ngữ” lần đầu tiên được đưa ra bởi André Martinetb và được U Weinrich phổ biến rộng rãi qua quyển
sách Languages in contact Tự điển giải thích thuật ngữ ngôn ngữ học đã đưa ra
định nghĩa về tiếp xúc ngôn ngữ như sau: “Sự tác động qua lại giữa hai hoặc nhiều ngôn ngữ ảnh hưởng đến cấu trúc và vốn từ vựng của một hay nhiều ngôn
Trang 15ngữ có quan hệ đó Điều kiện xã hội của sự tiếp xúc ngôn ngữ là sự cần thiết phải trao đổi giao tiếp giữa các cộng đồng người thuộc các nhóm ngôn ngữ khác nhau do nhu cầu về kinh tế, chính trị và những nguyên nhân khác Tiếp xúc ngôn ngữ xảy ra nhờ việc thường xuyên lặp lại các cuộc đối thoại, thường xuyên có nhu cầu giao tiếp, trao đổi thông tin giữa những người nói hai ngôn ngữ khác nhau có khả năng sử dụng đồng thời cả hai ngôn ngữ, hoặc từng người sử dụng riêng rẽ một trong hai ngôn ngữ đó Do đó, có khả năng người nói có thể nắm vững đồng thời cả hai ngôn ngữ, tức là có thể nói bằng ngôn ngữ này hoặc ngôn ngữ kia, hoặc người nói chỉ hiểu một cách thụ động ngôn ngữ xa
lạ, không phải tiếng mẹ đẻ của mình.” [92:290] Nghĩa là, tiếp xúc ngôn ngữ
cần điều kiện giao tiếp thường xuyên giữa hai hay nhiều ngôn ngữ khác nhau với sự thay đổi về cấu trúc và vốn từ vựng để thích nghi với người sử dụng ngôn ngữ ngoài tiếng mẹ đẻ của mình
Trong Quy luật ngôn ngữ – quyển 3 của tác giả Hồ Lê, trang 261, cũng
có nói về tiếp xúc ngôn ngữ Đó là: “tổng thể các mối quan hệ giữa hai ngôn ngữ trong suốt một tiến trình lịch sử nhất định, thông qua vai trò của người song ngữ / người lưỡng ngữ, bao gồm các quan hệ so sánh – đối chiếu trong giai đoạn “nhận thức – tiếp xúc” đến các quan hệ tác động – chịu tác động hoặc các quan hệ tương tác giữa hai ngôn ngữ trong giai đoạn thực hành tiếp xúc” [15:20] Như vậy, tiếp xúc ngôn ngữ bao gồm nhiều mối quan hệ và được thông qua người song ngữ theo từng cấp độ nhận thức của người đó khi sử dụng các ngôn ngữ mà mình có được
Các tác giả Đái Xuân Ninh – Nguyễn Đức Dân – Nguyễn Quang –
Vương Toàn trong tác phẩm Ngôn ngữ học: khuynh hướng – lĩnh vực – khái
niệm, tập 2, trang 287 đã viết: “Tiếp xúc ngôn ngữ xảy ra khi con người (cá
nhân hay tập thể) sử dụng hai hay nhiều ngôn ngữ Nó xuất hiện khi có hiện
Trích theo Lê Đình Khẩn 2002, Từ vựng gốc Hán trong tiếng Việt, Nxb Đại học quốc gia TP HCM, tr.20
Trang 16tượng song ngữ hay đa ngữ, do nguyên nhân địa lý hay kinh tế – chính trị, quân
sự hoặc văn hoá – xã hội, v.v… Như thế, tiếp xúc ngôn ngữ là hiện tượng phổ biến cho mọi ngôn ngữ trên thế giới” [29:287] Tiếp xúc ngôn ngữ xuất hiện bởi
sự gần gũi về địa lý, giao lưu về kinh tế, chính trị, văn hoá,… dựa trên hiện tượng song ngữ hay đa ngữ
Còn tác giả Phan Ngọc thì: “Nói đến tiếp xúc ngôn ngữ là nói đến những thay đổi rất sâu sắc diễn ra ngay trong cấu trúc của A do B đưa đến, hay nói cách khác đi, nếu trong quá trình phát triển lịch sử, A không tiếp xúc với B thì tự nó không có cái diện mạo ngày nay, hay muốn có phải chờ đợi một thời gian lâu dài hơn rất nhiều, và kết quả không thể hệt như ngày nay được” [27:9] Đối với Phan Ngọc, tiếp xúc ngôn ngữ là một hiện tượng xảy ra mạnh mẽ trong lịch sử, các ngôn ngữ của ngày hôm nay đã được biến đổi rất nhiều do quá trình tiếp xúc ngôn ngữ trong quá khứ
Mỗi nhà nghiên cứu đều có cách nhìn riêng của mình về tiếp xúc ngôn ngữ Nhìn chung, tiếp xúc ngôn ngữ là một hiện tượng tự nhiên xảy ra khi người hay cộng đồng người nói ngôn ngữ này có nhu cầu giao tiếp với người hay cộng đồng người nói ngôn ngữ khác Các ngôn ngữ được giao tiếp sẽ dần biến đổi theo cấp độ tiếp thu của người sử dụng Càng được dùng nhiều, ngôn ngữ ấy càng mang tính cá thể của người dùng Quá trình biến đổi này có cơ sở
từ những người song ngữ hay đa ngữ
Trong Từ vựng gốc Hán trong tiếng Việt, tác giả Lê Đình Khẩn đã nêu
ra những nguyên nhân chính dẫn đến hiện tượng tiếp xúc ngôn ngữ như sau:
a) Hai dân tộc với hai ngôn ngữ khác nhau, có chung biên giới, có quá trình giao lưu lâu dài trong hoạt động kinh tế (như buôn bán trao đổi hàng hoá)
b) Sự đan xen di trú của kiều dân
Trang 17c) Sự chiếm đóng lâu dài của quân đội và các lực lượng quân sự của nước này đối với nước kia, nhằm áp đặt một chế độ chính trị, và nhằm đồng hoá nước kia
d) Một nước có nền văn hoá khoa học kỹ thuật sớm phát triển sẽ gây ảnh hưởng đến nước chậm phát triển bằng con đường ngôn ngữ [15:19]
Hệ quả của tiếp xúc ngôn ngữ là nảy sinh các hiện tượng giao thoa
ngôn ngữ, vay mượn ngôn ngữ và lai tạp ngôn ngữ Giao thoa vốn là thuật ngữ của vật lí học được dùng trong ngôn ngữ học Giao thoa ngôn ngữ là hiện tượng
lệch chuẩn của tiếng mẹ đẻ dưới tác động của ngôn ngữ thứ hai hoặc hiện tượng lệch chuẩn của ngôn ngữ thứ hai dưới tác động của tiếng mẹ đẻ ở những người
song ngữ hay đa ngữ Vay mượn vốn là từ ngữ được sử dụng trong đời sống hằng ngày được dùng trong ngôn ngữ học Hiện tượng vay mượn trong ngôn
ngữ trước hết là do tiếng mẹ đẻ bị thiếu, không có các đơn vị từ vựng thì buộc phải vay mượn của ngôn ngữ đang có Nhưng nhiều khi đã có sẵn rồi vẫn vay mượn, đó là vay mượn các đơn vị từ vựng nước ngoài mà bản thân hệ thống từ vựng của ngôn ngữ đó đã có từ biểu thị Khi hai ngôn ngữ tiếp xúc với nhau thì
phát sinh một hiện tượng nữa được gọi là lai tạp, là hiện tượng mà một ngôn
ngữ được dùng theo thói quen của những người có tiếng mẹ đẻ khác nhau, nhằm làm dễ dàng trong giao tiếp giữa họ
Hiện tượng tiếp xúc ngôn ngữ giữa tiếng Hán và tiếng Nhật cũng là một hiện tượng bình thường với nguyên nhân và hệ quả của nó Điều đó làm nên diện mạo của Nhật ngữ ngày nay
Trang 181.1.2 Các kiểu và xu hướng tiếp xúc ngôn ngữ
1.1.2.1 Tiếp xúc tự nhiên
Ngôn ngữ tiếp xúc tự nhiên là ngôn ngữ được tiếp xúc trong cùng một vùng không gian như: những người ở vùng biên giới giữa hai quốc gia, những người sống giữa sự đan xen di trú của kiều dân, những người được sinh ra và lớn lên dưới mái nhà có cha mẹ khác nhau về ngôn ngữ,…
Qua quá trình tiếp xúc tự nhiên, các đơn vị từ vựng trong cả hai ngôn ngữ không mất đi hay bị lai hoá mà nó lại được sắp xếp có trật tự và sản sinh ra cái mới, làm phong phú thêm cho ngôn ngữ gốc Chúng bổ sung lẫn nhau những khái niệm mới và có khả năng biến đổi cấu trúc trong thành phần từ vựng, lập lại trật tự ngữ nghĩa mới
1.1.2.2 Tiếp xúc phi tự nhiên
Tiếp xúc phi tự nhiên là sự tiếp xúc giữa các ngôn ngữ không cùng không gian Đây là hiện tượng xảy ra khi một quốc gia đạt đến trình độ văn minh cao (bao gồm trình độ khoa học kỹ thuật cao) nên các quốc gia khác muốn đến học Nhưng để có thể tiếp thu và sử dụng những sản phẩm khoa học kỹ thuật tiên tiến đó thì trước hết phải học ngôn ngữ của quốc gia đó
Cũng có trường hợp một ngôn ngữ được nhiều quốc gia có trình độ phát triển kinh tế cao sử dụng, dần dần trở thành thói quen dùng chính ngôn ngữ ấy
để giao tiếp quốc tế, nên các nước có trình độ kém phải học ngôn ngữ đó để hoà nhập với thế giới Anh ngữ là một ví dụ Anh ngữ đã là nhịp cầu giao lưu kinh
tế với các nước tư bản giàu có, và ngày nay, Anh ngữ trở thành ngôn ngữ giao lưu quốc tế Những người học Anh ngữ trở thành những cá thể song ngữ hoặc
đa ngữ
Trang 19gì đó rất riêng, có nét Nhật Đó cũng là điều mà chúng tôi sẽ trình bày ở những chương sau
1.1.2.4 Tiếp xúc không tự giác
Theo sau chính sách đồng hoá của nước xâm lược là việc cưỡng bức sử dụng ngôn ngữ của nước thống trị Một số nhà nghiên cứu đã gọi xu hướng tiếp
xúc này là tiếp xúc không tự giác Sự tiếp xúc này chỉ thực sự xảy ra khi quốc
gia bị lệ thuộc đã có ngôn ngữ riêng của dân tộc mình trước khi bị xâm chiếm Bởi lẽ nếu chưa có ngôn ngữ dân tộc thì khi bị đồng hoá toàn diện, với sự áp dặt
và cưỡng bức mạnh mẽ, lâu dài, dân tộc bị đô hộ sẽ hoàn toàn sử dụng ngôn ngữ của nước thống trị Khi đó, ngôn ngữ mà họ sử dụng chỉ có một chiều Sự cưỡng bức làm mất đi ngôn ngữ của dân tộc bị trị Nhưng khi dân tộc bị trị đã
có ngôn ngữ riêng của mình thì cái gốc không thể mất Cho nên, tiếp xúc cưỡng bức cũng góp phần làm giàu thêm cho ngôn ngữ dân tộc bị trị, khi họ giành lại được chính quyền, nếu họ biết phát huy và cải tạo cho phù hợp thì tiếng nói dân tộc họ lại càng thêm phong phú
Trang 20Tiếp xúc ngôn ngữ không phải là hiện tượng lạ mà nó xảy ra thường xuyên và liên tục Cho dù tiếp xúc theo kiểu gì và theo xu hướng nào thì cái mới luôn được sinh ra từ đó Tuỳ từng hoàn cảnh cụ thể mà mỗi quốc gia có sự tiếp xúc khác nhau Quá trình tiếp xúc từ quá khứ đến nay đã tạo nên ngôn ngữ các quốc gia như ngày nay
Tiếng Nhật ngày nay cũng vậy, là ngôn ngữ đã có một quá trình lịch sử lâu dài của tiếp xúc ngôn ngữ
1.2 TIẾP XÚC NGÔN NGỮ HÁN – NHẬT
Từ khái niệm về tiếp xúc ngôn ngữ đã trình bày ở trên, có thể thấy tiếp xúc ngôn ngữ cần nhân tố xã hội – ngôn ngữ Nói đến nhân tố xã hội là nói đến nhân tố bên ngoài ngôn ngữ như địa lý, giao thương, chiến tranh, văn hóa,… là tác nhân thúc đẩy sự tiếp xúc Nói đến nhân tố ngôn ngữ là nói đến các đặc điểm về loại hình ngôn ngữ (cùng loại hình hay khác loại hình), về ngôn ngữ thành văn (có chữ viết hay không có chữ viết),… tác động đến quá trình
“chuyển” từ hệ thống cấu trúc này sang hệ thống cấu trúc của ngôn ngữ kia Nhân tố xã hội – ngôn ngữ đã tác động mạnh mẽ đến quá trình tiếp xúc Hán – Nhật
1.2.1 Nhân tố xã hội tác động đến tiếp xúc Hán – Nhật
Trong khối Đông Bắc Á, Nhật Bản là đảo quốc duy nhất Ba nước Đông Bắc Á, Nhật Bản, Triều Tiên và Trung Quốc này gắn liền với nhau trong bước tiến chung của lịch sử, văn hoá khu vực Sự hiện diện của cư dân đầu tiên
ở Nhật Bản cách đây 30 nghìn năm với những công cụ thời đồ đá cũ có hình dạng rất giống những công cụ của di chỉ Chongongni, thuộc Nam Triều Tiên.[20:15] Rồi những mũi dao đá ở Sơn Tây, Trung Quốc lại rất giống những mũi dao ở Nhật Bản Những điều đó chứng minh được rằng, ngay từ thời văn
Trang 21hoá Jomon, người Nhật đã có những mối liên hệ với đất liền Không gian văn hoá của người tiền sử đã rộng mở, mang tính toàn khu vực
Các nhà khảo cổ học đã chứng minh mối liên hệ này phát triển mạnh
mẽ hơn vào thời đại Yayoi (khoảng thế kỷ III TCN – năm 300 SCN) Cuộc khai quật và giám định năm 1974 ở Fukuoka cho thấy các đồ gốm mang phong cách Triều Tiên đã có mặt ở Nhật Bản Cũng vậy, rất nhiều chế phẩm bằng đồng thau
và sắt từ Trung Quốc lại được tìm thấy ở Nhật Bản Cư dân Yayoi lúc bấy giờ
đã tiếp thu các thành tựu về kỹ thuật luyện kim từ Trung Quốc “Sự trao đổi nguyên liệu cũng như sản phẩm được chế tạo hoàn chỉnh đã trở thành hiện tượng phổ biến giữa các trung tâm văn hoá khu vực Đông Bắc Á thời kỳ này” [20:19]
Đến khoảng thế kỷ thứ IV, Trung Quốc đã mở rộng quan hệ thương mại sang các nước Triều Tiên, Nhật Bản và khu vực Đông Nam Á Cùng với con đường tơ lụa trên đất liền, còn có một con đường tơ lụa trên biển có sự góp mặt rất lớn của các thương nhân Trung Hoa Trong đó, Ryukyu – một đảo nhỏ của Nhật Bản với vị trí giao lộ giữa hai khu vực Đông Bắc Á và Đông Nam Á – đã trở thành một cường quốc thương mại cực thịnh trong khu vực Đó là nơi tụ hợp
đủ các nhóm người: thổ dân trên đảo, người Triều Tiên, người Trung Quốc,… Kèm theo các hoạt động tích cực của giao thương là việc thúc đẩy tiếp xúc ngôn ngữ Sự tiếp xúc của các nhóm người trên đảo này cũng là sự tiếp xúc về ngôn ngữ Đó là sự tiếp xúc giữa những ngôn ngữ khác nhau giữa các cộng đồng người đến từ nhiều quốc gia hoặc các vùng khác nhau Sinh hoạt ngôn ngữ lúc bấy giờ hẳn là thuộc trạng thái vừa lưỡng ngữ, vừa đa ngữ Tuy nhiên, trong cảm thức ngôn ngữ, lòng tự hào về tiếng mẹ đẻ của những cư dân ở đây sẽ góp phần giữ được bản sắc ngôn ngữ khi tiếp xúc với các ngôn ngữ khác
Từ thế kỷ VI đến thế kỷ IX, sự phát triển rực rỡ của văn hoá nhà Đường làm các nước trong khu vực vô cùng ngưỡng mộ, trong đó có Thái tử Shotoku
Trang 22(574 – 622) của dòng họ Soga, Nhật Bản, người rất nhiệt thành mở rộng bang giao với Trung Hoa Chính ông là người chủ trương tiếp thu tư tưởng Nho giáo
và đề cao Phật giáo, áp dụng mô hình phong kiến Trung Hoa Ông cũng là người chủ động gửi rất nhiều lưu học sinh sang Trung Hoa để học hỏi văn minh Các thời đại tiếp theo cũng không ngừng học theo Trung Hoa, tiến hành rất nhiều cải cách kinh tế – chính trị – xã hội theo mô hình nhà Đường lúc bấy giờ Họ không chỉ có mong muốn học hỏi mà còn muốn vươn xa hơn nữa, muốn Nhật Bản cũng là một cường quốc trong khu vực Các cá nhân được gửi
đi lưu học này trở thành các cá nhân song ngữ, tiếp nhận tiếng Hán như một yếu
tố mới vào hệ thống ngôn ngữ của mình Việc truyền bá tiếng Hán vào Nhật khiến cho việc tiếp xúc ngôn ngữ không phải xảy ra ở các cá thể riêng lẻ nữa
mà là cả cộng đồng Tiếng Nhật buộc phải tiếp nhận những yếu tố mới vào hệ thống và tiếng Hán thì chịu sự biến đổi để hòa nhập với chủ thể mới Khi ấy, tiếng Hán trở thành nhân tố góp phần làm cho tiếng Nhật phát triển và hoàn thiện hơn
1.2.2 Nhân tố ngôn ngữ tác động đến tiếp xúc Hán – Nhật
Có thể nói đặc điểm loại hình của hai ngôn ngữ Hán và Nhật là hoàn toàn khác biệt, nhưng tiếng Nhật vẫn vay mượn tiếng Hán Nguyên nhân ban đầu là Nhật Bản chưa có chữ viết nhưng muốn học hỏi những thành tựu văn minh Trung Hoa Cho nên, Nhật Bản không phải chỉ mượn chữ viết của Trung Hoa mà còn học tiếng Hán Học tiếng Hán không phải vì thiếu chữ viết mà vì muốn có và sử dụng được các thành tựu văn minh, trong đó bao gồm cả khoa học kỹ thuật, cách làm kinh tế, mô hình quản lý nhà nước,… của Trung Hoa Chính vì thế, tiếng Hán đã được du nhập vào Nhật Bản như một sự “cấy ghép”
Để cái “thân ghép” ấy tồn tại và sống được, Nhật Bản phải biến đổi, cải tạo sao cho phù hợp với với “cơ thể” mình Điều này lý giải được vì sao các đơn vị gốc
Trang 23Hán trong tiếng Nhật có diện mạo như ngày nay Quá trình bản ngữ hóa tiếng Hán diễn ra mạnh mẽ cũng vì lẽ đó
Thứ nhất, sự khác biệt về nhiều phương diện của ngôn ngữ làm cho người Nhật rất khó khăn trong việc phát âm, kết quả là một chữ Hán lại có ít nhất hai âm đọc vừa là âm Hán vừa là âm thuần Nhật Sự vận động của nó như thế nào sẽ được trình bày kỹ ở chương sau
Tuy nhiên, sự giao lưu Hán – Nhật không phải chỉ vì người Nhật chủ động học tiếng Hán Có người khẳng định từ trước công nguyên, tiếng Hán đã vào Nhật Bản, thông qua sự giao thiệp với quận Lạc Lãng của nhà tiền Hán, ở phía Bắc bán đảo Triều Tiên Cũng có người cho rằng từ thế kỷ IV, hoặc đến thế kỷ VII, trong mối quan hệ bang giao với nhà Đường Nếu nhìn từ nhân tố xã hội, với những mối quan hệ từ rất sớm giữa Nhật Bản và các nước trong khu vực, có lẽ người Nhật đã tiếp cận với tiếng Hán từ rất sớm, cũng có thể là từ thế
kỷ I Cũng chính vì tiếng Hán du nhập vào Nhật Bản từ rất sớm theo nhiều đợt như vậy, nên Kanji trong tiếng Nhật có rất nhiều cách đọc khác nhau Nhưng
chủ yếu có hai cách đọc âm Hán mà người Nhật gọi là go-on 呉音(Ngô âm) và kan-on 漢音 (Hán âm) Âm Hán đọc theo go-on là cách đọc Hán ngữ cổ, đời
nhà Ngô, vùng hạ lưu sông Dương Tử, phía Nam Trung Quốc Có khác đôi
chút, cách đọc theo kan-on là âm đọc chữ Hán theo âm hệ nhà Đường, lưu vực
sông Hoàng Hà, khoảng thế kỷ VI, phía Bắc Trung Quốc Người Nhật đã lấy
cách đọc kan-on này làm chuẩn nên những từ Hán mới phát triển sau này đều đọc theo kan-on [66:54]
Thứ hai, việc tiếng Nhật chưa có chữ viết nên Hán tự đã trở thành một
bộ phận văn tự không thể thiếu về mặt văn bản trong tiếng Nhật, và với sự cải tạo của người Nhật, Hán tự cũng không còn là những chữ độc lập được viết gọn trong một ô vuông như chữ của Trung Quốc ngày nay, mà hầu như bên cạnh
Trang 24Hán tự đều có các yếu tố Nhật Các yếu tố Nhật này, nói cách khác là chữ Nhật,
đã được ra đời trên cơ sở chữ Hán Thế kỷ IX, các nhà sư du học và nghiên cứu lâu năm ở Trung Quốc đã đánh dấu một sự kiện quan trọng cho lịch sử Nhật Bản khi sáng tạo ra chữ viết riêng của mình Trên cơ sở đơn giản hóa cách viết thảo của chữ Hán nhằm ghi lại mọi âm vận trong tiếng Nhật Các chữ Nhật biểu
âm đã ra đời, người Nhật gọi đó là chữ Kana Cũng có thể nói Kana là một sản phẩm của tiếp xúc ngôn ngữ Hán – Nhật
Kana có hai loại chữ, có âm đọc như nhau nhưng cách viết khác nhau Hiragana được viết mềm mại, còn gọi là chữ mềm, dùng để ghi âm đọc chữ Hán, ghi những hư từ làm công cụ ngữ pháp Katakana là loại chữ cứng, được dùng để phiên âm tiếng nước ngoài và các từ ngoại lai có xuất xứ không phải từ chữ Hán Chữ Kana lúc mới ra đời tuy không được nhà nước xem là văn tự chính thống, nhưng nó làm người Nhật dễ dàng biểu đạt được ngôn ngữ của mình bằng chữ viết Nó góp phần thúc đẩy sự phát triển của văn học nghệ thuật, đặc biệt là văn học của tầng lớp bình dân và phái nữ
Như vậy, văn tự của Nhật bao gồm hai loại chữ chính: Hán tự và Kana Kana ra đời chỉ hoàn thiện thêm cho Nhật ngữ về mặt văn tự Quá trình tiếp xúc ngôn ngữ giữa tiếng Hán với tiếng Nhật vẫn diễn ra cho đến ngày nay, tạo nên
bề dày một hệ thống đơn vị gốc Hán trong tiếng Nhật, nó trở thành một phần không thể thiếu của ngôn ngữ Nhật
1.2.3 Vai trò của tiếng Hán đối với tiếng Nhật và ngược lại
1.2.3.1 Vai trò của các đơn vị gốc Hán đối với tiếng Nhật
Nếu chỉ cảm nhận Kanji bằng âm thanh thì không thể hiểu hết được nghĩa chữ Chính vì thế, Kanji làm rõ nghĩa những từ đồng âm Bất kỳ ngôn ngữ nào cũng có số lượng khổng lồ những từ đồng âm Thật khó phân biệt nếu chỉ đọc các từ ấy bằng chữ biểu âm Kana Nhờ có Kanji, tiếng Nhật có thể phân
Trang 25biệt được ngay ý nghĩa mà người viết muốn nói Ví dụ như một cách phát âm là
“hashi”(はし) nhưng vừa có nghĩa là cây cầu (橋), cũng có nghĩa là chiếc
đũa (箸) Hay như từ “hana”(はな)cũng phát âm như thế nhưng lại có nghĩa
là bông hoa (花) hoặc cái mũi (鼻) Nếu không có chữ Hán phân biệt thì trong
một số trường hợp không thể biết ý người nói muốn nói đến sự vật nào Hay
như từ “kaji” (かじ) là hoả hoạn (火事), nhưng cũng có nghĩa là việc nhà (家
事), chỉ việc nhìn vào chữ Hán, người đọc biết ngay là nghĩa hoả hoạn hay việc
nhà
Chính vì đặc trưng này mà người Nhật buộc phải học chữ Hán để có thể đọc được trọn vẹn ý nghĩa mà người viết muốn nói đến Nhưng ai cũng biết chữ Hán rất khó nhớ, cho nên người Nhật cũng có cách giải quyết rất hay là họ vẫn viết bằng chữ Hán nhưng để tiện cho người đọc, họ phiên âm cách đọc lên đầu
chữ Hán đó bằng chữ Kana Ví dụ 家事
か じ, 橋
はし, Điều này giúp người đọc không những đọc dễ dàng mà còn có thể hiểu ngay nghĩa của từ Đối với người Nhật biết không nhiều Kanji cũng có thể đọc được rồi tra nghĩa sau Đối với những người không biết tiếng Nhật nhưng biết tiếng Hán, cũng có thể hiểu được nghĩa qua cách nhìn mặt chữ
Từ đơn vị tự, người Nhật sáng tạo từ, từ gốc Hán chiếm một số lượng
rất lớn trong ngôn ngữ Nhật, hơn 60% từ vựng tiếng Nhật Trong đó không chỉ
có những từ được vay mượn trực tiếp từ Hán ngữ mà còn là những từ được người Nhật tạo ra Những từ được sáng tạo ấy khó có thể nói là Hán ngữ hay Nhật ngữ Những gì người Nhật sáng tạo từ chữ Hán cũng thật đáng được trân trọng, ngay cả người Trung Quốc cũng đã vay mượn lại và đôi khi chính người Trung Quốc cũng không thể tưởng nổi nó có nguồn gốc từ Nhật Bản Từ gốc
Trang 26Hán trong tiếng Nhật đã được người Nhật xem như ngôn ngữ của mình, họ đặt những từ gốc Hán nằm ngoài khái niệm “từ ngoại lai”
Ngữ, mà ở đây chúng tôi quan tâm chỉ là thành ngữ, cũng có vai trò
quan trọng trong ngôn ngữ Nhật Việc du nhập Hán ngữ vào Nhật Bản không phải chỉ bằng cách du nhập từng chữ một Các lưu học sinh khi học chữ Hán là
học Luận ngữ, Thiên tự văn,… những kinh điển Nho gia Theo đó thành ngữ du
nhập vào Nhật Bản với tư cách là đại diện của tiếng Hán Ngày nay, thành ngữ tuy không phổ biến trong giao tiếp hàng này của người Nhật nhưng nó có giá trị
to lớn về học thuật và nghiên cứu những tác phẩm kinh điển Thành ngữ còn là công cụ lưu giữ những giá trị văn hóa truyền thống của nước Nhật và người Nhật
1.2.3.2 Từ Hán Nhật đối với tiếng Hán
Người Nhật vốn rất nhạy bén và khéo léo trong việc tiếp thu từ ngữ nước ngoài Đặc biệt người Nhật rất chú trọng tiếp thu những thành tựu khoa học kỹ thuật tiên tiến và văn minh phương Tây trên mọi lĩnh vực Do đó họ đã dùng chữ Hán để dịch các từ ngữ Ấn Âu sang tiếng Nhật Người Trung Quốc đã phải vay mượn trực tiếp những từ đó của người Nhật qua con đường chữ Hán Lớp
từ Hán Nhật này đã được người Trung Quốc sử dụng rất tự nhiên, lâu dần họ quên mất là mình đã vay mượn của người Nhật Nhưng căn cứ vào mặt ngữ âm thì các nhà ngôn ngữ học có thể nhận ra chúng có nguồn gốc từ Nhật Bản Ví
dụ như từ kakumei 革命(cách mạng), nếu chỉ viết chữ 革 hoặc chữ 命 thì đó là
những chữ Hán do người Nhật vay mượn, nhưng họ đã biết ghép 革+ 命 để
sáng tạo ra từ mới, giải nghĩa cho từ “revolution” trong tiếng Anh, là “cách
mạng” Người Trung Quốc đã mượn nguyên từ cách mạng này vào vốn từ của
mình Lớp từ vay mượn này có số lượng khá lớn trong tiếng Hán hiện đại Tác
Trang 27giả Lê Đình Khẩn [15:32-134] đã tập hợp khá nhiều từ Nhật Hán (theo cách gọi của tác giả) được dùng ở Trung Quốc, đồng thời đã được vay mượn vào tiếng Việt qua âm Hán Việt
1.3 CÁC ĐƠN VỊ GỐC HÁN TRONG TIẾNG NHẬT
Âm Hán Nhật chính là tiếng gốc Hán Vì vậy mà không phải ngẫu nhiên người
Nhật gọi âm Hán Nhật là onyomi 音読み Chữ on được viết là 音 âm, không
phải là 漢 hán Có lẽ bởi vì người Nhật muốn gọi cách phát âm đơn lập từng
tiếng một của tiếng Hán là âm Tức là chỉ có âm Hán mới phát ra từng tiếng một
mà thôi Chữ 音 âm này nếu dịch sang tiếng Việt cũng có thể gọi là tiếng
Nhưng một tiếng trong tiếng Hán thường có ý nghĩa rõ ràng, có khả năng hoạt
động tự do, thường là một từ đơn Một đơn vị Kanji để có nghĩa như một từ đơn
phải kết hợp với yếu tố Nhật hoặc đọc theo âm Nhật, hay còn gọi là kunyomi 訓
読み(huấn độc) Huấn có nghĩa là lời chỉ dạy, nhưng có thể hiểu đây là âm đọc
dùng để dạy nghĩa của chữ Hán và được gọi là âm Nhật Như vậy, âm Hán Nhật
(hay tiếng) trong tiếng Nhật không thể là một từ đơn được Nó thường chỉ là
đơn vị mang âm và được viết bằng một tự nhưng thiếu hẳn phần nghĩa Khi
hoạt động độc lập như một từ đơn, đơn vị gốc Hán được đọc theo kunyomi Có
Trang 28thể nói khi hoạt động trong tiếng Nhật, yếu tố kunyomi đã tách phần nghĩa trong thể ba ngôi của tự ra, nhưng cũng có thể nói kunyomi là phần bổ sung thêm cho Kanji khi hoạt động trong tiếng Nhật Đa số các chữ Kanji trong tiếng Nhật trở
nên có bốn yếu tố : hình – âm Hán Nhật onyomi – âm thuần Nhật kunyomi và nghĩa
1.3.2 Từ gốc Hán
Từ là đơn vị cơ bản chủ yếu có khả năng vận dụng độc lập mang nghĩa từ vựng, nghĩa ngữ pháp Từ là đơn vị đặc biệt có thể diễn đạt một nội dung tối thiểu đầy đủ và phân biệt với các đơn vị ngôn ngữ khác…
駱駝 lạc đà 葡萄 bồ đào 菩嶐 bồ tát
琥珀 hổ phách 羅漢 la hán 袈裟 cà sa
玻璃 pha lê 閣羅 diêm la 猩猩 tinh tinh
Từ đơn gốc Hán trong tiếng Nhật thường là từ hai âm tiết trở lên, đọc theo âm kunyomi, nhưng biểu thị trên văn bản thì thường chỉ một chữ Hán:
人 nhân (hito - người), 明 minh (akarui - sáng), 手 thủ (te - tay), 見 kiến (miru - thấy), 小 tiểu (chiisai - nhỏ)… đều là những từ biểu đạt nghĩa trọn vẹn
khi đọc theo âm kunyomi như thế
Trang 291.3.2.2 Từ ghép
Từ ghép được tạo ra bằng cách ghép ít nhất hai từ đơn lại với nhau, tạo
thành từ mới trên cơ sở kết hợp nghĩa Các từ như jissai 実際 (thực tế),
tomodachi 友達 (bạn bè), hikoujou 飛行場 (sân bay),… được xem là từ ghép
gốc Hán trong tiếng Nhật Dựa vào mối quan hệ về nghĩa mà có thể phân ra từ ghép đẳng lập và từ ghép chính phụ
Từ ghép đẳng lập hình thành trên cơ sở ghép các từ đơn đồng loại, theo quan hệ bình đẳng, để biểu thị ý nghĩa khái quát, tổng hợp, trừu tượng: kankei
関係 quan hệ, shuto 首都 thủ đô, kyouiku 教育 giáo dục, menseki 面積 diện
tích…
- Có thể ghép các từ đơn có nghĩa trái ngược nhau thành từ ghép trái nghĩa:
danjo 男女 nam nữ, shisei 死生 tử sinh, shutsunyuu 出入 xuất nhập,…
- Có thể ghép các từ đơn có nghĩa gần nhau thành từ ghép liên hợp: kokka
国家 quốc gia, hatten 発展 phát triển, seisan 生産 sinh sản, katsudou 活
動 hoạt động, kyoudai 兄弟 huynh đệ, fubo 父母 phụ mẫu,
Từ ghép chính phụ là sự kết hợp theo quan hệ chính – phụ, trong đó có một thành tố làm nòng cốt, là thành tố chính và một thành tố khác ghép thêm
vào làm thành tố phụ: doubutsu 動物 động vật, gaikoku 外国 ngoại quốc,
kobito 小人 tiểu nhân, setsumei 説明 thuyết minh,…Có thể chia thành:
- Từ ghép chính phụ theo quan hệ phụ thuộc: naibu 内部 nội bộ, geka 外科
ngoại khoa, kaigun 海軍 hải quân, shokubutsu 植物 thực vật,…
Trang 30- Từ ghép chính phụ theo quan hệ bổ sung: shoumei 証明 chứng minh,
kakushin 革新 cách tân, kaisen 改選 cải tuyển,…
- Từ ghép chính phụ theo quan hệ trần thuật (còn được gọi là từ ghép chủ
vị): nisshoku 日蝕 nhật thực, shuubun 秋分 thu phân, minshu 民主 dân
chủ,…
- Từ ghép chính phụ theo quan hệ chi phối: shougun 将軍 tướng quân,
kaseki 化石 hóa thạch, kakumei 革命 cách mệnh, yuugen 有限 hữu hạn,
chuui 注意 chú ý, kanshin 関心 quan tâm,…
1.3.3 Ngữ gốc Hán trong tiếng Nhật
Câu do từ kết hợp lại mà thành Nhưng để có một câu vừa đầy đủ và
trọn vẹn về ý, phải nói đến sự kết hợp của cụm từ mà chúng ta gọi đó là ngữ
Đó là một kết cấu cú pháp được tạo thành bởi hai hoặc nhiều thực từ trên
cơ sở liên hệ ngữ pháp phụ thuộc – theo quan hệ phù hợp, chi phối hay liên
hợp Ngữ diễn đạt một khái niệm thống nhất, và là tên gọi phức tạp biểu thị các hiện tượng của thực tại khách quan Trong một ngữ có từ đóng vai trò chủ yếu
về mặt ngữ nghĩa và ngữ pháp, gọi là thành tố chính, các từ phụ thuộc vào
thành tố chính gọi là các thành tố phụ Thành tố chính của ngữ có thể là danh từ
(tạo nên danh ngữ), động từ (tạo nên động ngữ), tính từ (tạo nên tính ngữ) Ngữ còn được gọi là cụm từ, từ tổ
Ngữ là phương tiện định danh, biểu thị sự vật, hiện tượng, quá trình,
phẩm chất Ý nghĩa ngữ pháp của ngữ được tạo nên bằng quan hệ nảy sinh giữa các thực từ kết hợp lại trên cơ sở của một kiểu liên hệ nào đó giữa chúng Ngữ thường chia ra hai kiểu: ngữ tự do và ngữ không tự do (ngữ cố định) Ngữ tự do
Trang 31gồm những ý nghĩa từ vựng độc lập của tất cả các thực từ tạo thành ngữ; mối liên hệ cú pháp của các yếu tố trong ngữ tự do là mối liên hệ linh hoạt và có sức
sản sinh (kiểu như đọc sách) Còn trong ngữ không tự do thì tính độc lập về mặt
từ vựng của một hoặc cả hai bị yếu đi hoặc bị mất và ý nghĩa từ vựng của ngữ
trở nên giống như ý nghĩa của một từ riêng biệt (kiểu như vui tính, bền gan, sân
bay, đường sắt)
Đó là khái niệm khá đầy đủ về ngữ của Tự điển giải thích thuật ngữ ngôn
ngữ học.[92:176] Có thể tóm lại, ngữ là cụm từ được kết hợp bởi nhiều từ (ít
nhất là hai từ) theo một phương thức nhất định nhằm diễn đạt một ý phong phú
và hoàn chỉnh
Ngữ khác từ về mặt cấu tạo và khả năng biểu đạt ý nghĩa nhưng về chức
năng ngữ pháp thì ngữ đồng đẳng với từ, cũng chỉ là thành phần câu và có
những chức năng ngữ pháp nhất định
Vì mối quan hệ giữa các từ trong ngữ khác nhau nên có nhiều loại kết cấu
về ngữ:
- Kết cấu chủ vị: kết hợp theo quan hệ chủ ngữ và vị ngữ nhưng không
đứng độc lập thành câu mà chỉ là một bộ phận của câu
- Kết cấu chính phụ: gồm hai thành tố, nhất thiết phải có thành tố chính,
đóng vai trò trung tâm và thành tố phụ khác bổ nghĩa cho thành tố chính
- Kết cấu liên hợp: sự kết hợp giữa các thành tố trong ngữ không chặt chẽ,
có thể thay đổi vị trí cho nhau hoặc xen hư từ vào giữa
- Kết cấu động tân: động từ phía trước bổ ngữ, chi phối danh từ hoặc đại từ
phía sau
1.3.3.1 Ngữ tự do
Ngữ tự do là một cụm từ được tạo ra nhất thời trong lời nói do nhu cầu
thực tế được phản ảnh hoặc do nhu cầu chủ quan của người nói Do đó, ngữ tự
Trang 32do đơn thuần chỉ là sự lắp ghép nhất định các từ lại với nhau và nó có thể được
tách ra sau khi đã hoàn thành lời nói Như đã đề cập trong phần khái niệm, mối liên hệ cú pháp của các yếu tố trong ngữ tự do là mối liên hệ linh hoạt và có sức sản sinh
Tuy chỉ là sự lắp ghép nhưng ngữ tự do luôn có một thành tố trung tâm
và các thành tố phụ ở xung quanh nó, do đó mối liên hệ giữa các từ trong ngữ sản sinh dần ra
Các thành tố phụ có thể được thay đổi bằng các từ khác tuỳ vào người nói – hoặc cũng có thể mở rộng thêm nếu như người nói muốn giải thích rõ
hơn, hoặc cũng có thể lược bớt nếu cần thiết
Cứ thế, một ngữ có thể được diễn đạt thật ngắn (từ hai từ) nhưng cũng
có thể được biểu thị thật dài, dài hơn cả câu, phụ thuộc vào nhu cầu của người nói
Thành tố trung tâm thuộc vào loại từ gì thì vẫn giữ được đặc trưng của loại từ đó Vì thế căn cứ vào từ loại của thành tố trung tâm, có thể phân loại thành ngữ danh từ, ngữ động từ hay ngữ tính từ
Nắm vững kết cấu của ngữ tự do, chúng ta có thể phát triển thêm nhiều thành tố phụ bổ sung cho nội dung phong phú hẳn liên Hoặc ngược lại, chúng
ta cũng có thể gạt bỏ tạm thời những chi tiết phụ làm cho câu được khúc chiết
rõ ràng hơn Đó là cái lợi của người biết vận dụng khéo léo ngữ tự do
1.3.3.2 Ngữ cố định
Ngữ không tự do hay ngữ cố định là cụm từ sẵn có (có chức năng như từ) với các thành phần từ vựng và ngữ nghĩa ổn định Người sử dụng chỉ việc dùng cụm từ có sẵn này đưa vào lời nói thích hợp với tình huống mà thôi
Về ngữ tự do xin được trình bày trong một công trình khác
Trang 33Ngữ cố định bao gồm nhiều loại Ngữ cố định chuyên xưng và thành
ngữ là hai loại ngữ thường gặp của tiếng Hán Loại chuyên xưng là cụm từ để
gọi tên sự vật, đó có thể là tên một quốc gia, một tổ chức đoàn thể xã hội, một trường học, nhà máy, cơ quan,… Kết cấu giữa các từ rất chặt chẽ và cố định, không thể tuỳ tiện thay đổi trật tự các thành tố, cũng không thể thay thế hoặc thêm bớt các thành tố Nếu thêm bớt, thay đổi thì người nghe sẽ không hiểu được điều người nói muốn đề cập đến Ví dụ:
共産黨東洋 Cộng Sản Đảng Đông Dương
大酒樓林園 Đại tửu lâu Lâm Viên
vì đã là tên riêng, không thể tùy tiện thay đổi được
Thành ngữ trong tiếng Hán cũng là một loại ngữ cố định Đó là các cụm
từ có tính nguyên khối, có tổ chức chặt chẽ, rõ ràng, được mọi người sử dụng trong thời gian dài và đã trở thành quy ước chung Nghĩa của các từ tạo nên nó bản thân bị mờ đi, nhường cho một nghĩa chung của toàn ngữ mà phải suy nghĩ sâu sắc mới hiểu được Tức là hầu như không có nghĩa đen trong thành ngữ Có
4 tiêu chí để nhận diện thành ngữ: [15: 220]
1) Thành ngữ là tổ hợp gồm hai từ trở lên luôn luôn tồn tại trong đầu người sử dụng dưới dạng có sẵn khi cần là có thể dùng ngay
Trang 342) Nghĩa của thành ngữ là nghĩa bóng, ẩn dụ, quy ước, có tính võ đoán, không phải chỉ là phép cộng của nghĩa các thành viên cấu tạo nên nó Đó là điểm khác nhau cơ bản giữa thành ngữ với những tổ hợp tự do
3) Thành ngữ có cấu trúc cố định, nói chung không thể đảo lộn vị trí các thành tố, không thể tuỳ tiện thay đổi các thành tố, cũng không thể chêm xen các yếu tố khác vào giữa các thành tố Tuy nhiên cũng có thể có biến thể
4) Thành ngữ luôn thống nhất về từ vựng - ngữ pháp Một thành ngữ không kể có quy mô cấu trúc tương đương với từ hay câu, trên tổng thể nhất định phải thuộc về một từ loại, khi hoạt động trong câu có chức năng cú pháp nhất định
Thành ngữ là một bộ phận rất lớn trong ngôn ngữ Hán Hầu như trên mọi lĩnh
vực đời sống đều có thể sử dụng thành ngữ Phần lớn đều được cấu tạo bằng 4
tự, nói chung đều có xuất xứ Có một số thành ngữ có thể hiểu được qua mặt
chữ:
上路平安 thượng lộ bình an
百専百勝 bách chiến bách thắng
万時好意 vạn sự hảo ý
尊師重道 tôn sư trọng đạo
Có những thành ngữ phải biết nguồn gốc hoặc điển cố mới hiểu được ý nghĩa:
阿其所好 a kỳ sở hảo
皮窩煮肉 bì oa chử nhục
Trang 35Ngữ cố định trong tiếng Hán tái hiện được các thời lỳ lịch sử, chứa đựng cả tập tính, văn hoá của đất nước Trung Hoa Các nước khác khi tiếp thu ngôn ngữ Hán cũng sẽ chịu ảnh hưởng của nền văn hoá Hán mà thành ngữ là một trong những yếu tố cực kỳ quan trọng trong quá trình tiếp biến văn hoá ấy Tuy nhiên, trong khuôn khổ của đề tài này, chúng tôi chỉ sẽ dừng ở cách thức bản ngữ hoá tiếng Hán mà không đi sâu vào nghiên cứu vấn đề về văn hoá dân tộc trong thành ngữ
Trang 36Nguyên nhân Phương thức Kết quả
- Điều kiện địa lý
- Người Nhật có nhu cầu bổ sung tri thức và trình
độ văn minh về mọi mặt
- Người Nhật có tinh thần tự cường dân tộc cao, muốn học hỏi để phát huy thế mạnh dân tộc
- Tiếp nhận với tinh thần vay mượn chủ động
- Từ Hán đã
bổ sung, làm phong phú từ vựng tiếng Nhật
- Văn tự Hán giúp làm rõ các từ đồng
âm trong tiếng Nhật
- Trên nền tảng chữ Hán, chữ Kana đã
ra đời
- Tiếng Nhật trở nên phức tạp về mặt chữ viết và âm đọc, gây khó khăn cho việc học và nghiên cứu
- Người Trung Quốc học tập tri thức thế giới thông qua văn tự Hán
- Sự vay mượn qua lại vẫn tiếp diễn, vô thời hạn
- Góp phần làm cho hệ thống chữ Hán nói chung trong khu vực Hán thêm đa dạng
- Khẳng định chữ Hán là loại chữ phái sinh
- Có sự nhập nhằng, gây tranh cãi nhiều
về xuất xứ của
từ ngữ
[BB- 1.4] Tóm tắt quá trình tiếp xúc ngôn ngữ Hán - Nhật
Hệ thống các đơn vị gốc Hán trong tiếng Nhật cơ bản tạm thời có
ba cấp độ: tiếng (âm), từ và ngữ Ở đây cũng cần khẳng định lại Kanji không phải như cách gọi là chữ Hán, không đơn thuần về mặt văn tự, chữ viết Kanji là một đơn vị đặc biệt vì tính chất một thể ba ngôi (hình – âm – nghĩa) được thêm
âm đọc kunyomi làm cho Kanji Nhật có hai âm đọc onyomi và kunyomi
Cấp độ cao hơn tiếng là từ, là đơn vị quan trọng, là chất liệu chính
để tạo câu, có thể dựa và tiêu chí ngữ âm và ngữ nghĩa để phân loại từ Từ gồm
Trang 37từ đơn và từ phức, từ phức có từ ghép và từ láy Nhìn chung, đơn vị từ gốc Hán
trong tiếng Nhật hầu như là từ đơn và từ ghép
Ngữ gốc Hán trong tiếng Nhật phần lớn là thành ngữ, trong đó đa
số là thành ngữ bốn chữ
Khi nghiên cứu các đơn vị gốc Hán cơ bản trong tiếng Nhật, sẽ có
cơ sở để tìm hiểu sự tiếp xúc ngôn ngữ và quá trình bản ngữ hoá ngôn ngữ Hán
ở đất nước này Vấn đề mà chúng tôi sẽ quan tâm chính là quá trình bản ngữ
hoá tiếng Hán của Nhật Bản - nơi tiếp thu và tiếp biến sâu sắc ngôn ngữ Hán
CHƯƠNG 2
VẤN ĐỀ CÁCH THỨC BẢN NGỮ HÓA CÁC ĐƠN VỊ GỐC
HÁN TRONG TIẾNG NHẬT
Trang 38Tiếng Nhật có một số lượng lớn các từ ngoại lai với rất nhiều ngôn
ngữ trên thế giới Nhìn chung có thể chia thành hai mảng lớn Đó là các từ ngoại lai gốc Hán và từ ngoại lai gốc phương Tây Tuy nhiên, người Nhật đã
quy ước hễ nói đến từ ngoại lai (gairaigo 外来詞) tức là nói đến từ không có
gốc Hán Có lẽ đối với họ, chữ Hán đã quá quen thuộc (chiếm số lượng rất lớn trong ngôn ngữ Nhật với hơn 60% tổng số từ vựng), đến mức có thể xem như ngôn ngữ của chính họ, hoặc ít ra nó cũng là một mảng từ khác nằm ngoài khái
Trang 39niệm từ ngoại lai Theo đó, chúng tôi xin tạm gọi mảng từ này là Kanjj (漢字
Hán tự), hay từ gốc Hán, để phân biệt với từ ngoại lai gốc phương Tây và từ Hán bản ngữ
Bất cứ ngôn ngữ nào khi đã vay mượn tiếng nước ngoài đều trải qua các giai đoạn cải biến Quá trình cải biến đó được gọi là bản ngữ hoá Có thể lần lượt xét quá trình bản ngữ hóa bằng các đơn vị ngôn ngữ ở các cấp độ khác nhau
2.1 TỪ ĐƠN VÀ CÁCH THỨC BẢN NGỮ HÓA
Trong các hình thức vay mượn và bản ngữ hoá tiếng Hán thì cách mượn
cả hình, cả nghĩa và cả âm đọc gần giống là phổ biến nhất Đây cũng có thể nói
là khuynh hướng chung của bất cứ ngôn ngữ nào khi vay mượn ngôn ngữ khác
ở giai đoạn ban đầu
2.1.1 Mượn hình, mượn nghĩa và âm đọc gần giống
Ban đầu, khi vay mượn một từ đơn tiếng Hán, người Nhật thường mượn luôn cả hình thể chữ Hán lẫn nghĩa từ, thậm chí mượn luôn cả âm đọc Thế nhưng, để có thể hoà nhập vào trong hệ thống ngữ âm tiếng Nhật thì âm
đọc phải có sự chuyển đổi cho phù hợp với cấu trúc âm tiết tiếng Nhật Onyomi
音読み chính là kết quả của việc Nhật hóa tiếng Hán về mặt ngữ âm Hàng loạt chữ Hán được khoác lên mình cái vỏ ngữ âm Hán Nhật giống hoặc gần giống với âm tiết tiếng Hán
Ví dụ:
Trang 40Nếu so sánh cả ba âm: âm Hán gốc, âm Hán Việt, và onyomi thì có thể thấy bộ
phận âm tiết có nét gần giống nhau
2.1.2 Mượn hình, mượn nghĩa nhưng không mượn âm:
Văn hóa của Nhật Bản ra đời muộn hơn so với Trung Quốc rất nhiều, nên ngôn ngữ cũng phát triển chậm, theo đó văn tự không thể độc lập mà hình thành được Người Nhật đã chủ động học hỏi văn hoá Trung Hoa, trong đó có thành tựu chữ viết
Tuy nhiên, Tiếng Nhật đã vay mượn văn tự của tiếng Hán, một loại ngôn ngữ dường như không có mối liên quan về ngữ hệ Tiếng Hán thuộc ngữ hệ Hán Tạng (Sino Tibbettan languages), tiếng Nhật không nằm trong ngữ hệ này (ngữ hệ chính gốc của Nhật thì vẫn chưa rõ nhưng có lẽ không cùng ngữ hệ với tiếng Hán) Do đó, việc sử dụng âm đọc theo kiểu tiếng Hán trở nên không thuận tiện lắm, phần lớn phải sửa chữa để sử dụng
Điều được quan tâm đặc biệt nhất trong vay mượn từ vựng là vấn đề ngữ nghĩa Từ Hán vào Nhật phần lớn là qua sách vở, nên mang phong cách sách