Trong quá trình chuyển biến biến đó thì các tín ngưỡng thờ mẫu, tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên, tín ngưỡng phồn thực… trong văn hóa Việt Nam đã kết hợp với tinh thần từ bi bác ái, tư tưởng
Trang 1GIẢI THƯỞNG “SINH VIÊN NGHIÊN CỨU KHOA HỌC”
NĂM 2008
Tên công trình:
CHÙA DÂU TRONG BƯỚC CHUYỂN BIẾN TÍN NGƯỠNG TÔN GIÁO Ở
VIỆT NAM
THUỘC NHÓM NGÀNH: KHOA HỌC XÃ HỘI 2b (XH 2b)
Trang 2GIẢI THƯỞNG “SINH VIÊN NGHIÊN CỨU KHOA HỌC”
NĂM 2008
Tên công trình:
CHÙA DÂU TRONG BƯỚC CHUYỂN BIẾN TÍN NGƯỠNG TÔN GIÁO Ở
VIỆT NAM
THUỘC NHÓM NGÀNH: KHOA HỌC XÃ HỘI 2b (XH 2b)
Người hướng dẫn : TS Đặng Văn Thắng
Nhóm thực hiện
Vũ Văn Thuân : chủ nhiệm Phạm Thị Ly : tham gia
Tp Hồ Chí Minh, 2008
Trang 3Với đề tài này nhóm nghiên cứu không chỉ cho người đọc thấy được bao quát về chùa Dâu dưới góc độ lịch sử, văn hóa, lâu đời từ khi phật giáo bắt đầu du nhập vào nước ta cho tới tận ngày nay, mà còn tổng hợp, phân tích quá trình chuyển biến giữa tín ngưỡng bản địa từ khi Phật giáo có mặt tại Việt Nam
Kết cấu của đề tài bao gồm 3 chương chính, đó cũng là ba bước tiến hành giải quyết vấn đề đặt ra mà nhóm nghiên cứu thực hiện
Ơ chương một, nhóm tác giả đã giới thiệu chi tiết về vị trí của chùa Dâu Chùa Dâu không chỉ nằm trong vị trí trung tâm của thành Luy Lâu xưa mà còn nằm trên con đường thông thương giữa các nước trong khu vực châu Á, Vì vậy mà Phật giáo đã được truyền bá vào Việt Nam trước cả Trung Hoa Cũng trong chương 1 này, chúng tôi còn nghiên cứu quá trình hình thành và phát triển của chùa Dâu với mốc niên đại xác định đầu tiên là vào thơi Thái thú Sĩ Nhiếp(187-226), qua các triều đại phong kiến Việt Nam cho tới ngày nay Đặc biệt là trong phần vị trí chùa Dâu trong hệ thống Tứ pháp, nhóm tác giả đã đưa ra nhận định: chùa Dâu là ngôi chùa quan trọng và đặc sắc nhất trong hệ thống chùa Tứ Pháp không những chỉ ở Bắc Ninh mà là so với cả hệ thống chùa tứ pháp ở Việt Nam, cũng từ nơi đây mà hệ thống phật Tứ Pháp đã được lan truyền khắp khu vực đồng bằng Bắc bộ
Chương hai là chương quan trọng nhất trong đề tài Vì vậy chúng tôi đã đi
lý giải những tiền đề kinh tế- chính trị- văn hóa- xã hội cũng như bản chất tâm lý người Việt đã dẫn đến sự chuyển biến tín ngưỡng và tôn giáo tại chùa Dâu nói riêng và ở Việt Nam nói chung Trong quá trình chuyển biến biến đó thì các tín ngưỡng thờ mẫu, tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên, tín ngưỡng phồn thực… trong văn hóa Việt Nam đã kết hợp với tinh thần từ bi bác ái, tư tưởng công bình trong xã hội cũng như quan niệm về kiếp luân hồi, nhân quả báo ứng trong Phật giáo để hình thành nên một Phật giáo Việt Nam luôn song hành với lịch sử và nền văn hóa đậm đà bản sắc dân tộc, mà chùa Dâu là một minh chứng tiêu biểu Cũng trong chương này, nhóm nghiên cứu đã khái quát sự phát triển của Phật giáo từ khi vào Luy Lâu cho tới ngày nay Đặc biệt là nửa sau của chương, bằng các tài liệu đi điền dã kết hợp với các tài liệu qua sách, báo… nhóm nghiên cứu đã đi vào trình bày sự chuyển biến giữa các tín ngưỡng và tôn giáo bản địa với Phật giáo, cơ sở chung nhất để cho chúng có thể tồn tại, phát triển cùng nhau, cùng góp phần làm
Trang 4nên lịch sử văn hóa dân tộc.Ngày nay, trong sự vận động đi lên của xã hội thì quá trình chuyển biến tín ngưỡng và tôn giáo đó vẫn không ngừng diễn ra
Chương cuối cùng trong đề tài là chương 3: Nâng cao giá trị di tích chùa Dâu đây cũng là một chương quan trọng của đề tài, nó thể hiện rõ nét quá trình đi khảo sát thực tế tại chùa Dâu của nhóm nghiên cứu Chương này thể hiện những quan sát, phân tích, tổng hơp của nhóm nghiên cứu để thấy được sự độc đáo chính trong cách bày bố tượng phật cũng thể hiện sự chuyển biến tín ngường, tôn giáo tại chùa Dâu Ngoài ra nhóm nghiên cứu còn đưa ra những thực trạng và một số giải pháp đối với những cơ quan chức năng cũng như người dân trong việc giữ gìn
và phát huy giá trị chùa Dâu trong vốn tài sản của Nhà nước Việt Nam
Trang 5PHẦN MỞ ĐẦU
1 Lí do chọn đề tài
Ngay từ khi mới ra đời, Phật giáo đã phát triển mạnh mẽ tới các nước xung quanh trong đó có Việt Nam Nhưng vấn đề đặt ra là Phật giáo vào Việt Nam chính xác từ thời gian nào? Và vào như thế nào? thì chưa có đủ tài liệu để khẳng định Song một điều không thể phủ định là Phật giáo đã đóng một vị trí quan trọng trong đời sống của nhân dân Việt Nam
Vào buổi đầu Công Nguyên khi xã hội Việt Nam đang có sự vận động và chuyển biến tích cực thì các thế lực phong kiến phương Bắc đã tiến hành xâm lược Kể từ đó sau hơn nghìn năm nhân dân Việt Nam phải sống một cuộc sống lầm than khổ cực Giai cấp thống trị không chỉ tiến hành bóc lột của cải vật chất
mà còn nô dịch nhân dân Việt Nam cả về văn hóa Giai cấp phong kiến phương Bắc muốn đồng hóa nhân dân Việt Nam thành người của họ, biến Việt Nam thành một bộ phận đất đai của Trung Hoa Đang trong cảnh lầm than “nước mất nhà tan”
đó thì Phật giáo được truyền vào Việt Nam một cách mạnh mẽ
Phật Giáo có nguồn gốc từ Ấn Độ Phật Giáo với những giáo lý của mình
đã làm cho cư dân Việt dường như tìm thấy một chân lý cho cái khổ của mình Những giáo lý Phật Giáo hướng con người đến với cuộc sống tốt đẹp hơn nên phần nào chia sẻ được nỗi khổ của nhân dân Hơn nữa giáo lý Phật Giáo còn có sự tương đồng với những tín ngưỡng bản địa như thờ cúng ông bà tổ tiên, thờ mẫu… nên rất sớm được sự ủng hộ của nhân dân Kể từ đó Phật giáo ngày càng phát triển
và gắn bó mật thiết với nhân dân Việt Nam Đến khi đất nước giành được độc lập Phật giáo lại càng có điều kiện phát triển Đặc biệt là triều đình phong kiến Lý - Trần, Phật giáo đã phát triển thành quốc giáo
Chỉ bấy nhiêu thôi cũng đủ cho thấy vai trò của Phật giáo trong đời sống nhân dân Việt Nam như thế nào Đến thế kỷ XV tuy Phật giáo không còn là quốc giáo nữa nhưng với nhân dân Việt Nam Phật giáo vẫn vô cùng quan trọng Để phát huy bảo, tồn những giá trị Phật giáo thì sự nghiên cứu tìm hiểu Phật giáo và sự dung hòa của nó vào với tín ngưỡng bản địa là một vấn đề cần thiết
Chùa Dâu ở Việt Nam là một trong những nơi tiếp nhận đầu tiên của Phật Giáo Chùa Dâu được xây dựng ở Luy Lâu thuộc quận Giao Chỉ thời Bắc thuộc (ngày nay thuộc Thuận Thành, Bắc Ninh) Với lịch sử lâu đời gần hai nghìn năm chùa Dâu là một di tích lịch sử quốc gia có giá trị đặc biệt quan trọng của Việt Nam
Chùa Dâu được xây dựng, đó là bước đánh dấu cho sự du nhập và phát
triển của Phật Giáo tại Việt Nam Chùa Dâu được xây dựng theo kiểu “ nội công ngoại quốc” với nhiều nét văn hóa nghệ thuật độc đáo Đó là sự thể hiện tài ba
khéo léo, một trình độ nghệ thuật đã rất phát triển của người xưa Chỉ với lao động thủ công thông thường nhân dân đã xây dựng lên một chùa Dâu bề thế, uy nghi với những nét nghệ thuật hết sức tinh vi Điều đó thể hiện sự phong phú trong đời
Trang 6sống tinh thần của người dân Việt Nam Với nhiều nét nghệ thuật thu hút độc đáo của chùa Dâu vừa thể hiện giá trị của sức lao động, giá trị của văn hóa nghệ thuật vừa thể hiện đời sống tinh thần phong phú của đời xưa Do vậy việc nghiên cứu tìm hiểu cũng là một vấn đề đặt ra đang được quan tâm
Người ta biết đến chùa Dâu không chỉ với các hình dáng bề thế của nó mà còn với nhiều giá trị tinh thần sâu sắc Ngay từ rất sớm thì đây đã là nơi tôn nghiêm, là nơi để nhân dân có thể đến cầu niệm, tụng kinh niệm Phật mong sao thoát khỏi nỗi khổ Chùa Dâu còn là nơi hội tụ những yếu tố tâm linh, thể hiện văn hóa nông nghiệp, vai trò của người mẹ, người phụ nữ trong lịch sử dân tộc Việt Nam Chùa Dâu-hội Dâu mang đậm màu sắc văn hóa dân tộc Việt Nam Hàng năm vào lễ hội mọi người dân không những trong vùng mà cả các vùng khác cũng
về đây tham dự Về với hội Dâu ngoài phần lễ hội thuộc về tâm linh tín ngưỡng tôn giáo thì người tham dự còn được vui chơi, tham gia vào các hoạt động văn hóa hoặc múa trống, múa gậy hay hát ca trù… Cùng với các trò chơi dân gian khác, hội Dâu đã thể hiện tính đoàn kết, tính cộng đồng của nhân dân Việt Nam mà ngày nay đã thành truyền thống, thành một bản sắc văn hóa mang tính đắc sắc của dân tộc Để phát huy hơn nữa giá trị hội Dâu thì việc nghiên cứu tìm hiểu bản sắc của
nó là một việc có ý nghĩa thiết thực đồi với nhân dân vùng Bắc Ninh nói riêng và với Việt Nam nói chung
Việc nghiên cứu nâng cao giá trị của chùa Dâu là một vấn đề cần thiết song việc bảo vệ các di vật tại chùa Dâu cũng như việc chống lại sự xuống cấp của di tích này là vấn đề đòi hỏi các bộ, ban ngành có liên quan cần phải quan tâm hơn nữa
Chùa Dâu là nơi lưu giữ và bảo quản rất nhiều hiện vật, tượng thờ cùng các
đồ tế lễ… Mỗi hiện vật lại thường gắn liền với những sự kiện lịch sử văn hóa nhất định Đó đều là những hiện vật có giá trị, vì vậy luôn bị kẻ gian nhòm ngó Việc bảo vệ di vật tại chùa Dâu là một vấn đề vô cùng cấp bách và mang tính liên tục Bởi vì, trong thời gian gần đây việc mất cắp đã từng xảy ra “ chỉ trong một đêm
mà đã mất bảy pho tượng gỗ” (Nguyễn Mạnh Cường) Do đó phải cần có biện pháp tích cực hơn nữa để đề phòng việc mất cắp này
Bên cạnh việc bảo vệ thì việc trùng tu di tích và chống sự xuống cấp cho di tích chùa Dâu cũng là vấn đề cấp thiết Trong những năm qua Bộ Văn hóa – thể thao và du lịch, Sở Văn hóa – Thông tin cũng như Bảo tàng tỉnh Bắc Ninh cùng với cơ quan địa phương sở tại đã có nhiều biện pháp tích cực để trùng tu, chống sự xuống cấp cho di tích lịch sử văn hóa này Chùa Dâu cũng là một trong số những công trình được sự hỗ trợ kinh phí của nhà nước phục vụ cho việc tu sửa và gìn giữ Đến nay việc tu sửa cho chùa Dâu về cơ bản đã được hoàn thành Nhưng vấn
đề đặt ra là chùa Dâu không thể tự nó chống lại sự tác động của yếu tố ngoại cảnh cũng như của con người Đó là sự ích kỷ, lòng tham muốn chiếm đoạt các di vật làm của riêng của con người hay các yếu tố như thời tiết, khí hậu, thời gian sẽ làm cho chùa Dâu xuống cấp nếu không có biện pháp bảo vệ ngay từ đầu Vì vậy,
Trang 7nghiên cứu về chùa Dâu và đưa ra những biện pháp để nâng cao hơn nữa giá trị cho di tích này là rất cần thiết, nó không chỉ giữ gìn, bảo vệ những nét tinh hoa lịch sử truyền thống của dân tộc Việt Nam, vừa có vai trò giáo dục và phát huy tinh thần nhớ về nguồn cội cho thế hệ hôm nay và cho cả mai sau
Xuất phát từ tất cả những yêu cầu trên chúng tôi quyết định chọn đề tài:
“Chùa Dâu trong bước chuyển biến tín ngưỡng tôn giáo ở Việt Nam” làm đề tài nghiên cứu của mình
2 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu
Đề tài nhằm nghiên cứu sự du nhập và phát triển của Phật Giáo ở Việt Nam trong giai đoạn đầu cũng như tìm hiểu lịch sử chùa Dâu trong quá trình chuyển biến với những giá trị văn hóa nghệ thuật đặc sắc được gìn giữ và phát huy trong suốt gần hai nghìn năm lịch sử Trên cơ sở đó đề tài sẽ làm rõ sự dung hoà giữa Phật giáo và các tín ngưỡng bản địa Đề tài sẽ cho người đọc thấy được sự chuyển biến của tín ngưỡng bản địa cũng như những thay đổi của Phật giáo, để từ đó có thể biết được điểm chung nào mà chúng lại có thể dung hoà được với nhau Đề tài
sẽ đi đến xác định thực trạng chùa Dâu và đưa ra những đề xuất nhằm khôi phục
và phát triển hơn nữa giá trị lịch sử văn hóa của chùa Dâu
Để thực hiện được mục đích trên, đề tài sẽ nghiên cứu rõ những vấn đề liên quan đến sự hình thành và phát triển của chùa Dâu
Đề tài góp phần tìm hiểu sự hình thành và phát triển của chùa Dâu
Đề tài sẽ góp phần làm sáng tỏ sự du nhập và quá trình phát triển của Phật Giáo tại Việt Nam Đồng thời đề tài sẽ cho người đọc thấy được sự chuyển biến giữa tín ngưỡng bản địa với tôn giáo – Phật giáo
Đề tài cũng sẽ đi đến nghiên cứu những giá trị của chùa Dâu, đánh giá thực trạng và đưa ra những đề xuất góp phần nâng cao hơn nữa giá trị của di tích chùa Dâu
3 Lịch sử nghiên cứu đề tài
Đã có rất nhiều những công trình nghiên cứu về chùa Dâu, về sự du nhập
và phát triển của Phật giáo Các công trình này đã nghiên cứu một cách khá đầy đủ
về sự du nhập và phát triển của Phật giáo, về chùa Dâu, về tín ngưỡng bản địa Chùa Dâu không chỉ được nghiên cứu trong những công trình riêng biệt mà còn được các công trình nghiên cứu về lịch sử, văn hoá của quốc gia đề cập tới
Trong phần giới thiệu về lịch sử nghiên cứu này, nhóm nghiên cứu chỉ giới thiệu một số công trình nghiên cứu có tích chất tiêu biểu nhất về Phật giáo, về chùa Dâu và về tín ngưỡng bản địa Sau đây là một số công trình nghiên cứu tiêu biểu
Về Phật giáo:
Trang 8- Việt Nam Phật giáo sử luận của tác giả Nguyễn Lang, Nhà xuất bản Văn
Học, Hà Nội, 1994
Đây là tác phẩm nghiên cứu khá công phu về sự phát triển của Phật giáo tại Việt Nam Cuốn sách đã cho người đọc thấy được sự phát triển tổng thể của các dòng Phật giáo qua các thời đại Việt Nam cùng với tên tuổi của một số nhà sư có công lớn trong việc truyền bá Phật giáo cũng như trong công cuộc xây dựng và bảo vệ đất nước
- Lịch sử Phật giáo Việt Nam của tác giả Lê Mạnh Thát, Nhà xuất bản
Thuận Hoá, Huế, 1999
Đây là một trong những tác phẩm nghiên cứu khá kỹ về sự du nhập và phát triển của Phật giáo ở Việt Nam Tuy nhiên, chưa đề cấp đến vấn đề Phật giáo tồn tại như thế nào trước các yếu tố văn hóa bản địa Sự tương đồng nào để Phật giáo
có thể tồn tại cùng với các yếu tố văn hóa bản địa, thậm trí Phật giáo còn có phần nào đó bị bản địa hóa
Về chùa Dâu:
- Chùa Dâu - Tứ Pháp và hệ thống chùa Tứ Pháp của Nguyễn Mạnh
Cường, Nhà xuất bản Khoa học Xã hội, Hà Nôi, 2000
Trong tác phẩm này Tiến sĩ Nguyễn Mạnh Cường đã nghiên cứu một cách khá tổng quan về chùa Dâu và hệ thống chùa Tứ Pháp Tuy nhiên Tiến sĩ Cường lại chưa đi vào nghiên cứu một cách trực tiếp vấn đề chuyển biến tín ngưỡng tôn giáo mà trong đó chùa Dâu là một trong những cái nôi của sự chuyển biến ấy
- Di văn chùa Dâu tác giả Nguyễn Quang Hồng, Nhà xuất bản Khoa học
Xã hội Hà Nội – 1997
Đây là tác phẩm dịch từ bộ ván khắc nguyên văn chữ Hán "Cổ Châu Hạnh"
gồm 246 cặp thơ lục bát, ngót 3450 chữ, được khắc trên 21 tấm ván tại chùa Dâu
Trong tác phẩm này lại bao gồm hai bộ "Hiến Cổ Châu Phật Tổ Nghi " và " Hiến
Cố Châu Phật Bản Hạnh" Toàn bộ tác phẩm cho người đọc thấy được sự tích về
bà Man Nương và hệ thống chùa Tứ Pháp, đồng thời cho ta thấy được một phần lịch sử hình thành và phát triển của chùa từ thế kỉ XVII
- Bảo tồn và phát huy di sản văn hoá Kinh Bắc của tác giả Trần Đình
Luyện, Nhà xuất bản Văn học Nghệ thuật-2006
Tác giả Trần Đình Luyện đã cho độc giả thấy được vị trí địa lý của vùng Kinh Bắc xưa và nay cùng với những truyền thống của các làng nghề với những nét dắc sắc độc đáo của vùng đất Văn hiến lâu đời Trong tác phẩm này tác giả đã miêu tả phần lễ hội của chùa Dâu rất chi tiết và đưa ra những ý kiến nhằm góp phần giữ gìn và bảo vệ những nét tinh hoa của vùng Kinh Bắc
Về tín ngưỡng bản địa:
Trang 9- Văn hoá dân gian ở Gia Đông (Bắc Ninh) của tác giả Chu Quang Trứ,
Nhà xuất bản Mỹ Thuật, Hà Nội – 2001
Các tác giả đã đi miêu tả và phân tích khá rõ về hệ thống tượng trong chùa Dâu cũng như các tượng phật trong chùa Tứ Pháp ở Bắc Ninh Ngoài ra tác giả còn đưa ra những đánh gía, nhận định về niên đại cũng như giá trị của các pho tượng
Tín ngưỡng và văn hóa tín ngưỡng ở Việt Nam của Ngô Đức Mạnh (chủ
biên) Nhà xuất bản Khoa học Xã hội, Hà Nội, 2001
Tác giả không chỉ phân biệt cho độc giả thấy được thế nào là tín ngưỡng, tôn giáo mà còn chỉ ra những điểm giống nhau và khác nhau giữa tín ngưỡng và tôn giáo Ngoài ra tác giả còn phân tích các loại hình tín ngưỡng trong văn hóa Việt Nam như tín ngưỡng nông nghiêp, tín ngưỡng thờ Phật, thờ Thành hoàng…
và xuất phát từ tín ngưỡng mà lễ hội dân gian đã trở thành , một sinh hoạt quan trọng trong làng xã Việt Nam
Một số bài viết về tôn giáo học của Nguyễn Duy Hinh, Viện Khoa học Xã
hội Việt Nam, Viện nghiên cứu Tôn giáo, Nhà xuất bản Khoa học Xã hội, Hà Nội,
2007
Trong tác phẩm này tác giả đã đưa ra những định nghĩa về tín ngưỡng và tôn giáo Tác giả cho thấy trong đời sống văn hóa, xã hội của các dân tộc, thì tín ngưỡng tôn giáo luôn có sự kế thừa của các thời đại trước Những biểu tượng tôn giáo ban đầu phần nhiều là biểu tượng chung ở trong từng nhóm dân tộc, sau khi các nhóm được phân tách ra đã phát triển phù hợp với đắc thù sinh hoạt của dân tộc ấy
- Về tôn giáo và tôn giáo ở Việt Nam của Viện Khoa học Xã hội Việt Nam,
Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2004
Đây là cuốn sách nghiên cứu một cách tổng quan về tôn giáo tín ngưỡng Việt Nam Tuy là một công trình nghiên cứu tổng quan về tôn giáo tín ngưỡng nhưng chưa tập trung làm rõ sự du nhập của đạo phật có làm hạn chế sự phát triển của các tôn giáo tín ngưỡng bản địa hay không và giữa chúng có sự chuyển biến như thế nào thì tác phẩm cũng chưa đề cập đến
Trên đây là những công trình nghiên cứu khá công phu về Phật giáo về chùa Dâu, và về các hình thái tín ng ỡng, nh ng các công trình này ch a đi vào nghiên cứu một cách cụ thể, rõ ràng về sự chuyển biến tín ng ỡng tôn giáo ở
Việt Nam Chính vì vậy đề tài “chùa Dâu trong bước chuyển biến tín ngưỡng tôn giáo ở Việt Nam” sẽ đi vào nghiên cứu sự chuyển biến của các hình thái tín
ngưỡng ở Việt Nam
4 Cơ sở lý luận, nguồn tài liệu và phương pháp nghiên cứu 4.1 Cơ sở lý luận
Trang 10Thực hiện đề tài: “Chùa Dâu trong bước chuyển biến tín ngưỡng tôn giáo ở Việt Nam” nhóm nghiên cứu mong muốn đem đến cho người đọc một cách nhìn khách quan và tổng quát về chùa Dâu Chùa Dâu vừa là một di tích văn hóa vật chất đồng thời cũng thể hiện giá trị tinh thần sâu sắc với lối kiến trúc, nghệ thuật hay những ngày lễ hội….Đề tài sẽ nghiên cứu, làm rõ những giá trị và sự đóng góp của chùa Dâu vào nền văn hóa dân tộc Để nghiên cứu vấn đề này một cách khách quan, tránh những sai lầm về tư tưởng, nhóm nghiên cứu đã xử dụng lý luận của Chủ nghĩa Mác-Lênin làm cơ sở lý luận cho việc nghiên cứu của mình
4.2 Nguồn tài liệu
Tài liệu thứ cấp: Thực hiện đề tài nhóm nghiên cứu đã sưu tầm được
những loại tài liệu thứ cấp như: tài liệu từ Uỷ ban nhân dân huyện Thuận Thành, Bảo tàng tỉnh Bắc Ninh, từ chùa Dâu, Sở Văn hoá Thông tin tỉnh Bắc Ninh, các loại tài liệu sách, báo, tạp chí và các websize…
Tài liệu sơ cấp: Nguồn tài liệu sơ cấp chủ yếu ở đây là các ảnh chụp, các
tài liệu phỏng vấn Tuy nhiên do thời gian có hạn, phương tiện thiếu thốn, nên việc thực hiện phỏng vấn sâu còn gặp nhiều khó khăn Do vậy, các cuộc phỏng vấn chỉ được thực hiện cùng lúc với việc tham quan chùa Dâu và hệ thống các chùa Tứ Pháp ở Bắc Ninh Đối tượng hỏi chủ yếu là những du khách đến viếng chùa trong các khoảng thời gian hè của năm học 2006- 2007 và vào dịp tết Nguyên Đán (2007) vừa qua, và một số cán bộ quản lý như Giám đốc Bảo tàng tỉnh Băc Ninh, Tiến sĩ Nguyễn Mạnh Cường một trong số những cán bộ của Viện nghiện cứu Tôn giáo Hà Nội đã bỏ rất nhiều công sức để tìm hiểu chùa Dâu và là chủ nhân của
cuốn sách “chùa Dâu - Tứ Pháp và hệ thống chùa Tứ Pháp”
4 3 Phương pháp nghiên cứu
4 3 1 Phương pháp tiếp cận
- Sử học: Tiếp cận dưới góc độ sử học sẽ mang lại cho đề tài những thông
tin không những là đồng đại mà còn là những thông tin có tính chất lịch đại
- Địa lý học: Đây là cách tiếp cận để tìm hiểu một số yếu tố như vị trí địa
lý, môi trường tự nhiên, nhằm xác định rõ không gian chùa Dâu cũng như những thuận lợi khó khăn của các yếu tố trên đối với quá trình chuyển biến tín ngưỡng tôn giáo
- Xã hội học: Đây là cách tiếp cận nhằm tìm hiểu ý thức của của người dân
trong việc tham gia vào quá trình chuyển biến tín ngưỡng tôn giáo cũng như việc bảo vệ, giữ gìn các di tích lịch sử như chùa Dâu ở Bắc Ninh
- Nhân học: Dưới góc độ này, đề tài nhằm tìm hiểu phong tục tập quán, các
hoạt động văn hoá, sinh hoạt tín ngưỡng tôn giáo… của người dân vùng Thuận Thành nói riêng và của nhân dân Việt Nam nói chung
4.3.2 Phương pháp nghiên cứu
Trang 11Phương pháp lịch sử và phương pháp lôgíc:
Phương pháp lịch sử: Là phương pháp tái tạo lại quá khứ, làm sống lại
những diễn tiến đã xảy ra trong quá khứ một cách cụ thể
Phương pháp lôgíc: Là phương pháp nhằm tìm ra những khuynh hướng chung, những quy luật chung của sự vật hiện tượng trong quá trình phát triển
Hai phương pháp trên là hai phương pháp có quan hệ biện chứng với nhau, không tách rời nhau Phương pháp lịch sử luôn theo sát tiến trình phát triển của lịch sử nhưng không là miêu tả lịch sử theo kiểu “chất đống” tài liệu Đó là sự dựng lại những diễn biến của quá khứ theo một sợi dây lôgíc hoàn toàn khách quan Nếu thiều phương pháp lịch sử thì dễ mắc vào bệnh lý luận xuông, thiếu phương pháp lôgíc thì dễ mắc vào bệnh “chất đống” tài liệu lịch sử
Phương pháp xã hội học
Phương pháp quan sát: Là phương pháp cơ bản để nhận thức các hiện tượng sự vật Đây là phương pháp thu thập thông tin dựa trên sự quan sát sự kiện
đã hoặc đang tồn tại trên cơ sở đó phát hiện những quy luật của sự vật
Trong đề tài này nhóm nghiên cứu sử dụng chủ yếu là phương pháp quan sát tham dự Trong quá trình thực địa nhóm nghiên cứu đã đóng vai trò như một
du khách tham quan chùa Dâu và các chùa Tứ Pháp (ở Thuận Thành, Bắc Ninh), trên cơ sở đó nhóm đã thu thập được những tư liệu, hình ảnh, gặp gỡ và nói chuyện với du khách một cách khách quan
Phương pháp phỏng vấn: Là đưa ra những câu hỏi với người đối thoại để
thu thập thông tin Xét về mặt thực chất, phỏng vấn là một phương pháp quan sát gián tiếp bằng cách nhờ người khác quan sát hộ
Phương pháp phân tích, tổng hợp
Phương pháp phân tích: Là tách một vật thể hoặc một hiện tượng phức tạp ra thành những bộ phận, những yếu tố, những mặt đơn giản của nó
Phương pháp tổng hợp: Là liên kết thống nhất lại các bộ phận, các mặt,
các yếu tố đã được phân tích
Giữa phân tích và tổng hợp có mối quan hệ hữu cơ với nhau Không tách
bộ phận để nghiên cứu thì không thể hiểu được thấu đáo cái toàn bộ Và ngược lại, không tổng hợp các bộ phận vào cái toàn bộ thì không hiểu được vai trò, vị trí, tính chất của các bộ phận ấy trong cái toàn bộ
5 Giới hạn đề tài
Chùa Dâu là một ngôi chùa nằm trong hệ thống “chùa Tứ pháp” với bốn ngôi chùa thờ Phật Tứ Pháp: Pháp Vân, Pháp Vũ, Pháp Lôi, Pháp Điện ở Thuận Thành, Bắc Ninh Vì vậy, giới hạn nghiên cứu của đề tài đó là toàn bộ di tích chùa Dâu với tháp Hòa Phong, vườn Mộ, bia ký… để làm rõ sự chuyển biến tín ngưỡng
Trang 12bản địa với sự phát triển của Phật Giáo tại chùa Dâu Ngoài ra đề tài còn tiến hành khảo sát ba ngôi chùa: chùa Đậu, chùa Dàn, chùa Tướng để thấy được mối quan
hệ mật thiết của bốn vị thần: Mây, Mưa, Sấm, Chớp trong tín ngưỡng nông nghiệp bản địa và sự ảnh hưởng của chúng đối với văn hóa xã hội Việt Nam
6 Đóng góp mới của đề tài
Thực hiện đề tài này, nhóm nghiên cứu muốn góp phần làm rõ Phật Giáo và tín ngưỡng bản địa đã tác động, giao lưu và ảnh hưởng qua lại với nhau như thế nào để có thể hình thành lên ngôi chùa khá đặc biệt ở Việt Nam - chùa Dâu
Với đề tài: “Chùa Dâu trong bước chuyển biến tín ngưỡng tôn giáo ở Việt Nam” nhóm nghiên cứu sẽ nghiên cứu tổng quan về tất cả những giá trị vật chất cũng như giá trị tinh thần mà lịch sử đã tạo nên cho ngôi chùa
Qua quá trình nghiên cứu, khảo sát thực tế nhóm nghiên cứu mong muốn đưa đến cho người đọc một cái nhìn khá chân thực về ngôi chùa Qua đó đưa ra những biện pháp mang tính thực tiễn và ứng dụng trong việc bảo vệ, trùng tu và ý thức giữ gìn di tích văn hóa quý báu của dân tộc, góp phần chống lại hiện tượng
mê tín dị đoan của người dân
7 Ý nghĩa thực tiễn - ý nghĩa lý luận
Đề tài “Chùa Dâu trong bước chuyển biến tín ngưỡng tôn giáo ở Việt Nam”
sẽ giúp cho người đọc hiểu biết sơ bộ về quá trình du nhập của Phật Giáo vào Việt Nam Đồng thời cũng giúp cho người đọc có cái nhìn tổng quát về quá trình chuyển biến tín ngưỡng tôn giáo trong quá trình hình thành chùa Dâu Nhóm nghiên cứu đưa đến cho người đọc hiểu về lịch sử hình thành và phát triển của ngôi chùa cùng với những vai trò của nó trong nền văn hóa đậm đà bản sắc dân tộc Việt Nam
Đề tài sẽ góp phần bổ xung nguồn tài liệu tham khảo cho các công trình nghiên cứu sau có liên quan đến chùa Dâu cũng như Phật Giáo ở Việt Nam
Bên cạnh ý nghĩa về mặt lý luận thì đề tài cũng mang tính thực tiễn sâu sắc, qua công trình nghiên cứu bao quát về chùa Dâu đây sẽ là nguồn tài liệu góp phần giúp cho các cơ quan, chính quyền địa phương có thêm cơ sở để có chính sách tu
bổ, khôi phục lại những giá trị vật chất cũng như tinh thần của chùa Dâu Đồng thời cũng góp phần giúp cho việc giáo dục các thế hệ trẻ có tinh thần yêu quê hương đất nước, tìm về nguồn cội Từ đó ý thức được việc gìn giữ, bảo vệ, phát huy những tinh hoa mà tổ tiên để lại
8 Kết cấu đề tài
CHƯƠNG 1: KHÁI QUÁT VỀ CHÙA DÂU VÀ HỆ THỐNG CHÙA
TỨ PHÁP
Trang 13Chương 1 giới thiệu về vị trí địa lý, về lịch sử hình thành và phát triển chùa Dâu, đồng thời cũng giới thiệu về hệ thống chùa Tứ Pháp ở Bắc Ninh cùng với vị
trí của chùa Dâu trong hệ thống các chùa Tứ Pháp ở Bắc Ninh
CHƯƠNG 2: QUÁ TRÌNH CHUYỂN BIẾN TÍN NGƯỠNG VÀ TÔN GIÁO
Đây là chương cơ bản nói nên sự chuyển biến tín ngưỡng tôn giáo ở Việt Nam thông qua sự xuất hiện của chùa Dâu - một trong những ngôi chùa đánh dấu cho sự xuất hiện của Phật giáo ở Việt Nam Để thấy được sự chuyển biến ấy, đề tài
đã giới thiệu một số tín ngưỡng bản địa cũng như sự truyền bá và phát triển của Phật giáo ở Việt Nam Từ đó, đề tài đã phân tích những chuyển biến cùng với sự
phát triển cùng nhau như thế nào của các tôn giáo tín ngưỡng nói trên
CHƯƠNG 3: NÂNG CAO GIÁ TRỊ DI TÍCH CHÙA DÂU
Chương 3 xác định một cách khái quát về thực trạng chùa Dâu hiện nay, đồng thời trên cơ sở đó nhóm nghiên cứu đưa ra một số giải pháp nhằm nâng cao giá trị của chùa Dâu, để chùa Dâu thực sự là một nơi tôn nghiêm, đáp ứng được
các nhu cầu về đời sống văn hoá tinh thần của nhân dân trong vùng
Trang 14CHƯƠNG 1 KHÁI QUÁT VỀ CHÙA DÂU VÀ HỆ
THỐNG CHÙA TỨ PHÁP
1 1 Vị trí địa lý cuả chùa Dâu
Chùa Dâu ngày nay tọa lạc
trên vùng đất với diện tích khoảng
1730m2 thuộc địa phận thơn Khương
Tử, xã Thanh Khương, huyện
Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh
Là một trong 64 tỉnh, thành
phố trên đất nước Việt Nam, Bắc
Ninh là một thành phố giáp ranh
giữa vùng đồng bằng sơng Hồng và
vùng trung du Bắc bộ, cách thủ đơ
Hà Nội 31 km về phía Đơng Bắc
Phía Tây và Tây Nam giáp với thủ đơ Hà Nội, phía Bắc giáp với tỉnh Bắc Giang, phía Đơng và Đơng Nam giáp với tỉnh Hải Dương, phía Nam giáp với Tỉnh Hưng Yên
Bắc Ninh cĩ một hệ thống đường giao thơng rộng khắp tỏa đi các nơi Hệ thống giao thơng đường bộ gồm cĩ: quốc lộ 1A nối giữa Hà Nội- Bắc Ninh - Bắc Giang - Lạng Sơn; đường 18 nối giữa sân bay Nội Bài - Bắc Ninh - Hạ Long - Mĩng Cái; đường 38 từ Bắc Ninh nối với quốc lộ 5 đi Hải Dương – Hải Phịng, đi Hưng Yên, Thái Bình Bên cạnh hệ thống giao thơng đường bộ, Bắc Ninh cịn cĩ một tuyến đường sắt chạy qua là tuyến đường sắt quốc tế từ Hà Nội đi Hữu Nghị quan Ngồi ra giao thơng đương thủy của tỉnh vơ cùng đa dạng với hệ thơng sơng ngịi chằng chịt qua sơng Cầu, sơng Thái Bình, sơng Đuống nối ra con sơng lớn nhất miền Bắc là sơng Hồng, cùng rất nhiều các con sơng nhỏ khác trong tỉnh như sơng Ngũ Huyện Khê, sơng Dâu, sơng Đơng Cơi… với vị trí như vậy, Bắc Ninh là một trong những thành phố trọng điểm của khu vực kinh tế - chính trị- văn hĩa miền Bắc, mà chùa Dâu là một di sản văn hĩa nằm trong tổng quan của tỉnh
Nơi mà chùa Dâu hiện nay đang tọa lạc là trung tâm của huỵên Thuận Thành, thuộc phía Tây Nam của thành phố Bắc Ninh, huyện cĩ đơn vị hành chính cấp huyện rộng thứ 2 (116km2) cùng với dân số lớn thứ 2 của tỉnh (136.000 người) theo số liệu năm 2004 của tỉnh Chùa Dâu nằm ngay cạnh trung tâm kinh tế của huyện là chợ Dâu, phía trước mặt là con sơng Dâu nổi tiếng một thời, nay đã bị thu hẹp
Đi theo tất cả các tuyến đường kể trên ta đều cĩ thể đến chùa Dâu Riêng từ
Hà Nội tới chùa Dâu chúng ta cĩ thể đi theo hai con đuờng khá gần đĩ là: con đường thứ nhất theo đường quốc lộ 5 Hà Nội - Hải Phịng, đến ga Phú Thụy ở cây
số 15, rẽ trái qua chợ Keo, đi thêm khoảng 15 km nữa thì tới chùa Con đường thứ
Ảnh 1.1: Bản đồ Bắc Ninh (Nguồn: www.bacninhdpi.gov.vn/3p/0/9/115/TV.html)
Trang 15hai thì tốt hơn, nhưng lại xa hơn, từ Hà Nội rẽ phải, qua khu đô thị mới Nam Côn Sơn, qua trung tâm thành phố Bắc Ninh đi thẳng, gặp quốc lộ 282 rẽ phải đi thêm khoảng 2 km nữa thì tới chùa Dâu
Chùa Dâu xưa kia cũng thuộc trung tâm đô thị sầm uất của Quận Giao Chỉ, gần thành Luy Lâu dưới thời Sĩ Nhiếp (187-226) cai trị, và chùa cũng được xây dựng vào trong thời gian này Luy Lâu ngày xưa đựơc các học giả nghiên cứu cho rằng là trung tâm kinh tế - chính trị của Giao Chỉ: “Giao” trong “Giao Chỉ” có nghĩa là giao nhau, môi giới, giao tiếp; giao tiếp giữa lục địa nhà Hán với nước ngoài, đặc biệt là các nước phía Nam, Ấn Độ, giữa Bắc và Nam… Giao Chỉ nằm giữa ngã ba giao lưu văn hóa, là đại lục để đi vào đại lục Trung Quốc hay như Luy Lâu nằm ở trung tâm đồng bằng sông Hồng, từ đây có đường thủy, bộ tản đi khắp nơi, đến những kinh thành lớn Chính vì vậy mà Sĩ Nhiếp đã chọn Giao Châu là thủ phủ của mình1
Qua đây chúng ta có thể thấy nhận rằng chính vị trí địa lý thuận lợi đã là điều kiện tiên quyết để chùa Dâu có thể hình thành và phát triển để trở thành trung tâm Phật giáo, nơi dòng Thiền tông ra đời và lan tỏa ra khắp đẩt nước, trở thành nét đặc trưng của Phật giáo Việt Nam trong tiến trình lịch sử và xuyên suốt trong
nền văn hóa Việt Nam
1 2 Lịch sử hình thành và phát triển chùa Dâu
Sự hình thành chùa Dâu
Sự hình thành của
mỗi sự vật và hiện tượng,
bao giờ cùng đi liền với điều
kiện hình thành của nó Sự
hình thành nên chùa Dâu
cũng không không nằm
ngoài những điều kiện khách
quan và điều kiện chủ quan
dẫn đến một tôn giáo ra đời
hoặc cho sự du nhập của một
tôn giáo, mà ở đây trong bài
nghiên cứu là sự du nhập của
tôn giáo - Phật giáo
Trang 16nước Ấn Độ, mà nó đã vượt qua biên giới của quốc gia vốn khai sinh ra nó để truyền bá ra các quốc gia khác trên thế giới từ sau khi Phật giáo ra đời vào khoảng thế kỷ VI TCN Đặc biệt là vào thời kỳ vua Asoka trị vì (thế kỷ III TCN), đã có những khuyến khích truyền bá Phật giáo ra ngoài cương vực lãnh thổ Ấn Độ
- Điều kiện khách quan thứ hai như đã trình bày ở phần trên, đó là Việt Nam có một vị trí địa lý vô cùng thuận lợi, là con đường chung chuyển trên biển,
là ngã ba giao lưu kinh tế, văn hóa mà thương gia nước ngoài thường lui tới làm
ăn, buôn bán, trong đó có rất nhiều thương nhân người Ấn Độ và Trung Quốc đến giao lưu, buôn bán Vì vậy mà Phật giáo mới có thể theo các thương gia này truyền bá vào Việt Nam để có thể hình thành nên trung tâm phật giáo Luy Lâu, mà chùa Dâu cũng được hình thành nên tại đó
- Điều kiện khách quan thứ ba phải kể đến ở đây là Phật giáo vốn là một tôn giáo dân gian, bênh vực những con người nghèo và chống lại chế độ phân biệt đẳng cấp trên đất nước Ấn Độ, lại được truyền bá vào Việt Nam bằng con đường hòa bình từ phía Nam lên (Ấn Độ qua các nước Đông Nam Á rồi đến Việt Nam),
và theo hướng Bắc xuống là từ Trung Quốc Chính vì vậy mà khi được truyền bá vào đất nước Việt Nam Phật giáo đã không gặp một sự cản trở, ngăn cấm nào Và đây cũng là nguyên nhân khiến cho chùa Dâu đựợc ra đời sớm trên vùng Luy Lâu, nơi quận trị của chính quyền đô hộ phương Bắc lúc bấy giờ
Bên cạnh những yếu tố khách quan dẫn đến việc chùa Dâu sớm được ra đời như đã trình bày ở trên, còn có những yếu tố chủ quan dẫn đến việc hình thành nên chùa Dâu ở Việt Nam đó là:
Trước những chính sách cai trị tàn ác cùng với những phương thức bóc lột
vô cùng tàn bạo, nhằm vơ vét một cách tối đa nguồn tài nguyên thiên nhiên, các sản phẩm lao động cũng như thợ khéo cung cấp trước hết cho bộ máy cai trị tại chỗ Và việc thu gom về nước đã làm cho nhân dân vùng Dâu bấy giờ trở lên vô cùng thống khổ Chính vì vậy mà con người nơi đây cần đến một nơi để nương tựa tinh thần, để hy vọng vào một tương lai tốt đẹp, chống lại chính sách đồng hóa của nhà Hán lúc bấy giờ Chùa Dâu cũng đựợc ra đời trên cơ sở ấy
Một yếu tố chủ quan nữa dẫn đến sự ra đời của chùa Dâu đó là sự giao lưu tiếp biến trong văn hóa của người Việt là tục thờ cúng tổ tiên, là yếu tố trọng nữ, trọng tình của văn hóa Việt đã nhanh chóng hòa nhập vào với Phật giáo để tạo nên một ngôi chùa ở vùng đất đô hội buôn bán sầm uất Nơi mà ai cũng mong muốn
việc buôn bán được suôn sẻ “buôn may bán đắt”, cầu xin thần phật giúp đỡ làm
ăn, nhu cầu của con người ngày càng cao thì ngôi chùa, nơi tiến hành việc cầu xin càng sớm đuợc ra đời Mà chùa Dâu được hình thành cũng từ trên những điều kiện, yếu tố ấy
Truyền thuyết về sự ra đời của chùa Dâu
Trang 17Theo truyền thuyết
thì sự ra đời của chùa Dâu
gắn liền với sự tích bà phật
mẫu Man Nương và hệ
thống phật Tứ pháp (Pháp
Vân – Pháp Vũ - Pháp Lôi
- Pháp Điện) hay còn được
gọi là (Mây - Mưa - Sấm -
Chớp)
Căn cứ theo Nguyễn
Hữu, Chùa Dâu lịch sử và
truyền thuyết, Nxb Văn
hoá Thông tin, Hà Nội,
2007 thì câu truyện ấy
được kể lại chi tiết như
sau:
Vào thời vua Hiến
đế nhà Hán, Sỹ Nhiếp làm thái thú quận Giao Chỉ, trị sở đóng tại Luy Lâu, bên bờ sông Dâu Phía bắc sông thuộc huyện Tiên Du, gần rừng Mả Mang, bên cạnh Am Thạch Thất làng Non Tiên có ngôi chùa Linh Quang trên núi Phượng Hoàng Nhà
sư trụ trì chùa Linh Quang là người bên nước Tây Trúc, hiệu là Gia La Đồ Lê, quen gọi là Khâu Đà La Sư tinh thông pháp thuật, giỏi phép đứng một chân, già, trẻ, trai, gái đều tin mến, kính thờ, gọi là Tôn sư
Bấy giờ ở phía nam sông, ở làng Mãn Xá (tục gọi làng Mèn) có gia đình ông bà Tu Định, là một người ăn ở nhân đức, dốc lòng mộ đạo phật, chăm làm việc bố thí cúng dàng Ông bà sinh được một người con gái dung mạo đoan trang, tính nết hiền dịu, đặt tên là Man Nương Ông bà Tu Định yêu quý con gái, coi như vàng ngọc
Năm Man Nương mười hai tuổi, ông Tu Định đem con đến thụ giáo sư Khâu Đà La
Man Nương ở chùa đã mấy năm, nhưng vì nói năng chậm chạp, không thể cùng mọi người tụng kinh được nên thường lui xuống sau bếp giã gạo, hái củi, sắp đặt nấu nướng phục vụ cho sư sãi cả chùa cùng khách thập phương tới học Vào khoảng tháng năm năm ấy, canh đêm ngắn chóng, món ăn Man Nương chuẩn bị dưới bếp đã chín mà sư sãi tụng kinh vẫn chưa xong, nàng ngồi chờ, rồi ngủ quên lúc nào không hay Tới khi sơ sãi tụng kinh xong, ai về phòng nấy, chỉ còn Man Nương nằm tựa cửa Sư Khâu Đà La không ngờ nàng còn nằm đó, nên đã vô tình bước qua người Man Nương Thốt nhiên, Man Nương khấp khởi động lòng, bụng bỗng thụ thai Được khoảng ba, bốn tháng, nàng xấu hổ bỏ về thưa thực với mẹ cha Ông bà Tu Định không tin, sang tận chùa để trách cứ sư Khâu Đà La
Ảnh 1.3: Tượng Man Nương tại chùa Tổ, Thuận Thành, Bắc Ninh
(Nguồn: ảnh chụp của nhóm nghiên cứu
ngày 11/2/ 2008)
Trang 18Sư Khâu Đà La nói rõ ngọn nguồn cho cha mẹ Man Nương và nói rằng nàng là do “nhân thiên hợp khí”, khuyên ông bà Tu Định không nên buồn phiền lo lắng, cũng đừng nghe lời bàn tán của thế gian bởi họ là người trần mắt thịt, hiểu sao được lẽ nhiệm màu của tạo hoá
Man Nương có thai được 14 tháng, đến giờ ngọ ngày mồng tám tháng tư, sinh hạ được một bé gái Khi tiểu nhi ra đời, trong nhà hương thơm ngào ngạt, mây ngũ sắc che khắp bầu trời, ánh hào quang toả khắp nơi
Nghe lời cha, nàng Man Nương ôm con đến chùa Linh Quang trả cho sư Khâu Đà La Sư mang tiểu nhi đến trước cây dung thụ già, gõ cây và đọc kệ Cây bỗng nứt tách ra làm hai, ông đặt tiểu nhi vào giữa, nói với cây: “ta gửi con này của phật cho ngươi giữ lấy, rồi sẽ danh thành phật đạo”
Sư nói dứt lời, cây bỗng khép lại, cành lá vẫn xum xuê như cũ, nhưng có thêm mùi hương thơm ngát và trăm hoa đua nở, rực rỡ khắp non tiên
Trước khi chia tay, sư Khâu Đà La đưa cho Man Nương một cái gậy và bảo: “ta đưa nàng cây gậy này, gặp khi thời tiết đại hạn thì lấy cắm vào đất, ắt sẽ
có nước cứu sinh dân” Man Nương cung kính nhận lấy Nàng về ở tại chùa Dâu, bên cạnh sông Dâu, ngày đêm tụng kinh niệm phật
Gặp thời kì đại hạn, ba năm liền không có mưa, sông ngòi cạn trơ, cỏ cây khô héo Muôn dân bị mất mùa đói khát, người chết đầy đường Man Nương nhớ lời thầy dặn năm xưa, bèn đem cây gậy cắm xuống đất rồi phát nguyện Quả nhiên trên trời mưa xuống, dưới đất nước phun lên, tràn trề, lai láng Muôn dân vui sướng, hả hê, tranh nhau lấy nước về ăn uống, khơi ngòi tưới nước cho cây, vạn vật hồi sinh, thảy đều ca ngợi phép phật màu nhiệm
Vào năm Giáp Tý, khi Man Nương đã ngoài tám mươi tuổi, trời làm một trận bão táp, phong ba khủng khiếp Cây dung thụ trên rừng bị bão táp đánh đổ trôi
về sông Dâu Đến trước của chùa thì quẩn lại không trôi nữa Dân làng tranh nhau chặt củi, nhưng rìu búa bổ vào đều sứt mẻ hết Ba trăm người trong làng rủ nhau hợp lực ra kéo, cây vẫn không chuyển
Vừa lúc Man Nương ra bến rửa tay, cây bỗng rập rình như con mừng thấy
mẹ Mọi người kinh ngạc, nhân đó bảo Man Nương kéo cây lên bờ Man Nương
ném dải yêm ra rồi nói “có phải con mẹ thì về đây với mẹ” Lập tức cây dung thụ
như có người lôi, lao thẳng lên bờ Ai lấy đều lè lưỡi chắp tay kinh sợ
Lại nói đêm hôm trước, quan Thái thú Sĩ Nhiếp ở trong thành nằm mộng thấy Phật hiện ra báo cho biết phải tạc cây dâu thành Tứ Pháp Hôm sau thấy Man Nương kéo cây lên bờ, thì cho là có sự linh ứng bèn cho mời thợ đến tạc cây dâu thành tượng
Tốp thợ họ Đào được mời đến Họ chia cây dung thụ làm bốn khúc, tạc ra bốn pho tượng Khi tượng đã tạc xong, làm lễ đặt tên cho pho thứ nhất thấy mây ngũ sắc tường vân, bèn gọi là Pháp Vân, đặt ở chùa Thiên Định Diên Ứng (Dâu)
Trang 19Đến pho thứ hai thấy mưa gọi là Pháp Vũ, đặt ở chùa Thành Đạo (Đậu), sang pho thứ ba thấy sấm, gọi là Pháp Lôi, thờ ở chùa Phi Tương (Tướng), tới pho tượng cuối cùng thấy chớp, gọi là Pháp Điện, thờ ở chùa Phương Quan (Dàn)
Lạ thay, khi làm lễ rước phật lên toà thì chỉ kiệu được ba pho là Pháp Vũ, Pháp Nôi, Pháp Điện Còn pho tượng Pháp Vân không sao kiệu nổi Mọi người cho gọi thợ ra hỏi mới biết rằng khi tạc đến khúc ngọn, rìu va phải đá tảng trong
gỗ bị sứt mẻ, họ đã tức giận quăng hòn đá xuống sông Sĩ nhiếp bèn sai dân các làng chài đi mò, nhưng không ai tìm được Lại phải cho mời Man Nương giúp đỡ
Man Nương ngồi thuyền ra giữa sông Dâu nói rằng: “Con mẹ ở đâu lên đây với mẹ!” Lập tức hòn đá dưới sông nhảy tót vào lòng, toả ánh hào quang rực rỡ Sĩ
nhiếp cho là lạ liền đem hòn đá ấy tạc thành tượng, gọi là Đức Quang để thờ
Tứ Pháp rất linh ứng, luôn giúp dân làm mưa thuận gió hoà Tiếng thơm đồn tới Kinh đô Gặp năm đại hạn, vua Lý Nhân Tông sai rước phật Pháp Vân về chùa Báo Thiên để cầu đảo, liền được phong đăng hoà cốc Lần sau mưa liền ba năm, gây úng lụt, nhà vua lại sai rước phật Pháp Vân về chùa Khán Sơn ở phía tây điện rồng để làm lễ Phật ban cho mưa thuận gió hoà
Sang đời vua lý Thánh Tông, gặp hạn, bà Nguyên phi Ỷ Lan là người vùng Dâu, vốn rất mộ đạo Phật, xin vua cho rước Pháp Vân về chùa Báo Thiên ở Thăng Long Đích thân Nguyên phi tắm gội sạch sẽ, thành tâm ăn chay niệm phật, Phật liền cho mưa thuận gió hoà ba ngày
Các triều đại sau đều cầu đảo phật Pháp Vân và đều ứng nghiệm, mới ban sắc chỉ tôn phong mỹ hiệu cho Tứ Pháp và cho dân vùng Dâu được làm táo lệ, miễn binh lương, sai dịch để thờ cúng Tứ Pháp
Danh tiếng Tứ Pháp truyền sang tận Trung Quốc Vua Minh Đế nhà Đông Tấn liền sai tướng Đào Khản, mang một ngàn quân sang cướp Tứ Pháp đem về Nhưng một ngàn quân mà không rước nổi kiệu Tứ Pháp, lần sau tăng quân lên đến
ba ngàn mới rước được Tứ Pháp ra khỏi chùa Nhưng đi chưa được mấy dặm đường, quân Đào Khản đã tự nhiên không bệnh mà lăn ra chết Chúng sợ mất vía, quỳ lạy Tứ Pháp và xin rước trả về chùa Riêng tượng Đức thánh Thạch Quang vì
bé nhỏ nên quân cướp đã mang sang được đất Bắc Sau nhờ có người họ Nguyễn ở Đại Tự, tình nguyện xin đi cứu, Đức Thạch Quang mới còn tới ngày nay
Man Nương mất được tôn là Phật mẫu, xá lị gói chôn trong chùa Trên nền nhà cũ của ông bà Tu Định ở làng Mãn Xá, người dân đã lập chùa để thờ Man Nương và ông bà Tu Định gọi là chùa Tổ
Ngày nay trong sân chùa Dâu vẫn còn cái giếng, quanh năm không cạn, tương truyền đó là nơi Man Nương cắm cây gậy thần ngày xưa
Trong chùa Dâu vẫn còn đôi câu đối nhắc đến sự tích Man Nương và Tứ Pháp như sau:
Dung thụ ức niên truyền Pháp Tướng
Trang 20Khương giang thiên cổ báo Từ Ân
Tựơng bà Dâu sau khi tạc xong đã không thể di chuyển đi nơi khác được vì vậy đã được thờ tại ngôi chùa có tên là chùa Dâu từ đó
Trên đây là truyền thuyết dân gian truyền từ đời này sang đời khác để lý giải sự ra đời của chùa Dâu Tuy nó còn chứa đựng nhiều yếu tố ly kỳ, nhưng khi
ta bóc tách và so sánh với lịch sử dân tộc Việt Nam, với các thư tịch ghi chép lại của Trung Quốc thì có thể cho rằng chùa Dâu đã ra đời vào khoảng thế kỷ II, muộn nhất là vào thế kỷ III sau công nguyên trong khoảng thời gian Sĩ Nhiếp cai trị ở Giao Châu (187-226 SCN)
Quá trình xây dựng và phát triển của chùa Dâu
Chùa Dâu là ngôi chùa thờ bà Pháp Vân, được nhân dân nhân hóa thành bà
chị cả trong bốn chị em trong hệ thống chùa Tứ pháp Có lẽ cũng chính vì vậy mà chùa Dâu còn có tên gọi khác là chùa Cả, Cổ Châu Tự (viên ngọc quý), Diên Ứng
Tự, đời Lý còn có tên là Thiền Định Tự
Sở dĩ ngày nay chùa Dâu là tên gọi chính của ngôi chùa là vì xưa kia ngôi chùa nằm giữa một vùng đồng bằng rộng lớn trồng dâu nuôi tằm để chăn tơ, dệt lụa Và cái tên chùa Dâu không chỉ nôm na dễ nhớ đối với đại bộ phận những người ít học bấy giờ, mà nó còn nói nên đựợc nét đặc trưng trong lao động sản xuất rất gần gũi trong tâm thức của người dân
Lịch sử hình thành và phát triển của chùa Dâu từ thời Bắc Thuộc được ghi lại rất ít trong lịch sử Việt Nam cũng như thư tịch của Trung Quốc Nó chủ yếu được nhắc tới trong công cuộc trùng tu và số lần cầu đảo linh ứng mà các vua
quan phong kiến thực hiện, được ghi chép rất ngắn trong “Đại Việt sử ký toàn thư” của Ngô Sỹ Liên, hay trong tác phẩm "Pháp Vân phật bản hạnh ngữ lục" Trong
một số tác phẩm thời Pháp thuộc cũng chỉ chủ yếu ghi lại khái quát về diện mạo, cảnh quan của ngôi chùa trong tổng thể trung tâm văn hóa – kinh tế - chính trị phát
triển sầm uất trong tác phẩm “ Bắc kỳ thời cổ” mà thôi
Trong thời kỳ Bắc thuộc kéo dài cả nghìn năm, do điều kiện lịch sử cũng như tài liệu rất hiếm hoi, do vậy để có thể biết đến trung tâm Phật giáo Luy Lâu
trong “Thiền uyển tập anh” về đoạn pháp sư Đàm Thiên có tâu với vua Tùy Văn
Đế sau khi đến Giao Châu về: “Xứ Giao Châu có đường thông trực tiếp với Thiên Trúc Khi Phật giáo mới đến Giang Đông chưa đầy đủ thì ở Luy Lâu của Giao Châu đã có tới 20 bảo tháp, độ được 500 vị tăng và dịch được 15 cuốn kinh rồi”1
Vì vậy có thể khẳng định rằng chùa Dâu đã được xây dựng vào thế kỷ I - II công nguyên Cũng tiếp sau đó do những biến loạn ở bên Trung Quốc dẫn đến một lực lượng đông đảo các sư tăng phải chạy sang Giao Châu lánh nạn và truyền bá Phật giáo như Ma – Ha - Kỳ - Vực, Mâu Tử, Khâu - Đà - La, Khương – Tăng – Hội…
1
Trần Đình Luyện, Bảo tồn và phát huy di sản văn hóa Kinh Bắc, Nxb Văn hoá Thông tin, Hà Nội, 2006,
tr 195
Trang 21và vị tổ sư thiền phái ở Việt Nam là nhà sư Tì- Ni - Đa – Lưu - Chi (580-?), người
đã làm trụ trì ở chùa Dâu và nhờ đó phái Thiền tông sau đó đã được truyền bá rộng rãi ra khắp đất nước, mà cho đến tận đời Trần sau này vẫn còn ảnh hưởng khá đậm nét
Nằm trong tổng quan của trung tâm Phật giáo Luy Lâu, thì chắc chắn một điều rằng, chùa Dâu lúc đầu được thành lập nó có thể chỉ là nơi am cốc nhỏ Nhưng từ khi Phật giáo phát triển ở Luy Lâu cùng các bậc cao tăng liên tiếp đến trụ trì, thì chùa Dâu ngày càng được trùng tu, xây dưng lớn và to đẹp hơn
Bước sang giai đoạn phong kiến, để củng cố quyền lực và bộ máy cai trị trên toàn lãnh thổ, mà thời kỳ này Nho giáo trở nên quá khắt khe hà khắc đối với người dân Việt Nam mới trải qua cả ngàn năm Bắc thuộc mới giành được quyền
tự do Do vậy chính quyền phong kiến Việt Nam thời kỳ này đã lấy Phật giáo làm quốc giáo Đó cũng là sự giải thích vì sao mà giai đoạn nhà Lý – Trần, Phật giáo lại phát triển đến mức cực thịnh ở Đại Việt, với số lượng chùa xây dựng và trung
tu lớn, trong đó không thể thiếu được chùa Dâu
Trải qua rất nhiều những giai đoạn thăng trầm trong lịch sử, phải đến tận năm 1752 thì chùa Dâu mới thực sự đi vào trong văn bản chữ bởi việc tiến hành
việc san khắc hai bộ ván khắc có tên là “ Cổ châu pháp vân phật bản hạnh” và tác phẩm “Hiến cổ châu phật tổ nghi”: Nói về lịch sử hình thành và quá trình xây
dựng ngôi chùa do nhà sư Tính Mộ (1706-1775) trụ trì cùng các môn đồ thực hiện Đây là những tác phẩm nói về sự tích Man Nương cùng hệ thống chùa Tứ Pháp, quá trình xây dựng, trùng tu và số lần cầu đảo linh nghiệm của các vị vua, quan được ghi chép lại Qua sự so sánh, đối chiếu với các tài liệu khác như Việt sử
lược, Đại Việt sử kỷ toàn thư có ghi: tháng giêng năm Nhâm Tý (1072) khi Lý
Nhân Tông lên ngôi vua, ngày tám tháng tư, làm lễ rước phật, rước tượng phật
Pháp Vân về kinh sư cầu tạnh Trong Đại việt sử ký toàn thư có viểt: Qúy Sửu-
Thái Ninh năm thứ 2 (1703), bấy giờ mưa dầm Rước tượng phật chùa Pháp Vân
về kinh sư cầu tạnh… và có lẽ chính do sự linh nghiệm của tượng phật chùa Dâu,
mà các triều đại vua phong kiến đã nhiều lần trùng tu rất lớn
Đợt trùng tu lớn nhất của chùa Dâu được nhắc tới là vào năm 1313, đời vua Trần Anh Tông do Trạng nguyên Mạc Đĩnh Chi đứng ra hưng công sửa chữa
Tương truyền là đã xây dựng chùa Dâu có “tháp 9 tầng, cầu 9 nhịp, chùa trăm gian”1 Tuy vậy, các nhà nghiên cứu cho đến nay vẫn chưa dám khẳng định vào
những con số thống kể trên
Chùa Dâu được xây dựng theo kiểu kiến trúc “Nội công, ngoại quốc”, với
ba tòa nhà Tiền đường, Thiêu hương, Thượng điện nối tiếp nhau như chữ công, và toàn bộ diện tích hơn 1700m2 của chùa đựợc bao quanh bởi bốn bức tường hình chữ quốc Đi từ Tam quan vào thì Tiền đường, Thiêu hương, Thượng điện được xây dựng cao dần theo từng nấc Tiền đường rộng nhất với 7 gian, phong cách
1
Đại Nam Nhất Thống Chí, bản dịch, Nxb Khoa học Xã hội, Hà Nội, 1971, tr 109
Trang 22Nguyễn muộn, ứng với niên đại tuyệt đối ghi trên câu đầu: “hoàng triều Khải Định tam niên cửu nguyệt sơ cửu nhật trùng tu phật mộc nhận khởi công” và ghi trên thượng lương: “Hoàng triều Khải Định tam niên thập nhất nguyệt thập ngũ nhật trùng tu tự vũ thụ trụ thượng lương đại cát” khẳng định tòa nhà này được làm lại chỉ trong hơn ba tháng từ 9-9 đến 15-11 năm Khải Định 3 (tức 13-10-1918 đến 17-12-1918)1 Bên cạnh hai pho tượng Hộ pháp như đã nói ở trên, thì Tiền đường còn
có Bát bộ kim cương, trông rất sinh động, cũng mang phong cách Nguyễn muộn
Kế tiếp theo tòa Tiền đường là tòa Thiêu hương với ban thờ Tam bảo, hai bên được bố trí Thập điện Diêm vương Tiếp đó cuối tường hai bên trái và phải là hai pho tượng đối diện nhau: Trạng nguyên Mạc Đĩnh Chi (người có công trùng tu xây dựng chùa) và thái tử Kỳ Đà
Vượt lên cao nhất trong chùa là tòa Thượng Điện một gian hai trái, với 4 mái cong, tạo khối như bông sen, được trạm trổ điêu khắc rất tỉ mỉ với các hình Tứ linh (Long – Ly – Quy – Phụng) rất mềm mại, khéo léo Tòa này đựơc làm lại ở
thời Lê Trung Hưng mà tấm bia khối trụ ở cửa chùa mang tên “Diên ứng đại thiền
tự bi ký” dựng năm Vĩnh Thịnh 12 (1716) cho biết lúc này chùa cũ bị hư hỏng, gia
đình ông Chánh đội trưởng Cao Đình Thuế đã xuất tiền hưng công tu sửa, tòa nhà này nổi bật lên ở chính giữa vơi tượng bà pháp Vân cao 185cm, hiện lên với vẻ hiền từ phúc hậu của người phu nữ phương Đông, và dấu ấn ảnh hưởng của Phật giáo Ấn Độ với nốt ruồi giữa hai hàng lông mày Cạnh bên tay trái của bà pháp Vân là tựơng Pháp Vũ, cao 128 cm, đựơc rước sang thờ cúng khi chùa Đậu bị tàn phá trong kháng chiến chống Pháp Cả hai pho tượng này đều được sơn bằng lớp sơn màu cánh dán rất đẹp Đứng bên cạnh bà Dâu là tượng Kim Đồng, Ngọc Nữ cùng với tượng chúa Đỏ và chúa Trắng ở hai bên, phía dưới Thạch Quang Phật Với mật độ các pho tượng được bố trí cân xứng trong chùa, góc cuối bên tay phải phật Pháp Vân là vị tổ sư Tì- Ni- Da- Lưu- Chi, người có công phát triển dòng Thiền tông lên mức cực thịnh, để chùa Dâu trở thành ngôi chùa Thiền tông đầu tiên ở Việt Nam
Thông với khu nhà hậu là hai dãy hành lang chạy dài, đựợc bố trí bởi 18 pho tượng Thập Bát La Hán quen thuộc trong kết cấu chùa Việt Riêng phần gian thờ hậu phía sau có thờ 15 pho tượng theo kết cấu tiền phật hậu thần của phật giáo Viêt Nam Đặc biệt trong gian thờ hậu này còn có một tủ kính chứa 2 bộ ván khắc
kể về sự tích Man Nương cùng quá trình xây dựng chùa như đã nói ở phần trên Ngoài ra ở gian thờ này còn chứa các bia đá “hậu phật bi ký” đời Lê Trung Hưng, Tây Sơn và Nhà Nguyễn
Nằm ở phía trước sân nhà Tiền đường là tháp Hòa Phong uy nghi, quen
thuộc trong câu ca dao: “Dù ai đi đâu về đâu, hễ trông thấy tháp chùa Dâu thì về”,
“ Tương truyền, trước kia cao 9 tầng, xây bằng gạch lớn, đựợc nung rắn như sành, màu tím sẫm, bên ngoài không trát vữa cũng không tô vẽ trang trí, nay tháp
1
Chu Quang Trứ, Văn hóa dân gian ở Gia Đông (Bắc Ninh), Nxb Mỹ Thuật, Hà Nội, 2001, tr 71
Trang 23chỉ còn lại 3 tầng mà đã cao tới 17 m”1 Tháp được xây dựng từ mùa thu năm
1737 đến mùa thu năm 1738 thì song, do nhà sư Tính Mộ khởi công tu tạo Trong lòng tháp rỗng, tầng trệt có đặt bốn bức tượng Tứ Trấn, phía trên có treo quả chuông đúc năm đầu vua Cảnh Thịnh (1793) nhà Tây Sơn Qủa chuông này do
nhà sư Chiếu Tuyên trông coi, và cũng chính nhà sư tự khuyên mình là “nói năng chậm chạp, bút viết vụng về này đã không ngần ngại viết lên bài minh tuyệt hảo và đem khắc lên chuông với tên đề là Cổ Châu Diên ứng đại thiền tự tạo chú đại pháp chung”2 Treo bên cạnh chuông đồng là Khánh đồng, được đúc dưới thời Minh Mạng (năm 1818)
Vào năm Cảnh Hưng 1740, chùa Dâu đã bị một trận hỏa hoạn, các sắc phong từ các đời trước bị cháy hết, vì thế năm 1741 chúa Trịnh Doanh đã ban sắc cho dân Khương Tự phải tạo lệ trông nom chùa, sẽ đựợc miễn phu phen tạp dịch
Đợt khởi công trùng tu lớn cuối cùng trong các triều đại phong kiến Việt Nam là vào năm 1918 dưới triều vua Khải Định, như phần trên đã trình bày
Như vậy, có thể thấy rằng trong các triều đại phong kiến Việt Nam thì chùa Dâu có một vai trò quan trọng trong đời sống nhân dân, luôn được các triều đại phong kiến trùng tu, xây dựng
Từ khi nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa được thành lập cho đến nay, thời gian đầu do chiến tranh, nên chùa Dâu không có điều kiện trùng tu tôn tạo lớn Nhưng đến ngày 28/4/1962, chùa Dâu đã được nhà nước xếp hạng là di tích lịch
sử quốc gia đặc biệt quan trọng cần được bảo tồn và trùng tu theo quyết định số 313- VH/QD
Đợt trùng tu kéo dài và quy mô nhất từ sau năm 1975 là đợt trùng tu bắt đầu từ năm 2001 đến nay được sự phê duyệt của Bộ Văn hóa Thông tin, với kinh phí lên tới hàng chục tỉ đồng, nhằm trùng tu tôn tạo lại chùa Dâu cho xứng tầm với một di sản văn hóa quốc gia Niềm tự hào không chỉ của nhân dân vùng Giao Châu một thời, mà còn là niềm tự hào của nhân dân Kinh Bắc nói riêng mà đối với
cả dân tộc Việt Nam ngày nay
1.3 Vị trí chùa Dâu trong hệ thống chùa Tứ Pháp
Chùa Dâu là một ngôi chùa thuộc hệ thống chùa Tứ Pháp Thường khi nói đến tứ pháp là người ta nghĩ ngay đến bốn hiện tượng của tự nhiên là mây, mưa, sấm, chớp Thế nhưng cũng với cái tên tứ pháp này người ta còn dùng để nói đến một hệ thống các chùa, tượng, tiêu biểu cho hệ thống chùa Tứ Pháp mà người dân Việt Nam biết đến khá nhiều đó là nhóm chùa Tứ Pháp ở huyện Thuận Thành, Bắc Ninh như chùa Dâu, chùa Đậu, chùa Dàn, chùa Tướng Cùng là chùa Tứ Pháp nhưng ở mỗi nới lại có sự khác nhau Có những tỉnh như tỉnh Hà Tây tuy chỉ thờ Pháp Vũ người ta cũng gọi là chùa Tứ Pháp, ở Hà Nội, Hưng Yên cũng có nhóm
Trang 24chùa Tứ Pháp nhưng chỉ có 2 đến 3 chùa, nhưng đó cũng là một nhóm chùa Tứ Pháp
Ngay như ở Bắc Ninh, thì hệ thống chùa Tứ Pháp cũng không phải chỉ có 4 ngôi chùa như trên mà còn phải kể đến một ngôi chùa tiêu biểu nữa đó là chùa Tổ (Mãn Xá) thì mới thật đầy đủ Theo truyền thuyết và các hoạt động trong lễ hội còn lưu lại thì chính bà Man Nương đã được nhân cách hoá thành mẹ của các pho tượng là bà Dâu, bà Đậu, bà Dàn, bà Tướng
Anh 1.4: Bốn ngôi chùa Tứ Pháp tại Thuận Thành, Bắc Ninh
(Nguồn: ảnh chụp của nhóm nghiên cứu)
Trong mối quan hệ “huyết thống” thì bà Dâu được coi là người con đầu của
bà phật mẫu Man Nương, và cũng là chị cả của các Bà Pháp Vũ, Pháp Lôi, Pháp Điện còn lại Đó cũng là một cách thể hiện tinh thần đoàn kết, sự gắn bó, sự tưởng tượng này thể hiện tư duy của những cư dân nông nghiệp lúa nước Đối với họ thì người hay vật, kể cả thần thánh cũng phải có mẫu, có chị, có em
Nhưng thông qua hình ảnh các phật Tứ Pháp còn cho người ta thấy được lối
tư duy lô gíc của người dân nông nghiệp trong cách nhìn nhận về thế giới quan, nhân sinh quan Cư dân nông nghiệp buổi đầu sơ khai phải phụ thuộc hoàn toàn vào điều kiện tự nhiên đề tồn tại, yếu tố thời tiết lại đóng một vai trò rất quan trọng, quyết định đến mùa mạng – nguồn nuôi sống chính của con người Tầm quan trọng của tự nhiên đã được người dân đúc kết thành kinh nghiệm trong sản
Trang 25xuất “nhất nước, nhì phân, tam cần, tứ giống”, trong đó yếu tố tự nhiên là “nước” đóng vai trò hàng đầu Nhưng muốn có nước thì phải có mưa, có sấm, có chớp và đặc biệt là phải có mây – là yếu tố đầu tiên để tạo ra mưa, sấm, chớp Chính vì lẽ
đó mà chùa Dâu, nơi có vị phật Pháp Vân lúc nào cũng được người dân tôn thờ và xếp vào vị trí quan trọng nhất trong hệ thống chùa Tứ Pháp
Hơn nữa, chùa Dâu còn là nơi ghi dấu sự hình thành và phát triển của dòng Phật giáo Thiền Tông ở Việt Nam, và từ đây với sự ảnh hưởng và lan toả của trường phái này đã biến dòng Thiền Tông trở thành phái Phật giáo chính ở Việt Nam Phật giáo Thiền Tông nói riêng và Phật giáo Việt Nam nói chung đã tồn tại song hành với lịch sử dân tộc và trở thành một nét văn hoá không thể thiếu trong nền văn hoá Việt Nam
Không biết là sự trùng lặp hay cố ý mà chùa lại nằm trên một vùng “địa linh” của Việt Nam Theo truyền thuyết thì chùa Dâu là nơi rất thiêng và rất linh ứng, chẳng hạn như trong các lần cầu đảo của một số vua triều Lý đều mang lại được mưa thuận gió hoà, mùa màng tươi tốt cho nhân dân Điều đó đã làm cho người dân không chỉ ở Bắc Ninh mà cả cư dân nước Việt đều tin vào phật pháp, vào sự linh nghiệm của chùa Dâu mà càng tôn trọng và ngưỡng mộ hơn Có lẽ chính những lần cầu đảo linh nghiệm từ tượng phật Pháp Vân, cùng với sự thuận lợi về vị trí địa lý, có nhiều bậc cao tăng tu hành, lại nằm ở trung tâm kinh tề, chính trị của đất Giao Châu xưa mà chùa Dâu đã sớm đóng vai trò là nơi chuyển biến tín ngưỡng tôn giáo (giữa Phật giáo với các tín ngưỡng của dân tộc Việt Nam), mà không phải là chùa Tổ hay các chùa khác trong hệ thống các chùa Tứ Pháp
Chính vai trò lấn át mà lễ hội của cả một hệ thống các chùa bao gồm chùa Dâu, chùa Đậu, chùa Dàn, chùa Tướng đều được gọi chung là hội Dâu Chùa Dâu không những đã trở thành nơi hoạt động cộng đồng không thể thiếu đối với người dân vùng Tổng Khương huyện Thuận Thành, nó còn là nơi sinh hoạt của cư dân đồng bằng Bắc bộ trong dịp tết đến xuân sang, ngoài ra còn có rất nhiều du khách
từ trong nước đến nước ngoài cũng đến viêng thăm Chùa Dâu vừa là một nơi thờ
tự cũng vừa là một công trình văn hoá, nó vừa có giá trị văn hoá lịch sử vừa mang tính thời đại mang tính tiêu biểu cho hệ thống chùa Tứ Pháp ở Bắc Ninh
Như vậy, với sự ảnh hưởng mạnh mẽ của nền văn hoá nông nghiệp, việc xây dựng chùa Tứ Pháp là một hiện tượng khá phổ biến ở khu vực đồng bằng Bắc
bộ như: nhóm chùa Tứ Pháp ở huyện Thường Tín, tỉnh Hà Tây; nhóm Tứ Pháp ở chùa Sét, chùa Dâu Thượng Phúc thuộc Hà Hội, nhóm Tứ Pháp ở chùa Thái Lạc, chùa Đại Bi ở Hưng Yên… mà Tiến sĩ Nguyễn Mạnh Cường đã nghiên cứu rất kĩ
trong công trình nghiên cứu “Chùa Dâu – Tứ Pháp và hệ thống chùa Tứ Pháp”,
Nxb Khoa học Xã hội, Hà Nội, 2000 Nhưng chùa Dâu vẫn là ngôi chùa nổi tiếng nhất, độc đáo cả về mặt kiến trúc, nghệ thuật cũng như sự tin tưởng của người dân vào sự linh thiêng của Pháp Vân trong chùa
Trang 26CHƯƠNG 2 QUÁ TRÌNH CHUYỂN BIẾN TÍN NGƯỠNG
tự nhiên ảnh hưởng trực tiếp đến sản xuất Trong thời gian mà nền kinh tế nông nghiệp còn mới sơ khai, con người chưa có kinh nghiệm sản xuất, khoa học lại chưa phát triển Do vậy, trong cuộc sống cũng như trong sản xuất, con người phải chịu rất nhiều rủi ro, do thiên nhiên mạng lại Chính chưa giải thích được tự nhiên, chưa biết vận dụng những quy luật của tự nhiên, nên con người tin rằng sức mạnh của tự nhiên là không thể nào khống chế được Từ ý nghĩ như vậy nhất là ở những người dân nông nghiệp, họ ưa có một cuộc sống bình an, yên ổn, mà đã đưa họ đi đến chỗ tuyệt đối hóa tự nhiên, sùng bái tự nhiên và thần thánh hóa tự nhiên Đây cũng là cơ sở cho việc hình thành nên các hoạt động tín ngưỡng sùng bái tự nhiên
Trong điều kiện tự nhiên đầy rủi do như vậy, lại phải chịu những áp bức nặng nề của chế độ cai trị phong kiến phương Bắc, người dân nước Việt khi đó đã
có rất nhiều các họat động tín ngưỡng như thờ Mẫu, thờ vật tổ, thờ cúng ông bà tổ tiên… tất cả các hoạt động như vậy, họ cũng chỉ mong là có một cuộc sống ổn định, có cái ăn cái mặc, có một cuộc sống no đủ Trong bối cảnh bị tự nhiên chi phối, xã hội thì đầy cam go như vậy thì đó là một tiền đề rất thuận lợi cho sự ra đời hay sự du nhập của một tôn giáo nào đó vào Việt Nam Và quả thực như vậy khi chưa có một tôn giáo nào kịp ra đời thì trong hoàn cảnh như vậy Phật giáo đã theo bước chân của những nhà buôn, và sau đó là của những nhà truyền đạo mà vào Việt Nam Tại trung tâm Luy Lâu, Phật giáo đã phát triển nhanh chóng và rất được người dân ủng hộ vì nó có một giáo lý phù hợp với yêu cầu nguyện vọng của nhân dân Và như thế rõ ràng là cùng với sự khổ cực khi bị áp bức thì sự bất lực về
tự nhiên cũng ảnh hưởng không nhỏ tới sự du nhập của Phật giáo vào Việt Nam
Tiền đề về tâm lý xã hội
Tâm lý, tình cảm xét dưới góc độ triết học là một bộ phận của ý thức xã hội, nó trực tiếp phản ánh cuộc sống phong phú sinh động Một tôn giáo nảy sinh
và phát triển được một phần dựa trên cơ sở của tâm lý, tình cảm con người và cộng đồng người trong xã hội
Trang 27Một trong những nhu cầu thiết yếu của con người là được gửi gắm, giải toả những bức xúc trong đời sống tinh thần Trong cuộc sống hàng ngày cũng như trong sản xuất con người thường xuyên phải đối mặt với các yếu tố tâm lý như sợ hãi, lo lắng… các yếu tố tâm lý này có thể do thiên nhiên hoặc do chính đời sống
xã hội của con người mang lại
Xã hội Việt Nam ở những thế kỉ trước, sau công nguyên không tránh khỏi mang đến cho con người những trạng thái tâm lý hoang mang, sợ hãi
- Trong sản xuất: Đây là thời kì mà công cụ lao động bằng sắt đã khá phát
triển, kĩ thuật sản xuất cũng có nhiều tiến bộ, song sự đe doạ về mất mùa, đói kém vẫn là điều không thể tránh khỏi Thiên nhiên còn chi phối quá nhiều đến lao động sản xuất của người dân Sự đe doạ về một cuộc sống đói kém có thể ập đến bất cứ lúc nào Chính sự thất thường trong sản xuất đã luôn gây ra cho người dân một tâm lý hoang mang lo sợ Họ lo sợ thiên tai, mất mùa, sống trong một tâm lý như vậy rất dễ đưa đẩy họ tin tưởng vào một đấng siêu nhiên nào đó những mong được
có cơm ăn, áo mặc
- Trong việc nhận thức thế giới: Đây là thời kì mà nhận thức của con người
về thế giới còn có nhiều hạn chế Họ chưa lý giải được nhiều vấn đề của tự nhiên như các hiện tượng mây, mưa, sấm, chớp… bằng các khoa học Do vậy, họ đã tin rằng có một đấng siêu nhiên nào đó đã tạo ra các hiện tượng tự nhiên và chi phối cuộc sống của họ Trong lúc con người đang mắc vào tâm lý bế tắc về sự giải thích thế giới thì các tôn giáo hầu như đã đáp ứng được yêu cầu của họ Tôn giáo đã giúp họ giải thích thể giới, chính vì vậy, đây cũng là thời kì mà các tôn giáo tín ngưỡng có nhiều điều kiện để ra đời Đó cũng là một trong những lý do khi đạo Phật du nhập vào Việt Nam, nó đã được nhân dân Việt Nam chấp nhận và phát triển như một tôn giáo dân tộc trên cơ sở cải biến cho phù hợp với điều kiện tự nhiên, điều kiện xã hội và con người mới
- Trong các mối quan hệ xã hội: Đây là khoảng thời gian mà các quan hệ xã
hội bóc lột đang ngày càng phổ biến Với sự xuất hiện của giai cấp thống trị Trung Hoa, người dân Việt Nam phải chịu hai tầng bóc lột, vừa giai cấp thống trị trong nước vừa giai cấp thống trị nước ngoài Do vậy, cuộc sống của họ hết sức khó khăn và khổ cực Sự đau khổ đã làm nảy sinh ở họ những tâm lý tiêu cực như chán chường, sống thụ động, lệ thuộc vào giai cấp thống trị … đó chính là những sơ hở
mà các tôn giáo có thể len lỏi vào cuộc sống của người dân
Sự phân tích đã cho thấy những trạng thái tâm lý mang tính tiêu cực như cô đơn, bất hạnh, đau khổ, nỗi kinh hoàng, sợ hãi, sự chán chường… rất dễ đưa con người tìm đến với tôn giáo Họ tìm đến tôn giáo là để mong được sự an ủi, che chở, cứu giúp
Trong cuộc sống hàng ngày, con người không chỉ tiếp xúc với cái hiện hữu
mà còn tiếp xúc cả với vô số những cái vô hình, trừu tượng, không thể lý giải được bằng lý trí mà chỉ có thể cảm nhận được từ tâm thức, tình cảm Trong thế giới tâm
Trang 28thức, tình cảm đó chỉ có niềm tin vào sự hiện diện và cứu giúp của thần thánh mới
có thể giúp con người lý giải, đứng vững, vượt qua những trở ngại của cuộc sống
Không chỉ những tâm lý tiêu cực mà cả những trạng thái tâm lý tích cực như hân hoan, vui sướng, mãn nguyện, sự thăng hoa… một cách thái quá cũng là những nguyên nhân dẫn con người đến với tôn giáo Con người muốn được san sẻ trong tôn giáo những tình cảm vui sướng của mình, muốn được hưởng cái thiêng liêng cao cả và đôi khi được lãng quên hiện tại Và tôn giáo có thể giải thích sự thành đạt, sự vui sướng, hạnh phúc đó là do thần thánh ban cho Mối quan hệ cho nhận đó cứ rằng buộc con người, lúc đầu chỉ là những niềm tin bình thường, song niềm tin đó ngày càng được khắc sâu vào tâm trí mỗi người, đó là một trong những con đường đưa họ đến với niềm tin tôn giáo
Ngoài những yếu tố tâm lý như trên thì các giá trị truyền thống như tính mở của nền văn hoá, tinh thần tiếp thu cái mới… cũng là những điều kiện thuận lợi để một tôn giáo ra đời, du nhập và phát triển được ở Việt Nam trong những thế kỉ đầu công nguyên Chính tính mở của nền văn hoá và tinh thần tiếp thu cái mới của cư dân Việt Nam là những điều kiện thuận lợi cho sự du nhập của Phật giáo Trong khi Nho giáo và Đạo giáo cũng là những nền văn hoá bên ngoài những quá trình truyền bá vào Việt Nam lại khó khăn hơn Có hiện tượng như vậy là do Nho giáo
và Đạo giáo xâm nhập vào Việt Nam theo các cuộc chiến tranh xâm lược của giai cấp thống trị Trung Hoa, vì vậy nó không tránh khỏi sự kì thị của cư dân Việt Nam Tuy nhiên, trên tinh tình sẵn sàng tiếp thu những yếu tố văn hoá mới, người dân Việt Nam vẫn chấp nhận Nho giáo và Đạo giáo, nhất là khi đã giành được độc lập thì Nho giáo và Đạo giáo lại càng có cơ hội phát triển hơn
Với Phật giáo thì lại được người dân Việt Nam chấp nhận ngay từ đầu Phật giáo có điều kiện phát triển ngay từ khi Việt Nam còn bị Trung Hoa đô hộ Phật giáo du nhập vào Việt Nam theo con đường hoà bình lại có giáo lý phù hợp với tâm lý của người dân đang bị đô hộ, bị bóc lột khổ cực Họ đang trông chờ vào một đấng cứu thế nào đó có thể giải thoát được cho họ Và Phật giáo đã xuất hiện,
nó không những có những điểm phù hợp với văn hoá dân tộc Việt Nam mà còn phù hợp và đáp ứng được nhu cầu tâm lý của người dân Vì vậy, Phật giáo khi vào Việt Nam đã phát triển rất mạnh thậm chí còn được giai cấp thống trị trong nước bảo hộ và coi đó như là vũ khí tinh thần để chống lại sự “áp bức” văn hoá của giai cấp thống trị Trung Hoa
Như vậy, yếu tố tâm lý xã hội đã có những ảnh hưởng rất lớn đối với sự hình thành, du nhập và phát triển của một tôn giáo Những yếu tố về tâm lý xã hội
có thể gây kho khăn hoặc tạo điều kiện thuận lợi cho sự phát triển của một tôn giáo Đó cũng là một trong những lý do giải thích tại sao Phật giáo lại có sự phát triển mạnh mẽ hơn Nho giáo và Đạo giáo trong buổi đầu du nhập vào Việt Nam
Những tiền đề về kinh tế xã hội
Trang 29Từ thời Đông Hán trở đi, nền kinh tế Giao Châu có nhiều điều kiện phát triển Giao Châu vốn là nơi có nhiều tài nguyên sản vật phong phú, cư dân đông đúc, sản xuất nông nghiệp lúa nước phát triển Ngoài ra, những kỹ thuật tiên tiến của Trung Quốc ngày càng được du nhập vào Giao Châu nhiều hơn Đó chính là những nhân tố thúc đẩy nền kinh tế Giao Châu phát triển
Giao Châu lúc này dưới con mắt đô hộ của chính quyền phương Bắc là một nơi rất mực giàu có Đó chính là một trong những nguyên nhân làm cho những thương nhân nước ngoài, mà nhất là những nhân sĩ Trung Hoa tìm đến sinh sống ở Giao Châu Thời Tam Quốc, Giao Châu thuộc quyền cai trị của nhà Ngô, nó đã trở
thành nơi cung cấp nguồn tài chính cho triều đình: “tô tức, ruộng đất, nhân khẩu ở Giao Châu chiết lấy để cùng dùng, các vật quý giá đưa đến như ngọc ngà, châu báu, hương dược, ngà voi, sừng tê, đồi mồi, lưu ly, chim anh vũ, chim trả, chim công, vật lạ cấp đủ để vui chơi, không cần hạn chế việc đưa vào để lợi ích cho Trung Quốc”1 Chæ dựa vào những sản vật cung cấp như trên, đủ cho thấy rằng Giao Châu thời đó có nguồn tài nguyên thiên nhiên phong phú như thế nào? Chẳng thế mà các nước lớn cứ giành nhau mãi vùng đất bé nhỏ Giao Châu ngày xưa, mà ngày nay thuộc địa phận lãnh thổ Việt Nam Vùng đất và con người nơi đây đã phải gồng gánh những trách nhiệm lịch sử nặng nề về chống kẻ thù, chống thiên tai Điều này đã đựơc lịch sử chứng minh bằng hàng loạt những cuộc đấu tranh giành độc lập của dân tộc Việt Nam
Do sản vật giàu có, lại phong phú về của cải, vật quý, nên Giao Châu thời bấy giờ đã trở thành nơi tập chung, thu hút các thuyền bè từ khắp nơi về giao lưu, buôn bán Sự phát triển của Giao Châu đã hình thành lên một đô thị lớn – Luy Lâu, là trung tâm văn hóa, chính trị của Việt Nam thời bấy giờ
- Về kinh tế nông ngiệp
Chính sách khai thác, bóc lột của chính quyền đô hộ đã làm cho người dân Việt trở lên bần cùng hóa Người dân bị mất ruộng đất, cửa nhà, phải sống tha phương cầu thực, và đó cũng là con đường dẫn họ đến thân phận phải làm nông nô cho địa chủ Nhưng mặt khác cũng chính họ lại tạo ra nguồn sản phẩm của xã hội, nguồn sản phẩm đó ngày càng tăng lên Theo như Đỗ Văn Ninh thì chỉ tính riêng
số thóc thu thuế ở Giao Châu thời Đông Hán thì đã lên tới con số 13.600.000 hộc, cũng theo ông thì khi Đào Hoàng nhậm chức châu mục ở Giao Châu đã dâng biểu lên Tấn Vũ Đế nói rõ số người không thần phục chu vi hơn 6000 dặm, số không chịu lệ thuộc ở Quế Lâm là hơn 6 vạn hộ Số phục vụ việc quân chỉ có hơn 5000 nhà2 Những con số trên chỉ chứng tỏ một phần nào đó trong sự bóc lột của chính quyền đô hộ Cũng theo sách trên của Đỗ Văn Ninh thì thu nhập của nhà Tấn,
Nam triều chỉ là: “tùy theo số đất mà xuất nộp, khi đến thì thu thuế chợ, không có luật lệnh phép tắc cố định, các quận giao nộp theo số đất quản lý, coi là thu thuế
Trang 30Người không có quê quán, không thích biên chế vào châu huyện là người sống lang chạ, họ nộp thuế cũng không định số”
Như vậy có thể hình dung được rằng, ở Giao Châu vào thế kỷ I đến thế kỉ
VI, mặc dù chính quyền đô hộ áp dụng chính sách vơ vét, bóc lột và thuế khóa rất nặng nề, số của cải mà chúng thu được từ chính sách trên là rất lớn, nhưng đó không phải là tất cả của cải mà nhân dân Giao Châu đã sản xuất ra Bắt đầu từ thời Đông Hán trở đi, trong nền kinh tế nông nghiệp Giao Châu đã xuất hiện kỹ thuật nông nghiệp dùng cày để thay thế cho kỹ thuật dùng quốc, và ngày càng phổ biến
ở Giao Chỉ, Cửu Chân, Nhật Nam
Bên cạnh việc cày bừa bằng trâu bò, các công cụ bằng sắt cũng được sử dụng một cách phổ biến Người dân đã biết sử dụng bừa bằng sắt, công cụ bằng sắt đã góp phần làm tăng năng suất trong sản xuất nông nghiệp, và cũng làm tăng thêm nguồn thu của triều đình phong kiến phương Bắc như đã kể trên Để bảo vệ sản xuất và sự ổn định của cuộc sống, nhân dân Việt Nam thời đó đã biết đẩy mạnh việc đắp đê sông Hồng, đê biển để đề phòng lũ lụt và ngăn nước mặn vào đồng ruộng, nhiều công trình thủy lợi như khai thông sông ngòi, kênh rạch để tưới tiêu cũng được tiến hành
Với kỹ thuật, công cụ mới, với sự phát triển của các công trình thủy lợi, cho
nên năng xuất trong nông nghiệp ngày càng tăng lên: “vào thế kỉ I TCN, triều Tây Hán còn phải chở lúa gạo xuống miền Giao Châu để nuôi quan lại và binh lính đóng ở đó, thế mà sang thời Đông Hán vơ vét ở đây đã lên đến con số khổng lồ như đã nói ở trên”1 Nghề làm vườn của người dân Giao Châu cũng khá phát triển, một phần dựa vào sự thuận lợi của tự nhiên, mặt khác do công cụ phát triển, nên
các loại cây, rau, củ, quả khá phong phú và còn mang tính chất đặc sản: “Vào đời Hán vải nhãn là vật cống của Giao Châu dâng lên vua Hán Những cống phẩm của Sĩ Nhiếp nộp cho Tôn Quyền hàng năm thấy có chuối, trầu, long nhãn”2
Như vậy nền kinh tế nông nghiệp Giao Châu những thế kỉ đầu công nguyên làm cho kinh tế nông nghiệp phát triển gần như toàn diện Đó là điều kiện để nâng cao mức sống của người dân, là cơ sở cho việc đánh đuổi ngoại xâm sau này
- Về thủ công nghiệp
Vào buổi đầu công nguyên, thủ công nghiệp ở Giao Châu có những bước
tiến đáng kể Số lượng và chất lượng hàng thủ công lúc này nhiều hơn, trong khi
đó nhiều nghề thủ công mới ra đời Đặc biệt đến giai đoạn này thủ công nghiệp về
cơ bản đã tách khỏi nông nghiệp Một số bộ phận lớn thợ thủ công đã trở thành một bộ phận riêng biệt trong xã hội, nhất là thợ rèn, thợ đúc kim loại và thợ làm gốm
Từ thời Đông Hán trở đi, kỹ thuật đúc đồng ở Giao Châu đã bắt đầu suy thoái Kỹ thuật rèn sắt đã bắt đầu phát triển nhanh chóng, công cụ bằng sắt đã dần
1
Đỗ Văn Ninh, sđd, tr 292 - 293
2
Đỗ Văn Ninh, sđd, tr 293
Trang 31thay thế công cụ bằng đá, bằng đồng thau Tuy nhiên người Việt vẫn dùng đồng để chế tạo những dụng cụ gia đình như bình, đỉnh, chậu… người Việt còn dùng đồng
để chế tạo mũi tên, hoặc đúc trống đồng tuy kỹ thuật không bằng thời kỳ trước
Bên cạnh sự phát triển nghề rèn đúc đồng và sắt, công nghệ khai mỏ đồng, thiếc, sắt cũng phát triển để cung cấp nguyên vật liệu cho các nghề này
Nghề làm gốm đặc biệt phát triển dựa trên kinh nghiệm cổ truyền của dân tộc, kết hợp với kỹ thuật chế tác của người Trung Quốc Bên cạnh những đồ dùng hàng ngày và đồ dùng tùy táng bằng đồ gốm, trong nhiều công trình khảo cổ, người ta đã tìm thấy đồ sành tráng men
Cùng với nghề làm gốm là nghề làm gạch ngói, cùng kiến trúc xây dựng được hình thành Các công trình kiến trúc bằng đất nung như chùa tháp, mộ táng đều dùng chất liệu gạch ngói Gạch được sản xuất ra có nhiều loại như gạch hình chữ nhật để xây dựng những công trình kiến trúc lớn, gạch hình múi bưởi để xây dựng vòm cuốn Trên cơ sở của kỹ thuật chế tạo gạch ngói, việc xây dựng ngày càng phát triển “mộ táng thuộc niên đại Hán - lục triều có nhiều kiểu dáng phức tạp Các mộ này đều được xây dựng cuốn bằng loại gạch có tiết diện hình thang hẹp, có mộ chỉ có một phòng, có mộ lại có tới hai, ba phòng, đặc biệt ngôi mộ phát hiện ở Nghi Vệ, Bắc Ninh có tới 12 phòng Bên cạnh việc xây dựng mộ táng thì việc xây dựng thành trì cũng được phát triển Mẫu tòa thành thu nhỏ làm đồ minh khí ở Nghi Vệ giúp cho việc có thể hình dung được về thành quách đương thời Các công trình kiến trúc lớn như Kiến thành, thành Vọng Hải của Mã Viện, thành Luy Lâu, phải đòi hỏi nhiều nhân lực, kỹ thuật của nhiều ngành thủ công Sang đến giai đoạn này thì Phật giáo cũng đã vào Luy Lâu và được truyền bá rộng rãi ở Giao Châu, trong số đó phải có ít nhất 20 chùa được xây dựng1
Nhìn chung, thủ công nghiệp Giao Châu trong các thế kỷ I đền thêư kỉ VI ,
đã phát triển khá phong phú và toàn diện Tuy nhiên, dưới sự cai quản của chính quyền phương Bắc, thủ công nghiệp ở Giao Châu cũng bị hạn chế phát triển Chẳng hạn như việc Thái thú Tô Định và Tôn Tư đã bắt một lúc hơn 1000 hộ thủ công khéo ở Giao Chỉ về Trung Quốc xây kinh đô Kiến Nghiệp cho vua Ngô2 Với một lựơng thợ thủ công bị bắt đi như vậy, thì việc phát triển thủ công nghiệp trong nước không khỏi bị hạn chế, nhưng điều đó đồng thời cũng cho biết rằng nghề thủ công khi đó ở Giao Châu rất phát triển và lực lượng thợ thủ công của Giao Châu thời bấy giờ cũng đã rất đông đảo
- Về tổ chức xã hội
Từ sự phát triển về sản xuất, cách chức tổ chức kinh tế cũng dẫn đến những biến đổi quan trọng trong tổ chức xã hội Xã hội Giao Châu từ năm 111 TCN đã bị phong kiến phương Bắc chiếm đóng và biến thành một quận của Trung Quốc
Trang 32Sau khi tiêu diệt được nước Nam Việt của nhà Triệu, nhà Tây Hán tiến hành chia đặt vùng đất đai mới chiếm thành 9 quận Vào năm 106 TCN, nhà Hán đặt châu Giao Chỉ thống nhất 7 quận do một quan thứ sử đứng đầu thay mặt triều đình giám sát công việc các quận Mỗi quận có chức quan và Đô Uý chia nhau cai quản việc quân và việc dân Chế độ quận huyện của chính quyền đô hộ được
áp dụng ở Việt Nam từ đó Nhưng điều quan trọng là vùng lãnh thổ Âu Lạc mà trên đó đã tồn tại một thiết chế chính trị, một kết cấu xã hội, nền tảng văn hóa cổ truyền mà người Hán không dễ gì lấy vai trò của người đô hộ mà cai trị được Vì vậy mà từ cấp huyện đến cơ sở, vẫn do các lạc hầu, lạc tướng, thủ lĩnh người Việt nắm giữ theo truyền thống cũ Ngoài việc phu phen tạp dịch theo kiểu cống nạp,
xã hội Việt vẫn tồn tại một cơ cấu tổ chức quản lý, sinh hoạt văn hóa, nề nếp xã hội cổ truyền Bên cạnh cơ tầng văn hóa bản địa có sức sống bền chặt thì một phần văn hóa Hán cũng đang dần xâm nhập, nhưng nó vẫn chưa đủ mạnh, buộc chính quyền đô hộ vẫn phải dùng người Việt và phong tục Việt trong quá trình cai trị của mình Vì vậy mà kết cấu xã hội Việt vẫn được thực hiện theo hình thức công xã, liên công xã, lấy gia đình, tộc họ làm tế bào đã tồn tại nhiều thế kỉ từ thời Văn Lang, Âu Lạc để trở thành các khu vực hành chính quận, huyện với chế độ cai trị theo mô hình và phong cách Tần – Hán, với ý đồ đồng hóa cư dân bản địa ngừời Việt theo văn hóa Hán
Dù khả năng tiếp cận nguồn tài liệu chưa thật nhiều, nhưng căn cứ vào các tài liệu lịch sử còn lại cùng với sự suy luận logic có thể biết đuợc từ thời Văn Lang
- Âu Lạc xã hội đã bắt đầu có sự phân hóa, ít nhất là gồm hai bộ phận: lạc hầu, lạc tướng, phụ đạo, tức là bộ phận nắm quyền quản lý, điều hành xã hội từ trung ương tới cơ sở của một quốc gia sơ khai Một bộ phận khác chiếm tuyệt đại đa số trong
xã hội bấy giờ là lạc dân cày ruộng, làm thủ công, có nghĩa vụ phải đóng góp để nuôi sống, phục vụ cho một bộ phận phi sản xuất
Dưới ách thống trị của nhà Triệu, nhà Tây Hán, mặc dù chỉ quản lý lỏng lẻo
từ huyện đến cơ sở theo tục cũ, thì trong xã hội Việt lúc đó đã xuất hiện tầng lớp thống trị ngoại bang bao gồm quan lại, binh lính với phương thức bóc lột theo kiểu cống nạp nhằm thỏa mãn yêu cầu của cả quan chức người Việt lẫn quan cai trị Hán
Giai cấp thống trị ngoại tộc lúc này đã trở thành kẻ thù chung của các tầng lớp trong cộng đồng quốc gia dân tộc Việt Các quan lại người Việt có lòng yêu nước thương dân gìơ đây cũng bị chèn ép đến bất lực, quyền hành mà họ nắm giữ trong tay bị khống chế, họ không đựợc tự do điều hành đất nứơc theo đúng chức năng của một quan chấp chính vì dân, vì nước nữa Nhưng với lòng yêu nước, thương nòi và ý thức độc lập dân tộc, họ đã đứng về phía nhân dân mà ở đó họ có vai trò là thủ lĩnh Tuy nhiên bên cạnh đó cũng không ít kẻ vì quyền lợi cá nhân đã cấu kết với giai cấp thống trị, quay lại với quyền lợi của dân tộc
Trước đây khi sản phẩm dư thừa trong xã hội chưa nhiều, thì sự phân hóa trong cộng đồng dân tộc Việt mới bắt đầu phát sinh Thì giờ đây việc khai phá,
Trang 33chiếm lĩnh đồng bằng đã làm cho nông nghiệp và kéo theo thủ công nghiệp đều phát triển Chính trong điều kiện đó, dưới sự thống trị của ngoại bang, trong xã hội
đã xuất hiện một lớp quan lại ngoại tộc cùng chính sách đàn áp, bóc lột dã man thì một tầng lớp giàu có cùng với hệ thống tay sai bản địa cũng xuẩt hiện Trong xã hội, tình trạng phân hóa của người dân bản địa là không tránh khỏi Lạc dân giờ đây không được sống yên ổn với ruộng đất núi rừng, sông biển như trước, mà họ phải còng lưng chịu đựng cống nạp nặng nề cho giai cấp thống trị đô hộ Một bộ phận quá nghèo đói, hoặc bị buộc tội chống đối, bị biến thành nô lệ cho tầng lớp thống trị ngoại tộc và bản địa Một xã hội trên con đường phân hóa ngày càng rõ nét, người dân lao động nhiều phen liều chết vùng dậy đấu tranh để đòi quyền sống, giành lại độc lập, nhưng họ đều thất bại Trong số ấy, cuộc khởi nghĩa của Hai Bà Trưng là một cuộc đấu tranh tiêu biểu cho tinh thần yêu nước, và sự dồn ép không thể chịu đựng nổi của nhân dân những năm đầu công nguyên, và cuộc khởi nghĩa sau này đã bị thất bại
Đàn áp xong cuộc khởi nghĩa của Hai Bà Trưng và phong trào giải phóng dân tộc của nhân dân, Mã Viện đã tiến hành chia Giao Châu thành nhiều quận huyện và thành trì để củng cố chính trị và đặt cơ sở cho việc cai trị ngày càng nghiêm ngặt và hà khắc hơn
Vào đầu thế kỷ I đầu công nguyên, Thái thú Tô Định đã đem luật pháp Trung Hoa, áp dụng vào đất Giao Châu để quản thúc các quý tộc và dân bản xứ ngày một chặt chẽ hơn Giai cấp phong kiến phương Bắc đã thi hành lối sống Hán tộc nhằm làm cho phong tục Việt mai một và mất dần đi và thay vào đó là phong tục, tập quán Trung Hoa Đến thời Mã Viện thì luật pháp Trung Hoa được áp dụng vào Việt Nam ngày càng mạnh mẽ
Như vậy đứng trước nguy cơ bị đồng hóa cả về văn hóa, tư tưởng, kinh tế, chính trị, xã hội như trên, thì đến cuối thế kỷ I, đầu thế kỷ II, Phật giáo đã được truyền bá vào Giao Châu mạnh mẽ Gíao lý Phật giáo với nhiều điểm tương đồng, gần gũi với lối sống, đặc điểm tâm lý, phong tục tập quán của người Việt cùng với việc truyền bá bằng con đường hòa bình nên đã dễ dàng được nhân dân Việt Nam chấp nhận Tư tưởng của Phật giáo kết hợp với văn hóa bản địa đã tích cực chống lại sự đồng hóa của Trung Quốc Điều đó cũng lý giải vì sao Phật giáo rất được phát triển vào các thời đại sau đó
Theo nghiên cứu của nhiều nhà khoa học, thì Phật giáo đựợc truyền vào Việt Nam đầu tiên ở Luy Lâu, một trong những trung tâm văn hóa, chính trị của
Việt Nam thời bấy giờ Theo Nguyễn Hùng Hậu thì: “ở thế kỷ II đến thế kỷ III sau khi Hán Linh Đế băng hà, thiên hạ nhiễu loạn, chỉ Giao Châu tạm yên, nên người phương Bắc trong đó có nhiều học giả, trí thức kéo nhau đến ở Ngay Mâu Tử cũng phải kéo mẹ đi lánh nạn tại Luy Lâu”1 Như vậy trong bối cảnh xã hội bất công, người dân vô cùng khổ cực, và yêu cầu thoát ra khỏi nỗi khổ, kết hợp với điều kiện địa lý, tự nhiên thuận lợi cho các thương nhân người Trung Quốc, Ấn
1
Nguyễn Hùng Hậu, Đại cương lịch sử tư tưởng triết học Việt Nam, tập 1, sđd, tr 36
Trang 34Độ, Trung Á… xuôi thuyền qua Giao Châu buôn bán đã mang theo tư tưởng Phật giáo truyền bá vào Việt Nam khi xưa môt cách nhanh chóng
Và như thế Phật giáo chẳng phải đã hội tụ đầy đủ các điều kiện về tự nhiên, chính tri, kinh tế, tâm lý xã hội để ngày càng phát triển mạnh mẽ ở Việt Nam từ trước hay sao?
2.2 Chùa Dâu trong sự chuyển biến tín ngưỡng tôn giáo
Sự chuyển biến tín ngưỡng và tôn giáo ở Việt Nam không phải chỉ diễn ra trong ngày một ngày hai hay trong một khoảng thời gian nhất định nào Mà đó là một quá trình biến đổi theo những quy luật vận động và phát triển của sự vật hiện tượng Sự chuyển biến tín ngưỡng tôn giáo cũng không phải chỉ có ngày xưa mới diễn ra mà ngày nay trong điều kiện mới sự chuyển biến này vẫn còn tiếp diễn Sự chuyển biến tín ngưỡng và tôn giáo ở Việt Nam cũng không phải chỉ diễn ra ở chùa Dâu hay hệ thống chùa Tứ Pháp ở Bắc Ninh, mà nó diễn ra trên khắp lãnh thỗ Việt Nam trong đó chùa Dâu là tiêu biểu, đại diện cho quá trình chuyển biến liên tục và lâu dài giữa Phật giáo với các tín ngưỡng bản địa ở Việt Nam
Hơn nữa phật pháp không phải là những giáo điều cố định mà là những pháp bất định, luôn luôn uyển chuyển theo hoàn cảnh và căn cơ của chúng sinh Thế nên xuất phát từ Ấn Độ, đạo Phật truyền bá lan rộng ra các xứ ngoài, đến đâu
là đều dung hòa để thích nghi với tập quán và phong tục địa phương, ít gặp sự phản ứng hay chống đối gây thành những trận chiến tranh tôn giáo, nhờ vậy mà đạo Phật phát triển cơ sở rất nhanh, đi đến đâu đạo Phật cũng được người dân nhanh chóng chấp nhận Do vậy, sự phát triển dung hòa giữa Phật giáo và các tôn giáo tín ngưỡng bản địa không chỉ diễn ra ở Việt Nam mà ngay cả những nước có một nền văn hóa lớn, có sức ảnh hưởng mạnh mẽ cũng không thể hạn chế được sự
Thậm chí các tông phái Phật giáo Trung Hoa đôi khi còn phát triển mạnh
mẽ hơn cả ở bên Ấn Độ - nơi mà Phật giáo sinh ra Khi đề cấp đến sự hình thành
các tông phái Phật giáo Trung Hoa, Lương Khải Siêu trong Ẩm Băng Thất có viết:
“ về Câu xá tông, tuy thế thân có tạo một bộ luận được học giả ấn Độ tranh nhau học tập, nhưng chưa chánh thức lập nên một tông Tông này được thành hình là chính tự Trung Quốc Còn về Thành thực tông thì từ Ma Lê Bạt Ma về sau không thấy kinh sách nào ở Thiên trúc nói đến mà chỉ riêng ở Trung Quốc thì rất thịnh Tam luận tông ở Ấn Độ tuy truyền bá hơi rộng nhưng cũng không bằng ở Trung Quốc Đến như Hoa nghiêm thì bản kinh ấy ở Ấn Độ đã chìm lặn trong chỗ mờ
1
Phan Bá Cầm, Bản chất dung hóa của Phật giáo, Vạn Hạnh, 1966, số 13-14, tr 154
Trang 35mịt Thế thì làm gì có Hoa nghiêm tông… đến như Thiền tông tuy rằng ở Ấn Độ có
28 vị tổ, nhưng sự truyền nhau còn quá mật, giữa tiền tổ với hậu tổ chỉ trong khoảnh khắc, không thể biết được uyên nguyên cho nên việc chân ngụy hẳn khó
mà phân biệt Ấn Độ cho rằng chân nhưng trong khoảng hơn một nghìn năm, ngoài 23 tổ ra thì không có thể nói là có Thiền tông, ấy chẳng qua là vị tổ sau vừa nhận y bát thì vị tổ trước đã nhập diệt Thành thử trong khoảng không hơn một nghìn năm ấy, chẳng từng có hai người cùng một lúc hoằng dương chánh pháp Thiền tông Như vậy có thể nói Ấn Độ không có một Thiền tông cũng nên Tuy nhiên, Phật giáo nhờ có lục tổ mà bắt đầu có Thiền tông, cũng như Gia Tô Giáo nhờ có Luther mà bắt đầu có tân giáo Như pháp môn chỉ quán (Thiên Thai tam muội) là đặc sáng của riêng Đại sư Trí giả, trước đó chưa có mà ngay trong thời đại của Đại sư cũng không ai dạy thì đủ rõ Do đó, có thể nói rằng trong mười tông , duy có Luật tông, Pháp tưởng tông, Chân ngôn tông, Tịnh độ tông là thịnh hành ở Ấn Độ còn kì dư là do Trung Quốc sáng lập”1
Trên thực tế nhóm nghiên cứu đã tiến hành khảo sát một số ngôi chùa của người Hoa tại Thành phố Hồ Chí Minh thì sự chuyển biến cũng diễn ra khá mạnh
mẽ Chẳng hạn như Miếu Thiên Hậu (chùa Bà) tại 122, Bến Chương Dương, quận
1 hay cũng một ngôi Miếu Thiên Hậu (chùa Bà) khác tại 710, Nguyễn Trãi, quận 5 cùng ở Thành phố Hồ Chí Minh Tuy dân gian gọi là những ngôi chùa nhưng trong đó lại thờ các mẫu Điều đó cho thấy ngay như ở người Hoa thì Phật giáo cũng đã ảnh hưởng khá sâu sắc
Không phải Trung Quốc mà Phật giáo vào Nhật Bản cũng vậy, chẳng những Phật giáo không gặp sự phản ứng của Thần đạo là một nền đạo được coi như quốc đạo của Nhật Bản, mà còn ảnh hưởng trở lại đạo này Đạo phât ở Nhật bành trướng cũng rất nhanh và cũng phát triển thành những tông phái khác nhau trong dân chúng Không những vậy mà Phật giáo đi đền dâu còn biến đổi để phù
hợp với văn hóa bản địa ở đó: “tuy chịu ảnh hưởng của Phật giáo Trung Hoa, các Đại đức thiền sư Nhật Bản như Đạo Nguyên, Thân Lan, Nhật Liên đã biến Phật giáo Trung Hoa thành Phật giáo Nhật Bản, hòa hợp với Thần đạo và Vũ sĩ đạo Cùng thời là Thiên thai tông nhưng Thiên thai tông của Nhật Bản lại hòa với Mật, Thiền Đến Tịnh độ tông và Thiền tông cũng thế Ở Nhật, hai tông này biến đổi đi rất nhiều từ tinh thần lẫn hình thức”2
Qua một đôi điều phân tích như trên để cho chúng ta thấy được rằng sự chuyển biến tín ngưỡng tôn giáo giữa đạo Phật với các tôn giáo bản địa không chỉ diễn ra ở Việt Nam mà còn khá phổ biến ở những nước khác Để từ đó, người đọc
có thể hiểu rõ hơn được sự chuyển biến tín ngưỡng tôn giáo ở Việt Nam mà đề tài
đi vào phân tích cụ thể ở phần dưới đây
Trang 36 Tín ngưỡng thờ Mẫu
Nguồn gốc của tín ngưỡng thờ Mẫu
Tín ngưỡng thờ Mẫu, đó là một truyền thống của dân tộc Việt Nam Từ khởi thuỷ con người đã có ý thức sâu sắc về sự sinh sản, sinh sôi nảy nở, ý thức ấy
trong buổi “ban mai” của con người thường xuất phát từ một cái gì đó rất cụ thể
Cái cụ thể về giá trị sinh sôi, nảy nở ấy không gì khác ngoài người mẹ mang nặng
đẻ đau, sinh ra, nuôi dưỡng, che chở cho những đứa con, và những gì sinh sôi, nuôi sống che chở cho cuộc sống của con người chiến thắng thiên tai và thú dữ
trong buổi “binh minh” ấy của con người thì cũng được coi là mẹ
Với ý nghĩa đó, người mẹ biểu tượng đầu tiên cho cuộc sống cho con nguời
ấy là mẹ cây Cây cho mầm, cho rễ, cho quả để con người có cơ sở sinh sống ban đầu Trong thời buổi nguyên thuỷ con người cũng không thể sống xa cây, cây giúp cho con người có cái ăn, cây giúp cho con người tránh thú dữ Khi mà con người chưa biết tự sản xuất ra nguồn vật chất để nuôi sống mình thì rừng chính là nơi có nhiều cây, nhiều quả có thể giúp cho con người sinh sống tồn tại Vì vậy có thể nói rằng tín ngưỡng thờ Mẫu ở người Việt hay ở Việt Nam, khởi đầu gắn với con người cư trú trên các miền núi Có nghĩa là tín ngưỡng thờ Mẫu khởi nguyên từ miền rừng núi thờ mẹ cây mà sau này ở Việt Nam có Mẫu Thượng Ngàn Rồi sau
đó, cùng với thời gian, con người di cư xuống trung du, đồng bằng, đời sống của con ngưới nhiều thay đổi, yếu tố quan trọng cho cuộc sống của con người lúc này không chỉ là cây mà còn là nguồn nước, là nguồn khí hậu để con người sinh hoạt
và sản xuất Từ đây sinh ra các mẫu khác như Mẫu Thượng Thoải, Mẫu Thượng Thiên…
Khi con người xuống trung du, đồng bằng sống bằng nghề nông nghiệp lúa nước, cây luá, hạt gạo là yếu tố hàng đầu để nuôi sống con ngươi, rồi đến các cây hoa màu, cây ăn quả Mẹ cây vẫn gắn bó chặt chẽ với đời sống con người Và con người làm nông nghiệp luá nước thì lúc này đất và nước là hai yếu tố quan trọng tiếp theo mà con người tôn thờ Và như thế đất đai, nguồn nước đã được con người tôn vinh làm mẹ đất, mẹ nước (mẫu địa, mẫu thuỷ)
Thế nhưng nguồn nước lại ở một nơi khác, mà nơi ấy người ta gọi là trời Con người khi đó chưa hiểu được quy luật của mưa là do nước bốc hơi lên tạo thành mây, rồi mới có mưa, và như thế họ cho rằng mưa là do trời sinh ra Không còn nói gì thêm nữa mẹ trời đã được tôn vinh
Như vậy là cuộc sống của con người càng phát triển, càng nâng cao, con người càng khám phá ra nhiều điều bí ẩn của thế giới tự nhiên và cùng chiều vời
sự khám phá ấy con người cũng gặp phải không ít những khúc mắc mà con người không thể tự giải được, yếu tố tự nhiên này cứ chi phối cuộc sống của họ Trước
sự bất lực ấy các hình thái tín ngưỡng của con người càng nảy sinh và ngày càng phong phú cùng với sự đa dạng của cuộc sống con người Tín ngưỡng là từ thực tế của cuộc sống, con người đặt ra những lực lượng tôn vinh, tôn thờ phù hợp với
Trang 37cuộc sống của mình là vậy Việc thờ mẹ cây, mẹ đất, mẹ nước xưa kia rất phổ biến
ở trung du đồng bằng Bắc Bộ Biểu tượng giếng nước, mái đình, cây đa đã đi vào tiềm thức của con người Việt Nam, nó như một hình ảnh thiêng liêng cao qúy, nó không chỉ trở thành một nét văn hoá đặc trưng cho các làng quê vùng đồng bằng Bắc Bộ mà còn trên khắp đất nước Việt Nam như nhà thơ Nguyễn Khoa Điềm từng viết:
Và ở đâu trên khắp ruộng đồng gò bãi
Chẳng mang một bóng hình, một ao nước, một lối sống ông cha
Tóm lại do sâu nặng ý thức nhớ về cội nguồn thì qua các hình thái tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên, tín ngưỡng thờ thần, là những người có công dựng làng, giữ nước đã thể hiên rất rõ điều đó Còn đối với người mẹ mang nặng đẻ đau, nuôi dưỡng nên những đứa con, thì nghĩa mẹ thật là sâu nặng khôn cùng Chẳng thế mà tình mẹ đã được nhân dân Việt Nam đúc kết thành những câu thơ, câu ca dao thật
dễ đi vào lòng người
Công cha nặng lắm ai ơi Nghĩa mẹ bằng trời chín tháng cưu mang
Nước trong nguồn chảy ra không bao giờ hết thì nghĩa mẹ càng chẳng bao giờ nguôi Từ ý thức ấy, mở rộng ra tầm nhìn văn hoá, thì những cái gì quyết định cho sự sinh sôi ra của cải, hạt gạo bát cơm là tố chất cơ bản bao đời nuôi sống con người – những cư dân nông nghiệp lúa nước thì cũng có thể ví như công ơn nghĩa
mẹ Vì vậy mà cây, đất, nước là những yếu tố quyết định đến sản xuất nông nghiệp
đã được nhân dân Việt Nam thần thánh hoá và trở thành như những người mẹ
Nguồn gốc của các Mẫu – Thánh mẫu không chỉ có việc nhân hoá các hiện tượng tự nhiên mà bên cạnh đó có cả những người phụ nữ Việt Nam khi có công trạng đặc biệt cũng được nhân dân thần thánh hoá để trở thành các Mẫu Thông thường những người được nhân dân Việt Nam gọi là Mẫu bao gồm: các thái hậu (mẹ vua), các hoàng hậu (vợ vua), công chúa (con gái vua), và những người phụ
nữ khác có tài năng công đức, khi mất hiển linh và được tôn vinh làm mẫu chẳng hạn như Tống Hậu, Thái Hậu họ Đỗ tương truyền là mẹ Lý Thánh Tông, Ỷ Lan – mẫu nghi thiên hạ1
Như vậy các Mẫu - Thánh mẫu vừa có nguồn gốc thiên thần vừa có nguồn gốc nhân thần, là hình thức tín ngưỡng nâng cao nên từ cái tư tưởng trọng nữ, thờ
nữ thần vốn rất phổ biến và cổ xưa của dân tộc Việt Nam
Đạo Mẫu trong hệ thống những tôn giáo tín ngưỡng của Việt Nam
Theo giáo sư Ngô Đức Thịnh thì đạo Mẫu cùng một loại hình đạo giáo, đạo Mẫu rất gần gũi với đạo Thiên trong cả quan niệm, thần điện và nghi thức thờ cúng Hơn thế nữa vị thần chủ đạo của đạo Mẫu là Liễu Hạnh đồng thời cũng là
1
Viện khoa học xã hội Việt Nam, Về tôn giáo và tôn giáo ở Việt Nam, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội,
2004, tr 559
Trang 38một vị tiên tiêu biểu của Việt Nam Đấy là chưa kể các hình thức nghi lễ cầu tiên, lên đồng, giáng bút của hai loại đạo này cũng có rất nhiều nét vay mượn của nhau
Cùng xuất phát từ đạo thờ thần nhưng đạo Mẫu và thờ Thành hoàng của các làng xã lại ít có quan hệ gắn bó, mặc dù nhiều vị Thánh mẫu đồng thời cũng là Thành hoàng của khá nhiều làng xã1
Đạo Mẫu cũng tiếp thu ảnh hưởng của tục thờ cúng tổ tiên, một tín ngưỡng
có vai trò quan trọng hàng đầu trong hệ thống tín ngưỡng Việt Nam Một biểu hiện
rõ nhất là Điện thần của đạo Mẫu mang tính gia tộc có vua cha, thánh mẫu
Trong quá trình du nhập của đạo Phật vào Việt Nam và một bộ phận quan trọng của nó đã phát triển theo khuynh hướng dân gian hoá, giữa đạo Phật và đạo Mẫu có sự thâm nhập và tiếp thu ảnh hưởng lẫn nhau khá sâu sắc Điều dễ nhận thấy nhất là ở hầu hết các ngôi chùa hiện nay ở nông thôn ngoài thờ Phât là chính thì còn có điện thờ Mẫu
Giáo sư Ngô Đức Thịnh còn khẳng định rằng không chỉ có con đường các điện Mẫu đi vào chùa mà còn có con đường đi ngược lại – Phật đi vào các điện phủ thờ Mẫu Trong điện thần cũng như cách thức phối tự các ngôi đền, phủ ta đều thấy sự hiện diện của Phật mà đại diện cao nhất là phật bà Quan Am cứu khổ cứu nạn cho chúng sinh
Hiện tượng đồng bóng trong tín ngưỡng thờ Mẫu
Gắn với tín ngưỡng thờ Mẫu có hiện tượng đồng bóng hay cũng gọi là ngồi đồng, lên đồng Người ngồi là để làm cái giá cho Mẫu nhập vào, quãng thời gian này có thể kéo dài từ một đến hai giờ hoặc hết cả buổi lễ Đồng ở đây có nghĩa là cùng, người cùng với cái bóng của thánh mẫu hoà nhập làm một Quãng thời gian người ngồi đồng là quãng thời gian người đó thể hiện là cái bóng của thánh mẫu, mọi lời nói cử chỉ của người ngồi đồng lúc đó là mọi cử chỉ lời nói của thánh mẫu
Hoạt động đồng bóng
diễn ra nhiều dịp trong năm
Hầu bóng xông đền (năm mới),
hầu bóng Thượng Nguyên (rằm
tháng giêng), hầu nhập hạ (đầu
tháng tư), hầu tán hạ (rằm tháng
bảy), hầu tất niên và hạp ấn (hai
năm tháng chạp)…
Người ngồi đồng phải tự
sắm nhiều bộ quần áo, đề mỗi
khi ngồi chầu ông Hoàng, hoặc
chầu bà nào đó giáng nhập vào
thì phải thay một bộ đồ cho phù
Trang 39hợp Ví như thánh mẫu Thượng Ngàn giáng nhập thì phải thay một bộ đồ dân tộc miền núi Người ngồi đồng có phủ khăn kín mặt, tay cầm ba nén nhang đang cháy, hướng nên điện thờ, khua vòng hương cháy trước mặt, miệng lẩm bẩm khấn xin thánh mẫu giáng nhập, hiệu tay trái là thánh nam nhập, hiệu tay phải là thánh nữ nhập Tuỳ theo sự tưởng tượng của người lên đồng là thánh nam hay thánh nữ mà
có thể có những động tác tiến lên, lùi xuống, sang trái, sang phải khác nhau… theo tiếng nhạc và lời hát chầu văn của ông công văn Về đặc điểm tính cách của một ông hoàng hoặc thánh mẫu nào đó Cuối giá đồng, người lên đồng ban lộc cho những người ngồi chầu đồng xung quanh
Hoạt động đồng bóng đã sinh ra một làn điệu âm nhạc chầu văn, với những điệu ví, dọc, phú… được tính gộp từ nhiều làn điệu dân ca đồng bằng Bắc Bộ, nhất
là dân ca quan họ Bắc Ninh, hát dặm Hà Nam Nhạc hát chầu văn là là một làn điệu dân ca nhiều ngâm nga, luyến láy, quãng ngắt… dễ kích thích hưng phấn nhún nhảy, uốn éo cơ thể khi say hương khói1
Hoạt động đồng bóng với những động tác biểu diễn của người lên đồng, với những dàn hát chầu văn nhiều ngân nga luyến láy… nhiều nhà nghiên cứu về tín ngưỡng tôn giáo cho đây là hoạt động sân khấu tâm linh Vì nó mang kịch tính mỗi khi người lên đồng biểu hiện về một nhân vật hư ảo huyền thoại nào đó, trong tiếng đàn, lời ca hấp dẫn, quyến rũ giữa không gian thiêng liêng thánh mẫu
Thế nhưng hoạt động đồng bóng không dừng lại như vậy mà người lên đồng còn nhân danh thánh mẫu phán bảo nhiều điều không có căn cứ về tình duyên, danh vọng, làm ăn… thậm chí họ nhân danh thánh mẫu chữa bệnh bằng những cách thiếu căn cứ khoa học, chẳng hạn như việc hoà tàn hương vào nước thải cho bệnh nhân uống hoặc đeo bùa cho bệnh nhân… Như vậy, có thể thấy thực chất hiện tượng đồng bóng đôi khi quá duy tâm, lấy danh thánh mẫu để phán bảo những sự việc thiếu căn cứ khoa học
Ngày nay đã khác xưa, người dân đã có tư duy biện chứng, khả năng nào thì hiện thực ấy đang ngày càng mạnh lại cho cuộc sống con người ngày càng no
đủ hơn, công việc đồng bóng trên đây nếu cần cũng chỉ nên giữ lại những nét văn hoá dân gian mà nó có, còn lại nên bỏ đi những yếu tố tâm linh mà mang tính chất thần bí cực đoan
Trên phần hành lễ theo hoạt động đồng bóng thì tín ngưỡng thờ Mẫu thực chất cũng vẫn là duy trì nếp sống hướng về cội nguồn Biết ơn những đối tượng cây, đất, nước, những đối tượng cơ bản có ý nghĩa quyết định cho sinh sản ra của cải vật chất nuôi sống con người – những cư dân nông nghiệp lúa nước được người Việt Nam nhân hoá lên như những bà mẹ cho đến hàng ngũ tôn ông bà chầu, ban cô, ban cậu cũng vẫn là biết ơn những vị có công đánh giặc, có công khai phá đất hoang và truyền thống đó dù có thế nào đi nữa thì truyền thống ấy
1
Nguyễn Đăng Duy, Các hình thái tín ngưỡng tôn giáo ở Việt Nam, Nxb Văn hoá Thông tin, Hà Nội,
2001, tr 189
Trang 40cũng khó có thể bị phai nhoà Nhất là trong thời đại ngày nay, khi mà Việt Nam đang tiến hành công nghiệp hoá hiện đại hoá thì những yếu tố văn hoá có tính chất bản sắc như vậy lại càng trở lên cần thiết Đó chính là một trong những công cụ quan trọng cho việc khẳng định nền văn hoá trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc
tế của đất nước
Về tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên
Trong giai đoạn nguyên thuỷ, biết chôn người chết đó là một thành tố quan trong để tách biệt con người ra khỏi giới động vật Khi mà xã hội loài người chưa phát triển, con người mới chỉ biết đến cái hình dáng giống người, còn về cách ứng
sử với môi trường tự nhiên, môi trường xã hội, để con người mang chất tố người thì phải trải qua hàng triệu năm tiến hoá
Biết chôn người chết, tức là con người có ý niệm rằng chết chỉ là mất đi về mặt thể xác, họ bắt đầu có quan niệm về thế giới bên kia Từ đó đời sống tinh thần con người ngày càng phát triển và phong phú thêm Từ chỗ biết chôn người chết,
và có quan niệm về thế giới bên kia và cùng với thời gian, các quan niệm đó đã dần thành một phong tục, một truyền thống, một tín ngưỡng có tính chất riêng có của dân tộc Việt
Nguồn gốc của tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên
- Thứ nhất đó là sự tiếp nối tín
ngưỡng tô tem giáo Tô tem giáo gắn liền
với tổ chức thị tộc Mỗi tổ chức thị tộc có
những hình thức thờ cúng riêng trong khuôn
khổ cái tập tục thờ cúng vật thiêng tổ tiên
Rồi trong mối quan hệ với người chết, với
vũ trụ thế giới hai bên, ngươi chết nhưng
linh hồn vẫn tiếp tục sống ở nơi mà người ta
gọi là “suối vàng” hay “chín suối” Ơ bên
kia thế giới, linh hồn người chết vẫn có nhu
cầu sinh hoạt như người sống Vì thế, người
ta thường chôn theo người chết những đồ
tuỳ táng, người ta phân chia các đồ sinh hoạt
cá nhân cho người chết mà ngày nay vẫn còn thấy không ít ở những dân tộc ít người trên đất nước ta vẫn còn duy trì tập tục này Dần về sau người ta đốt đồ vàng mã cho người chết, mỗi khi cúng lễ, cầu hồn cho họ
Từ ý niệm trên đây, mối liên hệ giữa người sống và người chết được tiếp tục duy trì, nhất là đối với cha mẹ, ông bà qua đời thì việc thờ cúng càng có tính chất thiêng liêng đối với người sống, lâu ngày nó đã thành tập tục của người Việt
- Thứ hai là từ nền kinh tế nông nghiệp gia đình phụ quyền, vai trò người đàn ông trở nên quan trọng trong hoạt động kinh tế, trong mọi sinh hoạt gia đình
Vợ và các con họ phải tuyệt đối phục tùng trong cái quyền được xác lập ấy Và
Ảnh 2.2: Một bn thờ cng tổ tin (Nguồn: ảnh chụp của nhĩm nghin cứu, ngy
15/8/2008)