1. Trang chủ
  2. » Giáo án - Bài giảng

MỘT SỐ KINH NGHIỆM TRONG CÔNG TÁC BỒI DƯỠNG HỌC SINH GIỎI KHXH LỚP 8 MÔN GDCD Ở TRƯỜNG THCS

25 42 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 25
Dung lượng 198,4 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

- (Không tán thành với ý kiên trên vì: Trong cuộc sống, mỗi chúng ta đều liên quan đến mọi người, mọi sự vật, sự việc xung quanh mình. Vì vậy mỗi khi chúng ta hành động thì cần phải suy [r]

Trang 1

Năm học: 2019-2020

Trang 2

MỤC LỤC

A ĐẶT VẤN ĐỀ

I/ Lí do chọn chuyên đề………

II/ Mục đích, đối tượng, phạm vi nghiên cứu………

1- Mục đích nghiên cứu………

2- Đối tượng nghiên cứu………

3- Phạm vi nghiên cứu………

B NỘI DUNG I/ Cơ sở lí luận………

II/ Thực trạng của công tác bồi dưỡng học sinh giỏi môn GDCD……

III/ Nghững kinh nghiệm bồi dưỡng học sinh giỏi môn GDCD……

1- Nghững yêu cầu có tính nguyên tắc trong việc bồi dưỡng……

2- Nắm chắc kiến thức, nội dung chương trình và nội dung thi……

3- Tạo hứng thú học tập cho học sinh………

4- Phát hiện khả năng HS và tổ chức bồi dưỡng………

5- Tiến trình bồi dưỡng………

5.1 Kiểm tra khả năng nắm kiến thức cơ bản của học sinh………

5.2 Cung cấp những kiến thức về pháp luật và hiểu biết xã hội… 5.3 Hướng dẫn học sinh phương pháp, kỹ năng làm bài…………

5.4 Tìm hiểu các dạng đề và rèn kỹ năng phân tích đề…………

5.5 Xây dựng hệ thống câu hỏi, bài tập để rèn luyện kỹ năng IV/ Bài dạy minh họa………

C KẾT LUẬN

3 3 4 4 4 4 4

4 5 6 5 6 9 10 10 10 10 11 12 12

25

Trang 3

A ĐẶT VẤN ĐỀ I/ LÍ DO CHỌN CHUYÊN ĐỀ:

Đảng ta xem xét việc chọn nhân tài, bồi dưỡng nhân tài là một phần quantrọng trong quốc sách phát triển con người, điều đó thể hiện qua việc chỉ đạodạy và học trong các nhà trường Nghị quyết TW2 khóa VIII đã chỉ rõ: “Việcbồi dưỡng học sinh giỏi là nguồn nhân tài cho đất nước được các nhà trường đặcbiết quan tâm và các giáo viên đều có nhiệm vụ phát triển và bồi dưỡng học sinhgiỏi” Việc tổ chức bồi dưỡng học sinh giỏi và thi học sinh giỏi nhằm động viênkhích lệ những học sinh và giáo viên trong dạy và học, góp phần thúc đẩy việccải tiến nâng cao chất lượng giáo dục đồng thời phát hiện học sinh có năngkhiếu để tiếp tục bồi dưỡng ở cấp học cao hơn nhằm tạo nhân tài cho đất nước.Như vậy, đào tạo, bồi dưỡng học sinh giỏi là vấn đề cần thiết và cấp bách, bởi vìhơn lúc nào hết đất nước đang cần những con người tài năng đứng đầu tiếp thunhững thành tựu khoa học mới, công nghệ hiện đại để phát minh ra những sángkiến đáp ứng yêu cầu của công cuộc đổi mới hội nhập đất nước hiện nay Việcphát triển giáo dục đào tạo là chìa khóa để đi đến tương lai

Lí luận và thực tiễn ở nhà trường THCS luôn luôn đặt hiệu quả, chất lượng là yêu cầu hàng đầu Có rất nhiều con đường và cách thức để nâng cao và phát huy tối đa cả hai quá trình dạy và học Trong đó việc kết hợp giữa dạy học đại trà với đào tạo mũi nhọn thường xuyên được đặt ra và là thách thức đối với các nhà sư phạm có tâm huyết Bồi dưỡng học sinh khá, giỏi lại cần thiết hơn bao giờ hết Nó có ưu thế trong việc phát huy tính tích cực học tập, rèn luyện, của học sinh nâng cao thành tích học tập của các em, đồng thời qua cáchoạt động bồi dưỡng, giúp học sinh thêm yêu bộ môn GDCD Môn GDCD ởtrường THCS nhằm trang bị cho học sinh những hiểu biết cơ bản, phù hợpvới lứa tuổi về hệ thống giá trị đạo đức, pháp luật của con người Việt Namtrong giai đoạn hiện nay Trọng tâm là phát triển ở học sinh hệ thống thái độ,cảm xúc, niềm tin, đạo đức: hình thành ý thức trách nhiệm, tự giác tuân thủpháp luật, tích cực thực hiện nghĩa vụ và trách nhiệm, quyền hạn của công dân:hình thành hành vi, thói quen theo các chuẩn mực đạo đức xã hội, những quyđịnh của pháp luật và cộng đồng

Một thực tế hiện nay là học sinh rất ít chú ý đến bộ môn GDCD Tự bản thân các em coi đó là môn phụ Bởi vậy các giờ học GDCD thường diễn ra tẻ nhạt, nặng nề, học sinh ít quan tâm, dẫn đến không ít giáo viên cảm thấy chán nản, mất hứng thú khi bước lên bục giảng, kĩ năng sống kém, đánh nhau tunglên mạng Minh chứng là các con số được thống kê trong các năm học gần đây

số lượng học sinh vi phạm ngày một tăng, suy thoái đạo đức Thực tế trên đặt

Trang 4

ra nhiệm vụ cho mỗi giáo viên giảng dạy môn GDCD là phải định hướng nhận thức đúng đắn cho học sinh trong học tập.

Vấn đề luôn được đặt ra là làm thế nào để nâng cao chất lượng học tập bộ môn? Làm thế nào để học sinh yêu thích với bộ môn giáo dục công dân? Làm thế nào để mỗi giáo viên khi bước lên bục giảng đều cảm thấy yêu nghề, được học sinh coi trọng, chờ đợi? Làm thế nào để học sinh mũi nhọn đạt được những kết quả đáng khích lệ qua các kì thi tuyển? Từ kết quả thi học sinh giỏikhoa học xã hội của trường THCS Trung Nguyên trong những năm gần đây luônđứng trong tốp đầu của huyện Cụ thể:

Kết quả thi KHXH của trường THCS Trung Nguyên trong những nămgần đây:

- Năm học 2017 – 2018: Cấp huyện: 01 giải ba, 02 giải KK

Cấp tỉnh: 01 giải nhì, 07 giải KK

Xếp thứ 6/18 trường

- Năm học 2018-2019: Cấp huyện:02 giải nhì, 02 giải ba,03 giải KK

Cấp tỉnh: 01 giải ba, 03 giải KK

Xếp thứ 3/18 trường

Với những lí do trên nên tôi chon chuyên đề

“Một số kinh nghiệm trong công tác bồi dưỡng học sinh giỏi môn GDCD ở trường THCS”

II/ MỤC ĐÍCH, ĐỐI TƯỢNG, PHẠM VI NGHIÊN CỨU:

1/ Mục đích nghiên cứu:

Công tác bồi dưỡng học sinh giỏi là một công tác rất khó khăn và phứctạp nhưng lại có ý nghĩa lớn lao Vì vậy tôi nghiên cứu đề tài này với mục đíchtìm ra những biện pháp, hình thức bồi dưỡng nhằm đạt hiệu quả cao Tôi đặcbiệt quan tâm tới bộ môn GDCD vì Môn GDCD ở trường THCS có vai trò quantrọng trong việc thực hiện mục tiêu giáo dục, góp phần hình thành nhân cáchtoàn diện cho học sinh, là một môn học có nhiều khả năng giáo dục KNS cho

HS, nếu làm tốt sẽ kích thích mạnh mẽ, ý thức tự giác, niềm say mê và ý chívươn lên trong học tập cũng như tu dưỡng của học sinh

2/ Đối tượng nghiên cứu:

Học sinh khối lớp 8 trường THCS Trung Nguyên

Trang 5

B NỘI DUNG I/ CƠ SỞ LÍ LUẬN:

Ở nước ta việc dạy học nói chung và bồi dưỡng nhân tài nói riêng đượcchú trọng ngay từ khi dựng nước vì như Thân Nhân Trung đã nói: “Hiền tài lànguyên khí quốc gia” Đảng ta khẳng định “Giáo dục là quốc sách hàng đầu, đầu

tư cho giáo dục là đầu tư cho sự phát triển” điều đó được thể hiện trong các nghịquyết TW VIII: “Phương pháp giáo dục phải phát huy tính tích cực, chủ động,

tư duy sáng tạo của người học Bội dưỡng năng lực tự học và ý trí vươn lên” ởnước ta cũng như nhiều nước trên thế giới, vấn đề dạy học và chất lượng dạyhọc ngày càng trở thành mối quan tâm hàng đầu của toàn xã hội Đối với mỗitrường học, chất lượng học sinh giỏi là đích và tiêu chuẩn mà mỗi nhà trườngluôn hướng tới, nó là một yếu tố quan trọng để đánh giá chất lượng dạy và họccủa nhà trường Vì vậy bồi dưỡng học sinh giỏi là bước đi đầu tiên để đào tạonhân tài cho đất nước và là nhiệm vụ quan trọng của nghành giáo dục

Công tác bồi dưỡng học sinh giỏi phụ thuộc vào rất nhiều yếu tố, nhưnghai yếu tố quan trọng và quyết định đó là thầy và trò Có ý kiến cho rằng muốn

có trò giỏi thì trước hết phải có thầy giỏi, qua đó muốn khẳng định rằng vai tròcủa người thấy trong công tác phát hiện và bồi dưỡng học sinh giỏi là hết sứcquan trọng Là một giáo viên bồi dưỡng đội tuyển chúng ta phải là người thấyvừa hồng vừa chuyên, hay nói theo cách khác phải đủ tâm, đủ tầm; phải trao dồitích lũy chuyên môn, học hỏi kinh nghiệm của đồng nghiệp, phải tìm tòi tư liệudạy học…; một điều hết sức quan trọng đó là truyền cho học sinh niềm say mê,hứng thú, tinh thần ham học hỏi, tìm tòi cái mà chúng ta gọi là truyền lửa chohọc sinh

Tôi nghĩ rằng người thấy giáo có vai trò quyết định nhất đối với kết quảHSG, các em học sinh có vai trò quyết định trực tiếp đến kết quả của mình Việcbồi dưỡng hoc sinh giỏi cũng giống như chúng ta ươm một mầm non, nếu biếtchăm sóc, vun xới thì mầm non sẽ phát triển xanh tốt

II/ THỰC TRẠNG CỦA CÔNG TÁC BỒI DƯỠNG HỌC SINH GIỎI MÔN GDCD Ở TRƯỜNG THCS:

Trong trường THCS môn GDCD là một trong những môn học trang bịcho học sinh nhân sinh quan, thế giới quan, bồi dưỡng phẩm chất chính trị, đạođức, lối sống nhân cách cho học sinh; hình thành ở thế hệ trẻ những giá trị chuẩnmực đạo đức và pháp luật phù hợp với yêu cấu phát triển của xã hội Tuy nhiênhiện nay công các thành lập và bồi dưỡng đội truyển HSG môn GDCD gặp rấtnhiều khó khăn Bởi vì lâu nay trong quan niệm của không ít phụ huynh và họcsinh thì môn GDCD vẫn bị coi là môn phụ nên hầu như HS không có đầu tư chomôn học này Thực tế cho thấy đã có những em định tham gia đội truyển nhưng

Trang 6

cha mẹ không đồng ý, hơn nữa môn GDCD đôi khi không được lựa chọn họcsinh giỏi cho môn mình để bồi dưỡng mà phải bồi dưỡng trên sự lựa trọn củacác môn Văn, Sử, Địa Đứng trước thực tế đó tôi luôn trăn trở để trả lời cho câuhỏi phải làm gì, phải làm như thế nào để nâng cao chất lượng đội truyển Vì vậyviệc nghiên cứu và đề xuất một số kinh nghiệm trong công tác bồi dưỡng họcsinh giỏi môn GDCD ở trường THCS là vấn đề thiết thực, phù hợp với yêu cầu

và nhiệm vụ của ngành, của đồng nghiệp tâm huyết với bộ môn

III/ NHỮNG KINH NGHIỆM BỒI DƯỠNG HSG MÔN GDCD

1 Những yêu cầu có tính nguyên tắc trong việc bồi dưỡng.

- Điều quan trọng nhất trong quá trình dạy học là làm cho học sinh yêuthích môn học, “thổi lửa” khơi dậy, nuôi dưỡng lòng đam mê học tập, khát khaokhám phá của học sinh

- GV có thể giảng dạy theo các mảng kiến thức, kĩ năng; rèn cho HS kĩnăng làm bài ở từng dạng, từng chủ đề Sau khi trang bị cho học sinh kiến thức

cơ bản của bộ môn, giáo viên chú ý nhiều hơn đến việc dạy học sinh phươngpháp phát huy năng lực của học sinh

- Việc bồi dưỡng học sinh giỏi phải gắn liền với giáo dục tư tưởng, đạođức, các em vừa được bồi dưỡng và phát huy năng khiếu vừa có ý thức học tập

2 Nắm chắc kiến thức, nội dung chương trình và nôi dung thi.

* Trước hết giáo viên dạy bộ môn phải nắm vững chương trình, nội dungsách giáo khoa toàn cấp, trọng tâm và yêu cầu trong giờ dạy Vì môn GDCDkhác với tất cả các môn học khác, đây là môn học có kiến thức đồng tâm pháttriển, ở tất cả các khối lớp trong cấp THCS đều có chung những chuẩn mức đạođức và pháp luật

Trang 7

CẤU TRÚC CỦA CHƯƠNG TRÌNH THEO CHỦ ĐỀ ĐẠO ĐỨC VÀ PHÁP LUẬT

- Lễ độ

- Trung thực

- Tự trọng

- Tôn trọng người khác

- XD tình bạn trong sáng, lành mạnh

- Tích cực tham gia các hoạt động chính trị- xã hội

- Bảo vệ hòa bình

5

Sống hội nhập - Yêu thiên

nhiên, sống hòa hợp với thiên nhiên

- Sống chan hòa với mọi người

- Đoàn kết, tương trợ

- Khoan dung

- Tôn trọng và học hỏi các dân tộc khác

- Tính hữu nghị giữa các dân tộc trên thế giới

- Hợp tác cùng phát triển

6

Sống có văn hóa - Lịch sự, tế nhị - Xây dựng gia

đình văn hóa

- Giữ gìn và phát huy truyền thống tốt đẹp của gia đình, dòng họ

- Góp phần xây dựng nếp sống văn hóa ở cộng đồng dân cư

- Kế thừa và phát huy truyền thống tốt đẹp của dân tộc

7

Sống chủ động

sáng tạo - Tích cực, tựgiác trong hoạt

động tập thể và trong hoạt động

xã hội

- Tự tin - Tự lập - Năng động sáng

tạo

- Làm việc với năng suất, chất lượng hiệu quả

8

Sống có mục đích - Mục đích học

tập của học sinh

- Sống và làm việc có kế hoạch

- Lao động tự giác và sáng tạo

- Lí tưởng sống của thanh niên

- Trách nhiệm của thanh niên trong

sự nghiệp CNH, HĐH

đất nước

1 Quyền trẻ em;

Quyền và nghĩa

vụ công dân trong

- Công ước Liên hợp quốc về quyền trẻ em

- Quyền được bảo vệ, chăm sóc và giáo dục

- Quyền và nghĩa vụ của công dân trong

- Quyền và nghĩa

vụ của công dân trong hôn nhân

Trang 8

gia đình của trẻ em Việt

- Bảo vệ môi trường và tài nguyên thiên nhiên

- Phòng chống

tệ nạn xã hội

- Phòng chống nhiễm

HIV/AIDS

- Phòng ngừa tai nạn vũ khí, cháy nổ và các chất độc hại

- Bảo vệ di sản văn hóa

- Quyền sở hữu tài sản và nghĩa vụ tôn trọng tài sản của người khác

- Nghĩa vụ tôn trọng, bảo vệ tài sản nhà nước và lợi ích công cộng

- Quyền tự do kinh doanh và nghĩa vụ đóng thuế

- Quyền và nghĩa

vụ lao động của công dân

- Quyền bất khả xâm phạm về chỗ ở

- Quyền được bảo đảm an toàn và bí mật thư tín, điện thoại, điện tín

- Quyền tự do tín ngưỡng và tôn giáo

- Quyền khiếu nại, tố cáo

- Quyền tự do ngôn luật

- Bộ máy nhà nước cấp cơ sở (xã, phường, thị trấn)

- Hiến pháp nước

CHXHCNVN

- Pháp luật nước

CHXHCNVN

- Vi phạm pháp luật

và trách nhiệm pháp lí của công dân

- Quyền tham gia quản lí nhà nước, quản lí xã hội của công dân

- Bồi dưỡng ý thức và đạo đức cho học sinh

- Hình thành tình cảm, đạo đức cho học sinh

Trang 9

- Hình thành ở học sinh ý chí đạo đức.

Cần tận dụng những tri thức đã có ở học sinh, sau đó giáo viên hệ thốngcủng cố, lý giải và nâng cao ( Lưu ý: kết quả bài dạy đạo đức thể hiện ở hành viđạo đức của học sinh)

* Đối với những bài giảng dạy về pháp luật: cần chỉ rõ đâu là nội dung

và đâu là hình thức của pháp luật Cần lưu ý 3 yêu cầu trong giờ dạy:

- Cung cấp, củng cố kiến thức pháp luật cho học sinh

- Bồi dưỡng tình cảm pháp luật cho học sinh

- Rèn kỹ năng, thói quen chấp hành pháp luật ở học sinh

Vì thực hiện mục đích dạy pháp luật là dạy hiến pháp để nâng cao hiểubiết, ý thức thực hiện pháp luật của công dân, góp phần xây dựng Nhà nướcpháp quyền Mọi người sống và làm việc theo pháp luật, đảm bảo kỷ cương, trật

tự xã hội, tiến tới gia đình hạnh phúc, dân giàu nước mạnh, xã hội công bằng,dân chủ và văn minh

* Giảng dạy bộ môn GDCD phải làm rõ mối quan hệ qua lại giữ đạo đức

và pháp luật Đạo đức là cơ sở, tiền đề cho học sinh nắm bắt pháp luật, còn phápluật nhằm củng cố, bảo vệ và làm rõ thêm các chuẩn mực đạo đức

* Xác định được nội dung thi học sinh giỏi

Theo quy định của sở Giáo dục và Đào tạo hàng năm vẫn triển khai nhiệm

vụ năm học và nhiệm vụ môn học trong năm thì nội dung thi học sinh giỏi mônGDCD lớp 8 trong đội học sinh giỏi KHXH là chương trình học của các lớp 6,7

và lớp 8 đến thời điểm thi Giáo viên cần nắm chắc nội dung này để có kế hoạchdạy trên lớp cũng như bồi dưỡng học sinh giỏi

3 Tạo hứng thú học tập cho học sinh trong giờ GDCD.

GDCD không phải là bộ môn học sinh quan tâm Nên theo tôi điều đầutiên khi bước vào lớp học chúng ta phải tạo cho các em một sự thoải mái, vuitươi Có thể đó là một nụ cười đầy thân thiện cho buổi đầu tiên gặp mặt và cũng

có thể là những câu chuyện vui tươi hóm hỉnh hay những lời nói từ tốn nhẹnhàng đầy cuốn hút Trên bục giảng người giáo viên còn là một nhà tâm lýchúng ta phải chịu khó lắng nghe các em nói, tìm hiểu những điều các em đangmuốn, giải thích những vướng mắc của các em, tạo nên sự gần gũi thân thiết vớicác em Đây là lứa tuổi đang phát triển nhân cách các em đang ngày càng hoànthiện bản thân mình và ở tuổi của các em sẽ có một bệnh gọi là “ Thần tượng ”.Các em sẽ thần tượng một ai đó có thể là giáo viên, trên thực tế có nhiều emkhông thích học môn học ấy nhưng vì em rất ấn tượng và đã “ Thần tượng ”giáo viên dạy môn đó nên em đã cố gắng học tập thật tốt Có thể các em thầntượng giáo viên mình ở một khía cạnh nào đó như khả năng giảng bài cuốn hút,

sự hiểu biết uyên bác hay luôn lắng nghe và thấu hiểu tâm tư học sinh, luôn giúp

Trang 10

đỡ học sinh lúc gặp khó khăn hay một tài năng nào đó chẳng hạn Chính vì lẽ ấy

ấn tượng ban đầu của học sinh đối với người giáo viên cũng rất quan trọng ảnhhưởng đến quá trình học tập của các em Tại sao em lại thích học bộ môn này?Tại vì em thích giáo viên dạy môn này cô ấy rất vui, học giờ của cô em khôngthấy chán và lớp em cũng vậy rất thích tiết học do cô dạy!

Qua những lời tâm sự của học sinh phần nào thấy được vai trò của việctạo hứng thú trong tiết học có sức ảnh hưởng đến động cơ học tập của học sinh

4 Phát hiện khả năng học sinh và tổ chức bồi dưỡng.

* Phát hiện khả năng:

Đây là công việc đầu tiên của người giáo viên dạy bồi dưỡng Mỗi giáoviên phải nắm được năng lực của từng học sinh trong đội tuyển: Tiếp thu bài vàvân dụng tốt, có trí nhớ tốt, học thuộc bài, nắm chắc kiến thức bài học, năng lựcdiễn đạt, Công việc này được tiến hành bằng cách giáo viên tổ chức cho họcsinh làm bài kiểm tra tại lớp Sau khi đã có bài giáo viên chấm chữa bài cho họcsinh lấy kết quả, phân loại chất lượng học sinh để có kế hoạch bồi dưỡng Trongquá trình giảng dạy người thầy phải quan tâm theo dõi để nắm được sự cố gắng

và sự phát triển đặc biệt của học sinh Từ đó có biện pháp động viên, khuyếnkhích để học sinh phát huy năng lực cá nhân; sau đó lựa chọn những học sinh cónăng lực để bồi dưỡng Cụ thể là ngoài bài tập sách giáo khoa thì sau mỗi bàidạy giáo viên giao thêm cho học sinh những bài tập có nâng cao Bên cạnh đóphải tăng cường kiểm tra, đánh giá, động viên, khích lệ học sinh

Sau khi phát hiện được những học sinh có khả năng lập danh sách các độituyển Từ đó xây dựng kế hoạch giảng dạy

* Lập kế hoạch giảng dạy và bồi dưỡng:

- Đầu năm trên cơ sở kế hoach nhà trường, giáo viên xây dựng kế hoạchchuyên môn của cả năm, cụ thể hóa từng tháng, từng tuần Giáo viên xây dựng

kế hoạch cá nhân với các chỉ tiêu cụ thể, kế hoạch giảng dạy và kế hoạch bồidưỡng học sinh giỏi, kế hoạch thi chọn đổi tuyển

- Họp với các tổ chuyên môn bàn kế hoạch thực hiện một cách dân chủ

5 Tiến hành bồi dưỡng.

5.1- Kiểm tra khả năng nắm kiến thức cơ bản của học sinh.

Sở dĩ phải có bước này bởi một yêu cầu đối với học sinh giỏi là phải nắmvững kiến thức cơ bản cái gọi là phần nền, rồi mới mở rộng kiến thức và nhữnghiểu biết ngoài xã hội Đây là biện pháp có tính phương pháp, thậm chí gần nhưmột nguyên tắc trong dạy học cho học sinh giỏi

5.2 - Cung cấp những kiến thức về pháp luật và hiểu biết xã hội.

* Kiến thức về pháp luật.

Trang 11

Qua một số năm giảng dạy, tôi nhận thấy, ở học kì II của các lớp 6,7, 8học sinh được học những kiến thức về pháp luật trong các kỳ thi học sinh giỏicấp huyện và tỉnh thì kiến thức về pháp luật cũng chiếm số điểm khá nhiều trongbài thi Nếu học sinh chỉ nắm kiến thức trong sách giáo khoa không thì chưa đủ.Giáo viên cần cung cấp, mở rộng cho học sinh như Hiến pháp và những Điềuluật mới được bổ sung

* Những hiểu biết xã hội.

Vấn đề xã hội cũng không thể thiếu trong quá trình giảng dạy GDCD vàđối với việc bồi dưỡng học sinh giỏi Đây chính là sự mở rộng kiến thức từ bàìhọc và sự liên hệ ngoài xã hội của học sinh Vấn đề xã hội thì nhiều nhưng giáoviên phải biết chọn lựa những vấn đề mang tính thời sự mà cả xã hội đang quantâm như: Vấn đề an toàn giao thông, môi trường, văn hóa, tệ nạn xã hội, phòngchống cháy nổ và các chất độc hại…Hầu như năm học nào cũng vậy các đề thiđều có một phần kiến thức về hiểu biết xã hôi Tôi thấy những vấn đề trên đượchỏi trong đề thi đều mang tính thời sự ở thời điểm đó Chính vì vậy giáo viêndạy cần nắm chắc điều này, thường xuyên cập nhật những thông tin, kiến thức

xã hội để bổ sung cho bài dạy của mình Việc làm này không chỉ phục vụ chocông tác bồi dưỡng học sinh giỏi mà nó còn là việc làm cần thiết cho giờ họcGDCD

5.3 - Hướng dẫn học sinh phương pháp, kỹ năng làm bài.

Sau khi cung cấp những kiến thức cơ bản và kiến tức mở rộng, giáo viêntiến hành hướng dẫn học sinh kỹ năng phương pháp làm bài Giáo viên cầnhướng dẫn cụ thể từng bước cho học sinh bởi tuy là học sinh giỏi nhưng ngay cảnhững cách trình bày kiến thức học sinh cũng còn có nhiều vướng mắc Một sốgiáo viên và học sinh vẫn nhầm tưởng việc trình bày giống như môn Ngữ văn.Bài viết của các em có bố cục: mở bài, thân bài, kết luận, diễn đạt bằng nhữnglời văn hoa mĩ mà quên đi việc trình bày ý Chính vì thế mà nhiều em học sinh

có khả năng viết tốt, nhưng không có kỹ năng làm bài thi theo đặc trưng bộ mônnên bài làm mất nhiều thời gian, viết dài mà không hiệu quả Vì vậy mà giáoviên phải dành một khoảng thời gian nhất định hướng dẫn học sinh cách làm bài

VD: Tục ngữ có câu:

"Nước lã mà vã nên hồ,Tay không mà nổi cơ đồ mới ngoan"

Em hãy cho biết, câu tục ngữ trên khẳng định phẩm chất đạo đức nào củacon người? Bằng hiểu biết của mình em hãy làm rõ phẩm chât trên?

Học sinh chỉ cần trả lời các ý sau:

* Câu tục ngữ trên nói về đức tính tự lập của con người, ca ngợi những người từ tay không đã làm nên việc lớn nhờ có có tính tự lập, có tài, có ý chí.

Trang 12

* HS nêu được đầy đủ các nội dung:

- Khái niệm: Tự lập là tự làm lấy, tự giải quyết công việc của mình, tự lo

liệu, tạo dựng cuộc sống cho mình, không phụ thuộc vào người khác.

- Biểu hiện: Tính tự lập thể hiện sự tự tin bản lĩnh,vượt khó vươn lên

trong học tập, lao động, trong cuộc sống

- Ý nghĩa: Người có tính tự lập thường thành công trong cuộc sống và họ

xứng đáng nhận được sự kính trọng của mọi người.

- Cách rèn luyện: Cần rèn luyện tính tự lập từ khi còn ngồi trên ghế nhà

trường; trong học tập, trong công việc và trong cuộc sống hằng ngày Biết học tập và làm theo những tấm gương tự lập, phê phán và thấy được tác hại của lối sống ỷ lại, dựa dẫm.

Học sinh trả lời câu hỏi theo yêu cầu, chính xác là các em sẽ có điểm tối đa

5.4 - Tìm hiểu các dạng đề và rèn kỹ năng phân tích đề

* Dạng bài trắc nghiệm:

Câu hỏi TNKQ theo 4 cấp độ tư duy

Nhận biết, thông hiểu, vận dụng thấp, vận dụng cao

Câu nhận biết:

- Nhận biết: HS nhớ lại các khái niệm, định nghĩa, nội dung cơ bản, có thểnêu lên hoặc nhận ra chúng khi được yêu cầu Câu hỏi nhận biết là câu hỏi táihiện các định nghĩa, khái niệm, nội dung kiến thức đã học

- Nhận ra khái niệm, định nghĩa, nội dung là đặc trưng của câu TNKQ Do

đó, cần đặt câu hỏi ở dạng đơn giản nhất, chỉ cần đọc câu hỏi và các phương ántrả lời là học sinh có thể nhận ra và trả lời ngay, không cần nghĩ nhiều; cácphương án trả lời có độ nhiễu đơn giản nhất; câu dẫn nên ngắn gọn, dễ hiểu

VD: Biểu hiện nào sau đây thể hiện tính tự tin?

A Luôn cho rằng mình tự làm được mọi việc

B Tin tưởng vào khả năng của mình, dám nghĩ, dám làm

C Gặp bài khó không làm được không cần nhờ bạn giúp đỡ

D Tự làm việc không cần hỏi ý kiến ai

Câu thông hiểu:

- Thông hiểu là HS hiểu các khái niệm, định nghĩa, nội dung và có thể ápdụng chúng khi chúng thể hiện theo cách tương tự như GV đã giảng hoặc nhưcác VD tiêu biểu về chúng trên lớp học

- Câu thông hiểu là câu diễn đạt đúng kiến thức hoặc mô tả đúng kĩ năng

đã học bằng ngôn ngữ theo cách của riêng mình, có thể thêm các hoạt động

phân tích, giải thích, so sánh, áp dụng trực tiếp.

VD: Người có tính tự tin là người:

A Luôn tự cao, tự đại

Ngày đăng: 01/04/2021, 23:34

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w