1. Trang chủ
  2. » Mẫu Slide

Kinh nghiệm dạy một số bài khó về từ loại trong phân môn Luyện từ và câu lớp 4

19 24 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 19
Dung lượng 216,96 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tuy nhiên việc dạy học về phân môn Luyện từ và câu, nhất là về từ loại vẫn còn bộc lộ một số hạn chế như: có những giáo viên chưa chuyển tải hết kiến thức trong SGK đến cho học sinh, có [r]

Trang 1

A: ĐẶT VẤN ĐỀ I.LỜI MỞ ĐẦU:

Tiếng Việt là tiếng nói phổ thông, tiếng nói dùng trong giao tiếp chính thức của cộng đồng các dân tộc sống trên đất nước Việt Nam Bởi thế, dạy Tiếng Việt có vai trò cực kì quan trọng trong đời sống cộng đồng và đời sống của mỗi con người Những thay đổi quan trọng trong đời sống kinh tế xã hội, văn hoá giáo dục, thành tựu nghiên cứu của các ngành khoa học nói chung đã dẫn tới những yêu cầu đổi mới trong việc dạy Tiếng Việt trong nhà trường.Chương trình môn Tiếng Việt trong các hệ thống chương trình môn học của chương trình mới được ra đời nhằm đáp ứng các yêu cầu nói trên.Vậy chương trình mônTiếng Việt tiểu học mới gồm các mục tiêu sau:

1 Mục tiêu môn Tiếng Việt

a/ Về kĩ năng

*Hình thành và phát triển ở học sinh các kĩ năng sử dụng tiếng Việt( đọc, nghe, nói, viết) để học tập và giao tiếp trong các môi trường hoạt động của lứa tuổi

* Thông qua việc dạy học Tiếng Việt, góp phần rèn luyện cho học sinh các thao tác tư duy cơ bản( phân tích, tổng hợp, khái quát, hệ thống ) và góp phần nâng cao phẩm chất tư duy, năng lực nhận thức

b/ Về kiến thức

*Cung cấp cho học sinh những kiến thức sơ giản về Tiếng Việt và tri thức sử dụng Tiếng Việt trong giao tiếp

* Cung cấp cho học sinh các hiểu biết sơ giản về xã hội, tự nhiên và con người, về văn hoá, văn học Việt Nam và nước ngoài

c/ Về thái độ

*Bồi dưỡng tình yêu Tiếng Việt và hình thành thói quen giữ gìn sự trong sáng, giàu đẹp của Tiếng Việt

* Góp phần hình thành nhân cách con người Việt Nam xã hội chủ nghĩa

Dạy Tiếng Việt trong đó có phân môn Luyện từ và câu thông qua hoạt động giao tiếp nhằm đạt được mục tiêu đề ra Vậy để đạt được mục tiêu đề ra phân môn

Luyện từ và câu có các nhiệm vụ sau:

2 Nhiệm vụ của phân môn Luyện từ và câu

a/ Làm giàu vốn từ cho học sinhvà phát triển năng lực dùng từ đật câu của các

em

- Dạy nghĩa từ: Làm cho học sinh nắm nghĩa từbao gồm việc thêm vào vốntừ của học sinhnhững từ mới và những nghĩa mới của từ đã biết, làm chocác em nắm được tính nhiều nghĩavà sự chuyển nghĩa của từ Dạy từ ngữ phải hình thành những khả năng phát hiện ra những từ mới chưa biết trong văn bản tiếp nhận, nắm một số thao tác giải nghĩa từ, phát hiện ra những nghĩa mới của từ đã biết, làm rõ những sắc thái nghĩa khác nhaucủa từ trong những ngữ cảnh khác nhau

- Hệ thống hoá vốn từ: Dạy cho học sinh biết cách sắp xếp các từ một cách

có hệ thốngtrong trí nhớ của mình để tích luỹ từ được nhanh chóng và tao ra tính thường trực của từ, tạo điều kiện cho các từ đi vài hoạt động lời nói được thuận lợi

Trang 2

Công việc này được hình thành ở học sinh kĩ năng đối chiếu từ trong hệ htống hàng dọc của chúng, đặt từ trong hệ thống liên tưởngcùng chủ đề, đồng nghĩa, gần nghĩa, trái nghĩa, đồng âm, cùng cấu tạo , tức là kĩ năng liên tưởng để huy động vố từ

- Tích cực hoá vốn từ: Dạy cho học sinh sử dụng từ, phát triển kĩ năng sử dụng từ trong lời nói và lời viết của học sinh, đưa từ vào trong vốn từtích cực được học sinh dùng thường xuyên Tích cực hoá vốn từ tức là dạy học sinh biết dùng từ ngữ trong hoạt động nói năng vủa mình

b/ Cung cấp một số kiến thức về từ và câu:

- Trên cơ sở vốn từ ngữ có được trước khi đến trường, từ những hiện tượng

cụ thể của tiếng mẹ đẻ, phân môn Luyện từ và câu cung cấp cho học sinh một số kiến thức về câu cơ bản, sơ giản, cần thiết và vừa sức với các em Luyện từ và câu trang bị cho học sinh những hiểu biết về cấu trúc của từ, câu, quy luật hành chức của chúng.Cụ thể đó là kiến thức về cấu tạo từ, nghĩa của từ, các lớp từ, từ loại; các kiến thức về câu như cấu tạo câu, các kiểu câu, dấu câu, các quy tắc dùng từ đặt câu

và tạo văn bản để sử dụng trong giao tiếp

Ngoài các nhiệm vụ chuyên biệt trên Luyện từ và câu còn có nhiệm vụ rèn luyện tư duy và giáo dục thẩm mĩ cho học sinh

3 Thực trạng dạy học Tiếng Việt ở trường Tiểu học

Hiện nay,dạy học Tiếng Việt nói chung và dạy học phân môn Luyện từ và câu nói riêng đã được đặc biệt quan tâm và đã đạt được kết quả khá khả quan Tuy nhiên việc dạy học về phân môn Luyện từ và câu, nhất là về từ loại vẫn còn bộc lộ một số hạn chế như: có những giáo viên chưa chuyển tải hết kiến thức trong SGK đến cho học sinh, có giáo viên còn lúng túng khi hiểu và phân biệt các tiểu từ loại,

do vậy việc truyền tụ kiến thức cho học sinh , phương pháp, hình thức tổ chứcdạy học còn gặp nhiều khó khăn Vốn từ của học sinh còn nghèo nàn, vốn ngôn ngữ Tiếng Việt còn hạn chế,nên khi gặp những dạng bài tập về chỉ ra, phân biệt các tiểu

từ loại của danh từ, động từ, tính từ các em rất lúng túng không giải quyết được

Xuất phát từ những lí do nêu trên nên tôi đã chọn “Kinh nghiệm dạy một số bài khó về từ loại trong phân môn Luyện từ và câu lớp 4” làm đề tài nghiên cứu

trong quá trình dạy học của mình Nếu khả thi thì đó là hành trang quan trọng giúp bản thân tôi dạy tốt phân môn Luyện từ và câu nói riêng và môn tiếng Việt nói chung đồng thời góp phần nhỏ vào việc nâng cao chất lượng dạy học Luyện từ và câu ở tiểu học

Đây cũng là sáng kiến nhỏ trong dạy học, sáng kiến này nghiên cứuvà hoàn thành trong thời gian: Từ tháng 9 năm 2009đến tháng 4 năm 2010 Với trình độ có hạn, nên không tránh khỏi thiếu sót nhưng tôi vẫn mạnh dạn đưa ra để đồng nghiệp tham khảo và góp ý, đồng thời rất mong được sự góp ý của cấp trên

II MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU

1 Nắm được phân môn Luyện từ và câu lớp 4 và thực trạng của học sinh lớp 4 khi học các bài về từ loại trong phân môn Luyện từ và câu

2 Mở rộng vốn hiểu biết để phục vụ trong quá trình dạy học

Trang 3

3 Khảo sát thực trạng dạy học Luyện từ và câu lớp 4 ở lớp 4A ,Trường Tiểu học Nguyệt Ấn – Ngọc Lặc để phát hiện những bất cập gây ra, những hạn chế cản trở đến quá trình dạy học Tiếng Việt nói chung và Luyện từ và câu lớp 4 nói riêng

4 Đề xuất kinh nghiệm dạy một số bài khó trong phân môn Luyện từ và câu lớp 4góp phần nâng cao chất lượng dạy học Tiếng Việt trong trường Tiểu học

5 Ý kiến đề xuất nhằm nâng cao chất lượng dạy học

III ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU

- Đối tượng là học sinh lớp 4 trường Tiểu học Nguyệt Ấn I có học lực trung bình

và trung bình (ngưỡng dưới)

- Những nguyên nhânvà giải pháp đề cao chất lượng dạy học

- Thời gian nghiên cứu : Từ tháng 9 năm 2009 đến tháng 4 năm 2010

IV THỰC TRẠNG CỦA VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU

1: Phân môn Luyện từ và câu Lớp 4

a/ Chương trình và sách giáo khoa.

a1.Chương trình môn Tiếng Việt ở trường Tiểu học có các ưu điểm sau:

- Chương trình môn Tiếng Việt đã thực sự chú trọng cả 4 kĩ năng: nghe, nói, đọc, viết cho HS Đặc biệt là chương trình rất chú trọng việc hướng dẫn HS vào hoạt động giao tiếp Tạo điều kiện để HS phát triển các kĩ năng và vận dụng thực hành các kĩ năng vào cuộc sống

- Nội dung của các phân môn trong Tiếng Việt có sự gắn kết chặt chẽ với nhau trên quan điểm tích hợp vì thế có tác dụng hỗ trợ, bổ sung cho nhau

- Cách biên soạn chương trình giúp GV dễ tổ chức các hoạt động dạy học, tạo điều kiện cho HS tích cực tham gia học tập

a2: SGK là tài liệu dạy học chính thức trong nhà trường, môĩ bộ sách giáo khoa của

chương trình Tiểu học mới đã được dạy thử nghiệm, được điều chỉnh nhiều lần và

có sự thẩm định kĩ càng của Hội đồng Quốc gia Thẩm định SGK để đảm bảo thể hiện nguyên lí giáo dục, nội dung chương trình và phương pháp dạy học mới Vậy chương trình và SGK lớp 4 được phân bố như sau: Đối với phân môn Luyện từ và câu gồm: 62 tiết (32 tiết học kì 1- 30 tiết học kì 2) bao gồm các nội dung sau:

+ Mở rộng vốn từ : 19 tiết

+ Tiếng , cấu tạo từ: 5 tiết

+ Từ loại : 9 tiết

+Câu : 26 tiết

+Dấu câu : 3 tiết

Riêng về phần từ loại: phần này cung cấp một số kiến thức sơ giản về các từ loại

cơ bản của Tiếng Việt:

+ Danh từ : 5 tiết( tuần 5,6,7,8 gồm cả cách viết hoa danh từ riêng)

+ Động từ : 2 tiết ( tuần 9,11)

+ Tính từ: 2 tiết ( tuần 11,12)

Thông qua các bài tập:

+ Nhận diện từ theo từ loại

Trang 4

+ Phân loại từ theo cấu tạo.

+ Luyện sử dụng từ

* Thuận lợi:

- Do chương trình SGK mới được biên soạn theo hướng đồng tâm mở rộng và phát triển dần từ dễ đến khó mà HS đã được học và làm quen với từ loại ở các lớp dưới Bên cạnh đó từ loại là các từ rất gần gũi với cuộc sống thực tiễn của HS

VD: Danh từ: con gà, cây xoan, bạn Lan

Động từ: đi, đứng, chạy, nhảy

Tính từ: dài, to, nhỏ

- SGK Tiếng Việt 4 các bài về danh từ mà trong đó các bài về danh từ riêng được trình bày rõ ràng, có 3 tiết luyện tập viết tên riêngViệt Nam và tên riêng nước ngoài nên HS dễ nắm được cách viết

* Khó khăn:

- Qua quá trình giảng dạy ở lớp 4 nhiều năm và là người trực tiếp dạy bồi dưỡng

HS giỏi nhiều năm về Tiếng Việt, đặc biệt phân môn Luyện từ và câu, nhất là dạng bài về từ loại tôi gặp một số khó khăn sau:

+Về HS:

- Thời lượng dạy một bài Luyện từ và câu còn hạn chế, tư duy của các em còn chậm so với yêu cầu đề ra

VD: ND bài: Động từ – SGK-TV4- tập1- trang 93

ND bài: Tính từ – SGK-TV4- tập1- trang 110

- Đối với đối tượng HS miền núi , nội dung một số bài tập còn có yêu cầu quá cao với trình độ chung của cả lớp( ND các bài tập tôi sẽ trình bày ở phần giải pháp)

- Các bài tập yêu cầu chỉ ra các tiểu từ loại của danh từ , động từ, tính từ là

những dạng bài tập tương đối khó đối với HS lớp 4 vì các tiểu từ loại của danh từ , động từ, tính từ chỉ đưa ra trong phần bài tập nên HS rất khó nhận diện và phân loại nhất là Danh từ chỉ khái niệm

VD: Bài tập1- Danh từ – SGK-TV4- tập1- trang 53

- Nội dung bài “ Cách viết tên người, tên địa lí nước ngoài” tương đối khó với HS Vì HS không hiểu và không vận dụng ghi nhớ đã học vào làm các bài tập, không phân biệt các bộ phận và các tiếng của nước ngoài nên các em không sử dụng được dấu gạch ngang dẫn đến các em phát âm sai, viết sai

VD: Bài tập2- Cách viết tên người, tên địa lí nước ngoài – SGK-TV4- tập1- trang 78

+ Về Giáo viên:

- Thời lượng dạy một bài về từ loại ở Tiểu học quá ít mà yêu cầu lại quá cao như việc nhận diện từ loại về danh từ , động từ, tính từ trong một văn bản, phân biệt được các tiểu từ loại Đây là khó khăn lớn cho GV trong việc lựa chọn các phương pháp dạy học

- GV nhiều khi cũng còn lúng túng khi hiểu và phân biệt các tiểu từ loại, do vậy việc truyền thụ kiến thức cho HS còn gặp nhiều khó khăn

2 Thực trang.

Trang 5

a Đặc điểm tình hình chung

Trường Tiểu học Nguyệt Ấn I thuộc xã Nguyệt Ấn I , nằm ở phía nam của huyện Ngọc Lặc Người dân trong xã chủ yếu sống bằng nghề trồng trọt Do vậy , đời sống của nhân dân gặp nhiếu khó khăn thiếu thốn, số học sinh thuộc hộ nghèo của trường Tiểu học Nguyệt Ấn I chiếm tỉ lệ rất cao trong toàn xã(250/367 học sinh).Vấn đề này ảnh hưởng trực tiếp đế việc hoàn thành mục tiêu giáo dục mà cấp học đã đề ra

b/Về giáo viên:

- Đội ngũ giáo viên nhìn chung có trình độ từ THSP trở lên ; ( GV khối 4: gồm 3đ/c) , đã nắm được những kiến thức cơ bản, có nghiệp vụ sư phạm, một số giáo viên đào tạo trên chuẩn, chịu khó đổi mới phương pháp, yêu nghề mến trẻ Đây là điều kiện tốt để nâng cao chất lượng dạy học

- Công tác chuẩn bị và dạy học trên lớp:

+ Tất cả GV lên lớp đếu có bài soạn , thiết kế được các hoạt động dạy – học của thầy và trò

+ Tuy nhiên một số GV còn lệ thuộc vào SGV, sách thiết kế, bài soạn ít sáng tạo; chưa chú ý đến việc thiết kế xây dựng hệ thống bài tập cho phù hợp với trình độ từng đối tượng HS ; Đồ dùng dạy học – nhất là băng giấy , bảng phụ chưa được sử dụng thường xuyên mà chỉ được dùng khi thao giảng ; chưa dự kiến được các tình huống sư phạm nảy sinh trong quá trình dạy học

c/ Về học sinh:

- Trường Tiểu học Nguyệt Ấn I gồm học sinh ở các làng: Lương Bình, Minh

Thạch, Đồng Thuận, Làng Rềnh, Làng Mới, Làng Bảng Lãng, Đồng Trại, Làng Xăm, Làng Yêu, Làng Mót, Liên Cơ I,II,III Đội 4

- Năm học 2009- 2010 Trường Tiểu học Nguyệt Ấn I gồm 19 lớp: Tổng số học sinh toàn trường là:

Khối 1: 4 lớp

Khối 2: 4 lớp

Khối 3: 4 lớp

Khối 4: 3 lớp

Khối 5: 4 lớp

Riêng khối lớp 4 có 65 học sinh

Chủ yếu học sinh khối lớp 4 là học sinh thuộc con em dân tộc Mường ; học sinh hộ nghèo:40 em chiếm 38,9% Điều kiện kinh tế gia đình học sinh gặp nhiều khó khăn trong học tập Chất lượng học sinh còn thấp.Tiếng mẹ đẻ cũng có phần hạn chế trong việc học Tiếng Việt của các em : Vốn ngôn ngữ của các em không phong phú, khả năng giao tiếp hạn chế Đây là vấn đề cực kì khó khăn cho giáo viên khi thực hiện mục tiêu dạy học

Qua thực tế giảng dạy nhiều năm tôi thấy khi học sinh gặp các dạng bài về nhận diện danh từ, động từ, tính từ; phân biệt danh từ, động từ, tính từ các em hay nhầm lẫn và kết quả đạt được tương đối thấp, chưa theo mong muốn , chính vì thế mà tôi

Trang 6

luôn băn khoăn , trăn trở, suy nghĩ, tìm cách tham khảo, đọc tài liệu , hỏi ý kiến đồng nghiệp thì tất cả đồng nghiệp đếu trả lời là khi gặp các dạng bài tập về

nhận diện danh từ, động từ, tính từ; phân biệt danh từ, động từ, tính từ học sinh chỉ đạt khoảng 70- 75% Điều đó chứng tỏ việc dạy học các bài về từ loại của phân môn Luyện từ và câu trong môn Tiếng việt chưa đạt mục tiêu của chương trình Khi trực tiếp giảng dạy trên lớp và dạy bài “ Động từ”, “ Danh từ” tôi đã tham khảo tài liệu và Sách giáo khoa Tiếng Việt 4, Sách thiết kế bài dạy Toán 4 Tôi tự thiết kế hai tiết dạy đó theo cách dạy truyền thống mà đồng cũng thường áp dụng

và tiến hành hướng dẫn học sinh thông qua tiết dạy để xem xét kết quả giờ dạy của mình đạt ở mức độ nào?

Theo cách dạy truyền thống thì kết quả thu được ở bài tập 1(SGK) như sau:

Nhận diện động

từ đúng

Nhận diện động

từ đúng( chậm)

Nhận diện động

từ sai

Chưa nhận diện đượcđộng từ

Số HS

làm bài

Kết quả đạt được như trên là chưa cao Tôi chưa thực sự tin vào kết quả đó Tôi tiến hành chọn riêng 14 em có học lực trung bình để tiến hành kiểm tra khảo sát lần 2

Thời gian làm bài : 20 phút

ĐỀ BÀI Câu1: Gạch dưới các động từ trong đoạn trích sau :

Rồi đột nhiên, con Dế cụ húc toang vỏ đất mỏng , từ cái ngách bí mật vọt ra Con Dế ngang bướng nhảy rúc vào đám cỏ Ong xanh đã đuổi tới nơi Ong xanh thò cái đuôi dài xanh lè xuống dưới mình Dế , nhắm trúng cổ họng Dế mà chích một phát Con Dế đầu ngục râu cụp, đôi càng oải xuống Bây giờ , Ong xanh mới buông Dế ra , rũ bụi, vuốt râu và thở

Theo Vũ Tú Nam

Sau khi học sinh làm bài kết quả thu đượcở bài tập 1 như sau:

Số HS

làm bài

14

3 Nguyên nhân- Kết quả của thực trạng :

Nguyên nhân dẫn đến kết quả trên là :

* Tỉ lệ là con em nông dân chiếm trên 80% trong đó hơn 80% là hộ nghèo, không có điều kiện quan tâm chăm sóc đến việc học tập của con em

Trang 7

* Do đặc điểm tâm sinh lý lứa tuổi học sinh: Hiếu động, thiếu tính kiên trì trọng học tập

*Trình độ ngôn ngữ khả năng nhân thức của HS : học sinh lười suy nghĩ ,còn thiếu hụt về kiến thức như : nhận diện danh từ , tình từ, động từ chưa chính xác; nhầm lẫn động từ với tính từ ; chưa phân biệt danh từ chỉ khái niệm

Về phía gia đình : chưa có điều kiện quan tâm đến con cái coi việc học của học

sinh là nhiệm vụ , trách nhiệm của nhà trường

Về phía giáo viên :

- GV nhiều khi cũng còn lúng túng khi hiểu và phân biệt các tiểu từ loại, do vậy việc truyền thụ kiến thức cho HS còn gặp nhiều khó khăn

- GV chỉ truyền đạt giảng giải theo các tài liệu đã có sẵn trong SGK và SGV ,

thường để học sinh học tập một cách thụ động, Giáo viên chưa tập trung thời

gianvà trí tuệ vào việc soạn bài và đồ dùng dạy học, chưa linh động sáng tao , cải tiến nội dung và phương pháp dạy học để phù hợp với đối tượng học sinh, các hoạt động dạy học chưa phù hợp, đơn điệu nghèo nàn vì thế kết quả dạy học chưa cao

Với những nguyên nhân và kết quả khảo sát như trên , Tôi nhận thấy rằng hoàn cảnh , điều kiện cũng như đặc điểm ngôn ngữ của học sinh đã ảnh hưởng không nhỏ tới chất lượng dạy học Bên cạnh đó , chương trình SGK lại dùng chung cho cả nước nên không tránh khỏi những bài tập còn khó so vói trình độ chung của học sinh ở địa phương, đòi hỏi người giáo viên trong quá trình dạy học phải có biện pháp , cách tháo gỡ giúp học sinh đạt được mục tiêu của chương trình

B GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ I/ CÁC GIẢI PHÁP THỰC HIỆN:

1 Cơ sở ban đầu:

Để làm được việc này giáo viên không nên chỉ truyền đạt , giảng giải theo các tài liệu có sẵn trong SGK , SGV, sách thiết kế Không làm việc máy móc và ít quan tâm đến khả năng sáng tạo của học sinh Không nên để học sinh học tập một cách thụ động chủ yếu là nghe giảng, ghi nhớ rồi làm bài theo mẫu Vì thế ít học sinh hứng thú học tập Năng lực và vốn có của cá nhân học sinh , giáo viên cần tạo điều kiện để học sinh có cơ hội phát triển

Tôi đã nghiên cứu và tìm hiểu những khó khăn và tìm cách tháo gỡ từng bài trong từng tiết dạy nhất là thời gian ở phần luyện tập để học sinh hiểu được, tìm ra, nhận diện, phân biệt các tiểu từ loại một cách dễ ràng

Như vậy muốn tìm, nhận diện, phân biệt được danh từ, động từ, tính từ trước hết học sinh phải:

+Vạch được danh giới từ

+ Nhận diện các danh từ, động từ, tính từ

+ Phân biệt các tiểu từ loại

II/ ĐỀ XUẤT CÁCH DẠY MỘT SỐ BÀI KHÓ TRONG PHÂN MÔN

LUYỆN TỪ VÀ CÂU

I Một số ví dụ bài khó và cách dạy bài khó về từ loại trong phân môn Luyện từ

và câu lớp 4

Trang 8

1 Bài Danh từ : Tuần 5 tiết 2 (SGK trang 52)

Đây là bài dạng lý thuyết

a) Nội dung bài học gồm có 3 phần

* Phần 1: Nhận xét gồm có : 02 yêu cầu

- Yêu cầu 1 : Tìm các từ chỉ sự vật trong đoạn thơ sau :

Mang theo truyện cổ tôi đi Nghe trong cuộc sống thầm thì tiếng sưa Vàng cơn nắng , trắng cơn mưa Con sông chảy có rặng dừa nghiêng soi

Đời cha ông với đời tôi Như con sông với chân trời đã xa Chỉ còn truyện cổ thiết tha Cho tôi nhận mặt ông cha của mình

Lâm Thị Mỹ Dạ

- Yêu cầu 2: Xếp các từ em mới tìm được vào nhóm từ thích hợp:

+ Từ chỉ người : Ông cha;

+ Từ chỉ vật : Sông,

+ Từ chỉ hiện tượng:.Mưa,

+ Từ Chỉ khái niệm: Cuộc sống,

+ Từ chỉ đơn vị : Cơn,

* Phần 2: Ghi nhớ

* Phần 3: Bài tập : Phần này gồm có 2 bài tập

* Mục tiêu của bài tập này giúp học sinh nhận biết được danh từ chỉ khái nhiệm Biết phân biệt được danh từ chỉ khái niệm với các danh từ khác như danh từ chỉ người, sự vật và biết đặt câu với danh từ chỉ khái niệm

Bài tập 1: Tìm danh từ chỉ khái niệm trong số các danh từ được im đậm dưới đây:

Một điểm nổi bật trong đạo đức của Chủ Tịch Hồ Chí Minh là Lòng Thương

người Chính vì vậythấy nước mất nhà tan mà Người đã ra đi học tập kinh

nghiệm của cách mạng thế giới để giúp đồng bào

Bài tập 2 :Đặt câu với một danh từ vừa tìm được

b) Khó khăn:

Theo tôi ở phần bài tập này có 2 bài tập khó đó là bài tập 1 và bài tập2

* Cái khó ở bài tập 1 là: HS chưa hiểu được danh từ chỉ khái niệm, các em còn nhầm lẫn giữa danh từ chỉ khái niệm với danh từ chỉ đơn vị

* Cái khó ở bài tập 2 là : HS phải đặt câu để phân biệt danh từ chỉ khái niệm với các danh từ khác, trong khi chưa xác định được danh từ chỉ khái niệm

c) Cách tháo gỡ:

* Ở bài tập 1:

+ Giáo viên cần củng cố cho HS khái niệm về danh từ chỉ khái niệm là:

- Danh từ chỉ khái niệm là những danh từ chỉ những cái chỉ có trong nhận thức của chúng ta, không có hình thù, không chạm vào hay nhìn, nghe, ngửi , nếm được

Trang 9

- Danh từ chỉ khái niệm là những danh từ gồm các từ không chỉ vật thể, các

chất liệu hay các đơn vị sự vật cụ thể, mà biểu thị các khác khái niệm cụ thể

VD : Truyền thống, sự hy sinh, cuộc sống, tư tưởng , đạo đức

+ HS hay nhầm lẫn giữa danh từ chỉ khái niệm với danh từ chỉ đơn vị Vì vậy giáo

viên giúp HS phân biệt danh từ chỉ khái niệm với danh từ chỉ đơn vị:

Danh từ chỉ khái niệm Danh từ chỉ đơn vị

- Danh từ chỉ khái niệm là những danh - Là những từ Chỉ đơn vị các sự vật như :

từ gồm các từ không chỉ vật thể, các Danh từ chỉ đơn vị tự nhiên, đơn vị đo chất liệu hay các đơn vị sự vật cụ thể, lường, đơn vị tập thể, đơn vị thời gian,

mà biểu thị các khác khái niệm cụ thể đơn vị hành chính tổ chức

Ví dụ :Cuộc đời ; sự nghiệp; thiên nhiên Ví dụ : Lạng, Con, tháng, buổi , trung

đội, đại đội

+ Khi các em đã hiểu và phân biệt được giữa danh từ chỉ khái niệm với danh từ chỉ đơn vị thì các em sẽ tìm được các danh từ chỉ khái niệm có trong đoạn văn

+ Các danh từ ở trong đoạn văn là: điểm, đạo đức, lòng, kinh nghiệm, cách

mạng.

+ Ngoài ra nếu với đối tượng HS trong lớp mà quá yếu , khi GV đưa ra hai khái

niệm về danh từ chỉ khái niệm với danh từ chỉ đơn vị mà HS vẫn không phân biệt

được thì GV sửa lại yêu cầu của bài tập là: Sắp xếp các từ in đậm dưới đây vào các cột sau đây:

Danh từ chỉ người Danh từ chỉ sự vật Danh từ chỉ khái niệm

- GV gợi ý để HS tìm danh từ chỉ người, chỉ sự vật vào cột cho trước Các từ còn

lại chính là danh từ chỉ khái niệm

* Ở bài tập 2:

+ Từ việc HS đã hiểu và xác định được các danh từ chỉ khái niệm ở bài tập 1 GV

gợi ý cho HS đặt câu với các danh từ chỉ khái niệm vừa tìm được bằng cách vận

dụng và đặt câu vào văn cảnh khác nhau, tình huống cụ thể để đặt câu ( GV lưu ý

HS chọn một trong những danh từ vừa tìm được để đặt câu)

VD : - Bác Hồ là một vị lãnh tụ của cách mạng Việt Nam.

- Bạn Lan có một điểm đáng quý là thật thà, trung thực.

- Nhân dân ta có một lòng nồng nàn yêu nước.

- Tất cả học sinh chúng ta đều chăm chỉ học tập và tu dưỡng đạo đức.

- Cô giáo chúng em rất giàu kinh nghiệm dạy dỗ học sinh.

2 Bài : Động từ ( Tuần 9 – tiết2- SGK trang 93)

Đây là dạng bài lí thuyết

a) Nội dung bài học có 3 phần :

* Phần 1: Nhận xét: Gồm có hai yêu cầu

* yêu cầu 1: Đọc lại đoạn văn

Trang 10

Anh nhìn trăng và nghĩ tới ngày mai

Mươi Mười lăm năm nữa thôi, các em sẽ thấy cũng dưới ánh trăng này, dòng thác nước đổ xuống làm chạy máy phát điện , ở giữa biển rộng cờ đỏ sao vàng phấp phới bay trên những con tàu lớn

Yêu cầu 2 : Tìm các từ

+ Chỉ hoạt đông của anh chiến sĩ hoạc của thiếu nhi

+ Chỉ trạng thái của sợ vật

- Dòng thác

- Lá cờ

* Phần 2 : Ghi nhớ :

* Phần 3 : Bài tập

Mục Tiêu của bài tập này là giúp học sinh nắm được ý nghĩa của động tờ: là từ chỉ hoạt động, trạng thái của người , sự vật, hiện tượng Nhân biết động từ trong đoạn văn.Nêu tên các hoạt động trạng thái được bạn thể hiện bằng cở chỉ động tác không lời thông qua trò chơi : Xem kịch câm

Bài tập 1: Viết tên các hoạt động em thường làm hằng ngày ở nhà và ở trường Gạch dưới động từ trong cụm từ chỉ hoạt động ấy

- Các hoạt động ở nhà M : Quét nhà

- Các hoạt động ở trường : M : Làm bài

Bài tập 2 : Gạch dưới các động từ trong các đoạn văn sau:

a) Yết kiêu đến kinh đô Thăng Long yết kiến vua Trần Nhân Tông :

- Nhà vua : Trẩm cho nhà ngươi nhận lấy một loại binh khí

- Yết kiêu : Thần chỉ xin một chiếc dùi sắt

- Nhà vua : Để làm gì

- Yết kiêu : để dục thủng chiến thuyền của giặc vì thần có thể lặn hàng giờ dưới nước

b) Thần Đi- ô - ni- dốt mỉm cười ưng thuận

Vua Mi - đát thử bẻ một cành sồi, cành đó liền biến thành vàng Vua ngắt một quả táo , quả táo cũng thành vàng nốt Tưởng không có ai trên đời sung sướng hơn thế nữa !

Bài tập 3: Trò chơi : Xem kịch câm : Nói tên các hoạt động trạng thái được bạn thể hiện bằng cử chỉ , động tác không lời

b) Khó khăn :

Theo tôi ở phần này có hai bài tập khó đó là bài tập 1 và bài tâp 3

- Cái khó ở bài tập 2 là học sinh chưa hiểu rõ động từ chỉ hoạt động và động từ chỉ trạng thai Chưa phân biệt được động từ chỉ hoạt động và động từ chỉ trạng thái nên việc xác định các động từ trong đoạn văn đã cho chưa chính xác

- Cái khó ở bài tập 3 là : Cách tổ chức trò chơi : Xem kịch câm

Trò chơi này dùng các động tác ( Có thể dùng các động từ ) để trình diễn Người xem phải nhìn động tác đoán ra động tờ biểu thị nó Thời lượng dành cho bài tập là quá ít ( khoảng 5 – 6 phút ) Nên việc tổ chức trò chơi cho học sinh rất khó khăn

c) Cách tháo gỡ :

Ngày đăng: 01/04/2021, 22:41

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w