1. Trang chủ
  2. » Cao đẳng - Đại học

DANH SÁCH SÁNG KIẾN ĐƯỢC ĐĂNG TẢI LÊN WEBSTITE NĂM HỌC 2019-2020

30 4 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 30
Dung lượng 534,26 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Vì vậy, năm học 2018 - 2019 khi tôi lại được giao nhiệm vụ dạy bồi dưỡng đội tuyển học sinh giỏi lớp 12 thi cấp tỉnh môn Địa lí, tôi đã rất vững vàng và tự tin để lựa chọn đội tuyển t[r]

Trang 1

SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO VĨNH PHÚC

Tác giả sáng kiến: Nguyễn Thị Thanh Huyền

Trang 2

MỤC LỤC

Trang Mục lục

1 Lời giới thiệu

2 Tên sáng kiến kinh nghiệm

3 Tác giả sáng kiến

4 Chủ đầu tư tạo ra sáng kiến

5 Lĩnh vực áp dụng sáng kiến

6 Ngày sáng kiến được áp dụng lần đầu hoặc áp dụng thử

7 Mô tả bản chất của sáng kiến

7.1 Về nội dung của sáng kiến

7.1.1 Cơ sở lí luận

7.1.2 Cơ sở thực tiễn

7.1.2.1 Về mục tiêu giáo dục

7.1.2.2 Thực trạng của việc bồi dưỡng học sinh giỏi môn Địa lí lớp

12 tham gia thi cấp Tỉnh ở trường PT Dân tộc Nội trú Vĩnh Phúc

7.1.3 Giải pháp thực hiện

7.1.3.1 Kỹ năng lựa chọn học sinh vào đội tuyển

7.1.3.2 Một số kiến thức kĩ năng cơ bản trong dạy bồi dưỡng đội

tuyển học sinh giỏi lớp 12 đi thi cấp Tỉnh môn Địa lí

7.1.4 Kết quả đạt được

7.1.4.1 Kết quả định tính

7.1.4.2 Kết quả định lượng

7.1.5 Kết luận khoa học

7.2 Về khả năng áp dụng của sáng kiến

8 Những thông tin cần được bảo mật

9 Các điều kiện cần thiết để áp dụng sáng kiến

10 Đánh giá lợi ích thu được hoặc dự kiến có thể thu được

11 Danh sách những tổ chức/ cá nhân đã tham gia áp dụng thử hoặc

Trang 3

BÁO CÁO KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU, ỨNG DỤNG SÁNG KIẾN

1 Lời giới thiệu

Kết quả giảng dạy và học tập của thầy và trò được đánh giá qua các kỳ thi, đặc biệt qua các kỳ thi học sinh giỏi cấp tỉnh Kết quả đó không chỉ đánh giá năng lực của người học và người dạy mà còn khẳng định và củng cố vị trí của mỗi nhà trường Đồng thời nó còn là cơ sở nền tảng để học sinh tiếp cận với các kỳ thi quôc gia và các em có cơ hội chinh phục các bậc thang tri thức mới

Với mỗi giáo viên khi nhận công tác dạy bồi dưỡng đội tuyển học sinh giỏi lớp 12 thi cấp tỉnh là mang một trách nhiệm lớn, đôi khi còn cảm thấy áp lực Bởi kết quả của kỳ thi không chỉ của cá nhân học sinh mà còn khẳng định năng lực và là kết quả của người dạy Kết quả đó cũng là thành tích của nhà trường

Dạy bồi dưỡng đội tuyển học sinh giỏi lớp 12 thi cấp tỉnh là một công việc rất khó đòi hỏi người giáo viên phải tâm huyết với nghề, tinh thần trách nhiệm cao trong công việc, phương pháp giảng dạy và chuyên môn vững vàng Với học sinh cần phải có năng lực, sự yêu thích, đam mê môn học để nắm chắc cả kỹ năng và kiến thức

Việc dạy đội tuyển học sinh giỏi lớp 12 đòi hỏi người giáo viên dạy phải chắc chắn cả kỹ năng và kiến thức của toàn cấp học Đặc biệt là kỹ năng thực hành, kiến thức Địa lí 12

Trường trung học phổ thông tôi đang công tác đa số là con em dân tộc thiểu

số sinh sống thuộc những huyện nghèo, nông thôn của tỉnh Các em còn tự ti, chưa mạnh dạn và cho rằng việc học đội tuyển học sinh giỏi là một việc quá sức tưởng tượng, dẫn đến sự quyết tâm chưa cao cho nên dễ bị chán, làm kết quả học không tốt

Địa lí được xem là một trong các môn học xã hội trong các trường THPT, các đối tượng địa lí tự nhiên hay kinh tế xã hội đều rất gần gũi mà học sinh có thể thấy

nó diễn ra hàng ngày xung quang mình, bắt gặp nó ở bất kỳ đâu, khi ở nhà hay khi

đi chơi, khi làm việc hay khi đọc báo, nghe đài Vì vậy, dễ nảy sinh tâm lí chủ quan của người học Hơn nữa Địa lí không phải là môn học nhiều em chọn học theo khối

để đi sâu tìm hiểu mà chỉ học chương trình cơ bản, trong khi đó đề thi học sinh giỏi thường có nhiều câu hỏi và bài tập nâng cao Do vậy đây là một trong những khó khăn rất lớn cho các thầy, cô giáo ở trường THPT nơi tôi công tác nói riêng và các trường THPT trên toàn tỉnh nói chung khi lựa chọn những hạt giống cho đội tuyển học sinh giỏi môn Địa lí

Từ những lí do trên và kết quả đã đạt được của bản thân tôi chọn đề tài

"Một số kiến thức kỹ năng lựa chọn và dạy bồi dưỡng đội tuyến học sinh giỏi môn Địa lí lớp 12 tham gia thi cấp Tỉnh" trình bày trong sáng kiến kinh nghiệm

này Qua sáng kiến kinh nghiệm tôi mong được chia sẻ với đồng nghiệp những kiến thức, kinh nghiệm đã có từ quá trình giảng dạy của mình, để có thêm ý nghĩa và giá trị nhân rộng

Trang 4

2 Tên sáng kiến kinh nghiệm: Một số kiến thức kỹ nănglựa chọn và dạy

bồi dưỡng đội tuyến học sinh giỏi môn Địa lí lớp 12 tham gia thi cấp Tỉnh

3 Tác giả sáng kiến:

- Họ và tên: Nguyễn Thị Thanh Huyền

- Địa chỉ tác giả sáng kiến: Trường PT DTNT cấp 2-3 Vĩnh Phúc

- Số điện thoại: 0982868366

- Email: nguyenhuyen.dtnt@gmail.com

4 Chủ đầu tư tạo ra sáng kiến: Nguyễn Thị Thanh Huyền

5 Lĩnh vực áp dụng sáng kiến: áp dụng trong giảng dạy, bồi dưỡng học sinh

giỏi môn Địa lí cho học sinh khối 12 ở trường Trung học phổ thông

6 Ngày sáng kiến được áp dụng lần đầu hoặc áp dụng thử: Từ tháng

9/2019 đến tháng 12 năm 2019

7 Mô tả bản chất của sáng kiến:

7.1 Về nội dung của sáng kiến:

7.1.1 Cơ sở lí luận

Việc dạy học Địa lí nói chung cần đảm bảo nguyên tắc giáo dục Đây là qui

định, yêu cầu cơ bản mà người giáo viên cần phải tuân thủ để mang lại hiệu quả cao

nhất trong quá trình dạy học Áp dụng "Một số kiến thức kỹ năng lựa chọn và dạy

bồi dưỡng đội tuyến học sinh giỏi môn Địa lí lớp 12 tham gia thi cấp Tỉnh” là căn

cứ vào nguyên tắc giáo dục sau:

- Nguyên tắc đảm bảo tính khoa học và vừa sức với học sinh

- Nguyên tắc đảm bảo tính hệ thống và tính thực tiễn

- Nguyên tắc đảm bảo tính tự lực và phát triển tư duy cho học sinh

- Nguyên tắc kế thừa, tích luỹ kiến thức và kỹ năng

7.1.2 Cơ sở thực tiễn

7.1.2.1 Về mục tiêu giáo dục

Nhằm xác định rõ kế hoạch, nhiệm vụ của giáo viên phải dạy như thế nào để cho học sinh đi thi có giải Đồng thời khích lệ cổ vũ phong trào học tập của học sinh

trong đội tuyển, tạo tiền đề cho bồi dưỡng các đội tuyển 10,11 Xác định được

phương hướng ôn tập cho học sinh, tạo điểm nhấn sức vượt cho học sinh khi tham

dự đội tuyển HSG môn Địa lí

Giúp học sinh nâng cao kiến thức, kỹ năng tìm ra phương hướng học bộ môn

để học sinh yêu thích học bộ môn hơn nữa Tạo đà phát triển cao hơn cho việc bồi dưỡng đội tuyển trong các năm học tiếp theo

Giúp cho bản thân người dạy cũng như đồng nghiệp bổ sung vào phương pháp dạy học bộ môn của mình cũng như có bài học thực tiễn Góp phần đẩy mạnh phong trào tự học, tự nghiên cứu của giáo viên đối với các môn xã hội nhất là môn Địa lí

Tăng cường trao đổi học tập kinh nghiệm từ đồng nghiệp cùng đơn vị Cũng như mong muốn sự đóng góp kinh nghiệm để đồng nghiệp, góp ý kiến nhằm nâng cao chuyên môn và khả năng tự học, tự đào tạo thực hiện phương châm học thường xuyên, học suốt đời

Trang 5

7.1.2.2 Thực trạng của việc bồi dưỡng học sinh giỏi môn Địa lí lớp 12 tham gia thi cấp Tỉnh ở trường PT Dân tộc Nội trú cấp 2-3 Vĩnh Phúc

Trong 5 năm trở lại đây, từ năm học 2014 – 2015 đến năm học 2018 - 2019

đề thi học sinh giỏi cấp tỉnh môn Địa lí được đánh giá rất hay, phù hợp với nội dung chương trình học, song nhiều học sinh ở các trường THPT trong Tỉnh nói chung đạt kết quả không cao

Từ thực tế giảng dạy 20 năm qua và nhiều lần được giao nhiệm vụ bồi dưỡng

học sinh giỏi lớp 12 thi cấp tỉnh môn Địa lí tôi thấy để đạt được hiệu quả cao trong mỗi bài học, tiết học cần có cách thiết kế bài giảng sao cho phù hợp với nội dung kiến thức, phương tiện dạy học và hoàn cảnh học sinh Để qua mỗi bài học, tiết học học sinh không chỉ nắm được kiến thức mà còn biết cách vận dụng kiến thức linh hoạt, tăng khả năng tư duy sáng tạo Đối với dạy bồi dưỡng đội tuyến học sinh giỏi

lớp 12 thi cấp tỉnh không chỉ cần có vậy mà còn cần đến tất cả các yếu tố tâm lí,

năng lực của học sinh, kỹ năng chọn hạt giống, năng lực giảng dạy của giáo viên Trường THPT nơi tôi công tác mỗi năm có hơn 100 học sinh khối 12, hầu hết các em là người dân tộc thiểu số nên khả năng tiếp thu kiến thức còn hạn chế, một

số em học khá giỏi các em đã chọn các môn khối A, D để học nâng cao và cũng là khối các em chọn thi đại học, cao đẳng Còn lại các em có năng lực học tập kém mới chọn học khối C Vì vậy, các em hầu như không có sự định hướng, mục tiêu phấn đấu rõ ràng Có số ít em học tập tốt nhưng lại không muốn vào đội tuyển vì cho rằng tập trung vào đội tuyển mất nhiều thời gian ảnh hưởng đến học tập các môn khác, ảnh hưởng đến thi đại học Bởi vậy để chọn được đội tuyển có chất lượng

là điều không dễ, đòi hỏi giáo viên phải có kỹ năng phát hiện năng lực học tập của học sinh, động viên tâm lí, tạo hứng thú cho các em về môn học

Dạy bồi dưỡng đội tuyển học sinh giỏi lớp 12 thi cấp tỉnh không chỉ đòi

hỏi giáo viên phải có kiến thức chuyên môn vững vàng mà còn phải có kinh nghiệm,

kỹ năng, phương pháp giảng dạy, cách thiết kế cấu trúc nội dung khoa học, lôgic, dễ

hiểu, tạo điểm tựa, sức vượt, sự tự tin cho học sinh khi đi thi Thật không sai nếu

lấy kết quả học tập và kết quả các kỳ thi làm thước đo cho cho sự phát triển giáo dục của nhà trường nói chung và năng lực giảng dạy của giáo viên nói riêng

7.1.3 Giải pháp thực hiện

7.1.3.1 Kỹ năng lựa chọn học sinh vào đội tuyển

Do đặc thù các trường THPT trên địa bàn Tỉnh đều chọn ban cơ bản để học, hơn nữa trường của chúng tôi có nhiều học sinh lựa chọn môn Địa lí làm môn học

để ôn thi THPT Quốc gia, nhưng phần lớn là các em chỉ dùng môn Địa lí để xét tốt nghiệp chứ không thi Đại học Mỗi giáo viên lại chỉ dạy một vài lớp trong khối và cũng có thể không dạy liên tục từ lớp 10 đến lớp 12 Do vậy kỹ năng chọn học sinh vào đội tuyển học sinh giỏi lớp 12 thi cấp tỉnh có thể hiểu qua sơ đồ ngắn gọn sau:

Trang 6

- Lựa chọn qua kế thừa, theo dõi, phát hiện và thu hút:

+ Kế thừa kết quả thi học sinh giỏi cấp trường lớp 10 và 11, đây là nhân tố thuận lợi nhất, vì hầu hết các em đã có sẵn nền tảng kiến thức và các tố chất cần thiết cho việc học và thi trong đội tuyển

+ Theo dõi là yếu tố chắc chắn và an toàn nhất vì giáo viên phải có quá trình giảng dạy trên lớp mới có thể theo dõi được năng lực học tập của học sinh, khả năng lĩnh hội tri thức, kỹ năng làm bài của các em

+ Phát hiện, đây là kỹ năng đòi hỏi giáo viên phải hết sức nhạy bén bởi đây là đối tượng học sinh ở các lớp mình chưa từng giảng dạy Việc phát hiện này diễn ra rất nhanh, có thể chỉ qua một vài buổi học trước khi thi chọn vào đội tuyển hoặc có thể qua một vài bài kiểm tra nhanh

+ Thu hút, giáo viên phải dùng đến biện pháp tâm lí hoặc giá trị và ý nghĩa thực tiễn cho học sinh thấy được sự hấp dẫn của môn học, tạo được niềm tin với học sinh để các em sẵn sàng trao gửi mục tiêu, ước mơ của mình Hơn nữa cho các em thấy được giá trị thực tiễn khi đạt kết quả cao trong kỳ thi học sinh giỏi cấp tỉnh, đối với những khuyến khích trong kì thi THPT Quốc gia sau này của các em Một yếu

tố cũng rất quan trọng đối với thu hút là có học sinh có năng lực học tập tốt hơn ở môn Địa lí nhưng lại chọn thi vào môn khác, có thể chỉ là do em muốn thử sức, môn

đó cũng là môn sau này thi đại học, em thích một điều gì đó thôi nhưng năng lực của em đối với môn học đó là chưa đủ Vì thế nếu giáo viên phát hiện, định hướng kịp thời để học sinh phát huy được tố chất, năng lực của học sinh ở môn Địa lí thì điều đó không chỉ mang lại kết quả cao cho học sinh mà còn có ý nghĩa lớn đối với giáo viên và nhà trường

- Mỗi đội tuyển chỉ có từ 3 đến 5 em, vì thế sự lựa chọn cần phải chính xác cao

và phải đặt quyền lợi của học sinh, thành tích của nhà trường lên trên hết Học sinh được lựa chọn phải có được các tố chất sau:

+ Năng lực học tập, năng lực lĩnh hội tri thức nhanh, chắc chắn

THEO DÕI

PHÁT HIỆN

THU HÚT

KẾ THỪA

Trang 7

+ Khả năng khái quát, tổng hợp, liên hệ kiến thức tốt

+ Kỹ năng trình bày và làm bài tự luận tốt

+ Kết quả đều qua nhiều bài kiểm tra

+ Có bản lĩnh phòng thi và ổn định tâm lí

+ Đam mê, yêu thích, ham học môn Địa lí

- Lựa chọn được những học sinh có đủ năng lực, tố chất cần thiết vào đội tuyển

có vai trò hết sức quan trọng đối với kết quả thi học sinh giỏi cấp tỉnh Vì dạy và học là hai yếu tố quan hệ hữu cơ với nhau, trò phải có hứng thú và mong muốn tiếp nhận có tinh thần cầu tiến học hỏi thì thầy mới có điều kiện thực hiện thành công ý tưởng của mình Học trò có mong muốn học hỏi tích cực sẽ đòi hỏi và thúc đẩy người thầy luôn nỗ lực tìm tòi, sáng tạo, tiếp cận nguồn tri thức mới

7.1.3.2 Một số kiến thức kĩ năng cơ bản trong dạy bồi dưỡng đội tuyển học sinh giỏi lớp 12 môn Địa lí tham gia thi cấp tỉnh

Kiến thức cơ bản cho thi học sinh giỏi lớp 12 cấp tỉnh nằm chủ yếu trong

chương trình Địa lí lớp 12, bên cạnh đó còn có cả kiến thức ở chương trình lớp 10,

11 Ngoài ra các kỹ năng địa lí như: Dạng bài tập tính giời, kỹ năng lựa chọn và vẽ biểu đồ, kỹ năng nhận xét và giải thích, kỹ năng khai thác Atlat địa lí là không thể thiếu

Khi tìm hiểu về đề thi cấp tỉnh môn Địa lí trong nhiều năm trở lại đây tôi thấy cấu trúc đề thi có phần bài tập tính giờ của địa lí lớp 10, phần kỹ năng lựa chọn và

vẽ biểu đồ, kỹ năng nhận xét và giải thích, kĩ năng khai thác kiến thức qua Át lát Địa lí Việt Nam Đây cũng là những kiến thức khó đối với người học và khó cả đối với người dạy Chính điều đó đã khiến tôi tìm tòi, học hỏi rất nhiều trong các kỳ được giao nhiệm vụ ôn thi học sinh giỏi những năm qua Vì thế tôi chọn đây là nội dung trọng tâm trình bày trong sáng kiến kinh nghiệm này

7.1.3.2.1 Dạng bài tập tính giờ

Đây là dạng bài tập đòi hỏi phát huy tổng hợp nhiều kiến thức, bởi muốn tính được giờ thì phải tính được múi giờ và phải biết giờ đó thuộc ngày nào Nếu không rất dễ bị nhầm lẫn giữa múi giờ của bán cầu Tây với bán cầu Đông, giữa ngày này với ngày khác Do đó đòi hỏi phải nắm được múi giờ đánh theo số thứ tự

từ 0 đến 23, múi giờ 24 trùng với múi giờ số 0 và kênh hình các múi giờ trên Trái Đất trong sách giáo khoa lại thể hiện các múi giờ có giờ sớm hơn hoặc muộn hơn múi giờ gốc Nắm được số ngày của các tháng trong năm, tháng nào có 28 ngày, tháng nào có 30, 31 ngày, năm nào là năm nhuận

Ví dụ: Lễ hội Festivan Huế của Việt Nam năm 2015 khai mạc vào lúc 15 giờ

ngày 01/ 4 /2015 được truyền hình trực tiếp Hãy tính giờ truyền hình trực tiếp lễ khai mạc tại các địa điểm sau:

Địa điểm Niu Đêli Thượng Hải Niu Iooc Honolulu

Trang 8

+ Cách 1: Theo công thức tính múi giờ:

Bán cầu Đông:

Trong đó: MĐ: múi giờ cần tính thuộc bán cầu Đông

KT: kinh tuyến cần tính múi giờ

Bán cầu Tây:

Trong đó: MT: múi giờ cần tính thuộc bán cầu Tây

KT: kinh tuyến cần tính múi giờ

hoặc:

Trong đó:MT: múi giờ cần tính thuộc bán cầu Tây

KT: kinh tuyến cần tính múi giờ

(Kết quả làm tròn theo phương pháp làm tròn toán học: > 5 làm tròn về 1, ≤ 5 làm tròn về 0)

Áp dụng công thức trên:

Niu Đê li: thuộc múi giờ số 5

Thượng Hải: thuộc múi giờ số 8

Niu Iooc: thuộc múi giờ 19

Honolulu: thuộc múi giờ 14

Giải theo cách này học sinh rất dễ bị nhầm lẫn giữa múi giờ của bán cầu Tây

với bán cầu Đông hoặc xác định múi giờ sớm hơn hay muộn hơn

+ Cách 2: Tính múi giờ theo công thức sau:

Bán cầu Đông:

Trong đó: MĐ: múi giờ cần tính thuộc bán cầu Đông

KT: kinh tuyến cần tính múi giờ

+ : giờ sớm hơn múi giờ gốc

Bán cầu Tây:

Trong đó: MT: múi giờ cần tính thuộc bán cầu Tây

KT: kinh tuyến cần tính múi giờ

- : giờ muộn hơn múi giờ gốc

(Kết quả làm tròn theo phương pháp làm tròn toán học: > 5 làm tròn về 1, ≤ 5 làm

tròn về 0 )

Áp dụng công thức trên:

Niu Đê li: thuộc múi giờ số + 5

Thượng Hải: thuộc múi giờ số + 8

Niu Iooc: thuộc múi giờ - 5

Honolulu: thuộc múi giờ - 10

Trang 9

Giải theo cách này thì khắc phục được sự nhầm lẫn về tính múi giờ ở các địa điểm cho học sinh Học sinh dễ dàng kẻ sơ đồ tính múi giờ sớm hơn hay muộn hơn múi giờ gốc như sau:

-Tính giờ của các địa điểm:

Thượng Hải có giờ sớm hơn Việt Nam còn lại các địa điểm đều có giờ muộn hơn Việt Nam Vì vậy khi Việt Nam là 15 giờ thì giờ tại các địa điểm là:

Địa điểm Niu Đêli Thượng Hải Niu Iooc Honolulu

7.1.3.2.2 Dạng bài tập vẽ và nhận xét biểu đồ

Đây là dạng bài tập luôn chiếm một vị trí quan trọng trong cấu trúc của đề thi

Nếu học sinh có kiến thức và kỹ năng tốt thì đây là dạng bài tập giúp học sinh gỡ điểm, còn nếu học sinh yếu về kỹ năng biểu đồ đặc biệt là kỹ năng lựa chọn biểu đồ

và xử lí đề bài thì đây là dạng bài tập khiến các em mất đi nhiều điểm nhất Bởi theo qui chế chấm thi môn Địa, nếu các em chọn và vẽ sai loại biểu đồ thì không chỉ phần vẽ biểu đồ không được điểm mà kéo theo toàn bộ phần nhận xét đằng sau cũng không được chấm, như vậy là mất đi toàn bộ số điểm của dạng bài tập này

Vậy làm thế nào để giúp học sinh có kiến thức và kỹ năng về biểu đồ vững chắc nhất, để dạng bài tập này luôn chắc chắn có điểm ở mỗi bài thi, trong khi kỹ năng biểu đồ nhiều, kỹ năng lựa chọn biểu đồ và nhận xét lại rất khó Sau nhiều năm

ôn thi THPT Quốc gia và ôn thi học giỏi, tôi thấy cần phải làm thế nào để giúp học sinh nắm được kỹ năng biểu đồ nhanh nhất với những kiến thức cơ bản, ngắn gọn, chuẩn xác, dễ tiếp thu

Trang 10

Dạng câu hỏi này thường có 3 bộ phận, gồm: lời dẫn , bảng số liệu, lời kết (Đôi khi lời kết hợp lại với lời dẫn, do đó đề bài chỉ còn 2 bộ phận: lời dẫn và bảng số liệu)

Dựa vào từng thành phần để lựa chọn biểu đồ:

- Căn cứ vào lời dẫn:

Lời dẫn có 3 dạng, gồm: lời dẫn có chỉ định, lời dẫn kín, lời dẫn mở

+ Lời dẫn có chỉ định: đưa ra loại biểu đồ phải vẽ, VD: Hãy vẽ biểu đồ cột + Lời dẫn kín: Hãy vẽ biểu đồ thích hợp

+ Lời dẫn mở: Là lời dẫn có các từ gợi mở ngầm vẽ một loại biểu đồ nào đó:

Biểu đồ đường biểu diễn có các từ gợi mở: "tăng trưởng", "biến động", "gia

tăng", "phát triển",

Biểu đồ cột có các từ gợi mở: "sản lượng", "khối lượng", "diện tích"

Biểu đồ cơ cấu (tròn, miền, cột chồng) có các từ gợi mở: "cơ cấu", "chuyển dịch

cơ cấu", "trong đó", "chia ra", "chia theo", "bao gồm",

Biểu đồ kết hợp có các từ gợi mở: "mối quan hệ", "A và B",

- Căn cứ vào bảng số liệu:

+ Biểu đồ đường biểu diễn bảng số liệu có dạng: một chuỗi số liệu diễn biến theo một chuỗi thời gian

+ Biểu đồ cột bảng số liệu có dạng: một dãy số liệu diễn biến theo một số thời điểm hoặc một số thời kỳ/giai đoạn

+ Biểu đồ cơ cấu bảng số liệu có dạng tổng chia thành phần:

Biểu đồ tròn: ≤ 3 năm hoặc ≤ 3 đối tượng

Biểu đồ miền: ≥ 4 năm

Biểu đồ cột chồng: từ 1 đến nhiều năm hoặc từ 1 đến nhiều đối tượng (Song biểu đồ cột chồng luôn đứng ở vị trí lựa chọn sau biểu đồ tròn và miền)

+ Biểu đồ kết hợp bảng số liệu có từ 2 đối tượng trở lên có mối quan hệ mật thiết với nhau

* Xử lí số liệu thường găp: (phục vụ cho cả vẽ biểu đồ và nhận xét)

Xây dựng công thức tính: RNsau =

- Gia tăng dân số:

Công thức tính: Dt = D0 + (D0 x tg)ⁿ = D0 x (1 + tg)ⁿ (Đơn vị: triệu người)

Số liệu thành phần Tổng

x 100

Nsau Nđầu

Số liệu năm sau

Số liệu năm đầu

x 100 % Năm sau =

% Thành phần =

Trang 11

Trong đó: Dt : dân số năm cần tính

D0 : dân số năm gốc

tg: tỉ suất gia tăng dân số tự nhiên

n: khoảng cách từ năm gốc đến năm cần tính

- Trong lĩnh vực nông nghiệp:

+ Năng suất = (đơn vị tính: tạ/ha hoặc tấn/ha)

+ Sản lượng = Năng suất x Diện tích (đơn vị tính: tấn)

+ Trục ngang chia theo khoảng cách năm, trường hợp có quá nhiều mốc thời gian hoặc thể hiện các đối tượng địa lí hay các địa điểm thì lấy khoảng cách bằng nhau Nếu thể hiện theo thời gian hoặc các đối tượng địa lí chưa hết giới hạn thì đầu trục phải có mũi tên

Sản lượng Diện tích

30

20

10

0

Trang 12

- Biểu đồ đường biểu diễn : là các đoạn thẳng nối các điểm tọa độ xác định được

với nhau, ký hiệu và số liệu được ghi tại các tọa độ đã xác định (yêu cầu kỹ thuật: khi dóng tại mỗi điểm phải thẳng với mốc thời gian ở trục ngang và giá trị đạt được

ở trục đứng)

- Biểu đồ cột:

Yêu cầu độ rộng của các cột phải bằng nhau, số liệu ghi trên đỉnh cột đối với

cột đơn và cột ghép, ghi vào trong miền đối với cột chồng

Trang 13

-3 -4 -5 %

Ngày đăng: 01/04/2021, 21:29

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w