Tả người trong tư thế làm việc (sử dụng nhiều động từ).. Đoạn 3: Ông đô già người sở tại, khăn chùng, áo dài ngồi cầm trịch, giơ cao chiếc dùi trống sơn son gõ mạnh xuống mặt trống ba [r]
Trang 1PGDĐT NINH HÒA TRƯỜNG THCS TRỊNH PHONG
Trang 2I Phương pháp viết một đoạn văn, bài văn tả người.
1 Xét ví dụ 1/ sgk 59,60:
Tiết 80 : Tập làm văn
PHƯƠNG PHÁP TẢ NGƯỜI
Trang 3Đoạn 1 Dượng Hương Thư như một pho tượng đồng đúc, các bắp thị cuồn cuộn, hai hàm răng cắn chặt, quai hàm bạnh ra, cặp mắt nảy lửa ghì trên ngọn sào giống như một hiệp sĩ của Trường Sơn oai linh hùng vĩ Dượng Hương Thư đang vượt thác khác hẳn Dượng Hương Thư ở nhà, nói năng nhỏ nhẻ, tính nết nhu mì, ai
gọi cũng vâng vâng dạ dạ (Võ Quảng)
Đoạn 2 Cai Tứ là một người đàn ông thấp và gầy, tuổi độ bốn lăm, năm mươi Mặt lão vuông nhưng hai má hóp lại Dưới cặp lông mày lổm chổm trên gò xương, lấp lánh đôi mắt gian hùng Mũi lão gồ sống mương dòm xuống bộ râu mép lúc nào cũng hình như cố giấu giếm, đậy điệm cái mồm toe toét tối om như cửa hang,
trong đó đỏm đang mấy chiếc răng vàng hợm của (Lan Khai)
Đoạn 3 Ông đô già người sở tại, khăn chùng, áo dài ngồi cầm trịch, giơ cao chiếc dùi trống sơn son gõ mạnh xuống mặt trống ba tiếng thật đanh, thật giòn tỏ ý nhận lời Quắm Đen quay ra đứng giữa xới Ngay lúc ấy, ông Cản Ngũ cũng từ trên thềm cao bước xuống Tiếng reo hò bốn phía tức thì nổi lên ầm ầm
Ngay nhịp trống đầu, Quắm Đen đã lăn xả vào ông Cản Ngũ đánh ráo riết Rõ ràng là anh muốn dùng cái sức lực đương trai của mình lấn lướt ông ta và muốn hạ ông ta rất nhanh bằng những thế đánh thật lắt léo, hóc hiểm Anh vờn tả, đánh hữu, dứ trên, đánh dưới, thoắt biến, thoắt hoá khôn lường Trái lại, ông Cản Ngũ thì xem ra có vẻ lại lờ ngờ, chậm chạp; dường như ông lúng túng trước những đòn đánh liên tiếp của Quắm Đen Hai tay ông lúc nào cũng thấy dang rộng ra, để sát xuống mặt đất, xoay xoay chống đỡ Keo vật xem chán ngắt […] Ông Cản Ngũ bỗng bước hụt, mất đà chúi xuống Quắm Đen đã như một con cắt luồn qua hai cánh tay ông Cản Ngũ ôm lấy một bên chân ông, bốc lên Người xem bốn phía xung quanh reo hò ồ cả lên Thôi thế là ông Cản Ngũ ngã rồi, nhất định ngã rồi Có khoẻ bằng voi thì cũng phải ngã
Tiếng trống vật dồn lên, gấp rút, giục giã Ông Cản Ngũ vẫn chưa ngã Ông đứng như cây trồng giữa xới trước những cặp mắt kinh dị của người xem Còn Quắm Đen thì đang loay hoay gò lưng lại, không sao bê nổi cái chân ông Cản Ngũ Cái chân tựa bằng cây cột sắt, chứ không phải là chân người nữa
Ông Cản Ngũ vẫn đứng nghiêng mình nhìn Quắm Đen mồ hôi, mồ kê nhễ nhại dưới chân Lúc lâu, ông mới thò tay xuống nắm lấy khố Quắm Đen nhấc bổng anh ta lên, coi nhẹ nhàng như ta giơ con ếch có buộc sợi dây ngang bụng vậy
Các đô ngồi quanh xới đều lặng đi trước thần lực ghê gớm của ông Cản Ngũ Thôi thế là Quắm Đen bại rồi Keo vật bị đánh bại một cách nhục nhã, cay đắng quá chừng Kim Lân
Trang 4Quan sát vào bảng sau đây em hãy trả lời các câu hỏi sau:
- Mỗi đoạn văn trên tả ai?
- Người được tả có đặc điểm gì nổi bật?
- Đặc điểm đó được thể hiện ở những từ ngữ và hình ảnh nào?
Trang 5Đoạn
văn Đối tượng miêu tả Đặc điểm nổi bật Từ ngữ và hình ảnh
1
Dượng Hương Thư Người chống thuyền vượt thác có vẻ đẹp dũng mãnh Ngoại hình: như một pho tượng đồng đúc, các bắp thịt cuồn cuộn, hai hàm răng cắn chặt, quai hàm bạnh ra, cặp mắt nảy lửa Động tác: ghì trên ngọn sào giống như một hiệp sĩ của Trường Sơn oai linh hùng vĩ Đoạn 1: Dượng Hương Thư như một pho tượng đồng đúc, các bắp thịt cuồn cuộn, hai hàm răng cắn chặt, quai hàm bạnh ra, cặp mắt nảy lửa ghì trên ngọn sào giống như một hiệp sĩ của Trường Sơn oai linh hùng vĩ Dượng Hương Thư đang vượt thác khác hẳn Dượng Hương Thư ở nhà, nói năng nhỏ nhẻ, tính nết nhu mì, ai gọi cũng vâng vâng dạ dạ
(Võ Quảng )
Trang 6
Đoạn 2:
Cai Tứ là một người đàn ông thấp và gầy, tuổi độ bốn lăm, năm mươi Mặt lão vuông nhưng hai má hóp lại Dưới cặp lông mày lổm chổm trên gò xương, lấp lánh đôi mắt gian hùng Mũi lão gồ sống mương dòm xuống bộ râu mép lúc nào cũng hình như cố giấu giếm, đậy điệm cái mồm toe toét tối om như cửa hang, trong đó đỏm đang mấy chiếc răng vàng hợm của.
(Lan Khai)
Trang 7nhưng hai má hóp lại Dưới cặp lông mày lổm
chổm trên gò xương, lấp lánh đôi mắt gian
hùng Mũi lão gồ sống mương dòm xuống bộ
râu mép lúc nào cũng hình như cố giấu giếm, đậy
điệm cái mồm toe toét tối om như cửa hang,
trong đó đỏm đang mấy chiếc răng vàng hợm
của.
(Lan Khai)
2 Cai Tứ
Người đàn ông gian hùng
- Thân hình: thấp và gầy
- Tuổi tác: độ bốn lăm, năm mươi -Gương mặt: vuông nhưng hai má hóp lại, cặp lông mày
lổm chổm, đôi mắt gian hùng, mũi lão gồ sống mương, bộ
râu mép lúc nào cũng hình như cố giấu giếm đậy điệm, cái mồm toe toét tối om như cửa hang, đỏm đang mấy chiếc răng vàng hợm của.
Trang 9Đoạn 3: Ông đô già người sở tại, khăn chùng, áo dài ngồi cầm trịch, giơ cao chiếc dùi trống sơn son gõ mạnh xuống mặt trống ba tiếng thật đanh, thật giòn tỏ ý nhận lời Quắm Đen quay ra đứng giữa xới Ngay lúc ấy, ông Cản Ngũ cũng từ trên thềm cao bước xuống Tiếng reo hò bốn phía tức thì nổi lên ầm ầm.
Ngay nhịp trống đầu, Quắm Đen đã lăn xả vào ông Cản Ngũ đánh ráo riết Rõ ràng là anh muốn dùng cái sức lực đương trai của mình lấn lướt ông ta và muốn hạ ông ta rất nhanh bằng những thế
đánh thật lắt léo, hóc hiểm Anh vờn tả, đánh hữu, dứ trên, đánh dưới, thoắt biến, thoắt hoá khôn
lường Trái lại, ông Cản Ngũ thì xem ra có vẻ lại lờ ngờ, chậm chạp; dường như ông lúng túng trước những đòn đánh liên tiếp của Quắm Đen Hai tay ông lúc nào cũng thấy dang rộng ra, để sát xuống mặt đất, xoay xoay chống đỡ Keo vật xem chán ngắt […] Ông Cản Ngũ bỗng bước hụt, mất đà chúi xuống Quắm Đen đã như một con cắt luồn qua hai cánh tay ông Cản Ngũ ôm lấy một bên chân ông, bốc lên Người xem bốn phía xung quanh reo hò ồ cả lên Thôi thế là ông Cản Ngũ ngã rồi, nhất định ngã rồi
Có khoẻ bằng voi thì cũng phải ngã.
Tiếng trống vật dồn lên, gấp rút, giục giã Ông Cản Ngũ vẫn chưa ngã Ông đứng như cây trồng giữa xới trước những cặp mắt kinh dị của người xem Còn Quắm Đen thì đang loay hoay gò lưng lại, không sao bê nổi cái chân ông Cản Ngũ Cái chân tựa bằng cây cột sắt, chứ không phải là chân người nữa.
Ông Cản Ngũ vẫn đứng nghiêng mình nhìn Quắm Đen mồ hôi, mồ kê nhễ nhại dưới chân Lúc lâu, ông mới thò tay xuống nắm lấy khố Quắm Đen nhấc bổng anh ta lên, coi nhẹ nhàng như ta giơ con ếch có buộc sợi dây ngang bụng vậy
Các đô ngồi quanh xới đều lặng đi trước thần lực ghê gớm của ông Cản Ngũ Thôi thế là Quắm Đen bại rồi Keo vật bị đánh bại một cách nhục nhã, cay đắng quá chừng
(Kim Lân)
Đoạn 3: Ông đô già người sở tại, khăn chùng, áo dài ngồi cầm trịch, giơ cao chiếc dùi trống sơn son gõ mạnh xuống mặt trống ba tiếng thật đanh, thật giòn tỏ ý nhận lời Quắm Đen quay ra đứng giữa xới Ngay lúc ấy, ông Cản Ngũ cũng từ trên thềm cao bước xuống Tiếng reo hò bốn phía tức thì nổi lên ầm ầm.
Ngay nhịp trống đầu, Quắm Đen đã lăn xả vào ông Cản Ngũ đánh ráo riết Rõ ràng là anh muốn dùng cái sức lực đương trai của mình lấn lướt ông ta và muốn hạ ông ta rất nhanh bằng những thế
đánh thật lắt léo, hóc hiểm Anh vờn tả, đánh hữu, dứ trên, đánh dưới, thoắt biến, thoắt hoá khôn
lường Trái lại, ông Cản Ngũ thì xem ra có vẻ lại lờ ngờ, chậm chạp; dường như ông lúng túng trước những đòn đánh liên tiếp của Quắm Đen Hai tay ông lúc nào cũng thấy dang rộng ra, để sát xuống mặt đất, xoay xoay chống đỡ Keo vật xem chán ngắt […] Ông Cản Ngũ bỗng bước hụt, mất đà chúi xuống Quắm Đen đã như một con cắt luồn qua hai cánh tay ông Cản Ngũ ôm lấy một bên chân ông, bốc lên Người xem bốn phía xung quanh reo hò ồ cả lên Thôi thế là ông Cản Ngũ ngã rồi, nhất định ngã rồi
Có khoẻ bằng voi thì cũng phải ngã.
Tiếng trống vật dồn lên, gấp rút, giục giã Ông Cản Ngũ vẫn chưa ngã Ông đứng như cây trồng giữa xới trước những cặp mắt kinh dị của người xem Còn Quắm Đen thì đang loay hoay gò lưng lại, không sao bê nổi cái chân ông Cản Ngũ Cái chân tựa bằng cây cột sắt, chứ không phải là chân người nữa.
Ông Cản Ngũ vẫn đứng nghiêng mình nhìn Quắm Đen mồ hôi, mồ kê nhễ nhại dưới chân Lúc lâu, ông mới thò tay xuống nắm lấy khố Quắm Đen nhấc bổng anh ta lên, coi nhẹ nhàng như ta giơ con ếch có buộc sợi dây ngang bụng vậy
Các đô ngồi quanh xới đều lặng đi trước thần lực ghê gớm của ông Cản Ngũ Thôi thế là Quắm Đen bại rồi Keo vật bị đánh bại một cách nhục nhã, cay đắng quá chừng
(Kim Lân)
Trang 10Đoạn
văn Đối tượng
miêu tả
Đặc điểm nổi bật Từ ngữ và hình ảnh
Hành động : + Quắm Đen: lăn xả… đánh ráo riết…lấn lướt…vờn tả, đánh hữu, dứ trên, đánh dưới, thoắt biến, thoắt hoá.
+ Ông Cản Ngũ : lờ ngờ, chậm chạp, lúng túng, hai tay dang rộng ra
để sát xuống mặt đất xoay xoay chống đỡ : bước hụt mất đà chúi xuống.
+ Quắm Đen: như một con cắt…ôm một bên chân ông (Cản Ngũ), bốc lên.
+ Ông Cản Ngũ: vẫn chưa ngã, đứng như cây trồng + Quắm Đen: loay hoay gò lưng không bê nổi…
+ Ông Cản Ngũ: vẫn đứng nghiêng mình nhìn Quắm Đen mồ hôi mồ
kê nhễ nhại…thò tay nắm lấy khố Quắm Đen nhấc bổng anh ta lên…
Trang 11Đối
tượng Từ ngữ và hình ảnh
1
Người chèo có
vẻ đẹp dũng mãnh
Ngoại hình: như một pho tượng đồng đúc, các bắp thịt cuồn cuộn,
hai hàm răng cắn chặt, quai hàm bạnh ra, cặp mắt nảy lửa
- Động tác: ghì trên ngọn sào giống như một hiệp sĩ của Trường
Sơn oai linh hùng vĩ.
Đoạn
văn
Đặc điểm nổi bật
2
Người đàn ông gian hùng
- Thân hình: thấp và gầy
- Tuổi tác: độ bốn lăm, năm mươi
- Gương mặt: vuông nhưng hai má hóp lại, cặp lông mày lổm chổm, đôi mắt gian hùng, mũi lão gồ sống mương, bộ râu mép lúc nào cũng hình như cố giấu giếm đậy điệm, cái mồm toe toét tối om như cửa hang, đỏm đang mấy chiếc răng vàng hợm của.
+ Ông Cản Ngũ : vẫn chưa ngã, đứng như cây trồng Quắm Đen : loay hoay gò lưng không bê nổi…
Ông Cản Ngũ: vẫn đứng nghiêng mình nhìn Quắm Đen mồ hôi mồ kê nhễ nhại…thò tay nắm lấy khố Quắm Đen nhấc bổng anh ta lên…
Đặc tả chân dung (sử dụng nhiều tính từ)
Tả người trong tư thế làm việc (sử dụng nhiều động từ)
Tả người trong tư thế làm việc (sử dụng nhiều động từ)
Trang 12Đoạn 3: Ông đô già người sở tại, khăn chùng, áo dài ngồi cầm trịch, giơ cao chiếc dùi
trống sơn son gõ mạnh xuống mặt trống ba tiếng thật đanh, thật giòn tỏ ý nhận lời
Quắm Đen quay ra đứng giữa xới Ngay lúc ấy, ông Cản Ngũ cũng từ trên thềm cao bước
xuống Tiếng reo hò bốn phía tức thì nổi lên ầm ầm.
Ngay nhịp trống đầu, Quắm Đen đã lăn xả vào ông Cản Ngũ đánh ráo riết Rõ ràng là
anh muốn dùng cái sức lực đương trai của mình lấn lướt ông ta và muốn hạ ông ta rất
nhanh bằng những thế đánh thật lắt léo, hóc hiểm Anh vờn tả, đánh hữu, dứ trên, đánh
dưới, thoắt biến, thoắt hoá khôn lường Trái lại, ông Cản Ngũ thì xem ra có vẻ lại lờ ngờ,
chậm chạp; dường như ông lúng túng trước những đòn đánh liên tiếp của Quắm Đen Hai
tay ông lúc nào cũng thấy dang rộng ra, để sát xuống mặt đất, xoay xoay chống đỡ Keo
vật xem chán ngắt […] Ông Cản Ngũ bỗng bước hụt, mất đà chúi xuống Quắm Đen đã
như một con cắt luồn qua hai cánh tay ông Cản Ngũ ôm lấy một bên chân ông, bốc lên
Người xem bốn phía xung quanh reo hò ồ cả lên Thôi thế là ông Cản Ngũ ngã rồi, nhất
định ngã rồi Có khoẻ bằng voi thì cũng phải ngã.
Tiếng trống vật dồn lên, gấp rút, giục giã Ông Cản Ngũ vẫn chưa ngã Ông đứng
như cây trồng giữa xới trước những cặp mắt kinh dị của người xem Còn Quắm Đen thì
đang loay hoay gò lưng lại, không sao bê nổi cái chân ông Cản Ngũ Cái chân tựa bằng
cây cột sắt, chứ không phải là chân người nữa.
Ông Cản Ngũ vẫn đứng nghiêng mình nhìn Quắm Đen mồ hôi, mồ kê nhễ nhại dưới
chân Lúc lâu, ông mới thò tay xuống nắm lấy khố Quắm Đen nhấc bổng anh ta lên, coi
nhẹ nhàng như ta giơ con ếch có buộc sợi dây ngang bụng vậy
Các đô ngồi quanh xới đều lặng đi trước thần lực ghê gớm của ông Cản Ngũ Thôi
thế là Quắm Đen bại rồi Keo vật bị đánh bại một cách nhục nhã, cay đắng quá chừng
-(Kim
Lân)-Phần 1:
Tả cảnh chung nơi diễn
ra keo vật.
Phần 2: Miêu tả chi tiết keo vật ( tả
hành động, cử chỉ ).
Phần 3: Nêu cảm nghĩ và nhận xét
về keo vật.
Trang 13- Đoạn 3: Tả hai người
trong keo vật (Quắm
Tiếp theo -> “…ngang bụng vậy.”
Diễn biến keo vật.
Kết bài:
Đoạn còn lại
Suy nghĩ của mọi người
=> Giới thiệu nhân vật
=> Miêu tả ngoại hình, cử chỉ, hành động các nhân vật.
2- Quắm Đen thất bại.
3- Quắm Đen – Cản Ngũ so tài.
4- Hội vật đền Đô năm ấy.
Trang 14I Phương pháp viết một đoạn văn, bài văn tả người.
1 Xét ví dụ 1/ 59,60:
2 Nhận xét:
- Đoạn 1: Tả dượng Hương Thư
chèo thuyền vượt thác dữ.
- Đoạn 2: Tả Cai Tứ.
- Đoạn 3: Tả hai người trong keo vật
(Quắm Đen và ông Cản Ngũ)
Quan sát, lựa chọn các chi tiết tiêu biểu;
- Trình bày kết quả quan sát theo một thứ tự.
* Bố cục bài văn tả người thường có 3 phần:
- Mở bài: giới thiệu người được tả;
- Thân bài: miêu tả chi tiết (ngoại hình, cử chỉ, hành động, lời nói …)
- Kết bài: thường nhận xét hoặc nêu cảm nghĩ của người viết về người được tả.
Trang 15N Nêu những điểm khác nhau khi miêu tả
chi tiết giữa tả người và tả cảnh?
- Ngoại hình, cử chỉ, hành động, lời nói,
tính cách - Miêu tả theo thứ tự: + Không gian
+ Thời gian + Từ khái quát => cụ thể.
Trang 16TiÕt 80 : : PHƯƠNG PHÁP TẢ NGƯỜI
I Phương pháp viết đoạn văn, bài văn tả người.
1 Hãy nêu các chi tiết tiêu biểu
mà em sẽ lựa chọn khi miêu tả các
đối tượng.
2 Lập dàn ý cho ba đối tượng
trên
Trang 17Bµi tËp 1, 2/ 62:
Tả người : - Tả ngoại hình;
- Tả hành động, cử chỉ, lời nói …
1 Hãy nêu các chi tiết tiêu biểu mà em sẽ lựa chọn khi miêu tả các đối tượng.
2 Lập dàn ý cho ba đối tượng trên
- Một em bé chừng 4 - 5 tuổi;
- Một cụ già cao tuổi;
- Cô giáo của em đang say sưa
giảng bài trên lớp.
Trang 18Một em bé chừng 4 - 5 tuổi.
- Hình dáng: mập mạp hay nhỏ gọn; đầu tóc, mặt mũi, nước da, ăn mặc,…
- Đặc điểm: đôi mắt to, má ửng hồng, hàm răng sữa trắng muốt,…
- Tính nết ngây thơ: giọng nói, tình cảm, thích chơi đùa, thích ăn kem,…
DÀN Ý
1 Mở bài:
- Em bé đó tên là gì? Mấy tuổi? Trai hay gái?
- Có mối quan hệ với em như thế nào?
2 Thân bài:
+ Hình dáng:
- Tầm vóc, thân hình: (cao, thấp? mập mạp hay thanh mảnh ? )
- Màu da: trắng trẻo hay ngăm ngăm?
- Thông minh, nhanh nhẹn, khéo léo hay còn vụng về, chậm chạp?
- Có tài năng gì? (Hát, múa, kể chuyện, làm trò, bắt chước người khác )
3 Kết bài:
* Cảm nghĩ của em:- Yêu mến bé
- Thích chơi với bé
Trang 19* Một cụ già cao tuổi;
- Dáng người: to hay nhỏ; đi lại còn nhanh hay chậm chạp…
- Tóc bạc trắng như cước; da nhăn điểm những chấm đồi
mồi,…
- Đôi mắt: không còn tinh anh, đọc sách phải đeo kính,…
- Hàm răng:…
- Bàn tay: nổi những đường gân xanh;
- Hoạt động: dạy cháu học, kể chuyện,…
Dàn bài
I MỞ BÀI
- Giới thiệu cụ già em định tả.
II THÂN BÀI
- Tả hình dáng: gầy gò, ốm yếu hay to cao?…
+ Tuổi tác- dáng đi (chậm chạp, khệnh khạng hay còn nhanh nhẹn)
+ Tóc (bạc phơ hay còn đen) - mắt (mờ, màu hột nhãn)- da (những đường nhăn ở trán và gò
má sạm đen nhăn nheo, có điểm chấm đồi mồi) - (lưng còng)
+ Nụ cười hiền từ
- Tả tính tình: Yêu thương - nuông chiều con cháu - thích làm công việc nhẹ (dọn dẹp nhà cửa,
làm vườn, tưới cây, Hay thích văn nghệ, đánh cờ… ) – hiền từ, nhân hậu với mọi người.
- Chăm sóc cháu: ru ngủ, kể chuyện, dỗ dành cháu hoặc dạy cháu học bài, chơi cờ với cháu
III KẾT BÀI
- Tỏ lòng kính trọng ông (bà) Nguyện sẽ nghe theo lời dạy của ông (bà).