Mµ ®óng thËt.[r]
Trang 1lịch sử việt nam 1945 - 1954
I.Tình hình nớc ta sau CMT8:
Cách mạng tháng 8 thành công Ngày 2/9/1945, CHủ tịch Hồ Chí Minh
đọc bản tuyên ngôn Độc lập tuyên bố trớc quốc dân và thế giối: nớc VN dân chủ cộng hoà xã hội chủ nghĩa việt nam hoà ra đời
Lúc này đặc điểm nổi bật của tình hình quốc tế sau CTTG II là các lực l-ợng hoà bình, dân tộc, dân chủ trên TG đang trên đà tấn công mạnh mẽ vào chủ nghĩa đế quốc và các thế lực phản cách mạng dới nhioêù hình thức va ftính chất kác nhau Song các lực lợng đế quốc và các thế lực phản cách mạng cũng đang tìm mọi cách để phục hồi và phát trtiển vai trò của mình, phản kích mạnh mẽ các lực lợng hoà bình, dân tộc, dân chủ và CNXH
Những mâu thuẫn trên thế fgiới đang diễn ra khá phức tạp và ngày càng gay gắt
VN là một bộ phận của TG nên đã chịu tác động lớn của cuộc đối đầu gay gắt và phc stạp đó Vừa mới ra đời, nớc VN DC CH đã bị CNĐQ và các thế lực phản động liên kết với nhau bao vây, chống phá quyết liệt
Với danh nghĩa giải giáp quân đội Nhật, các đội quân đồng minh đã dồn dập kéo vào VN
ở miền Bắc, khoảng 20 vạn quân của Tởng Giới Thạch, gồm 4 quân đoàn
ồ ạt kéo vào đóng ở Hà Nội và hầu hết các thành phố, thị xã từ biên giới Việt – Trung đến vĩ tuyến 16 Chúng kéo vào VN nhằm thực hiện ý đồ tiêu diệt ĐCS
ĐD, phá tan Mặt trận Việt Minh, giúp bọn phản CMVN đánh đổ chính quyền nhân dân, lập 1 chính phủ phản động làm tay sai cho chúng Lực lợng của Tởng
và bọn tay sai phản động là kẻ thù nguy hiểm đang đe doạ hàng ngày, hàng giờ
đối với chính quyền cách mạng
ở miền Nam, tình hình còn nghioêm trọng hơn Ngoài việc lấy danh nghiũa quân đồng minh vào giải giáp quân Nhật từ vĩ tuyến 16 trở vào, quân đội Anh còn đồng loã và giúp cho thực dân Fáp quay lại xâm lợc nớc ta lần thứ 2 vào ngày 23/9/1945
Ngoài lực lợng của quân Tởng, Anh, Fáp, trên đất nớc ta lúc đó có khoảng
6 vạn quân Nhật Trong lúc chờ giải giáp, một bộ phận của quân đội Nhật đã đợc quân Anh sử dụng, đánh vào lực lợng vũ trang của ta, dọn đờng cho quân Fáp
đánh chiếm Sài Gòn và các vùng ở miền Nam
Dựa vào thế lực của quân đội nớc ngoài, các lực lợng phản CM trong cả
n-ớc đã lần lợt ngóc đầu dậy chống phá chính quyền CM
Cha lúc nào trên đất nớc VN có nhiều kẻ thù nh vậy! Nền Độc lập, tự do của nớc ta bị đe doạ nghiem trọng
Trong lúc đó, lực lợng mọi mặt của nớc VNDCCH cha kịp củng cố và phát triển
Chính phủ VNDCCH ra dời cha đợc 1 nớc nào trên TG công nhận
Khối đại đoàn kết toàn dân trong mặt trận dân tộc thống nhất và cơ cấu tổ chức chính quyền CM đang còn phải tiếp tục củng cố và mở rộng
Lực lợng vũ trang CM còn non trẻ, trang bị kém, thiếu thốn đủ mọi bề, kinh nghiệm chiến đấu còn quá ít
Mặt khác, nền kinh tế của đất nớc chủ yếu là nông nghiệp vốn đã nghèo nàn, lạc hậu, còn bị chiến tranh tàn phá nặng nề Công nghiệp lạc hậu và đình
đốn; nông nghiệp tiêu điều vì nạn lụt lớn làm vỡ đê 9 tỉnh Bắc Bộ, ròi đến hạn hán kéo dài, làm cho 50% ruộng đất bị bỏ hoang; Thơng nghiệp ngừng trệ, bế tắc, hàng hoá kan hiếm, giá cả tăng vọt; Tài chính cạn kiệt: kho bạc hầu nh trống rỗng, Ngân hàng Đông Dơng còn nằm trong tay t bản Fáp Thêm vào đó, quân T-ởng còn tung đồng ‘quan kim” và “quốc tệ” của chúng ra thị trờng, làm lũng
đoạn nặng nề hơn nền tài chính của ta
Nạn đói đầu năm 1945 vừa mới chấm dứt, đã cứơp đi sinh mệnh của 2 triệu đồng bào ta thì nguy cơ 1 nạn đói mới đang đe doạ dân ta
Trang 2Các “di sản” văn hoá lạc hậu của chế độ thực dân để lại khá nặng nề: hơn 90% không biết chữ, các tệ nạn xã hội nh mê tín dị đoan, rợu chè, cờ bạc, nghiện hút…rất trầm trọng và phổ biến
Giặc ngoài thù trong, khó khăn chồng chất khó khăn đè nặng lên đất nớc
ta, đặt chính quyền CM trớc 1 tình thế “ngàn cân treo sợi tóc”!
Vận mệnh độc lập, tự do của dân tộc vừa mới giành đợc đang đứng trứơc nguy cơ mất còn
II Hiệp định sơ bộ (6/3/1946) và tạm ớc Việt – Pháp (14/9/1946).
1 Hiệp định sơ bộ 6/3/1946:
* Hoàn cảnh:
Sau khi chiếm đóng các đô thị ở Nam Bộ và cực Nam trung Bộ, thực dân Fáp chuẩn bị tiến quân ra miền Bắc để thôn tính cả nớc ta
Lúc này ở miền Bắc nớc ta 20 vạn quân Tởng đang chiếm đóng và đàn áp CM
Trớc tình hình đó, ta chủ động đàm phán với Fáp, tạm hoà hoãn với chúng
để nhanh chóng gat6j 20 vạn quân Tởng về nớc và tranh thủ thời gian chuẩn bị lực lợng để bứơc vào cuộc chiến tranh với Fáp sau này
* Thời gian:
Vào 16 giờ ngày 6/3/1946, tại ngôi nhà số 38 phố Lí Thái Tổ, trớc mặt các
đại diện của các nớc Trung Hoa, Anh, và Mĩ, Chủ tịch HCM đã kí với Giăng Xanhtơni “Hiệp định sơ bộ” Bản phụ khoản cũng đợc đại diện 2 phía kí cùng 1 lúc
* Nội dung:
Chính phủ Fáp công nhận nớc VNDCCH là 1 quốc gia tự do có chính phủ của mình, nghị viện của mình, quân đội của mình, tài chính của mình và là 1 phần tử của liên bang Đông Dơng và trong khối liên hiệp Fáp
Vấn đề thống nhất 3 kì đợc chính phủ Fáp cam đoan thừa nhận những quyết định của nhân dân trực tiếp phán quyết
Chính phủ VN chấp nhận để 15.000 quân Fáp đa vào miền Bắc thay thế quân đội Tởng Giới Thạch Mỗi năm sẽ rút 1/5 số quân đó về Fáp và sau 5 năm
sẽ rút hết
Hai bên sẽ ngừng cuộc xung đột và giữ nguyên quân đội 2 bên tại vị trí cũ
để tạo bầu không khí êm dịu cần thiết cho việc mở ngay các cuộc điều đình thân thiện và thẳng thắn về các vấn đề ngoại giao của VN, chế độ tơng lai của Đông Dơng, những quyền lợi kinh tế và văn hoá của Fáp ở VN
Hà Nội, Sài Gòn hoặc Pari có thể đợc chọn làm nơi họp
* Nhận định:
Kí Hiệp định 6/3 là 1 bớc “hoà để tiến” của Đảng và Chính phủ ta Cuộc
đấu tranh của nhân dân VN để thực hiện Độc lập - Tự do - Hạnh phúc lập – chủ quyền – thống nhất còn trải qua nhiều khó khăn gian khổ
2 Tạm ớc 14/9/1946:
Sau khi kí Hiệp định Sơ bộ, thực dân Fáp vẫn tiếp tục gây xung đột vũ trang ở Nam Bộ, lập Chính phủ Nam Kì tự trị, âm mu tách Nam Bộ ra khỏi VN
Do sự đấu tranh kiên quyết của ta, cuộc đàm phán chính thức giã 2 Chính phủ
đựơc tổ chức tại Phôngtennơblô từ ngày 6/7 đến 10/9/1946 Hội nghị đã bàn các vấn đề: địa vị của VN trong khối Liên hiệp Fáp và những mối quan hệ ngoại giao giữa VN với các nớc, tổ chức Liên bang Đông Dơng, vấn đề thống nhất 3 kì và việc trng cầu dân ý ở Nam Bộ, những vấn đề kinh tế, vă hoá và soạn thảo dự án Hiệp ớc Nhng cuộc đàm phán đã thất bại
Trong khi đó, tại Đông Dơng, quân Fáp tăng cờng hoạt động khiêu khích Quan hệ Việt – Fáp ngày càng căng thẳng và có nguy cơ xảy ra chiến tranh
Trớc tình hình trên, để tranh thủ thêm thời gian hoà hoãn có lợi cho việc xây dựng đất nớc, chuẩn bị thực lực để bớc vào cuộc kháng chiến đoán chắc sẽ xảy ra, Chủ tịch HCM đã kí với Mutê - đại diện của Chính phủ Fáp, bản Tạm ớc vào đêm 14/9/1946
Trang 3Bản Tạm ớc gồm có 14 khoản, trong đó quy định 1 số điều quan hệ tạm thời về kinh tế và văn hoá giữa 2 nớc, đình chiến chiến sự ở miền Nam, quy định thời gian tiếp tục đàm phán Việt – Fáp vào đầu năm 1947
* Nhận định chung:
Thực hiện chủ trơng hoà hoãn, việc kí Hiệp định sơ bộ 6/3 và Tạm
-ớc 14/9/1946 của Chính phủ và Chủ tịch HCM là đúng đắn Phân tích, đánh giá chủ trơng đó, HCM nói: “Việc này cũng làm cho nhiều ngời thắc mắc và cho đó
là chính sách quá hữu Nhng các đồng chí và đồng bào Nam Bộ thì lại cho là
đúng Mà đúng thật Vì đồng bào và đồng chí ở Nam Bộ đã khéo lợi dụng dịp đó
để xây dựng và phát triển lực lợng của mình…
Chúng ta cần hoà bình để xây dựng nớc nhà, cho nên chúng ta đã ép lòng mà nhân nhợng để giữ hoà bình Dù thực dân Fáp đã bội ớc, đã gây chiến tranh, nhng gần 1 năm tạm hoà bình đã cho chúng ta thời giờ để xây dựng lực l-ợng căn bản Khi Fáp đã cố ý gây chiến tranh, chúng ta không thể nhịn nữa thì cuộc kháng chiến toàn quốc bắt đầu”
III Chiến dịch Việt bắc Thu - Đông 1947.
Để giải quyết khó khăn khi phạm vi chiếm đóng mở rộng và thực hiện âm
mu “Đánh nhanh thắng nhanh”, tháng 3/1947, Chính phủ Fáp cử Bô-la-éc làm cao uỷ Fáp ở Đông Dơng thay Đác-giăng-li-ơ
Kế hoạch tiến công lên Việt Bắc của quân đội Fáp, do tớng Salăng vạch ra,
đợc Chính phủ Fáp phê chuẩn tháng 7/1947 nhằm tiêu diệt cơ quan đầu não kháng chiến, tiêu diệt quân chủ lực của ta, phá hoại kho tàng, xởng máy, bao vây
và khoá chặt biên giới Việt – Trung, ngăn chặn giữa ta với quốc tế…, cố giành
1 thắng lợi về quân sự để tập hợp lực lợng phản động lập chính phủ bù nhìn tay sai và hi vọng kết thúc chiến tranh
Theo kế hoạch đó, ngày 7/10/1947, thực dân Fáp đã huy động lực lợng mở cuộc hành quân lên Việt Bắc mang mật danh LEA
Thực dân Fáp huy động 12 000 quân tinh nhuệ và hầu hết máy bay ở
Đông Dơng, chia thành 3 cánh, mở cuộc tiến công Căn cứ địa Việt Bắc:
Ngày 7/10/1947, binh đoàn quân dù do Xôvanhắc chỉ huy lần lợt đổ quân xuống thị xã Bắc Cạn, Chợ Mới, Chợ Đồn Cùng ngày, binh đoàn cơ giới do Bôphơrê chỉ huy, từ Lạng Sơn ngợc đờng số 4 lên Na Sầm, Thất Khê, đánh lên Cao Bằng rồi vòng xuống Bắc Cạn, tạo thành gọng kìm bao vây phía đông và phía bắc Căn cứ địa Việt Bắc
Ngày 9/10, 1 binh đoàn hỗn hợp bộ binh và lính thuỷ đánh bộ do Commuynan chỉ huy, từ Hà Nội ngợc sông hồng và sông Lô lên Tuyên Quang, Chiêm Hoá để đánh vào Đài Thị, bao vây phía tây Căn cứ địa Việt Bắc
Ngày 15/10/1947, Ban thờng vụ Trung ơng Đảng ra chỉ thị: Phải phá tan
cuộc tấn công mùa đông của giặc Fáp.
Nghiên cứu thế và lực của ta và địch trên chiến trờng, Bộ Tổng chỉ huy quyết định tập trung lực lợng đánh địch trên 3 mặt trận
ở mặt trận Sông Lô - Chiêm Hoá, quân ta liên tục chặn đánh địch hàng
chục trận, nổi bật là các trận Đoan Hùng, Khoan Bộ, Khe Lau, đánh chìm nhiều
tàu chiến, canô, diệt nhiều tên địch.
ở mặt trận đờng số 4, quân ta đã đánh nhiều trận phục kích, đặc biệt là
trận ở Bông Lau ngày 30/10/1947, phá huỷ nhiều xe của giặc, diệt nhiều tên
địch, thu nhiều vũ khí
ở mặt trận đừng số 3, quân ta đánh phục kích, tập kích, địa lôi trên 20 trận
lớn nhỏ ở Chợ Mới, Chợ Đồn…
Các gọng kìm của địch ở Việt Bắc bị bẻ gãy
Phối hợp với Việt Bắc, ở các chiến trờng trên toàn quốc, quân và dân ta đã hoạt động kiềm chế địch
Bị thất bại nặng nề, địch buộc phải rút chạy khỏi Việt Bắc
Trải qua 75 ngày đêm chiến đấu (7/10 đến 21/12/1947), quân và dân ta đã loại khỏi vòng chiến đấu hàng ngàn tên địch, thu và phá huỷ nhiều vũ khí, phơng tiện chiến tranh của chúng, giữu đợc căn cứ kháng chiến của cả nớc, bảo vệ an toàn cơ quan đầu não của cuộc kháng chiến và lực lợng chủ lực của ta
Trang 4Thắng lợi của cuộc phản công lớn ở Việt Bắc của quân và dân ta là 1 thắng lợi có ý nghĩa chiến lợc quan trọng trong năm đầu toàn quốc kháng chiến, giáng
1 đòn quyết định đập tan chiến lựơc “đánh nhanh, thắng nhanh” của thực dân Fáp, đa kháng chiến của dân tộc ta sang 1 giai đoạn mới – giai đoạn thứ 2 của cuộc kháng chiến