Tuy nhiên, ngoài một số ít công trình khoa học đề cập tới một vài khía cạnh của pháp luật về vận tải đa phương thức, hiện chưa có công trình khoa học nào mang tính chuyên sâu nghiên cứ[r]
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ TƯ PHÁP
TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI
NGUYỄN THỊ THU HẰNG
PHÁP LUẬT VỀ VẬN TẢI ĐA PHƯƠNG THỨC TRONG ĐIỀU KIỆN HỘI NHẬP QUỐC TẾ
LUẬN ÁN TIẾN SĨ LUẬT HỌC
Hà Nội - 2020
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ TƯ PHÁP
TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI
NGUYỄN THỊ THU HẰNG
PHÁP LUẬT VỀ VẬN TẢI ĐA PHƯƠNG THỨC TRONG ĐIỀU KIỆN HỘI NHẬP QUỐC TẾ
LUẬN ÁN TIẾN SĨ LUẬT HỌC
Chuyên ngành: Luật Kinh tế
Mã số: 9 38 01 07
Người hướng dẫn khoa học: 1 PGS.TS Vũ Thị Lan Anh
2 TS Nguyễn Thị Yến
Hà Nội - 2020
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình khoa học độc lập của riêng tôi Các kết quả nêu trong Luận án chưa được công bố trong bất kỳ công trình nào khác Các số liệu trong luận án là trung thực, có nguồn gốc rõ ràng, được trích dẫn đúng theo quy định
Tôi xin chịu trách nhiệm về tính chính xác và trung thực của Luận án này
Tác giả luận án
Nguyễn Thị Thu Hằng
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Lời đầu tiên, tôi xin bày tỏ sự kính trọng và lòng biết ơn sâu sắc đối với PGS.TS Vũ Thị Lan Anh và TS Nguyễn Thị Yến là những người hướng dẫn
đã tận tình chỉ bảo, giúp đỡ tôi trong suốt quá trình nghiên cứu và thực hiện luận án
Tôi xin trân trọng cảm ơn Ban Giám hiệu, các thầy giáo, cô giáo và cán
bộ Trường Đại học Luật Hà Nội đã tạo mọi điều kiện thuận lợi để giúp tôi hoàn thành khóa học cũng như bảo vệ thành công luận án
Tôi cũng xin gửi lời cảm ơn chân thành tới gia đình, bạn bè, đồng nghiệp đã luôn động viên và tạo điều kiện thuận lợi tôi có thể tập trung hoàn thành luận án
Tác giả luận án
Nguyễn Thị Thu Hằng
Trang 5MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
PHẦN TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU ĐỀ TÀI 9
1 Khái quát về tình hình nghiên cứu ở ngoài nước và Việt Nam 9
1.1 Tình hình nghiên cứu những vấn đề lý luận về vận tải đa phương thức 9
1.2 Tình hình nghiên cứu những vấn đề lý luận về pháp luật về vận tải đa phương thức 20
1.3 Tình hình nghiên cứu thực trạng pháp luật và thực tiễn thi hành pháp luật về vận tải đa phương thức 26
2 Những kết quả nghiên cứu đã đạt được và những vấn đề đặt ra cần được tiếp tục nghiên cứu, hoàn thiện trong Luận án 31
2.1 Những kết quả nghiên cứu đã đạt được 31
2.2 Những vấn đề đặt ra cần được tiếp tục nghiên cứu và hoàn thiện trong luận án 32 3 Cơ sở lý thuyết, câu hỏi và giả thuyết nghiên cứu 33
3.1 Cơ sở lý thuyết 33
3.2 Các câu hỏi nghiên cứu và giả thuyết nghiên cứu 34
KẾT LUẬN PHẦN TỔNG QUAN 35
Chương 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ VẬN TẢI ĐA PHƯƠNG THỨC VÀ PHÁP LUẬT VỀ VẬN TẢI ĐA PHƯƠNG THỨC 37
1.1 Những vấn đề lý luận về vận tải đa phương thức 37
1.1.1 Sự ra đời và phát triển của vận tải đa phương thức 37
1.1.2 Khái niệm vận tải đa phương thức 39
1.1.3 Đặc điểm của vận tải đa phương thức 46
1.1.4 Các mô hình vận tải đa phương thức và vai trò của vận tải đa phương thức 50
1.2 Những vấn đề lý luận pháp luật về vận tải đa phương thức 53
Trang 61.2.1 Khái niệm pháp luật về vận tải đa phương thức 53
1.2.2 Cấu trúc hình thức và nội dung của pháp luật vận tải đa phương thức 55 1.2.3 Các nguyên tắc của pháp luật vận tải đa phương thức 67
1.2.4 Sự phát triển của pháp luật về vận tải đa phương thức ở Việt Nam 71
1.2.5 Các yếu tố ảnh hưởng đến pháp luật vận tải đa phương thức trong điều kiện hội nhập quốc tế 74
KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 85
Chương 2: THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VÀ THỰC TIỄN THI HÀNH PHÁP LUẬT VỀ VẬN TẢI ĐA PHƯƠNG THỨC Ở VIỆT NAM 86
2.1 Thực trạng pháp luật về vận tải đa phương thức 86
2.1.1 Thực trạng pháp luật về điều kiện kinh doanh vận tải đa phương thức 86
2.1.2 Thực trạng pháp luật về chủ thể quan hệ vận tải đa phương thức 90
2.1.3 Thực trạng pháp luật về hợp đồng vận tải đa phương thức 98
2.1.4 Thực trạng pháp luật về giải quyết tranh chấp 122
2.2 Thực tiễn thi hành pháp luật về vận tải đa phương thức 130
2.2.1 Những kết quả đạt được trong thi hành pháp luật về vận tải đa phương thức 130 2.2.2 Những hạn chế, bất cập và nguyên nhân 136
KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 146
Chương 3: ĐỊNH HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VÀ NÂNG CAO HIỆU QUẢ THI HÀNH PHÁP LUẬT VỀ VẬN TẢI ĐA PHƯƠNG THỨC Ở VIỆT NAM TRONG ĐIỀU KIỆN HỘI NHẬP QUỐC TẾ 147
3.1 Bối cảnh phát triển của vận tải đa phương thức và những yêu cầu đặt ra đối với pháp luật về vận tải đa phương thức ở Việt Nam trong điều kiện hội nhập quốc tế 147
3.1.1 Bối cảnh phát triển của vận tải đa phương thức ở Việt Nam trong điều kiện hội nhập quốc tế 147
3.1.2 Những yêu cầu đặt ra đối với pháp luật về vận tải đa phương thức ở Việt Nam trong điều kiện hội nhập quốc tế 151
Trang 73.2 Định hướng hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật về vận tải đa phương thức trong điều kiện hội nhập quốc tế ở Việt Nam
152
3.2.1 Đảm bảo sự phù hợp với chủ trương, chính sách của Đảng và
Nhà nước 152
3.2.2 Đảm bảo sự thống nhất trong hệ thống các quy định pháp luật về vận chuyển hàng hóa nói chung và vận tải đa phương thức 156
3.2.3 Đảm bảo sự đồng bộ trong hoàn thiện thể chế, tạo hành lang pháp lý, bổ sung các tiêu chuẩn kỹ thuật cho vận tải hàng hóa 157
3.2.4 Đảm bảo sự tương thích với pháp luật quốc tế để tăng cường hội nhập 158 3.3 Một số giải pháp hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật về vận tải đa phương thức 160
3.3.1 Các giải pháp hoàn thiện pháp luật về vận tải đa phương thức 160
3.3.2 Các giải pháp nâng cao hiệu quả thực hiện các quy định pháp luật về vận tải đa phương thức 169
KẾT LUẬN CHƯƠNG 3 175
KẾT LUẬN CỦA LUẬN ÁN 176
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 178
Trang 8DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT TRONG LUẬN ÁN
Hiệp Hội các quốc gia Đông Nam Á
(Association of Southeast Asia Nations)
ASEAN
Hiệp định thương mại tự do
(Free Trade Agreement)
FTA
Hiệp định khung ASEAN về Vận tải đa phương thức
(ASEAN Framework Agreement on Multimodal Transport)
AFAMT
Người kinh doanh vận tải đa phương thức
(Multimodal Transport operator)
MTO
Trang 9MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Cùng với sự phát triển của tự do hoá thương mại, sự tiến bộ của khoa học
kỹ thuật và công nghệ trong vận tải, vận tải đa phương thức đã nhanh chóng trở thành một phương pháp vận tải hàng hoá tiên tiến đã và đang được sử dụng rộng rãi trên thế giới, đặc biệt là trong việc vận chuyển hàng hoá liên quốc gia Sự ra đời và phát triển của phương pháp vận tải này đã góp phần đổi mới cách vận chuyển hàng hoá, hạn chế thời gian hàng hoá phải lưu kho, đơn giản hoá về thủ tục, nâng cao chất lượng dịch vụ cũng như nâng cao mức độ an toàn cho hàng hoá trong quá trình vận chuyển, giảm cước phí vận chuyển Vì vậy, phát triển dịch
vụ vận chuyển hàng hoá bằng vận tải đa phương thức là một xu hướng tất yếu nhằm đáp ứng yêu cầu giao lưu thương mại và hội nhập kinh tế trên thế giới
Chiến lược phát triển giao thông vận tải Việt Nam đến năm 2020, tầm nhìn
đến năm 2030 đã nêu: "Giao thông vận tải là một bộ phận quan trọng trong kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội, một trong ba khâu đột phá cần ưu tiên phát triển đi trước một bước với tốc độ nhanh, bền vững nhằm tạo tiền đề cho phát triển kinh
tế - xã hội, bảo đảm quốc phòng an ninh, phục vụ sự nghiệp công nghiệp hoá - hiện đại hoá đất nước"1 Sự phát triển của giao thông vận tải không chỉ là tiền đề
mà cũng là kết quả của sự phát triển kinh tế - xã hội Thực tế cho thấy, gắn với những thành tựu đã đạt được về tăng trưởng kinh tế, hội nhập quốc tế, nhu cầu về giao thông vận tải cũng gia tăng nhanh chóng, quy mô dịch vụ vận chuyển hàng hoá ở nước ta trong những năm qua không ngừng được mở rộng Theo đánh giá của Ngân hàng Thế giới (Wold Bank) nhu cầu giao thông vận tải và tăng trưởng kinh tế có mối quan hệ mật thiết với nhau Trong những năm gần đây, tốc độ tăng trưởng tổng sản phẩm quốc nội (GDP) của Việt Nam luôn duy trì ở mức cao: năm
2015 tăng 6,68%; năm 2016 tăng 6,21%; năm 2017 tăng 6,81 %; năm 2018 ước
1 Quyết định số 355/QĐ-TTg ngày 25/2/2013 của Thủ tướng Chính phủ về việc “Phê duyệt điều
chỉnh Chiến lược phát triển GTVT Việt Nam đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030”.
Trang 10tính tăng 7,08%; năm 2019 tăng 7,02%2 Sự tăng trưởng kinh tế mạnh mẽ của Việt Nam là kết quả của quá trình mở rộng sản xuất gắn liền với thương mại quốc tế và được thúc đẩy bởi sự hội nhập ngày càng sâu rộng vào nền kinh tế thế giới Cải thiện có hiệu quả vận tải hàng hóa, với tính chất là xương sống của thương mại hàng hóa, gắn với hoạt động xuất - nhập khẩu trở thành một động lực để phát triển kinh tế bền vững Tốc độ tăng trưởng kinh tế đang tạo ra nhu cầu ngày càng cao đối với giao thông vận tải Theo Báo cáo Logistics năm 2018 của Bộ Công thương, chỉ riêng vận chuyển hàng hóa bằng đường biển năm 2017, sản lượng hàng hóa thông qua cảng biển Việt Nam ước đạt 536,4 triệu tấn, tăng 17% so với năm 2016, trong đó tỷ lệ hàng hóa xuất nhập khẩu của Việt Nam được vận chuyển bằng đường biển chiếm khoảng 90% Cũng theo báo cáo này, trong 9 tháng đầu năm 2018, vận tải hàng hóa bằng đường bộ đạt 934,7 triệu tấn, tăng 10,8% so với cùng kỳ năm 2017; vận tải thuỷ nội địa trong 8 tháng đầu năm 2018 đạt 189,5 triệu tấn,
thay đổi đáng kể, phát triển dịch vụ vận chuyển hàng hoá bằng vận tải đa phương thức trở thành một xu hướng tất yếu nhằm đáp ứng yêu cầu giao lưu thương mại
và hội nhập kinh tế trên thế giới Để đáp ứng nhu cầu về vận tải hàng hoá, yêu cầu phát triển kinh tế bền vững, đi đôi với việc bảo đảm sự phát triển cân đối hài hoà của các phương thức vận chuyển cần phải xây dựng sự phối hợp giữa các phương thức vận chuyển truyền thống nhằm nâng cao hiệu quả của hoạt động này Xây dựng thị trường vận tải cạnh tranh, tăng cường kết nối vận tải đa phương thức đang là chính sách được nhà nước quan tâm triển khai thực hiện Trong các chiến lược phát triển giao thông vận tải của Việt Nam, phát triển vận tải đa phương thức luôn được đề cập tới như một mục tiêu trong hiện đại hoá giao thông vận tải, ứng dụng công nghệ vận tải tiên tiến, tạo lập sự kết nối giữa các phương thức vận tải nhằm xây dựng hệ thống vận tải đồng bộ, liên hoàn và hiệu quả
2 Số liệu của Tổng cục thống kê, nguồn: https://www.gso.gov.vn, truy cập ngày 12/1/2020
3 Bộ công thương (2019), Báo cáo Logistics Việt Nam 2019, tr.54,55,58
Trang 11Là một hình thức vận chuyển hàng hoá đặc thù dựa trên sự kết hợp của ít nhất hai phương thức vận chuyển truyền thống, vận tải đa phương thức đòi hỏi được điều chỉnh bằng những quy định pháp luật riêng nhằm giải quyết những vấn
đề pháp lý phát sinh trong toàn bộ chuỗi vận tải mà không chỉ sử dụng khuôn khổ pháp lý đang được áp dụng cho từng phương thức vận chuyển riêng lẻ Tuy nhiên,
hệ thống các quy định pháp luật về vận tải đa phương thức của nước ta so với yêu cầu thực tế của vận tải đa phương thức còn chưa tương xứng, chưa thực sự đóng vai trò định hướng và thúc đẩy sự phát triển của loại hình vận chuyển hàng hoá này ở Việt Nam, cũng như chưa tạo lập hành lang pháp lý đầy đủ cho việc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các chủ thể tham gia quan hệ vận tải đa phương thức Nếu như trong khu vực, Ấn Độ từ năm 1993 đã ban hành Luật về vận tải đa phương thức (The Multimodal Transportation of Goods Act, 1993), Luật hợp đồng của Trung Quốc năm 1999 đã quy định về hợp đồng vận tải đa phương thức (Mục
4, Chương 17, Contract Law of the People’s Republic of China, 1999), Thái Lan ban hành Luật vận tải đa phương thức năm 2005 (The Multimodal Transport Act, B.E 2548), thì Việt Nam đến năm 2003 mới có Nghị định đầu tiên trực tiếp quy định về vận tải đa phương thức (Nghị định số 125/2003/NĐ-CP Nghị định số 87/2009/NĐ-CP) và cho đến nay vẫn chưa có Luật về vận tải đa phương thức Đây cũng là lý do khiến các chuyên gia quốc tế đánh giá : “Xét về cơ sở hạ tầng và hành lang pháp lý, mạng lưới giao thông vận tải đa phương thức của Việt Nam
Việc nghiên cứu và đưa ra những đề xuất hoàn thiện các quy định pháp luật
về vận tải đa phương thức nhằm góp phần hoàn thiện hệ thống văn bản quy phạm pháp luật, nâng cao hiệu quả áp dụng của các quy phạm pháp luật về hoạt động vận chuyển hàng hoá nói chung, vận tải đa phương thức nói riêng, đáp ứng xu thế
4 Woldbank (2014), Facilitating Trade through Competitive, Low-Carbon Transport: The Case for
Vietnam's Inland and Coastal Waterways, nguồn:
https://openknowledge.worldbank.org/bitstream/handle/10986/16321/9781464801051.pdf?sequenc e=1&isAllowed=y
Trang 12phát triển của vận tải đa phương thức tại Việt Nam trong giai đoạn hội nhập quốc
tế hiện nay là rất cần thiết Tuy nhiên, ngoài một số ít công trình khoa học đề cập tới một vài khía cạnh của pháp luật về vận tải đa phương thức, hiện chưa có công trình khoa học nào mang tính chuyên sâu nghiên cứu xây dựng hệ thống lý luận
về pháp luật về vận tải đa phương thức, nghiên cứu thực trạng pháp luật về vận tải
đa phương thức của Việt Nam và đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật về vận tải đa phương thức ở Việt Nam
Vì vậy, tác giả đã lựa chọn đề tài: “Pháp luật về vận tải đa phương thức trong điều kiện hội nhập quốc tế” làm đề tài nghiên cứu luận án tiến sĩ luật học
của mình
2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
Mục đích của đề tài là trên cơ sở làm sáng tỏ những vấn đề lý luận về vận tải đa phương thức, pháp luật về vận tải đa phương thức; đánh giá thực trạng pháp luật và hiệu quả thi hành pháp luật về vận tải đa phương thức tại Việt Nam, đề xuất một số giải pháp hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật
về vận tải đa phương thức
Để đạt được mục đích đó, nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài bao gồm:
Thứ nhất, nghiên cứu các vấn đề lý luận về vận tải đa phương thức ở các nội
dung: khái niệm, các đặc điểm pháp lý, lịch sử hình thành, các mô hình, vai trò của vận tải đa phương thức
Thứ hai, nghiên cứu các vấn đề lý luận về pháp luật về vận tải đa phương
thức, xác định các yếu tố chi phối pháp luật về vận tải đa phương thức gắn với bối cảnh hội nhập quốc tế
Thứ ba, phân tích, đánh giá ưu điểm và hạn chế trong các quy định pháp luật
hiện hành và hiệu quả thi hành pháp luật về vận tải đa phương thức của Việt Nam; nghiên cứu và so sánh các quy định của pháp luật Việt Nam với các quy định pháp luật quốc tế và pháp luật của các quốc gia khác về vận tải đa phương thức
Trang 13Thứ tư, nghiên cứu đề xuất các giải pháp hoàn thiện các quy định pháp luật
và nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật về vận tải đa phương thức trên cơ sở phù hợp với chủ trương đường lối của Đảng và chính sách của Nhà nước, đáp ứng quy luật vận động của nền kinh tế thị trường và yêu cầu của quá trình hội nhập quốc
tế ở nước ta
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận án là: Các quan điểm khoa học về vận tải
đa phương thức và pháp luật về vận tải đa phương thức; hệ thống các quy định pháp luật hiện hành về vận tải đa phương thức của Việt Nam; một số quy định về vận tải đa phương thức trong các điều ước quốc tế và pháp luật của một số quốc gia về vận tải đa phương thức; thực tiễn thi hành pháp luật về vận tải đa phương thức ở Việt Nam trong những năm qua
Phạm vi nghiên cứu của luận án được giới hạn như sau:
Về không gian, luận án tập trung nghiên cứu các quy định pháp luật và thực
tiễn thi hành pháp luật về vận tải đa phương thức ở Việt Nam Trong luận án, tác
giả có đề cập tới một số quy định pháp luật quốc tế, khu vực và pháp luật của một
số quốc gia khác chỉ nhằm mục đích tham khảo và so sánh luật, thông qua đó rút
ra bài học kinh nghiệm để hoàn thiện pháp luật Việt Nam
Về thời gian, luận án nghiên cứu điều kiện kinh tế - xã hội, pháp luật Việt
Nam trong thời kỳ hội nhập quốc tế (được xác định từ thời điểm khái niệm “hội nhập” được đề cập chính thức tại Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VIII, năm 1996)
Về nội dung, luận án nghiên cứu các quy định pháp luật của Việt Nam trực
tiếp điều chỉnh quan hệ xã hội phát sinh trong vận tải đa phương thức Các quy định pháp luật điều chỉnh các quan hệ liên quan đến hoạt động vận tải đa phương thức như bảo hiểm, đại lý vận tải, xếp dỡ và giao nhận hàng hóa… sẽ không thuộc phạm vi nghiên cứu của luận án
4 Phương pháp nghiên cứu