[r]
Trang 10
Nội dung
Nguồn gốc nhà nước
Khái niệm và bản chất của nhà nước
Đặc trưng của nhà nước
Chức năng nhà nước
Bộ máy nhà nước
Hình thức nhà nước
Kiểu nhà nước
Sau khi học bài này, các bạn có thể:
Chỉ ra được sự khác biệt các quan điểm
khác nhau về sự ra đời của nhà nước
Nắm bắt được khái niệm nhà nước và
bản chất của nhà nước
Xác định các đặc trưng của nhà nước
Nhìn nhận và đánh giá ban đầu về chức
năng của nhà nước, bộ máy nhà nước
Phân loại các hình thức nhà nước và các
kiểu nhà nước
Thời lượng học
6 tiết
Nghe giảng và đọc tài liệu để nắm bắt các nội dung chính
Đặt câu hỏi ngay nếu có thắc mắc
Trả lời các câu hỏi ôn tập
Bài 1: SỰ HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN CỦA NHÀ NƯỚC
Trang 2Cùng với sự xuất hiện và phát triển, nhà nước và pháp luật có mối quan hệ hữu cơ với nhau Chúng tạo thành hạt nhân chính trị – pháp lý của thượng tầng kiến trúc của xã hội Nhà nước không thể tồn tại nếu thiếu pháp luật, bởi vì theo nghĩa chung nhất, nhà nước là tổ chức được hình thành từ những quy định của pháp luật Và ngược lại, pháp luật là sản phẩm của quyền lực nhà nước, thể hiện ý chí hợp quy luật và điều kiện khách quan do nhà nước nhận thức được Chính vì vậy, việc tìm hiểu đến sự hình thành và phát triển của nhà nước sẽ là tiền đề để hiểu rõ bản chất của pháp luật Bởi nhà nước là một hiện tượng xã hội đa dạng và phức tạp liên quan chặt chẽ đến lợi ích của giai cấp, tầng lớp, dân tộc Để nhận thức đúng đắn bản chất, vai trò của nhà nước, trước hết làm sáng tỏ nguồn gốc của nhà nước, chỉ ra nguyên nhân cội nguồn làm xuất hiện nhà nước
Trong lịch sử chính trị – pháp lý, ngay từ thời kỳ cổ đại, trung đại và cận đại đã có nhiều nhà tư tưởng đề cập tới vấn đề nguồn gốc của nhà nước Xuất phát từ các góc độ khác nhau, các nhà tư tưởng trong lịch sử đã có những lý giải khác nhau về vấn đề nguồn gốc của nhà nước
1.1.1 Các quan điểm về nguồn gốc nhà nước trước Mác-Lênin
Các nhà tư tưởng theo thuyết thần học là những nhà tư tưởng cổ điển nhất đưa ra nguồn gốc của nhà nước
o Đại diện cho trường phái này gồm Ph.Acvin (trong xã hội trung cổ); Masiten Koct Phlore (trong xã hội tư sản)
o Thuyết này cho rằng Thượng đế là người sắp đặt trật tự trong xã hội, nhà nước
là do thượng đế sáng tạo ra để bảo vệ trật tự chung Nhà nước là lực lượng siêu nhiên
o Do vậy, Nhà nước là thiết chế quyền lực của thượng đế; quyền lực của thượng đế
là vĩnh cửu Có thể nhận thấy nhà nước theo thuyết này là sự phái sinh từ quyền lực của Thượng đế
Thuyết gia trưởng (Arixtôn, Philmer, Mikhailôp, Merđoóc,…) cho rằng nhà nước ra đời là sự phát triển của gia đình, là hình thức tổ chức tự nhiên của cuộc sống con người Nhà nước thực chất là một gia tộc mở rộng và quyền lực nhà nước là sự mở rộng của quyền gia trưởng
Từ thế kỷ XVI – XVIII cùng với trào lưu cách mạng tư sản, đã xuất hiện hàng loạt quan điểm mới về nhà nước, trong đó có thuyết khế ước xã hội
o Những người đại diện cho học thuyết này gồm có Grôxi, Xpirôza, Gốp, Lôre, Rútxô, cho rằng sự ra đời của nhà nước là kết quả của một khế ước (hợp đồng) được ký kết giữa những con người sống trong trạng thái tự nhiên không nhà nước
o Sự ra đời của học thuyết này, đánh dấu một bước phát triển nhận thức mới của con người về nguồn gốc nhà nước, thể hiện sự tiến bộ của loài người và phủ nhận thuyết thần học về sự ra đời của nhà nước, đồng thời coi quyền lực nhà nước là sản phẩm hoạt động của con người
o Con người từ trạng thái tự nhiên đã tự nguyện liên kết lại thành nhà nước trên cơ
sở khế ước xã hội với những điều kiện và sự ràng buộc nhất định như đóng thuế
để nuôi dưỡng bộ máy nhà nước, trao cho nhà nước một số quyền lực và phục
Trang 3tùng nó; còn ngược lại, nhà nước phải có trách nhiệm duy trì trật tự xã hội và bảo
vệ các quyền và tự do của người dân,… Trường hợp nhà nước không giữ được vai trò của mình, các quyền tự nhiên bị vi phạm thì khế ước sẽ mất hiệu lực và nhân dân có quyền lật đổ nhà nước và ký khế ước mới Vì vậy, thuyết khế ước xã hội đã trở thành cơ sở tư tưởng cho cách mạng tư sản, lật đổ chế độ phong kiến, với ý nghĩa đó, nó có tính cách mạng và giá trị lịch sử nhất định
o Tuy nhiên, thuyết khế ước xã hội vẫn có những hạn chế nhất định, về căn bản các nhà tư tưởng vẫn đứng trên lập trường quan điểm của chủ nghĩa duy tâm để giải thích sự xuất hiện của nhà nước, bản chất của nhà nước và sự thay thế nhà nước
Nó chưa lý giải được nguồn gốc vật chất và bản chất giai cấp của nhà nước
Ngày càng có nhiều nhà tư tưởng tư sản thừa nhận nhà nước là sản phẩm của đấu tranh giai cấp, là tổ chức quyền lực của xã hội có giai cấp, nhưng mặt khác họ vẫn không chịu thừa nhận bản chất giai cấp của nhà nước mà coi nhà nước vẫn là công cụ đứng ngoài bản chất giai cấp, không mang tính giai cấp, là cơ quan trọng tài để điều hoà mâu thuẫn giai cấp Vì thế, trong lịch sử tư tưởng chính trị – pháp lý xuất hiện một học thuyết khác của các nhà tư tưởng tư sản về nguồn gốc nhà nước, đó là: thuyết bạo lực Đại diện cho những nhà tư tưởng theo học thuyết này là Gumplôvích,
E Đuyrinh, Kauxky Thuyết bạo lực cho rằng: nhà nước xuất hiện trực tiếp từ việc
sử dụng bạo lực của thị tộc này với thị tộc khác, thị tộc chiến thắng đã lập ra bộ máy đặc biệt (nhà nước) để nô dịch thị tộc chiến bại
Nhìn chung, tất cả các quan điểm trên đều có một hạn chế là đều tách rời những điều kiện vật chất của xã hội, tách rời những nguyên nhân kinh tế và chứng minh rằng nhà nước là một thiết chế tồn tại trong mọi xã hội, một lực lượng đứng trên xã hội, đứng ngoài xã hội để giải quyết các tranh chấp, điều hòa mâu thuẫn xã hội nhằm bảo đảm
sự ổn định và phồn vinh cho xã hội Theo họ, nhà nước không thuộc giai cấp nào, nhà nước là của tất cả mọi người và nhà nước tồn tại mãi mãi cùng xã hội
1.1.2 Quan điểm Mác-Lênin về nguồn gốc của nhà nước
Kế thừa những thành tựu nghiên cứu khoa học của xã hội loài người, các nhà sáng lập Chủ nghĩa Mác-Lênin giải thích nguồn gốc của nhà nước trên cơ sở phương pháp luận duy vật biện chứng và lịch sử đã chỉ ra rằng nhà nước là một phạm trù lịch sử có quá trình phát sinh, phát triển và tiêu vong Nhà nước nảy sinh từ trong đời sống xã hội, xuất hiện khi xã hội loài người phát triển đến một trình độ nhất định Các luận điểm quan trọng của học thuyết Mác-Lênin về nguồn gốc nhà nước được trình bày tập trung trong tác phẩm “Nguồn gốc của gia đình, chế độ sở hữu và của nhà nước” của Ph.Ănghen Qua tác phẩm này, Ph.Ănghen đã phân tích các vấn đề về gia đình, nguồn gốc của giai cấp và của nhà nước và những quy luật tiếp tục phát triển và biến đổi sau này của chúng Ph.Ănghen đã chỉ ra rằng nhà nước chỉ ra đời ở một giai đoạn lịch sử nhất định của xã hội trên cơ sở xuất hiện chế độ tư hữu và gắn liền với nó là sự phân chia xã hội thành các giai cấp đối kháng, ông cũng luận chứng về tính chất giai cấp và tính lịch sử của nhà nước, làm sáng tỏ chức năng giai cấp cơ bản của nhà nước Sau đó được bổ sung và phát triển trong tác phẩm “nhà nước và cách mạng” của Lênin
Chế độ cộng sản nguyên thủy, tổ chức thị tộc – bộ lạc và quyền lực xã hội
o Cơ sở kinh tế của xã hội cộng sản nguyên thủy là chế độ sở hữu chung về tư liệu sản xuất và sản phẩm lao động xã hội, được quy định bởi trình độ thấp kém của
Trang 4lực lượng sản xuất Chỉ với công cụ lao động thô sơ, năng suất lao động kém, sự bất lực của con người trước thiên nhiên đã hợp nhất con người trong một tập thể Lao động chung dẫn đến sở hữu chung về tư liệu sản xuất và việc phân phối đồng đều sản phẩm làm ra
o Cấu trúc xã hội cộng sản nguyên thủy dựa vào thị tộc – tế bào cơ sở của xã hội cộng sản nguyên thủy
Từ quan hệ tạp hôn, con cái chỉ biết mẹ, dần dần trong quan hệ hôn nhân diễn
ra sự biến đổi quan trọng: những người cùng dòng máu mẹ không kết hôn với nhau, những người này hợp thành một cộng đồng gọi là thị tộc Như vậy, thị tộc được hợp thành do quan hệ huyết thống
Về kinh tế, thị tộc hình thành do quá trình phát triển của lực lượng sản xuất Thị tộc phát triển qua hai giai đoạn: thị tộc mẫu hệ và thị tộc phụ hệ Trong xã hội phụ hệ, chế độ hôn nhân một vợ một chồng được xác lập, mọi người trong thị tộc đều theo dòng họ cha, đó là chế độ phụ quyền Thị tộc có ruộng đất, có khu vực cư trú riêng
Việc điều hành và quản lý thị tộc do tù trưởng và thủ lĩnh quân sự đảm đương Những người này do các thành viên của thị tộc bầu ra
Thị tộc là kết quả của quá trình tiến hóa lâu dài, xuất hiện khi xã hội đã phát triển tới một trình độ nhất định Vì vậy, đây được coi là bước tiến trong lịch
sử của nhân loại
Trong thị tộc, trên cơ sở sở hữu chung về tư liệu sản xuất và sản phẩm, mọi người đều bình đẳng không ai có đặc quyền đặc lợi Ở đó đã có sự phân công lao động nhưng chỉ ở mức phân công lao động giữa đàn ông và đàn bà, người già và trẻ nhỏ để thực hiện các loại công việc khác nhau, chứ chưa mang tính
xã hội
Hội đồng thị tộc là tổ chức quyền lực cao nhất của thị tộc bao gồm những người đàn ông và đàn bà lớn tuổi Hội đồng thị tộc quyết định tất cả các vấn
đề quan trọng của thị tộc như tổ chức lao động sản xuất, giải quyết các tranh chấp nội bộ, tiến hành chiến tranh Quyết định của hội đồng thị tộc có tính bắt buộc đối với tất cả mọi người
Nhưng trong thị tộc chưa có cơ quan cưỡng chế mà được bảo đảm bằng sự cưỡng chế tự nhiên mạnh mẽ Hội đồng thị tộc sẽ bầu ra người đừng đầu thị tộc gồm tù trưởng, thủ lĩnh quân sự để thực hiện quyền lực, quản lý công việc chung Căn cứ để bầu người đứng đầu thị tộc là dựa vào tập thể cộng đồng, uy tín cá nhân, sự ủng hộ và tín nhiệm của các thành viên trong thị tộc Do đó, tù trưởng, thủ lĩnh quân sự có thể bị bãi nhiễm bất cứ lúc nào nếu uy tín không còn và không được tập thể cộng đồng ủng hộ
o Thị tộc là một cộng đồng xã hội độc lập, là tổ chức tế bào cơ sở của xã hội cộng sản nguyên thủy Đến một giai đoạn phát triển nhất định, do có sự cấm đoán hôn nhân trong nội bộ thị tộc mà các thành viên của thị tộc này đã có quan hệ hôn nhân với các thành viên của thị tộc khác hình thành nên chế độ hôn nhân ngoại tộc Các thị tộc mà các thành viên có quan hệ ngoại tộc với nhau hợp lại thành bào tộc Nhiều bào tộc liên kết lại với nhau thành bộ lạc Bộ lạc có tên gọi, nơi ở, tiếng nói, phong tục tập quán, ruộng đất,… riêng
Trang 5 Đứng đầu bộ lạc là tù trưởng bộ lạc do hội nghị bộ lạc bầu ra Tù trưởng bộ lạc có quyền giải quyết những công việc gấp, không quan trọng giữa hai kỳ hội nghị bộ lạc và có quyền triệu tập hội nghị
Hội đồng bộ lạc bao gồm: tù trưởng bộ lạc, các tù trưởng và thủ lĩnh quân sự của thị tộc Quản lý công việc của thị tộc là một trưởng lão già nhất trong thị tộc Nên hội đồng bộ lạc còn được gọi là hội đồng trưởng lão
Hội đồng bộ lạc có quyền thảo luận, quyết định những vấn đề quan trọng của
bộ lạc như tuyên chiến, đình chiến, cử sứ giả đi hoặc chia chiến lợi phẩm,…
o Và đến giai đoạn cuối cùng của chế độ cộng sản nguyên thủy thì các liên minh bộ lạc hình thành
Hội đồng liên minh bộ lạc gồm những tù trưởng của các bộ lạc và các thị tộc
Hội đồng thảo luận và quyết định những công việc của liên minh theo phương thức dân chủ Mọi quyết định phải được sự nhất trí hoàn toàn của các thành viên Các quyết định đó khi đưa về các bộ lạc cũng phải được hội đồng bộ lạc tán thành thì mới có hiệu lực
Liên minh bộ lạc có hai thủ lĩnh tối cao, không ai hơn ai về quyền hạn và chức trách
o Về cơ bản, tính chất quyền lực, cách thức tổ chức quyền lực trong bào tộc, bộ lạc, liên minh bộ lạc được xây dựng trên cơ sở những nguyên tắc trong xã hội thị tộc nhưng chừng mực nào đó thì được tập trung cao hơn
o Trong xã hội cộng sản nguyên thủy, quyền lực đều xuất phát từ xã hội và phục vụ lợi ích của cả cộng đồng Quyền lực trong chế độ cộng sản nguyên thủy mới chỉ
là quyền lực xã hội do toàn xã hội tổ chức và phục vụ lợi ích cho cả cộng đồng
o Tóm lại, trong xã hội cộng sản nguyên thủy, quyền lực xã hội được tổ chức thực hiện trên cơ sở dân chủ thực sự Những quy tắc xã hội như đạo đức, tôn giáo, tập quán,…dùng để điều chỉnh các thành viên trong xã hội cộng sản nguyên thủy Các quy tắc xã hội đó đều được mọi người tự giác tuân theo và được đảm bảo thực hiện bởi sự cưỡng chế của cộng đồng
Sự tan rã của tổ chức thị tộc và sự xuất hiện nhà nước
o Xã hội cộng sản nguyên thuỷ chưa biết đến nhà nước, nhưng chính trong lòng xã hội đó đã nảy sinh những tiền đề vật chất cho sự ra đời của nhà nước Những nguyên nhân làm xã hội cộng sản nguyên thuỷ tan rã đồng thời cũng là những nguyên nhân xuất hiện nhà nước, đó là sự phân công lao động xã hội
o Lịch sử xã hội cổ đại đã trải qua ba lần phân công lao động xã hội, đó là: chăn nuôi tách khỏi trồng trọt; thủ công nghiệp tách khỏi nông nghiệp; và thương nghiệp xuất hiện
Việc con người thuần dưỡng được động vật đã mở ra một kỷ nguyên mới trong sự phát triển của xã hội loài người Từ con vật nuôi được thuần dưỡng, hình thành đàn gia súc đã trở thành nguồn tích lũy quan trọng Do vậy, sau lần phân công lao động thứ nhất, chăn nuôi đã trở thành ngành kinh tế tách khỏi trồng trọt, có những bộ lạc chuyên về chăn nuôi và có những bộ lạc chuyên về trồng trọt Và mầm mống của chế độ tư hữu đã xuất hiện Năng suất lao động được nâng cao, làm cho sản xuất sản phẩm xã hội tăng nhanh Ngoài tiêu
Trang 6dùng hàng ngày, con người đã có của cải dư thừa để dành Trong các cộng đồng, những người có địa vị đã chiếm được nhiều của cải dư thừa của tập thể
Xã hội đã phân chia thành người giàu và người nghèo dẫn đến quan hệ xã hội
đã có nhiều biến đổi Đại gia đình phụ quyền được phân thành nhiều gia đình nhỏ, bao gồm vợ chồng và con cái Mỗi gia đình nhỏ là một đơn vị kinh tế, có tài sản riêng như công cụ sản xuất, tư liệu lao động và những thứ đó được truyền lại cho con cái từ đời này qua đời khác, củng cố thêm chế độ tư hữu Bên cạnh đó, của cải và tù binh trong chiến tranh cũng được coi là tài sản quan trọng mà những người có địa vị trong bộ lạc thắng trận chiếm đoạt cho riêng mình
Xã hội tiếp tục phát triển, cùng với sự tồn tại của chăn nuôi và trồng trọt, thủ công nghiệp cũng được phát triển mạnh mẽ Việc tìm ra kim loại và chế tạo công cụ bằng kim loại tạo khả năng tăng năng suất lao động Nghề chế tạo kim loại, nghề dệt, nghề làm đồ gốm, chế biến sản phẩm nông nghiệp.v.v ngày càng phát triển Điều này đã dẫn đến việc thủ công nghiệp tách khỏi nông nghiệp Hậu quả của lần phân công lao động thứ hai này đã làm quá trình phân hóa xã hội diễn ra mạnh mẽ, nô lệ trở thành lực lượng xã hội với số lượng ngày càng đông, sự phân biệt giữa người giàu và người nghèo, giữa chủ
nô và nô lệ ngày càng sâu sắc, đối kháng giai cấp ngày càng gia tăng
Với việc xuất hiện nhiều ngành nghề chuyên môn trong sản xuất đã làm phát sinh nhu cầu trao đổi hàng hoá trong xã hội Sự phát triển nền sản xuất hàng hoá dẫn đến sự phát triển của thương nghiệp Lần phân công lao động này đã làm thay đổi sâu sắc xã hội Nền sản xuất hàng hóa và tiền tệ ra đời, thương mại phát triển và tầng lớp thương nhân xuất hiện chế độ tư hữu và kéo theo là
sự phân chia giai cấp trong xã hội
o Tất cả những yếu tố trên đã làm đảo lộn đời sống thị tộc, phá vỡ tính khép kín của thị tộc Tổ chức thị tộc với hệ thống quản lý trước đây trở nên bất lực trước tình hình mới Để điều hành xã hội mới đòi hỏi phải có tổ chức mới đủ sức mạnh để dập tắt cuộc xung đột công khai giữa các giai cấp đối lập nhau Tổ chức đó là nhà nước và nhà nước đã xuất hiện
Quan điểm Mác-Lênin
o Nhà nước xuất hiện trực tiếp từ sự tan rã của chế độ cộng sản nguyên thuỷ, là
"sản phẩm và biểu hiện của những mâu thuẫn giai cấp không thể điều hoà được" Nhà nước là "bộ máy trấn áp đặc biệt của giai cấp này đối với giai cấp khác"
o Trong tác phẩm nhà nước và cách mạng, Lênin chỉ ra rằng về bản chất, Nhà nước
là quyền lực chính trị của một giai cấp Nhưng giai cấp nắm chính quyền nhà nước lại nhân danh xã hội để điều hành và quản lý xã hội, nhà nước trong thực tế tồn tại như một công quyền, như một quyền lực công cộng Vì vậy, nhà nước không những có tính giai cấp, mà còn có tính xã hội, không những thực hiện chức năng giai cấp, mà còn phải hoàn thành các chức năng xã hội Chức năng giai cấp của nhà nước bắt nguồn từ lý do ra đời của nhà nước tạo thành bản chất chủ yếu của nó Chức năng xã hội bắt nguồn từ nhiệm vụ phải giải quyết những công việc chung của xã hội Nhà nước thực hiện chức năng xã hội trong mối liên hệ mật thiết với các chức năng giai cấp Hơn nữa, chức năng xã hội còn là cơ sở cho sự thống trị chính trị giai cấp
Trang 7o Tiền đề kinh tế cho sự xuất hiện nhà nước là sự xuất hiện chế độ tư hữu về tài sản trong xã hội Tiền đề kinh tế là cơ sở vật chất cho sự ra đời của nhà nước – đó là
sự phân chia xã hội thành các giai cấp mà lợi ích cơ bản giữa các giai cấp và các tầng lớp này là đối kháng với nhau đến mức không thể điều hoà được
o Ngoài các yếu tố chung nói trên, sự xuất hiện nhà nước ở các vùng và của các dân tộc khác nhau cũng có những đặc điểm khác nhau do có các điều kiện kinh tế, xã hội và ngoại cảnh khác nhau Theo Ph Ăngghen có ba hình thức xuất hiện nhà nước điển hình:
Nhà nước Aten: Đây là hình thức nhà nước thuần tuý cổ điển nhất Nguyên nhân dẫn đến sự ra đời của Nhà nước Aten chủ yếu trên cơ sở phân hoá nội bộ xã hội thị tộc do
sự phát triển của kinh tế và sự xuất hiện mâu thuẫn giai cấp đối kháng
Nhà nước La Mã: Nhà nước này ra đời trên
cơ sở kết quả đấu tranh giữa giới bình dân chống lại giới quý tộc Chiến thắng của giới bình dân đã phá vỡ tổ chức thị tộc, thúc đẩy quá trình hình thành thiết chế nhà nước vốn dựa trên sự phân chia lãnh thổ và sự khác biệt về tài sản
Nhà nước Giéc Manh: Đây là hình thức nhà nước được thiết lập sau chiến thắng của người Giéc Manh đối với đế quốc La Mã cổ đại Nó ra đời do nhu cầu thiết lập quyền thống trị trên lãnh thổ La Mã mà người Giéc Manh đã xâm chiếm được chứ không phải do đòi hỏi bức thiết của cuộc đấu tranh giai cấp trong nội bộ xã hội của người Giéc Manh
o Vì vậy, theo quan điểm của triết học Mác-Lênin thì nhà nước là một phạm trù lịch sử, nghĩa là nhà nước chỉ ra đời và tồn tại trong một giai đoạn nhất định trong quá trình phát triển của lịch sử Nhà nước sẽ mất đi khi những điều kiện tồn tại của nó không còn Trong lịch sử đã có một thời kỳ rất dài chưa có nhà nước và sau này nhà nước cũng mất đi khi điều kiện tồn tại của nó không còn
1.2.1 Khái niệm
Lịch sử phát triển của xã hội cho thấy trong xã hội nguyên thủy, dựa trên chế độ công hữu về tư liệu sản xuất, mọi người sống bình đẳng, chưa có giai cấp nên chưa có nhà nước
Theo Ph.Ănghen, so với tổ chức thị tộc thì nhà nước có hai điểm khác biệt cơ bản là phân chia dân cư theo lãnh thổ và thiết lập quyền lực công cộng Nếu tổ chức thị tộc được hình thành và duy trì trên cơ sở quan hệ huyết thống thì nhà nước tổ chức công dân theo sự phân chia lãnh thổ Khác với quyền lực xã hội do dân cư tự tổ chức trong chế độ cộng sản nguyên thủy, quyền lực công cộng sau khi nhà nước xuất hiện thuộc
về giai cấp thống trị cầm quyền chứ không thuộc về toàn thể cộng đồng thành viên của xã hội Để thực hiện quyền lực của mình, nhà nước thiết lập bộ máy cưỡng chế chuyên làm nhiệm vụ quản lý bao gồm quân đội, cảnh sát, tòa án,… và xây dựng những công cụ vật chất như nhà tù và các tổ chức cưỡng bức khác mà trong xã hội thị tộc không có
Trang 8 Như vậy, nhà nước được hiểu là "hình thức (phương thức) tổ chức xã hội có giai cấp,
là tổ chức quyền lực chính trị công cộng đặc biệt, có chức năng quản lý xã hội để phục vụ lợi ích trước hết cho giai cấp thống trị và thực hiện những hoạt động nảy sinh từ bản chất của xã hội"
Nhà nước đầu tiên trong lịch sử là Nhà nước chiếm hữu nô lệ Đó là nhà nước xuất hiện trong cuộc đấu tranh không thể điều hòa được giữa giai cấp chủ nô và giai cấp
nô lệ Tiếp đó là nhà nước phong kiến và nhà nước tư bản chủ nghĩa mà sự xuất hiện của nó cũng dựa trên mâu thuẫn đối kháng nói trên Như thế ở bất kỳ nơi đâu và lúc nào khi mà mâu thuẫn giai cấp không thể điều hòa được thì ở đó nhà nước xuất hiện
Như Lênin đã viết: “Nhà nước là sản phẩm và biểu hiện của những mâu thuẫn giai cấp không thể điều hòa được Bất cứ ở đâu, hễ lúc nào và chừng nào mà về mặt khách quan, những mâu thuẫn giai cấp không thể điều hòa được thì nhà nước sẽ xuất hiện và ngược lại, sự tồn tại của nhà nước chứng tỏ rằng những mâu thuẫn giai cấp là không thể điều hòa được”
1.2.2 Bản chất của nhà nước
Bản chất của nhà nước thể hiện ở hai thuộc tính: Tính giai cấp và tính xã hội
Tính giai cấp
o Tính giai cấp của nhà nước thể hiện ở chỗ nhà nước là bộ máy đặc biệt do giai cấp cầm quyền tổ chức nhằm mục đích bảo vệ vị thế và lợi ích của giai cấp cầm quyền
o Tùy thuộc vào điều kiện, hoàn cảnh và mối tương quan giữa các tầng lớp trong xã hội trong mỗi nhà nước mà mức độ thể hiện tính giai cấp lại khác nhau…
o Nhà nước xuất hiện và tồn tại một cách khách quan theo quy luật vận động và phát triển của kinh tế, xã hội Và nhà nước là tổ chức quyền lực công cộng của toàn xã hội Vì vậy, nhà nước có vị trí tựa hồ như đứng trên xã hội, đứng trên giai cấp
o Quyền lực nhà nước là một loại quyền lực đặc biệt, có tổ chức chặt chẽ và có sức mạnh cưỡng chế Quyền lực nhà nước bao gồm quyền lập pháp, quyền hành pháp
và quyền tư pháp Quyền lập pháp là quyền ban hành và sửa đổi pháp luật, quyền hành pháp là quyền thực hiện và áp dụng pháp luật, quyền tư pháp là quyền xét xử
o Tuy nhiên, tính giai cấp của nhà nước cũng có những biến đổi nhất định bởi nó bị ảnh hưởng nhiều yếu tố khác nhau trong từng kiểu nhà nước Do vậy, tính giai cấp luôn là thuộc tính thể hiện bảo chất của nhà nước cần được nhận thức một cách sâu sắc
o Nhà nước là sản phẩm của xã hội có giai cấp và là biểu hiện của sự không thể điều hoà được các mâu thuẫn của giai cấp đối kháng Nhà nước là tổ chức quyền lực chính trị đặc biệt Để làm rõ bản chất của nhà nước cần phải xác định nhà nước đó của ai? Do giai cấp nào tổ chức và lãnh đạo? Phục vụ trước tiên cho lợi ích của giai cấp nào?
o Trong xã hội có đối kháng giai cấp, sự thống trị của giai cấp này đối với giai cấp khác được thể hiện dưới ba quyền lực: kinh tế, chính trị và tư tưởng
Trong ba quyền lực, quyền lực kinh tế đóng vai trò chủ đạo, là cơ sở để đảm bảo cho sự thống trị giai cấp Quyền lực kinh tế tạo ra cho chủ sở hữu khả
Trang 9năng bắt những người khác phụ thuộc vào mình về mặt kinh tế Tuy nhiên, bản thân quyền lực kinh tế lại không có khả năng duy trì quan hệ bóc lột, vì thế để bảo đảm cho quan hệ bóc lột, giai cấp nắm quyền lực kinh tế phải thông qua quyền lực chính trị
Quyền lực chính trị xét về mặt bản chất là bạo lực có tổ chức của một giai cấp nhằm trấn áp các giai cấp khác trong xã hội Thông qua nhà nước, giai cấp thống trị về kinh tế đã trở thành chủ thể của quyền lực chính trị Nhờ nắm trong tay nhà nước, giai cấp thống trị đã tổ chức và thực hiện quyền lực chính trị của mình, hợp pháp hoá ý chí của giai cấp mình thành ý chí nhà nước và như vậy buộc các giai cấp khác phải tuân theo trật tự phù hợp với lợi ích của giai cấp thống trị Bằng cách đó giai cấp thống trị đã thực hiện sự chuyên chính của giai cấp mình đối với các giai cấp khác
Để thực hiện sự chuyên chính giai cấp, giai cấp thống trị không đơn thuần chỉ
sử dụng bạo lực cưỡng chế mà còn thông qua sự tác động về tư tưởng Chính
vì vậy, khi nắm trong tay quyền lực kinh tế và quyền lực chính trị, giai cấp thống trị còn thông qua nhà nước xây dựng hệ tư tưởng của giai cấp mình thành hệ tư tưởng thống trị trong xã hội, buộc các giai cấp khác phải lệ thuộc vào mình về mặt tư tưởng
o Như vậy, nhà nước là công cụ sắc bén thể hiện và thực hiện ý chí của giai cấp cầm quyền, bảo vệ trước tiên lợi ích của giai cấp thống trị trong xã hội
o Nhà nước, hiểu theo nghĩa pháp luật, là một tổ chức xã hội đặc biệt của quyền lực chính trị được giai cấp thống trị thành lập nhằm thực hiện quyền lực chính trị của mình Nhà nước vì thế mang bản chất giai cấp Nhà nước xuất hiện kể từ khi xã hội loài người bị phân chia thành những lực lượng giai cấp đối kháng nhau; nhà nước là bộ máy do lực lượng nắm quyền thống trị (kinh tế, chính trị, tư tưởng) thành lập nên, nhằm mục đích điều khiển, chỉ huy toàn bộ hoạt động của xã hội trong một quốc gia, trong đó chủ yếu để bảo vệ các quyền lợi của lực lượng thống trị Thực chất, nhà nước là sản phẩm của cuộc đấu tranh giai cấp Ăngghen đã nêu rõ: “bản chất của nhà nước chẳng qua chỉ là một bộ máy trấn áp của một giai cấp này đối với một giai cấp khác, điều đó trong chế độ cộng hòa dân chủ cũng hoàn toàn giống như trong chế độ quân chủ vậy” Với tư cách là bộ máy trấn áp của giai cấp này với giai cấp khác, nhà nước của giai cấp bóc lột là bộ máy được lập ra nhằm hợp pháp hóa và củng cố sự áp bức của giai cấp đó đối với giai cấp
bị trị và đối với quần chúng nhân dân lao động Tất cả mọi hoạt động chính trị, văn hóa, xã hội do nhà nước tiến hành xét đến cùng đều xuất phát từ lợi ích và nhằm để phục vụ cho lợi ích của giai cấp thống trị
o Các nhà kinh điển của Chủ nghĩa Mác-Lênin đã chỉ ra rằng: nhà nước là một hiện tượng thuộc kiến trúc thượng tầng trên một cơ sở kinh tế nhất định, đó là công cụ
để duy trì sự thống trị của giai cấp này đối với giai cấp khác Về bản chất giai cấp của nhà nước, V.I Lênin đã nhận định: “nhà nước là bộ máy để giai cấp này áp bức giai cấp khác, một bộ máy để duy trì dưới sự thống trị của một giai cấp lên tất cả các giai cấp bị lệ thuộc khác”
Trang 10 Tính xã hội
o Tính xã hội là một thuộc tính khách quan phổ biến của nhà nước Nhà nước ra đời và tồn tại trong xã hội bao gồm giai cấp thống trị và các giai cấp, tầng lớp dân cư khác Bản thân giai cấp thống trị chỉ có thể tồn tại trong mối quan
hệ với các giai cấp, tầng lớp dân cư khác Bởi vậy, nhà nước ngoài tính chất là một công cụ duy trì sự thống trị và bảo vệ lợi ích của giai cấp thống trị còn phải là một tổ chức quyền lực công Quyền lực công là phương thức tổ chức bảo đảm lợi ích chung của xã hội Nhà nước phải giải quyết những vấn đề nảy sinh trong đời sống xã hội, bảo đảm trật tự chung cho xã hội ổn định, tồn tại và phát triển Do đó, nhà nước không chỉ bảo vệ quyền lợi của giai cấp thống trị mà còn bảo vệ quyền lợi của giai tầng khác trong xã hội khi mà lợi ích
đó không mâu thuẫn căn bản với lợi ích của giai cấp thống trị
Nghiên cứu tình huống:
Quan điểm của V.I Lênin về nhà nước
Tư tưởng về nhà nước có một vị trí đặc biệt quan trọng trong hệ thống lý luận của V.I.Lênin, bởi nó không thuần túy là những lý thuyết khoa học mà gắn bó chặt chẽ với quan điểm chính trị; nó không đơn giản là những suy tư tinh thần mà gắn liền với những hoạt động thực tiễn sinh động của ông Những đóng góp to lớn của V.I.Lênin đối với lý luận về nhà nước không chỉ ở việc làm sáng tỏ những quan điểm căn bản của C.Mác và Ph.Ăng-ghen về nhà nước, đem lại vũ khí lý luận sắc bén cho cuộc đấu tranh của giai cấp công nhân, giành lấy, tổ chức và thực thi quyền lực nhà nước, cũng như đấu tranh chống lại mọi âm mưu hòng xuyên tạc, bẻ cong và nhằm bác bỏ lý luận mác-xít về nhà nước; mà còn thể hiện ở việc đi sâu, phát triển lý luận mác-xít về nhà nước trên một số phương diện, phù hợp với trình độ phát triển mới của thực tiễn
Nhất quán với tư tưởng của C.Mác và Ph.Ăng-ghen, V.I.Lênin tiếp tục khẳng định rằng, nhà nước là một hiện tượng lịch sử, sự tồn tại và tiêu vong của nó là tùy thuộc vào những điều kiện cụ thể; “nhà nước chỉ là một tổ chức thống trị của một giai cấp” và “bất cứ nhà nước nào cũng là một bộ máy để một giai cấp này trấn áp giai cấp khác”
Đối với V.I.Lênin, khái niệm “nhà nước” là để chỉ bộ máy nhà nước trong xã hội có giai cấp Ông viết: “đặc trưng của nhà nước là sự tồn tại của một giai cấp đặc biệt, tập trung quyền lực trong tay Dĩ nhiên, không ai có thể dùng hai tiếng nhà nước để gọi một cộng đồng, trong đó tất cả mọi thành viên đều thay phiên nhau quản lý “tổ chức của trật tự’” Chính sự tập trung quyền lực chính trị trong tay một giai cấp đặc biệt là đặc trưng để phân biệt nhà nước với mọi hình thức tổ chức xã hội khác V.I.Lênin vạch rõ: “Nếu quyền lực chính trị trong nước nằm trong tay một giai cấp có quyền lợi phù hợp với quyền lợi của đa số, thì mới có thể thực hiện việc điều khiển công việc quốc gia thực sự theo đúng nguyện vọng của đa số Nhưng nếu quyền lực chính trị nằm trong tay một giai cấp có quyền lợi khác với quyền lợi của đa số, thì việc điều khiển công việc quốc gia theo nguyện vọng của đa số không khỏi trở thành một sự lừa gạt, hoặc đưa đến chỗ đàn áp đa số ấy” Ông giải thích:
“Quyền chính trị là gì, nếu không phải là cách diễn đạt, là việc ghi nhận so sánh lực lượng?” Đây chính là sự phát triển quan điểm: quyền lực chính trị, theo đúng nghĩa của
nó, là bạo lực có tổ chức của một giai cấp để trấn áp một giai cấp khác của C.Mác và Ph.Ăng-ghen