Cơ sở dự báo ngập nước giếng khoan khai thác dầu.
Trang 1Tap chi KHKT M6 - Dia chất, số 14 (chuyén dé Dia vat ly), 4/2006, tr.9-11
CO SO DU BAO NGAP NƯỚC GIẾNG KHOAN KHAI THÁC DAU
BANG PHUONG PHAP DIA HOA
LÊ VĂN BÌNH, Trường Đại học Mỏ - Địa chất
Tóm tắt: Dự báo ngập nước giếng khoan có ý nghĩa quan trọng trong điêu chỉnh khai thác hợp lý, nhằm gia tăng hệ số thu hồi dâu Để dự báo ngập nước giếng có thể căn cứ vào các tham số địa hoá phản ánh biến đổi tính chất, thành phần và hàm lượng các cấu tử hydrocacbua trong phạm vì khoáng thể dầu theo qui luật tự nhiên
1 Đặt vấn đề
Mặc dù ngập nước giếng khoan trong quá
trình khai thác là điểu không thể tránh khỏi,
song ngập nước không mong muốn do những
nguyên nhân mà ta có thể chủ động dự đoán để
loại trừ (bơm ép nước không hợp lý; khai thác
với tốc độ quá nhanh làm cho lượng đầu di
chuyển đến không bù lại kịp lượng dầu đã khai
thác) lại là điểu đáng tiếc không nên để xấy ra
Vì vậy, cần phải có phương pháp chủ động dự
báo trước khả năng nhiễm và ngập nước để có
biện pháp thích hợp tránh ngập nước cho giếng
khai thác
2 Cơ sở khoa học của phương pháp
Cơ sở khoa học của phương pháp địa hoá dự
báo ngập nước giếng khoan là sự phân hoá của
hydrocacbua trong phạm vi khoáng thể tuỳ
thuộc vào đặc tính lý hoá học của các cấu tử
Mặt khác, khi ranh giới tiếp xúc dầu - nước tiến
gần đến đáy giếng khoan khai thác thì mức độ
biến thoái của dầu do ảnh hưởng của phá huỷ
sinh hoá tăng lên Mức độ nhiễm nước và phá
huỷ sinh hoá càng tăng khi ranh giới tiếp xúc
dầu-nước càng gần và sẽ có sự đột biến (tăng
hoặc giảm mạnh) giá trị của các tham số địa hoá
khi giếng thực sự “ngập” nước
3 Phân tích và bàn luận
Nguyên nhân ngập nước giếng khoan có thể
1à:
- Do nâng cao của ranh giới tiếp xúc đầu
nước;
- Do bất đồng nhất về tính chất collector
của đá chứa;
- Do bơm ép nước không hợp lý;
- Do tốc độ khai thác dầu khí quá cao gây
hiện tượng tạo “lưỡi” hoặc “nón” nước;
- Do có sự đan xen của các lớp đá chứa dầu,
nước và được ngăn cách bởi lớp sét mỏng v.v
Dự báo sự nhiễm, tiến đến ngập nước giếng khai thác có thể thực hiện được nếu như ta tiến
hành thường xuyên theo dõi tốc độ di chuyển
của ranh giới tiếp xúc dầu - nước Khi ranh giới này đã ở gần vùng đáy giếng, cần giảm tốc độ khai thác hợp lý để tránh tạo lưỡi nước hoặc nón nước làm nhiễm hoặc ngập giếng
Để dự báo ngập nước giếng khai thác, một
số nhà khoa học thường xuyện lấy mẫu phân
tích để theo dõi mối liên quan giữa hàm lượng
nước nhiễm (giai đoạn trước khi ngập nước) với
tổng hàm lượng muối khoáng (độ khoáng hóa)
nói chung và hàm lượng các ion của các nguyên
tố nói riêng, theo chúng tôi là chưa hợp lý vì: Thứ nhất, nếu là “nước sót” thì khó có thể
xuất hiện được cùng với dầu dưới dạng nước
nhiễm
Thứ hai, theo cơ chế hình thành thì nước
sót vốn là phần sót lại của nước vốn trước đó đã
lấp đây bãy chứa Khi hình thành khoáng thể,
đầu ép nước ra khỏi bãy để thay thế chỗ Vì vậy,
độ khoáng hoá cũng như thành phần hoá học
của nước sót trong phạm vi khoáng thể gần như không thay đổi
Thứ ba, nếu như nước nhiễm đã là nước đáy
hoặc nước rìa thì rõ ràng đã là giai đoạn bất đầu
ngập nước và chẳng còn gì để mà dự báo Vì
vậy, để dự báo nhiễm, dẫn đến ngập nước giếng khoan khai thác, cần phải dựa vào phân tích sự
biến đổi tính chất vật lý, thành phần hoá học của chính dầu mỏ được khai thác lên từ khoáng thể
Kha nang ding kết quả nghiên cứu địa hoá
để xác định vị trí và tốc độ dịch chuyển của
ranh giới tiếp xúc dầu - nước cũng là tiền để mở đường cho dự báo nhiễm và ngập nước giếng
khoan trong quá trình khai thác bằng phương
pháp địa hoá Nói một cách đơn giản hơn là bằng tham số địa hoá, xác định thời điểm di chuyển của dầu nằm gần ranh giới tiếp xúc
dầu - nước đến đáy giếng khai thác.
Trang 2Sự thay đổi thành phần, tính chất vật lý, hoá
học của dầu khí trong quá trình khai thác là điều
đương nhiên do các nguyên nhân:
- Dầu khí trong vỉa có sự phân hoá do trọng
luc, do kha nang tan va hoa tan;
- Sự thay đổi chế độ nhiệt động học trong
quá trình khai thác;
- Sự đi chuyển của dầu khí trong vỉa đến
đáy giếng khoan chịu ảnh hưởng của các quá
trình hoà tan, thấm có chọn lọc, hấp thụ có chọn
lọc;
- Tác động của các chất được sử dụng để
tăng cường hệ số khai thác
Các kết quả nghiên cứu cho thấy: thường
thay đổi hơn cả là khối lượng riêng của dầu mỏ
và kéo theo là độ hấp thụ ánh sáng, hoạt tính
quang học, độ nhớt, tỷ lệ hàm lượng của các cấu
tử hay nhóm cấu tử nằm trong thành phần đầu
mỏ Những biến đổi nêu trên có thể quan sát
thấy ngay cả trong quá trình khai thác các đai
dầu ở khoáng thể khí conđensat, đặc biệt thể
hiện rõ nét hơn hết trong các mỏ với chiều cao
khoáng thể lớn thuộc các miền uốn nếp
Dưới tác động của lực trọng trường, các cấu
tử hydrocacbua trong thành phần đầu mỏ phân
hoá theo khối lượng riêng, các cấu tử nhẹ phân
bố ở phần cao của khoáng thể, các cấu tử nặng
nằm bên dưới Mặt khác, càng gần với ranh giới
tiếp xúc dầu - nước, mức độ phá huỷ dầu bởi
các chất ôxy hoá và vi khuẩn (nếu có) chứa
trong nước càng cao, làm cho đầu trở nên nặng
hơn Khối lượng riêng của dầu tăng dẫn đến gia
tăng của các đặc tính khác như độ hấp thụ ánh
sáng, hoạt tính quang học, độ nhới
Phá huỷ sinh hoá của nước đối với dầu mỏ
trước hết xẩy ra đối với các cấu tử hyđrocacbua
nhẹ (C „) sau đó mới đến các cấu tử nặng; ban
đầu là n-alkan rồi mới tới izo-alkan, mêtan đến naften rồi mới tới aromatic Vì vậy, theo thời
gian khai thác, khi ranh giới đầu - nước tiến dần
đến đáy giếng khoan khai thác tỷ lệ hàm lượng giữa các cấu tử hoặc nhóm các cấu tử sẽ thay
đổi
Trong quá trình khai thác các khoáng thể
dầu, sự thay đổi thành phần khí đồng hành đã
xảy ra Cụ thể hơn là cùng với sự giảm áp suất, hàm lượng mêtan giảm đi, hàm lượng các khí C,, và CO; tăng lên Nguyên nhân của hiện tượng này là sự phân hoá theo khối lượng riêng,
sự hoà tan có chọn lọc của khí Khi áp suất via giảm, tách ra khỏi dầu trước hết là khí mêtan - khí hòa tan vào dầu mỏ kém nhất trong các khí
hydrocacbua, tiếp đến là khí êtan, propan v.v
Vì vậy, vào giai đoạn khai thác cuối, độ ẩm của
khí đồng hành đạt giá trị lớn nhất
Trong phạm vi một bài báo không thể giới
thiệu hay phân tích sự thay đổi tất cả các tham
số địa hoá mà chỉ có thể nêu một vài ví dụ để
dẫn chứng
Chacmacchev V.A phân tích các mẫu dầu
khai thác từ mỏ Tây Tebuc nhận ra qui luật: mẫu đầu nằm xa ranh giới tiếp xúc dầu - nước
có tỷ số n-alkan/i-alkan lớn gấp 1,6 + 2,5 lần trong khi mẫu đầu trên ranh giới dầu - nước tỷ
số này chỉ là I,I + 1/2 Sự khác biệt rõ nhất đặc
trưng cho các cấu tử hydrocacbua có trong phân
tử số nguyên tử Cacbon từ 12 đến 20, là các cấu
tử bị tác động sinh hoá mạnh nhất từ nước vỉa
il
Tại một md ở Việt Nam, biến đổi một số tham số địa hoá theo mức độ nhiễm, tiến đến ngập nước của 4 giếng khoan khai thác cùng
một đối tượng được thể hiện trong bảng sau:
10
Mức độ nhiễm, ngập nước sản phẩm
we: “, 3, | 0,8242+0,8269 | 0,8283+0,8287 | 0,8340+0,8436
Khối lượng riêng p (g/cm `) 0.8256 0,8285 0,8388
Trang 3
Qua bảng trên có thể nhận thấy:
- Giá trị của tất cả các tham số trên đều tăng
lên theo mức độ nhiễm, ngập nước;
- Giá trị các tham số gia tăng nhanh khi sản
phẩm thực sự nhiễm, ngập nước
4 Biện pháp thực hiện
Để có thể thực hiện được ý tưởng dùng các
tham số địa hoá dự báo ngập nước giếng khoan,
ngay từ đầu, thường xuyên có hệ thống theo dõi
sự biến đổi thành phần và tính chất theo thời
gian của dầu mỏ lấy từ các giếng khoan khai
thác; xác định cho được quy luật mối liên quan
giữa hàm lượng nước nhiễm với sự biến đổi hàm
lượng của các cấu tử hay nhóm các cấu tử
hydrocacbua (khí hydrocacbua mạch nhánh)
izoprenoid, smol, asfalt v.v ) trong quá trình
khai thác, ngay từ giếng khoan đầu tiên bị
nhiễm nước Quy luật chỉ có thể đúng và áp
dụng để dự báo nhiễm và ngập nước cho các
giếng khoan khác khai thác cùng một đối tượng
Để có thể dễ đàng nhận biết sự đột biến của
các tham số địa hoá qua quan sát, kết quả phân
tích thường được thể hiện dưới đạng các đồ thị
(hình sao; hình khối ) Theo đõi sự biến thiên
của các mối tương quan nêu trên, ta có thể tìm
ra qui luật nhất định với những giá trị “ngưỡng”
cụ thể báo trước khả năng nhiễm và ngập nước
giếng khoan Độ chính xác của phương pháp sẽ được nâng cao nếu như ta tiến hành phân tích và
theo đõi đồng thời nhiều các tham số, kết hợp
nhiều phương pháp khác nhau
Kết luận
Phương pháp nêu trên là phương pháp khả
thi, có thể thực hiện được thông qua phân tích
mẫu dầu lấy trong quá trình khai thác Quy luật phân hoá, phá huỷ sinh hoá của nước vỉa đối với
khoáng thể khí không mạnh mẽ như đối với
khoáng thể dâu mỏ Vì vậy, để dự báo nhiễm, tiến tới ngập nước các giếng khai thác khí, cần
nghiên cứu để đề xuất phương pháp khác có hiệu
quả hơn
TÀI LIỆU THAM KHẢO
{1] Chacmacchev V.A, 2001 Nghiên cứu địa hóa và các phương pháp tìm kiếm thăm dò dau
mỏ và khí đốt NXB Dầu mỏ và khí đốt, Trường
Tổng hợp Dầu khí Gubkin
SUMMARY Theoretical basis of water flooding prediction in production wells
using geochemical methods
Le Van Binh, University of Mining and Geology Prediction of water flooding in the well plays an important role in the optimum production management to enhance the oil recovery In order to predict water flooding, it is advised to take into account the geochemical parameters related to the changes of hydrocarbon properties, its composition and content within the petroleum accumulation followed the natural rules
Người phản biện: Lê Khánh Phồn
MỘT SỐ NÉT ĐẶC TRƯNG VỀ KIẾN TẠO (tiếp theo trang 73)
3/ Earthquake epicenters are mainly distributed within the depths of about 7-20 km, but popularly in the range of 10-16 km The correlation function betweca minimal depth of hypocenters (H,,) and maximum magnitudes (M,,,,.) of the earthquake as follow: lg Hj, = 0.25 M, - 0.30
4/ The seismogenic faults of RRFZ consist of: Lo River, Vinh Ninh, Chay River, Red River, and Lao Cai-Ninh Binh Strongest earthquakes occurred within RRFZ may be limited by M,,,= 5.5+ 6.0 and it seems to be that Chay River and Red River have most strong seismic activity
Người phản biện: Mai Thanh Tân