1. Trang chủ
  2. » Kinh Doanh - Tiếp Thị

Điều hành chính sách tài khóa ở Việt Nam và gợi ý chính sách - Trường Đại Học Quốc Tế Hồng Bàng

6 16 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 6
Dung lượng 1,01 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Ba là, đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính thuế nhằm giảm thời gian, chi phí cho người nộp thuế, tạo mọi điều kiện thuận lợi cho doanh nghiệp sản xuất kinh doanh phát triển;[r]

Trang 1

ĐIỀU HÀNH CHÍNH SÁCH TÀI KHÓA Ở VIỆT NAM

VÀ GỢI Ý CHÍNH SÁCH

Đoàn Thanh Hà*

TÓM TẮT

Trong những năm qua, hệ thống chính sách tài khóa (CSTK) của Việt Nam đã có những bước cải cách quan trọng góp phần thay đổi căn bản nền tài chính công Việt Nam Hệ thống pháp luật, chính sách quản lý tài chính công tiếp tục được đổi mới trên nhiều phương diện, từng bước tiếp cận với các chuẩn mực chung của thông lệ quốc tế, bao gồm cả chính sách thu NSNN, chính sách quản lý chi NSNN, quản lý nợ công Bài viết phân tích kết quả điều hành chính sách tài khóa Việt Nam, từ đó đưa ra những gợi ý chính sách nhằm phát triển bền vững chính sách tài khóa trong thời gian tới.

Từ khoá: Chính sách tài khoá, ngân sánh nhà nước

FISCAL POLICY EXECUTIVE IN VIETNAM

AND POLICY IMPLICATIONS

ABSTRACT

In recent years, Vietnam’s fiscal system has made important reforms contributing the fundamental change to public finance Vietnam The legal system, the management policy of public finance has continued innovation in many ways, step by step approach with general standards of international practice, including the incomings policy of state budget, expenditure management policy of state budget, public debt management This study analyzes the operating results of fiscal policy in Vietnam, thereby making policy recommendations to develop sustainable fiscal policy in the coming period.

Keywords: Fiscal policy, state budget

* PGS.TS Trường Đại học Ngân hàng Tp Hồ Chí Minh Email: hadt@buh.edu.vn

1 Kết quả điều hành chính sách tài

khóa ở Việt Nam trong thời gian qua

Nhờ triển khai đồng bộ, quyết liệt cùng

các giải pháp hợp lý, sáng tạo và phù hợp với

pháp luật, từ năm 2011 đến nay, ngành ngân

hàng đã thu được những thành công được xã

hội đồng thuận, ghi nhận và đánh giá cao,

đó là đảm bảo sự ổn định và an toàn của hệ

thống; thiết lập được kỷ cương của thị trường;

nâng cao hiệu lực, hiệu quả và tính minh bạch

của các chính sách và công cụ điều hành; tích cực hội nhập quốc tế thông qua việc áp dụng các thông lệ, chuẩn mực quốc tế trong xây dựng khuôn khổ chính sách và điều hành; thiết lập các điều kiện nền tảng cho phát triển bền vững của hệ thống

Đối với thu NSNN:

Giai đoạn 2011- 2015, do tình hình kinh tế khó khăn đồng thời thực hiện chính sách giãn, giảm thuế và tháo gỡ khó khăn cho doanh

Trang 2

nghiệp khiến tác động đến giảm thu NSNN

nhưng tổng thu NSNN vẫn gấp 2 lần so với

giai đoạn 2006 – 2010 Tốc độ tăng thu hàng

năm bình quân khoảng 9,3%, tỷ lệ động viên

từ thuế và phí vào NSNN vẫn chiếm khoảng

21% GDP tuy thấp hơn giai đoạn 2006 – 2010

(23,6%) nhưng vẫn phù hợp theo yêu cầu của

Nghị quyết Quốc hội, xấp xỉ với các nước

trong khu vực

Cùng với sự tăng quy mô thì cơ cấu thu

NSNN cũng có sự chuyển biến theo hướng

đảm bảo bền vững hơn với tăng tỷ trọng các

khoản thu từ sản xuất kinh doanh và tiêu dùng

như thuế GTGT, TNDN, TNCN Tuy tốc độ

tăng thu giai đoạn 2011 – 2015 của các khoản

thu từ thuế TNDN, TNCN, GTGT thấp hơn

so với giai đoạn 2006 – 2010 do chính sách

giãn, giảm, gia hạn thuế, mở rộng cơ sở thuế,

điều chỉnh thuế suất khuyến khích sản xuất

nhưng tốc độ tăng thu của các khoản thu này

vẫn cao hơn so với tốc độ thu NSNN, tốc độ

tăng thu bình quân giai đoạn 2011 – 2015 của thuế TNDN (không kể dầu thô) là 9,9%, thuế TNCN là 15,4% và thuế GTGT là 13,3% cao hơn mức tăng 9,4% của thu NSNN

Đồng thời, sự phụ thuộc của thu NSNN vào các khoản thu “không thường xuyên” như thu từ giao quyền sử dụng đất, từ bán nhà thuộc sở hữu nhà nước trong tổng thu NSNN có xu hướng giảm dần Tỷ trọng thu dầu thô trong cơ cấu thu NSNN cũng giảm từ 28,8% giai đoạn 2006 – 2010 xuống 20,9% giai đoạn 2011 – 2015; so sánh với GDP, mức độ động viên NSNN từ dầu thô cũng giảm từ 5,3% xuống 3,3% Xét cơ cấu thu theo lĩnh vực, ngành cho thấy, thu NSNN đã

có chuyển biến theo chiều hướng tích cực với xu hướng tăng tỷ trọng thu nội địa (phản ánh mức động viên từ nội bộ nền kinh tế)

từ 58% giai đoạn 2006 – 2010 lên 67% giai đoạn 2011 – 2015, đến năm 2015 chiếm 70% tổng thu NSNN

Bảng 1 Cơ cấu thu NSNN theo sắc thuế, phí (%)

Thuế GTGT hàng SX trong

nước

13,35 14,23 13.92 17,14 16,78 17,20 19,39 19,68

Thuế TTĐB hàng SX trong

nước

Thuế XNK, GTGT và TTĐB

hàng NK

14,81 17,92 21,04 22,65 22,15 22,12 19,69 17,8

Thuế sử dụng đất nông

nghiệp

Thuế sử dụng đất phi nông

nghiệp (thuế nhà đất)

Thuế chuyển quyền sử dụng

đất

Trang 3

Thu phí xăng dầu 1,37 1,33 1,04 1,92 1,79 1,59 1,72 1,47

Thu tiền sử dụng đất 5,33 8,53 7,27 8,08 8,39 7,19 4,99 4,96 Thu bán nhà thuộc SHNN 0,69 0,74 0,30 0,41 0,37 0,34 0,11 0,13

Nguồn: Bộ Tài chính và tổng hợp của tác giả

Đối với chi NSNN:

Về cơ cấu chi tiêu của NSNN, Hình 1

cho thấy khoản chi lớn nhất và có xu hướng

ngày càng tăng trong tổng chi NSNN, trong

14 năm qua, là chi thường xuyên, chi cho bộ

máy nhà nước, bình quân năm chiếm 57,48%

tổng chi NSNN Khoản chi lớn thứ hai trong

tổng chi NSNN là chi cho đầu tư phát triển,

chiếm bình quân 26,97% tổng chi NSNN

Khoản chi này trong những năm sau năm

2011 do thực hiện chương trình cắt giảm chi đầu tư công, tỷ trọng chi đầu tư trong tổng chi đã giảm mạnh Năm 2014 tỷ lệ này ước chỉ còn 16,31% tổng chi Với mô hình kinh

tế hiện nay, tăng trưởng kinh tế chủ yếu dựa vào lao động và vốn thì đầu tư phát triển từ NSNN sẽ vẫn là nhân tố quan trọng trong việc kích thích tăng trưởng kinh tế, nên Chính phủ cần xem xét lại cơ cấu chi tiêu hiện nay

Hình 1 Cơ cấu chi tiêu NSNN 2001 – 2014

Nguồn: Bộ Tài chính (đơn vị %)

Cân đối NSNN được duy trì theo các mục

tiêu đề ra, dư nợ công, dự nợ Chính phủ và

dư nợ nước ngoài của quốc gia được đảm bảo

trong phạm vi cho phép.

Công tác quản lý nợ công, nợ nước ngoài

của quốc gia đang dần được đổi mới, hệ thống

văn bản pháp lý về quản lý nợ công như ban hành và tổ chức thực hiện Luật quản lý nợ công, từng bước tiếp cận dần với các thông lệ tốt quốc tế, tính toán và xác định các chỉ tiêu giám sát nợ công, ban hành quy chế lập, sử dụng và quản lý quỹ tích lũy trả nợ, xây dựng

Trang 4

chương trình quản lý nợ trung hạn… để đảm

bảo nợ trong mức giới hạn an toàn, giảm thiểu

phát sinh nghĩa vụ nợ và nợ rủi ro cao Các

chỉ số liên quan đến nợ công, nợ nước ngoài

quốc gia vẫn được duy trì trong mức giới hạn

an toàn Cuối năm 2014, dư nợ công ước tính

bằng 59,3% GDP, trong đó dự nợ Chính phủ

ở mức 47,1% GDP, nợ được Chính phủ bảo

lãnh ở mức 11,3% GDP, nợ chính quyền địa

phương ở mức 0,9%GDP Dự kiến năm 2015,

dư nợ công ở mức 62,3%GDP

Đồng thời, xem xét đánh giá của WB và

IMF về chất lượng quản lý nợ công của Việt

Nam dựa vào chất lượng chính sách và thể chế

trên cơ sở 5 chỉ tiêu đánh giá “mức độ rủi ro

của nợ nước ngoài” là giá trị hiện tài nợ/GNI,

giá trị hiện tại nợ/xuất khẩu, giá trị hiện tại

nợ/thu NSNN, nghĩa vụ nợ/xuất khẩu, nghĩa

vụ nợ/thu NSNN cho thấy Việt Nam có chỉ số

chất lượng thể chế và chính sách (CPIA) xếp

loại tốt Trong giai đoạn qua, tỷ trọng nợ trong

nước trong tổng nợ công đang có xu hướng

cao hơn nợ nước ngoài và tăng từ 43% năm

2010 lên 54,5% năm 2014 góp phần làm giảm

rủi ro về tỷ giá và sự phụ thuộc vào nguồn

vốn bên ngoài, góp phần đảm bảo an ninh tài

chính quốc gia

2 Một số gợi ý chính sách nhằm phát

triển bền vững chính sách tài khóa trong

thời gian tới

Một là, từng bước hình hành lộ trình để mở

rộng không gian tài khóa, xây dựng lộ trình

giảm dần bội chi NSNN Giảm bội chi ngân

sách luôn là vấn đề nhạy cảm, có quan hệ đan

xen với nhiều yếu tố khác Theo đó, cần phải

được thực hiện theo lộ trình xác định trước

với các bước đi thích hợp, đảm bảo cân đối

giữa mục tiêu đảm bảo tổng vốn đầu tư toàn

xã hội, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế bền vững

nhưng vẫn lành mạnh hóa được tình hình tài

khóa Trong điều hành ngân sách hàng năm cần ưu tiên sử dụng số tăng thu so với dự toán

để giảm bội chi ngân sách hoặc dành để trả nợ Chính phủ trước hạn

Hai là, nghiên cứu để từng bước điều

chỉnh và tạo lập cơ cấu thu NSNN theo hướng bền vững, ổn định, thực hiện điều chỉnh chính sách thu NSNN nên dựa trên nền tảng vững chắc từ khu vực kinh tế nội địa Việc thực hiện

cơ cấu lại hệ thống thu NSNN thời gian tới cần phải hướng tới mục tiêu: đảm bảo duy trì mức động viên ngân sách từ thuế, phí ở mức phù hợp, đảm bảo tính hợp lý trong cơ cấu ba loại thuế cơ bản: thuế đánh trên thu nhập, thuế đánh trên hàng hóa, dịch vụ và thuế đánh trên tài sản Nghiên cứu, ban hành chính sách thu nội địa khác như thuế tài sản để giảm sự phụ thuộc của NSNN vào nguồn thu từ đầu Bên cạnh đó, cần chú trọng đến việc huy động và

sử dụng có hiệu quả nguồn lực từ đất đai, hình thành các cơ chế phù hợp để huy động quỹ đất cho phát triển kết cầu hạ tầng

Ba là, đẩy mạnh cải cách thủ tục hành

chính thuế nhằm giảm thời gian, chi phí cho người nộp thuế, tạo mọi điều kiện thuận lợi cho doanh nghiệp sản xuất kinh doanh phát triển; đẩy mạnh hạ tầng kỹ thuật, hệ thống thông tin quản lý tích hợp, có sự liên kết trao đổi giữa các cơ quan thu, các đại lý thuế với

cơ quan kiểm soát chi và ngân hàng thương mại… để phát triển và mở rộng thêm nhiều hình thức nộp thuế đơn giản, thuận tiện cho người nộp thuế

Bốn là, cơ cấu lại chi NSNN theo hướng

gắn với các định hướng ưu tiên chính sách Việc phân bổ và sử dụng nguồn lực NSNN phải hướng vào việc thực hiện các ưu tiên chiến lược của nền kinh tế trong từng giai đoạn Trong đó, việc xác định “thứ tự ưu tiên” trong phân bổ nguồn lực phải được xem là

Trang 5

một trong những yêu cầu cốt lõi và phải kiên

quyết thực hiện được yêu cầu này để góp phần

nâng cao kỷ luật tài khóa Đồng thời, thực

hiện cải cách căn bản phương thức quản lý

nguồn lực NSNN thông qua việc đưa vào áp

dụng khuôn khổ ngân sách trung hạn, có tính

đến yếu tố chu kỳ trong quá trình phát triển

của nền kinh tế

Đối với chi thường xuyên, để nâng cao

hiệu quả của chi thường xuyên, cần sắp xếp

lại tổ chức bộ máy quản lý nhà nước, đối

tượng hưởng lương từ ngân sách và thực hiện

đổi mới đơn vị sự nghiệp công lập, trọng tâm

là cải cách cơ chế giá, phí dịch vụ, đảm bảo sự

cạnh tranh bình đẳng và tăng tính tự chủ của

các đơn vị sự nghiệp nói chung Đối với chi

đầu tư, Nhà nước chỉ nên đầu tư vào những

lĩnh vực mà khu vực tư nhân không làm được

hoặc chưa có điều kiện làm nhưng có vai trò

quan trọng đối với phát triển kinh tế - xã hội

Rà soát tổng thể chương trình an sinh xã hội,

chương trình mục tiêu quốc gia giai đoạn 2011

- 2015 để cắt giảm, lồng ghép chính sách, xác

định lộ trình chính sách phù hợp trong giai

đoạn 2016 - 2020; điều chỉnh và xây dựng lại

toàn bộ hệ thống an sinh xã hội phù hợp với

trình độ phát triển kinh tế - xã hội

Năm là, nâng cao hiệu quả phân bổ, sử

dụng nguồn lực đầu tư công Nâng cao chất

lượng công tác quy hoạch đầu tư và thực hiện

quản lý đầu tư theo quy hoạch Thực hiện rà

soát, đánh giá thực trạng và kết quả cụ thể

của công tác quy hoạch một số ngành then

chốt (giao thông, thủy lợi, y tế, giáo dục )

cũng như quy hoạch phát triển các vùng kinh

tế trên phạm vi cả nước, để có quy hoạch tổng

thể, đồng bộ về ngành, lĩnh vực và vùng miền

Trên cơ sở đó, đưa ra một số danh mục dự án

đầu tư quan trọng trên phạm vi cả nước để

làm cơ sở cho việc xây dựng kế hoạch đầu tư

trung và dài hạn và đảm bảo việc thực hiện trên thực tế được gắn với kế hoạch này Xây dựng nguyên tắc, căn cứ lập dự toán chi đầu tư phát triển, bố trí vốn, thanh toán và quyết toán vốn nhằm đảm bảo tập trung vốn đầu tư hoàn thành công trình theo kế hoạch tài chính trung hạn Việc bố trí vốn cho dự án mới phải bảo đảm tổng vốn bố trí cho từng dự

án Hình thành cho được các tiêu chí xác định thứ tự ưu tiên đầu tư cũng như xây dựng hệ thống tiêu chí đánh giá hiệu quả của các dự án đầu tư công

Sáu là, tái cơ cấu nợ công theo hướng

chuyển từ cơ cấu vay ngắn hạn sang vay dài hạn; tăng tỷ trọng nợ trong nước và giảm nợ nước ngoài Phát hành TPCP có kỳ hạn dài hơn và lãi suất hợp lý để vừa giảm thiểu rủi

ro thanh toán, rủi ro thanh khoản vừa nhắm tái cơ cấu nợ Kiểm soát chặt chẽ các khoản

nợ đọng XDCB NSTW và NSĐP, nợ của Quỹ hoàn thuế GTGT, nợ Quỹ BHXH, nợ phải trả NHPT VIệt Nam, Ngân hàng Chính sách xã hội và nợ tồn ngân KBNN

Bảy là, tăng cường kỷ luật tài khóa, cải

thiện tính minh bạch, công khai trong quy trình ngân sách, mở rộng hình thức và công khai nội dung công khai; tăng cường trách nhiệm giải trình Tạo điều kiện cho người dân tiếp cận được với các thông tin về nguyên tắc, mục tiêu và định hướng CSTK, về số liệu liên quan đến NSNN, về hiệu quả và tác động của việc triển khai các CSTK trên thực tế để mở rộng và nâng cao sự phản biện chính sách của cộng đồng và xã hội Các tài liệu được công khai cần có thuyết minh, giải trình cụ thể về hiệu quả quản lý thu NSNN cũng như kết quả

kỳ vọng có được từ việc sử dụng nguồn lực NSNN, khắc phục được tình trạng công khai mang tính hình thức Bên cạnh đó, cần thực hiện đổi mới hệ thống báo cáo tài khóa phù

Trang 6

hợp với thông lệ quốc tế và thực hành quốc tế

để tạo điều kiện thuận lợi cho việc thực hiện

so sánh, đánh giá cũng như việc thực hiện

công khai ngân sách

Tám là, tăng cường phối hợp hiệu quả

giữa CSTT và CSTK và các chính sách vĩ mô

khác nhằm điều phối có hiệu quả các dòng

luân chuyển tiền tệ phục vụ đắc lực cho mọi

hoạt động trong nền kinh tế

Kết luận:

Trên nền tảng của những thành công trong

điều hành CSTK giai đoạn 2011 – 2015, tin tưởng rằng, bước sang giai đoạn 2016 – 2020, nền kinh tế Việt Nam sẽ hồi phục và lấy lại đà tăng trưởng, các cân đối vĩ mô sẽ ổn định hơn, hoạt động đầu tư sẽ sôi nổi hơn Nền kinh tế chuyển dần mô hình phát triển từ chiều rộng sang chiều sâu Các yếu tố của thể chế kinh

tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa tiếp tục được hoàn thiện và phát huy hiệu quả trong việc thúc đẩy sự phát triển mọi mặt của nền kinh tế

TÀI LIỆU THAM KHẢO

[1] Bộ Tài chính (2015), “Số liệu công khai ngân sách”, truy cập từ:

http://www.mof.gov.vn/portal/page/mof_vn.

[2] Bùi Tất Thắng (2013), ‘Phối hợp CSTK với tiền tệ trong giải quyết các vấn đề kinh tế vĩ mô’, Tạp chí Tài chính, số 581-03/2013, tr 15-18.

[3] Dương Thu Hương (2012), ‘Một vài suy nghĩ về phối hợp chính sách tài khóa và chính sách tiền tệ trong điều hành kinh tế vĩ mô hiện nay’, Kỷ yếu thảo khoa học: Phối hợp CSTT & CSTK, tháng 10/2012.

[4] Đào Minh Tú (2013), ‘Phối hợp điều hành CSTK và tiền tệ ở một số nước và hàm ý chính sách cho Việt Nam’, Tạp chí Tài chính, số 581-03/2013, tr 12-14.

[5] Trương Bá Tuấn (2014), “Nợ công Việt Nam 2011 - 2013: Những vấn đề đặt ra”

[6] Ủy ban Thường vụ Quốc hội (2014), Báo cáo giám sát số 760/BC-UBTVQH13 ngày 27/10/2014

về việc thực hiện tái cơ cấu nền kinh tế trong lĩnh vực đầu tư công, DNNN và hệ thống ngân hàng [7] Vũ Nhữ Thăng (2015), “Chính sách tài khóa 2011 – 2015: Điều chỉnh đòn bẩy tài chính”.

Ngày đăng: 01/04/2021, 18:07

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w