1. Trang chủ
  2. » Cao đẳng - Đại học

Hoạt động của các ngân hàng thương mại Việt Nam: Những vấn đề cần quan tâm hiện nay - Trường Đại Học Quốc Tế Hồng Bàng

6 14 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 6
Dung lượng 298,1 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tuy nhiên, điều này cũng mang lại những thách thức không nhỏ đối với các NHTM Việt Nam trong thời gian qua khi mà quy mô vốn của các ngân hàng nhỏ, năng lực quản trị điều hành còn nhiề[r]

Trang 1

HOẠT ĐỘNG CỦA CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI VIỆT NAM: NHỮNG VẤN ĐỀ CẦN QUAN TÂM HIỆN NAY

Nguyễn Quỳnh Hoa*

TÓM TẮT

Quá trình hội nhập kinh tế quốc tế sâu rộng đã mở ra cho các ngân hàng thương mại (NHTM) Việt Nam nhiều cơ hội hợp tác kinh doanh với các đối tác nước ngoài, tiếp nhận và triển khai các nghiệp vụ ngân hàng hiện đại, nâng cao khả năng phục vụ khách hàng Tuy nhiên, điều này cũng mang lại những thách thức không nhỏ đối với các NHTM Việt Nam trong thời gian qua khi

mà quy mô vốn của các ngân hàng nhỏ, năng lực quản trị điều hành còn nhiều hạn chế, sản phẩm dịch vụ nghèo nàn, nợ xấu tăng cao, … Vì vậy, nếu không có biện pháp chấn chỉnh kịp thời thì các NHTM Việt Nam rất khó đạt được mục tiêu phát triển bền vững như đã đề ra Bài viết đánh giá thực trạng hoạt động của các NHTM Việt Nam; chỉ ra những hạn chế và đề xuất số giải pháp để hoàn thiện hoạt động của các NHTM Việt Nam hiện nay.

Từ khóa: Ngân hàng thương mại, sản phẩm, dịch vụ, vốn tự có, nợ xấu

ACTIVITIES OF THE VIETNAMESE COMMERCIAL BANKS:

PRESENT CONSIDERABLE ISSUES ABSTRACT

The wide and deep international economic integration process has brought more opportunities for the commercial banks to cooperate with foreign partners, receive and implement modern banking, enhance customer service capability However, this has induced challenges to the Vietnamese Commercial banks during the past period when the small- scale banks with limited operational capacity, poor services and highly increasing bad debts, etc Therefore, if there are

no timely correcting solutions, these banks have difficulties in achieving their expected stable developing goals The article expresses the operational reality of the Vietnamese commercial banks, points out the drawbacks and promotes some solutions for their operational perfection

Key words: Commercial Banks, Products, Services, Equity, Bad debts

* Giảng viên (NCS) trường đại học Ngân hàng TP.HCM Email: quynhhoapnd@yahoo.com

1 Giới thiệu

Lịch sử phát triển của hệ thống ngân hàng

gắn liền với sự phát triển của nền kinh tế

hàng hóa Hoạt động ngân hàng là việc kinh

doanh, cung ứng thường xuyên một hoặc một

số các nghiệp vụ sau đây: Nhận tiền gửi, cấp tín dụng, cung ứng dịch vụ thanh toán qua tài khoản Trong thời gian qua, ngành ngân hàng Việt Nam đã hoàn thành xuất sắc nhiệm

vụ của mình, luôn giữ vai trò quan trọng là

Trang 2

huyết mạch của nền kinh tế, là hơi thở trong

mọi hoạt động của đời sống xã hội, là nhân

tố không thể thiếu để tập trung nguồn lực

vốn cho phát triển đất nước Tuy nhiên, kể từ

khi Việt Nam gia nhập WTO và mở cửa thị

trường ngân hàng, tài chính các NHTM Việt

Nam phải đối mặt với cạnh tranh gay gắt

hơn từ các ngân hàng nước ngoài đến từ các

khu vực tài chính phát triển như Mỹ, Châu

Âu, Singapore, Nhật Bản, và chịu tác

động của những biến động trên thị trường

tài chính quốc tế nhiều hơn Hoạt động của

các NHTM Việt Nam từ năm 2008 đến nay

đã bộc lộ nhiều vấn đề bất ổn, đó là: vốn tự

có nhỏ bé, thanh khoản khó khăn, nợ xấu có

dấu hiệu tăng cao, chất lượng quản trị điều

hành hạn chế, sản phẩm dịch vụ nghèo nàn,

lợi nhuận chủ yếu từ hoạt động tín dụng, rủi

ro cao ảnh hưởng đến an toàn hệ thống, … Do

đó, nếu không có biện pháp can thiệp kịp thời

sẽ có nguy cơ xảy ra rủi ro gây mất an toàn hệ

thống Bài viết sử dụng phương pháp thống

kê phân tích để đánh giá thực trạng hoạt động

của các NHTM Việt Nam, chỉ ra những hạn

chế và đề xuất các giải pháp nhằm hoạn thiện

hoạt động của các NHTM Việt Nam trong

thời gian tới

2 Thực trạng hoạt động của các ngân

hàng thương mại Việt Nam

Thứ nhất, về quy mô vốn

Quy mô vốn của các NHTM Việt Nam đã

được cải thiện Tính đến ngày 31/12/2012 tất

cả các NHTM Việt Nam đều đã đạt được mức

vốn tổi thiểu theo quy định và có tỷ lệ an toàn

vốn đạt tiêu chuẩn theo thông lệ quốc tế Tuy

nhiên, so với các NHTM của các quốc gia

trong khu vực thì vốn tự có của các NHTM

Việt Nam còn rất khiêm tốn Với tỷ lệ vốn tự

có quá thấp so với tổng tài sản có, các Ngân

hàng khó có thể khống chế những diễn biến

xấu, phức tạp trên thị trường, do vậy độ rủi

ro cao Không những thế, khả năng tiếp cận công nghệ cao, hiện đại cũng sẽ bị hạn chế trong điều kiện vốn tự có thấp

Thứ hai, về hoạt động huy động vốn

Tình hình huy động vốn của toàn hệ thống ngân hàng liên tục tăng qua các năm, tuy nhiên tốc độ tăng có chiều hướng giảm xuống là do

sự gia tăng thị phần của các ngân hàng nước ngoài và nền kinh tế gặp khó khăn Để gia tăng nguồn vốn huy động, các NHTM Việt Nam đã áp dụng rất nhiều chính sách trong đó đặc biệt phải kể đến là chính sách lãi suất Lãi suất huy động thực tế vượt khung lãi suất quy định của ngân hàng Nhà nước, có diễn biến

rất phức tạp và có thời điểm được ví là “căng

như dây đàn” khi các ngân hàng đua nhau tăng lãi suất Điển hình cho việc huy động vốn vượt trần lãi suất và bị ngân hàng Nhà

nước quyết định xử lý vào ngày 15/9/2011 là

3 chi nhánh của hai ngân hàng: Ngân hàng thương mại cổ phần Đông Á, Ngân hàng Nông nghiệp và phát triển Nông thôn Việt Nam chi nhánh Ba Đình (tỉnh Thanh Hóa) và phòng Giao dịch Tôn Đức Thắng chi nhánh Sài Gòn Việc cạnh tranh trong huy động vốn bằng cách chạy đua lãi suất là một cuộc cạnh tranh không lành mạnh giữa các NHTM Việt Nam trong thời gian qua và nó tạo ra rất nhiều

hệ lụy cho không những bản thân các ngân hàng mà còn ảnh hưởng rất lớn đến sự phát triển của nền kinh tế

Thứ ba, về hoạt động tín dụng

Dư nợ tín dụng của hệ thống NHTM Việt Nam tăng lên khá nhanh Trong giai đoạn 2008-2012, tốc độ tăng trưởng dư nợ bình quân khá cao đạt trên 21,2% Tốc độ tăng trưởng dư nợ tín dụng liên tục tăng qua các năm cho thấy hệ thống ngân hàng Việt Nam

đã có đóng góp rất lớn vào việc phát triển nền

Trang 3

kinh tế Bên cạnh sự phát triển nhanh cả về

quy mô và tốc độ tăng trưởng, hoạt động tín

dụng của các NHTM Việt Nam thời gian qua

còn ẩn chứa rất nhiều hạn chế cần sớm được

khắc phục như là: tỷ lệ cấp tín dụng so với

nguồn vốn huy động vượt xa mức cho phép

của NHNN làm cho tính thanh khoản của hệ

thống luôn căng thẳng; tín dụng tăng trưởng

nóng dẫn đến chất lượng tín dụng giảm thấp

và nợ xấu tăng cao; cơ cấu kỳ hạn cho vay và

kỳ hạn huy động không cân đối đã phát sinh

rủi ro kỳ hạn ở các ngân hàng

Thứ tư, về sản phẩm dịch vụ ngân hàng

Trong thời gian qua, các NHTM Việt Nam

đã và đang không ngừng nghiên cứu và đưa

ra những sản phẩm mới để ngày càng đáp ứng

tốt hơn nhu cầu của nền kinh tế Bên cạnh

hoạt động huy động và cho vay, hoạt động

của các NHTM Việt Nam đã đa dạng trên các

mặt dịch vụ: ngân hàng bán buôn và bán lẻ

trong và ngoài nước, cho vay đầu tư, tài trợ

thương mại, bảo lãnh và tái bảo lãnh, kinh

doanh ngoại hối, tiền gửi, thanh toán, chuyển

tiền, phát hành và thanh toán thẻ tín dụng

trong nước và quốc tế, séc du lịch, kinh doanh

chứng khoán, bảo hiểm và cho thuê tài chính

Các dịch vụ tín dụng và phí tín dụng của ngân

hàng đã đáp ứng được các nhu cầu cơ bản của

khách hàng trong và ngoài nước Tuy nhiên,

các NHTM Việt Nam còn phải cố gắng nhiều

hơn nữa trong hoạt động kinh doanh bởi một

số lý do: chưa gây dựng được lòng tin vững

chắc cho khách hàng về chất lượng sản phẩm;

sản phẩm chưa phong phú về số lượng, nhất

là đối với các nghiệp vụ ngân hàng quốc tế

như: quan hệ giao dịch với các ngân hàng đại

lý, thanh toán quốc tế, thương mại và tài trợ

xuất nhập khẩu và giao dịch kinh doanh ngoại

hối, ; chưa chú trọng nhiều đến cạnh tranh

về chất lượng phục vụ và công nghệ mà chủ

yếu nhờ mở rộng mạng lưới, cạnh tranh về giá

cả và lãi suất; việc mở rộng mạng lưới ngân hàng có sự sai lệch đã tạo ra những lực cản rất lớn cho khả năng tiếp cận các dịch vụ tài chính của các khu vực dân cư,

Thứ năm, về năng lực quản trị điều hành

Tại Việt Nam, trong những năn gần đây, các doanh nghiệp đã có những tiến bộ trong cách tiếp cận với vấn đề quản trị công ty Năm

2007, Bộ Tài chính ban hành Quyết định số 12/2007/QĐ – BTC ngày 13/3/2007 về Quy chế Quản trị công ty áp dụng cho các công ty niêm yết trên Sở giao dịch chứng khoán Nghị định số 59/2009/NĐ – CP ngày 16/7/2009 về

tổ chức và hoạt động của NHTM, Luật Các tổ chức tín dụng năm 2010 có một số quy định liên quan đến quản trị công ty tại các NHTM

Có thể nói, từ khi các văn bản liên quan đến quan trị công ty tại các NHTM ra đời, năng lực quản trị điều hành của các NHTM Việt Nam đã được nâng lên một bước rõ rệt so với giai đoạn trước Nhiều NHTM đã áp dụng các mô hình quản lý hiện đại (quản lý rủi

ro, quản lý tín dụng, quản lý tài sản nợ), tiến gần hơn đến mô hình quản lý của các ngân hàng trên thế giới và phù hợp hơn với bối cảnh đầy biến động của thị trường tài chính trong và ngoài nước Tuy nhiên, quản trị công ty hiện tại vẫn đang là một phạm trù kinh tế rất mới ở Việt Nam Vì vậy, những vấn

đề cơ bản trong quản trị công ty như mối quan

hệ giữa Hội đồng quản trị và Ban điều hành, vai trò thực sự của Ban kiểm soát, tính minh bạch, công khai, chưa được hiểu biết đầy đủ

và áp dụng theo thông lệ Quản trị ngân hàng

ở Việt Nam thời gian qua đã bộc lộ không ít những hạn chế mà nếu không khắc phục thì các NHTM Việt Nam rất khó cạnh tranh trong điều kiện hội nhập ngày càng sâu rộng như hiện nay

Trang 4

Thứ sáu, về hiệu quả hoạt động kinh

doanh

Giai đoạn 2008 – 2012 là thời kỳ khó

khăn trong hoạt động kinh doanh ngân hàng

bởi sự ảnh hưởng và tác động của cuộc khủng

hoảng kinh tế toàn cầu Tính đến cuối năm

2012, tổng lợi nhuận trước thuế của hệ thống

NHTM Việt Nam đạt 28.600 tỷ đồng, giảm

48,95% so với năm 2011 Một số nguyên

nhân chính khiến cho lợi nhuận của ngành

ngân hàng năm 2012 sụt giảm mạnh: tín dụng

tăng trưởng thấp, mặt bằng lãi suất cho vay

giảm, xu hướng mở rộng hệ thống đã làm

tăng chi phí hoạt động, chi phí dự phòng

rủi ro tăng mạnh so với các năm trước, rủi

ro trong kinh doanh vàng Vì cho vay vẫn là

mảng hoạt động mang lại thu nhập chính tại

các NHTM Việt Nam nên khi nền kinh tế gặp

khó khăn, NHNN thắt chặt tiền tệ, khống chế

tăng trưởng tín dụng thi tốc độ tăng trưởng

lợi nhuận năm 2012 của các NHTM Việt

Nam giảm hẳn Do đó, trong thời gian tới

các NHTM Việt Nam cần phải chú trọng phát

triển hoạt động dịch vụ hơn nữa nhằm duy trì

hoạt động hiệu quả và ổn định hơn

Thứ bảy, về sở hữu

Từ năm 2008 đến nay, cấu trúc sở hữu

trong hệ thống NHTM Việt Nam có sự thay

đổi rất lớn Việc bốn trong số năm NHTM

Nhà nước đã thực hiện cổ phần hóa, chính

thức hoạt động theo mô hình đa sở hữu; việc

Chính phủ ban hành Nghị định số 141/2006/

NĐ-CP quy định mức vốn pháp định tối thiểu

của NHTMCP là 1.000 tỷ đồng với thời hạn

đến cuối năm 2008 và 3.000 tỷ đồng đến

cuối năm 2010 và việc Việt Nam trở thành

thành viên thứ 150 của WTO cũng làm cho

cấu trúc sở hữu của các NHTM Việt Nam có

nhiều thay đổi và đã hình thành cấu trúc sở

hữu chéo và đa phương giữa ngân hàng với

doanh nghiệp và ngân hàng với ngân hàng Trên thực tế, sở hữu chéo đem lại những lợi ích nhất định như: sở hữu chéo giữa doanh nghiệp và ngân hàng giúp doanh nghiệp đảm bảo nguồn tài trợ ổn định từ các ngân hàng

mà họ nắm giữ cổ phần Sở hữu chéo giữc các ngân hàng với nhau trên cơ sở của các quyết định đầu tư mang tính chiến lược của mình thì lợi ích tạo ra có thể là việc khái thác các lợi thế của nhau về mạng lưới chi nhánh, dịch

vụ phi tín dụng, công nghệ, và hỗ trợ nhau về thanh khoản, cho vay hợp vốn, chuyển giao công nghệ Bên cạnh những lợi ích mang lại thì sở hữu chéo đang là nguyên nhân của một

số ảnh hưởng tiêu cực đến sự an toàn và lành mạnh của hệ thống ngân hàng Việt Nam như: làm nảy sinh rất nhiều khoản nợ xấu do cho vay theo quan hệ; tạo ra những chi phí, đặc biệt là rủi ro mang tính hệ thống; các quy định

về giới hạn tín dụng, phân loại nợ và trích lập

dự phòng rủi ro của NHNN có thể bị làm sai lệch tinh thần bởi sở hữu chéo; có thể dẫn tới tình trạng tăng vốn ảo nên nguồn lực và khả năng chống đỡ rủi ro của ngân hàng không được đánh giá đúng mức

3 Giải pháp hoàn thiện hoạt động của các NHTM Việt Nam

3.1 Nhóm giải pháp vĩ mô

Thứ nhất, tiếp tục xây dựng và hoàn chỉnh

môi trường pháp lý điều chỉnh hoạt động của các ngân hàng theo hướng đầy đủ, đồng bộ

và phù hợp với thông lệ và chuẩn mực quốc

tế, đồng thời vẫn giữ được những đặc thù của nền kinh tế Việt Nam, tạo môi trường thông thoáng cho các NHTM Việt Nam Đồng thời, nâng cao hiệu lực quản lý nhằm đảm bảo thống nhất và đồng bộ trong hệ thống pháp luật chi phối hoạt động của các NHTM trong

đó cần chỉnh sửa lại nghị định phòng chống rửa tiền vì một số quy định trong nghị định

Trang 5

này chưa phù hợp với thực tế và gây khó khăn

cho hoạt động ngân hàng

Thứ hai, giảm dần các biện pháp hành

chính trong điều hành chính sách tài chính

tiền tệ NHNN cần giảm dần việc can thiệp

vào thị trường tài chính tiền tệ bằng các biện

pháp hành chính mà nên sử dụng các công

cụ thị trường để điều tiết Các trường hợp cụ

thể cần thiết sự can thiệp của Chính phủ và

NHNN, Chính phủ và NHNN cần can thiệp

không quá cứng nhắc mà nên tạo khung dao

động để các NHTM vận dụng phù hợp với

tình hình cụ thể của từng NHTM nhằm tạo

tính cạnh tranh giữa các NHTM với nhau

Thứ ba, tạo môi trường lành mạnh, công

bằng giữa các ngân hàng thương mại Việt

Nam Trong thời gian qua, các NHTM Nhà

nước nhận được hậu thuẫn và ưu ái của

NHNN Chính vì vậy, các NHTM Nhà nước

không có áp lực phải tăng vốn như các NHTM

cổ phần Chính vì có sự hậu thuẫn của NHNN

nên các NHTM Nhà nước có nhiều thuận lợi

trong dịch vụ phi tín dụng do mức phí cạnh

tranh hơn Trong thời gian tới, NHNN cần tạo

sân chơi lành mạnh và công bằng hơn cho các

NHTM để các NHTM cổ phần có cơ hội cạnh

tranh bình đẳng cùng các NHTM Nhà nước

Thứ tư, nâng cao vai trò Ngân hàng Nhà

nước Việc nâng cao vai trò ngân hàng trung

ương của NHNN Việt Nam sẽ hỗ trợ đồng thời

kiểm soát tốt hoạt động của các ngân hàng

thương mại Thực hiện tốt chức năng quản lý

Nhà nước về tiền tệ - tín dụng - ngân hàng

trên địa bàn Thành phố, đảm bảo nắm bắt,

phân tích và đánh giá kịp thời diễn biến của

thị trường tài chính, trong đó, nắm bắt nhanh

những diễn biến của các yếu tố thị trường

như: lãi suất, tỷ giá, giá vàng, giá cổ phiếu,…

dự báo diễn biến tình hình kinh tế có tác động

liên quan đến ngân hàng nhằm phục vụ hiệu

quả cho hoạt động quản lý cho NHNN

Thứ năm, phát huy hơn nữa vai trò của

Hiệp hội ngân hàng trong việc tập hợp, liên kết các NHTM để tăng cường hợp tác, hỗ trợ nhau trong hoạt động kinh doanh, đại diện và bảo vệ quyền lợi hợp phát của các NHTM; làm cầu nối giữa các NHTM hội viên và các

cơ quan quản lý Nhà nước nhằm ổn định và phát triển lành mạnh, hiệu quả, an toàn và bền vững của hệ thống NHTM trong điều kiện hội nhập quốc tế

3.2 Nhóm giải pháp đối với các ngân hàng thương mại Việt Nam

Thứ nhất, tăng cường năng lực quản trị rủi

ro Các NHTM Việt Nam cần thiết lập và triển khai hoạt động quản trị chiến lược chuyên nghiệp, thông qua xác lập tính thống nhất về nhận thức trong quản trị kế hoạch chiến lược

và gắn kết mối quan hệ với kế hoạch kinh doanh hàng năm

Tiếp tục nâng cao năng lực quản trị rủi ro thị trường và tác nghiệp theo thông lệ quốc tế: Tách bạch triệt để chức năng nhiệm vụ giữa hai bộ phận kinh doanh và quản trị rủi

ro Nâng cao vai trò độc lập của hệ thống quản trị rủi ro, từng bước áp dụng quản trị rủi ro theo định lượng và các mô hình kiểm nghiệm khủng hoảng Xây dựng hệ thống cảnh báo sớm và phát triển hệ thống công cụ, chương trình phần mềm phục vụ công tác quản lý rủi

ro thị trường, tác nghiệp theo chuẩn mực và thông lệ quốc tế

Thứ hai, tiếp tục xử lý nợ xấu của các

NHTM Việt Nam Nợ xấu cao và ngày càng gia tăng sẽ đe dọa đến khả năng tài chính và hoạt động nói chung của NHTM Việt Nam Chính vì vậy, nhiệm vụ đối với hệ thống NHTM Việt Nam hiện nay là phải tiến hành đánh giá chính xác thực trạng nợ quá hạn, nợ xấu tại chính ngân hàng mình; tiến hành phân

Trang 6

loại nợ và trích lập rủi ro theo tiêu chuẩn quốc

tế, chủ động tăng mức trích lập dự phòng các

khoản nợ xấu, chấp nhận giảm lợi nhuận hoặc

thua lỗ, chuyển nợ quá hạn, nợ xấu thành cổ

phần gắn với tái cấu trúc doanh nghiệp, bán nợ

cho các tổ chức mua bán nợ chuyên nghiệp

Thứ ba, tăng năng lực tài chính của các

NHTM Việt Nam Đảm bảo an toàn vốn là

một trong ba trụ cột cốt lõi quyết định sự an

toàn, lành mạnh của hệ thống ngân hàng Do

vậy, việc tăng vốn tự có của các NHTM Việt

Nam là một vấn đề hết sức cần thiết đối với hệ

thống NHTM Việt Nam hiện nay

Thứ tư, đa dạng hoá sản phẩm dịch vụ Đối

với các sản phẩm hiện có và truyền thống thì

các ngân hàng cần đơn giản hóa các quy trình

cung cấp dịch vụ, trang bị nhiều phương tiện

giao dịch Đồng thời các NHTM Việt Nam

cần chú trọng phát triển dịch vụ ngân hàng tận

nơi, phát triển dịch vụ ngân hàng trực tuyến,

phát triển dịch vụ mới bao gồm các sản phẩm

giúp khách hàng hạn chế các rủi ro về tỷ giá,

lãi suất; các sản phẩm trọn gói tiện nghi cho

khách hàng ,

Thứ năm, nâng cao chất lượng nguồn

nhân lực góp phần khắc phục hạn chế trong

hoạt động của các NHTM Việt Nam Nâng

cao chất lượng nguồn nhân lực theo hướng tuyển dụng đúng nhu cầu nhân lực; tổ chức đào tạo và đào tạo lại thường xuyên cán bộ để thực hiện tốt các nghiệp vụ ngân hàng sát với thực tiễn Hoạt động đào tạo phải nhằm mục đích nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ

và trang bị những kiến thức cũng như kỹ năng

bổ trợ, hướng tới việc xây dựng phong cách làm việc chuyên nghiệp, hiện đại Đối với các cán bộ quản lý các cấp có tiềm năng nên có

kế hoạch đào tạo, thực tập, trao đổi nhân viên giữa với các ngân hàng uy tín nước ngoài hoạt động trong và ngoài nước

4 Kết luận

Trên cơ sở phân tích thực trạng hoạt động của các NHTM Việt Nam với mặt đạt được và hạn chế, tác giả đã đề xuất các nhóm giải pháp hoàn thiện hoạt động của các NHTM Việt Nam trong thời gian tới Các đề xuất bao gồm hai phần chính, nhóm giải pháp ở cấp độ vĩ

mô và nhóm giải pháp đối với các NHTM Tất

cả các đề xuất trên đều hướng đến một mục tiêu chung là nâng cao hiệu quả hoạt động của các NHTM, góp phần vào sự phát triển bền vững của các NHTM Việt Nam trong giai đoạn hội nhập

TÀI LIỆU THAM KHẢO

[1] Chính phủ (2009), Nghị định số 59/2009/NĐ-CP quy định về tổ chức của ngân hàng thương mại [2] Eward W.Reed và Eward.Gill (1993), Ngân hàng thương mại, Nhà xuất bản thống kê TP.HCM [3]/ Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (2011), Dự thảo chiến lược phát triển ngân hàng Việt Nam 2011 đến 2020.

[4] Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (2011), Định hướng và giải pháp cơ cấu lại hệ thống NHTM [5] The World Bank, June 1998

[6] http://www.sbv.gov.vn, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam.

[7] http://www.vnba.org.vn, Hiệp hội ngân hàng Việt Nam.

[8] http://www.vneconomy.com.vn, Thời báo kinh tế Việt Nam.

Ngày đăng: 01/04/2021, 18:07

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w