1. Trang chủ
  2. » Kỹ Năng Mềm

Ứng dụng công nghệ thông tin trong giảng dạy học phần vẽ kĩ thuật thông qua trải nghiệm theo vòng quy nạp cho sinh viên cao đẳng ngành cơ khí

5 10 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 5
Dung lượng 1,16 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Dạy học theo hướng quy nạp là cho người học quan sát thực tế tình huống chứa nội dung cần giảng dạy (thông qua mô hình, vật thật, phần mềm mô phỏng, các trò chơi...), đưa ra các ví dụ[r]

Trang 1

ỨNG DỤNG CÔNG NGHỆ THÔNG TIN TRONG GIẢNG DẠY HỌC PHẦN VẼ KĨ THUẬT THÔNG QUA TRẢI NGHIỆM THEO VÒNG QUY NẠP CHO SINH VIÊN CAO ĐẲNG NGÀNH CƠ KHÍ

Trần Văn Việt - Nghiên cứu sinh Viện Sư phạm kĩ thuật, Trường Đại học Bách khoa Hà Nội

Ngày nhận bài: 15/08/2018; ngày sửa chữa: 30/08/2018; ngày duyệt đăng: 24/09/2018

Abstract: This article introduces teaching technology, teaching methods including ICT, teaching

focus on learner, learning by experience, inductive learning in order to teach technical basic subject The application of ICT and the innovation of teaching theories to design lessons of technical drawing subject through inductive cycle learning for Mechanical college students

Keywords: Lesson design, inductive cycle, methodology experience, participatory approach,

engineering draw

1 Mở đầu

Sự phát triển của công nghệ thông tin (ICT) và những

tiến bộ của lí luận dạy học đã góp phần thay đổi phương

pháp dạy và học trong ngành Cơ khí nói chung và học

phần Vẽ kĩ thuật nói riêng Công nghệ thông tin tạo ra

môi trường học tập mang tính tương tác cao thay thế

phương pháp dạy học truyền thống “thầy đọc - trò chép”,

qua đó người học có thể trải nghiệm khám phá và tìm tòi

kiến thức mới Vẽ kĩ thuật là một trong những học phần

cơ sở kĩ thuật có tính bắc cầu giữa các học phần khoa học

cơ bản (Hình học và Giải tích, ) với các học phần cơ sở

kĩ thuật khác (Cơ học máy hay Cơ sở thiết kế máy, )

hoặc các bộ môn công nghệ (Công nghệ chế tạo máy, )

Vì thế, học phần này được xây dựng trên cơ sở lí luận

khoa học và cơ sở thực tiễn công nghệ

Vẽ kĩ thuật là môn học nghiên cứu cách biểu diễn các

không gian hình học bằng những mô hình hình học có số

chiều thấp hơn, rồi dùng các hình biểu diễn ấy để nghiên

cứu các không gian ban đầu Trong thực tế kĩ thuật, vẽ kĩ

thuật biểu diễn các đối tượng hình học, trong không gian

Ơclit ba chiều bằng các mô hình hai chiều, là các hình

chiếu vuông góc theo phương pháp Môngiơ, hình chiếu

trục đo, hình chiếu phối cảnh,

Học phần Vẽ kĩ thuật ứng dụng các nguyên tắc và kết

quả về dựng hình, biểu diễn các đối tượng hình học trong

hình họa họa hình vào việc tạo dựng các bản vẽ kĩ thuật

Người thiết kế sử dụng các bản vẽ kĩ thuật để thông báo

cho nhau một cách đầy đủ, chính xác về hình dạng, kích

thước, của sản phẩm được thiết kế, rồi người thi công

căn cứ theo các bản vẽ đó tiến hành tạo dựng sản phẩm

đúng như ý đồ của người thiết kế

Bài viết trình bày kết quả nghiên cứu về ứng dụng

công nghệ thông tin và những tiến bộ của lí luận dạy học

trong việc thiết kế kịch bản kế hoạch sư phạm để thiết kế

các bài học theo vòng quy nạp trong học phần Vẽ kĩ thuật

cho sinh viên (SV) ngành Cơ khí tại các trường cao đẳng

2 Nội dung nghiên cứu

2.1 Mô hình và mô hình hóa

2.1.1 Mô hình

Mô hình theo nghĩa chung nhất được hiểu là một thể

hiện bằng thực thể hoặc bằng khái niệm theo một cách tiếp cận xác định, một số thuộc tính và quan hệ tiêu biểu của một đối tượng nào đó (gọi là nguyên hình) nhằm một trong hai, hoặc cả hai mục đích nhận thức sau: - Làm đối tượng quan sát (nhận dạng) thay cho nguyên hình; - Làm đối tượng nghiên cứu (thực nghiệm hay suy diễn) về nguyên hình

Ví dụ: mô hình máy bay trong thí nghiệm khí động lực học; bản vẽ thiết kế hoặc bản vẽ chế tạo của một chi tiết máy trong vẽ kĩ thuật; mô hình đại số mệnh đề hoặc đại số tập hợp, của Đại số Boole; mô hình hình học cầu của Hình học Riemann (nghĩa hẹp); mô hình toán kinh tế Theo cách hiểu nôm na, “mô hình là sản phẩm của ý tưởng bắt chước”, có thể phân biệt hai loại: mô hình diễn họa (descriptive model) bắt chước hay thể hiện đối tượng khác ở một số thuộc tính và quan hệ tiêu biểu, như mô hình địa cầu, mô hình máy bay, và mô hình chuẩn mực (normative model) hay mô hình platon (là mẫu quy chiếu, tức là làm mẫu cho đối tượng khác bắt chước hay thể hiện, như mô hình làng văn hóa Việt Nam, )

2.1.2 Mô hình hóa

Biểu diễn một đối tượng nghiên cứu bằng mô hình

tương ứng theo một cách tiếp cận nào đó được gọi là mô

hình hóa đối tượng theo cách tiếp cận ấy

2.2 Mô phỏng và công nghệ mô phỏng

2.2.1 Mô phỏng

Thí nghiệm quan sát và điều khiển được trên mô hình của đối tượng khảo sát được gọi là mô phỏng (ví dụ dùng

Trang 2

phần mềm Solidworks thiết kế bộ truyền đai mô phỏng

nguyên lí làm việc) Quan sát được và điều khiển được

mặc dù là mặc định đối với thí nghiệm nói chung nhưng

với mô phỏng vẫn phát biểu tường minh vì muốn nhấn

mạnh những ý sau đây: - Định nghĩa khái quát này của

thuật ngữ mô phỏng thực ra cũng không khác gì cách hiểu

nôm na và cách làm tự nhiên của bất cứ ai khi bắt chước

một cái gì khác; - Môi trường mô phỏng do máy tính tạo

ra (môi trường ảo) để tạo cảm giác “như thật” thường có

những mức độ khác nhau về quan sát được: nhìn - nghe,

nhìn - nghe - chạm, và điều khiển được; tương tác ảo có

thể có thật hoặc chỉ là tưởng tượng nhưng được sử dụng

để tạo tình huống thử - sai trong nghiên cứu

2.2.2 Công nghệ mô phỏng

Những khái niệm mô hình, mô phỏng và lí thuyết mô

hình hóa trên đây là nội dung cơ bản của hệ thống tri thức

về nhận dạng, nghiên cứu và ứng dụng mô phỏng trong

thực tế khoa học, công nghệ, tức là lí luận mô phỏng Gắn

liền với lí luận mô phỏng là công nghệ mô phỏng, được

xây dựng tương tự như mọi công nghệ quen biết khác

Công nghệ mô phỏng là một hệ thống phương tiện,

phương pháp và kĩ năng xây dựng mô hình cho một đối

tượng nhận thức nào đó và tiến hành thí nghiệm cần thiết

trên mô hình này để qua đó nhận dạng thuộc tính và quy

luật vận động của đối tượng đã cho

Như vậy, nhờ có công nghệ thông tin, giảng viên

(GV) có thể thiết kế ra được nhiều phương tiện dạy học

(phần mềm thiết kế, mô phỏng giống môi trường thực tế)

qua đó giúp SV có nhiều cơ hội quan sát, tương tác, thực

hành ảo, trong quá trình học tập Quá trình học tập là

cơ hội trải nghiệm, khám phá, tìm tòi kiến thức mới

2.3 Học tập qua trải nghiệm

Học tập qua trải nghiệm là một cách học chú trọng việc thực hành, trải nghiệm Quan niệm việc học là quá trình tạo ra tri thức mới trên cơ sở trải nghiệm thực tế, dựa trên những đánh giá, phân tích những kinh nghiệm, kiến thức sẵn có Học thuyết này gắn liền với David Kolb (1939) và các nhà tâm lí học, giáo dục học như John Dewey, Kurt Lewin, Jean Piaget, Lev Vygotsky,

2.4 Khái niệm và quy trình dạy học theo hướng quy nạp

Dạy học theo hướng quy nạp là một trong những cách dạy học theo hướng khám phá tri thức mới Phương pháp dạy học này phát huy được tính tích cực học tập của SV, giúp người học có cơ hội để phân tích, khái quát hóa, trừu tượng hóa các sự vật hiện tượng

Dạy học theo hướng quy nạp tức là GV đưa ra các yêu cầu, tình huống dạy học, hướng dẫn để SV phân tích từng kiến thức riêng (như trải nghiệm trong môi trường

ảo, mô hình, vật thật, hình vẽ, tranh, ảnh ), so sánh, khái quát hóa, trừu tượng hóa để tìm ra các dấu hiệu bản chất đặc trưng của kiến thức Từ đó, SV phát hiện và hiểu tường minh vấn đề

Dạy học theo hướng quy nạp là cho người học quan sát thực tế tình huống chứa nội dung cần giảng dạy (thông qua

mô hình, vật thật, phần mềm mô phỏng, các trò chơi ), đưa

ra các ví dụ sau đó đặt câu hỏi, thảo luận dẫn dắt và tổng kết các kết quả mà người học quan sát, thảo luận, trải nghiệm sau đó GV đưa ra nội dung cần giảng dạy

QUY TRÌNH DẠY HỌC THEO HƯỚNG QUY NẠP

3 Giải thích những thắc mắc trong những phát hiện, tìm tòi

5 Phân tích những phát hiện, tìm tòi và

bổ sung

2 Thảo luận, phân tích, phát hiện, tìm tòi

6 Nội dung giảng dạy

Không đúng

4 Đưa ra các kết luận

1 Tình huống chứa nội dung 1,2,3

Sơ đồ 1 Quy trình dạy học theo hướng quy nạp

Trang 3

Một số đặc điểm: - Dạy học theo hướng quy nạp

nhằm dẫn dắt người học phân tích từng tri thức riêng lẻ

sau đó khái quát thành những tri thức chung có tính quy

luật; - Dạy học theo hướng quy nạp là phương pháp cho

phép người học đưa ra những suy nghĩ, ý tưởng, khám

phá các tri thức mới thông qua sự hướng dẫn, tổ chức của

người dạy; - Dạy học theo hướng quy nạp kích thích sự

tò mò, hứng thú học tập vì người học được đưa vào tình

huống dạy học xác định, tham gia trải nghiệm trong một

số môi trường ảo ; - Thông qua dạy học theo hướng quy

nạp, SV không chỉ lĩnh hội được tri thức mà còn học

được cách phân tích, tư duy, học được phương pháp học,

cách giải quyết vấn đề

Như vậy, trong dạy học theo cách này, người học tự

lực, tích cực tìm tòi, phân tích khám phá tri thức cho bản

thân Để phát huy hết hiệu quả của quy nạp, GV có thể

sử dụng quy nạp kết hợp nhiều phương pháp dạy học tích

cực khác như phương pháp thảo luận nhóm, phương

pháp dạy học nêu vấn đề, sử dụng các trường hợp điển

hình trong dạy học (xem sơ đồ 1 trang trước)

2.5 Các bước học theo vòng quy nạp

Dựa theo quy trình dạy học theo hướng quy nạp và

các bước học tập qua trải nghiệm của David Kolb, chúng

tôi đề xuất các bước học theo vòng quy nạp như sau (xem

sơ đồ 2):

Sơ đồ 2 Vòng quy nạp

- Bước 1: Tích lũy sự kiện Bước này giúp SV được

nghe, nhìn, cảm nhận, nhớ lại những hoàn cảnh, tình

huống, kinh nghiệm và đặc biệt nhờ có phương tiện giúp

SV thực hành, thử sai (thực tế hoặc trong môi trường

ảo) liên quan đến những điều cần học Người học khám

phá ra những thông tin mới nhờ tham gia vào một hoạt

động Nói cách khác, bước này bắt đầu từ một hoạt động

Các hoạt động thường dùng: đưa ra câu hỏi thảo luận nhóm; bài tập cho nhóm; sắm vai; trò chơi, truyện kể, kịch; thăm thực địa; thực hành, thử sai (trong môi trường ảo)

GV tổ chức các hoạt động bằng cách giới thiệu mục tiêu, hướng dẫn rõ ràng các quy định của hoạt động, nội dung thực hành (thử sai), nên yêu cầu thời gian và quan sát cách SV tiến hành hoạt động Nếu là hoạt động tiến hành theo nhóm nhỏ thì phải chắc rằng SV đã hiểu rõ công việc mà nhóm phải làm và biết cách tổ chức nhóm: bầu nhóm trưởng, thư kí, người trình bày

Bước 2: Trừu xuất (khái quát hoá cho từng sự kiện)

Trong bước này, SV suy ra những kết quả thảo luận, thực hành, thử sai trong bước 1 để xác định xem khái niệm, bài học nào được rút ra

Những hoạt động thường áp dụng: thảo luận nhóm lớn để tổng hợp; thuyết trình tóm tắt ý chính

GV có vai trò giống như người dạy trong phương pháp giảng dạy truyền thống, do đó GV cần am hiểu chủ

đề, kết quả đang hướng dẫn và có nguồn tham khảo đáng tin cậy Điều này không có nghĩa là người hướng dẫn phải chủ động trả lời tất cả câu hỏi được nêu ra mà nên hướng dẫn để SV tự tìm ra câu trả lời bằng cách: cung cấp nội dung tóm tắt cho SV; hướng dẫn SV tới nội dung cần xây dựng bằng các câu hỏi

- Bước 3: Trừu xuất (khái quát hoá lí thuyết hoàn chỉnh) Trong bước này, SV đưa ra kết quả hoàn chỉnh

của thảo luận, thực hành hoặc thử sai trong bước 1 để xác định xem khái niệm, bài học nào được rút ra

Vai trò của GV là người đưa ra kết luận và phát biểu các kết luận đó thành các định nghĩa, khái niệm, bài học kinh nghiệm hoặc nội dung cần giảng dạy

Bước 4: Áp dụng/Thử nghiệm Để giúp SV thấy bài học có ý nghĩa thì điều mới vừa học phải có liên hệ đến cuộc sống/công việc của các em Ở bước này, người học

có dịp liên hệ bài học với cuộc sống thường ngày Các cách thường dùng là: SV thực hành kĩ năng; lập chương trình hành động cụ thể; thực hiện những nội dung của bài học Vai trò của GV dẫn là đưa ra những lời khuyên, hướng dẫn giúp SV thực hành nâng cao kĩ năng Những câu hỏi thường được dùng như: Điều gì làm bạn tâm đắc nhất? Khó khăn nhất khi bạn áp dụng vào thực

tế là gì? Bạn sẽ áp dụng vào thực tế như thế nào? Bạn có gặp khó khăn gì khi áp dụng những điều mới học?

2.6 Thiết kế một số nội dung bài học trong học phần

Vẽ kĩ thuật theo vòng quy nạp cho sinh viên cao đẳng ngành Cơ khí

2.6.1 Chia đường tròn ra nhiều phần bằng nhau

- Chuẩn bị: + Giáo án, bài giảng, bài giảng điện tử,

giáo trình ; + Máy tính đã cài phần mềm GeoGebra và Cabri3D, máy chiếu

Trừu xuất

Khái quát hoá từng sự kiện

Trừu xuất

Khái quát hoá lí thuyết hoàn chỉnh

Áp dụng/

Thử nghiệm

Tích lũy sự kiện

Trải nghiệm/Thực

hành/Thử sai (thực tế

hoặc trong môi

trường ảo)

Trang 4

Kịch bản sư phạm tổ chức dạy học theo vòng quy nạp

như sau:

- Bước 1: Tích luỹ sự kiện

+ Tổ chức lớp học theo vòng quy nạp: Chia lớp học

thành nhiều nhóm nhỏ (mỗi nhóm từ 4-5 SV), mỗi nhóm

có một máy tính, sơ đồ lớp học ngồi theo nhóm

+ GV đưa ra yêu cầu cho cả lớp: Trình bày cách chia

đường tròn ra nhiều phần bằng nhau

+ GV hướng dẫn thao tác trên phần mềm GeoGebra

hoặc Cabri3D cách chia đường tròn ra 3 phần bằng nhau

và yêu cầu SV chia đường tròn ra sáu phần bằng nhau

+ SV thực hành theo nhóm và ghi chép lại kết quả

thảo luận

+ SV đặt các câu hỏi (nếu có)

+ GV trả lời các câu hỏi của SV (nếu có)

- Bước 2: Trừu xuất (khái quát hoá cho từng sự kiện)

Các nhóm trình bày kết quả của thực hành của nhóm

mình: + Đại diện mỗi nhóm trình bày cách chia đường

tròn ra 3 phần bằng nhau GV nhận xét, bổ sung và đưa

ra kết luận; + Đại diện mỗi nhóm trình bày cách chia

đường tròn ra 6 phần bằng nhau GV nhận xét, bổ sung

và đưa ra kết luận

- Bước 3: Trừu xuất (khái quát hoá lí thuyết hoàn chỉnh)

Đại diện các nhóm trình bày cách chia đường tròn ra nhiều

phần bằng nhau GV nhận xét, bổ sung và đưa ra kết luận

- Bước 4: Áp dụng

Bài tập thực hành: Chia đường tròn ra n và n + 1 phần

bằng nhau (n là số nguyên)?

2.6.2 Vẽ tiếp tuyến chung với hai đường tròn

- Chuẩn bị: + Giáo án, bài giảng, bài giảng điện tử,

giáo trình ; + Máy tính đã cài phần mềm GeoGebra và

Cabri3D, máy chiếu

Bài toán: Biết hai đường tròn (O1, R1) và (O2, R2) Vẽ

cung tròn tâm O, bán kính R tiếp xúc với hai đường tròn trên

Kịch bản sư phạm tổ chức dạy học theo vòng quy nạp

như sau:

- Bước 1: Tích luỹ sự kiện

+ Tổ chức lớp học theo vòng quy nạp: Chia lớp học

thành nhiều nhóm nhỏ (mỗi nhóm từ 4-5 SV), mỗi nhóm

có một máy tính, sơ đồ lớp học ngồi theo nhóm

+ GV đưa ra yêu cầu cho cả lớp: Trình bày cách vẽ

tiếp tuyến chung với hai đường tròn nói trên

+ GV hướng dẫn thao tác trên phần mềm GeoGebra

hoặc Cabri3D cách dựng đường tròn và yêu cầu SV vận

dụng kiến thức của bài vẽ tiếp tuyến với một đường tròn để

thực hiện tương tác trên phần mềm theo yêu cầu của bài toán

+ SV thực hành theo nhóm và ghi chép lại kết quả

thảo luận

+ SV đặt các câu hỏi (nếu có)

+ GV trả lời các câu hỏi của SV (nếu có)

- Bước 2: Trừu xuất (khái quát hoá cho từng sự kiện)

Các nhóm trình bày kết quả của thực hành của nhóm mình: Đại diện mỗi nhóm trình bày cách vẽ tiếp tuyến chung ngoài và tiếp tuyến chung trong với hai đường tròn nói trên GV nhận xét, bổ sung và đưa ra kết luận

Hình 1 Cách vẽ tiếp tuyến chung ngoài của 2 đường tròn

Cách vẽ tiếp tuyến chung ngoài của 2 đường tròn

(hình 1): + Lấy O1 làm tâm quay đường tròn phụ có bán

kính R1 - R2; + Vẽ tiếp tuyến chung của đường tròn phụ với tâm O2; + Chia đôi O1 với O2 trung điểm là I; + Lấy

I làm tâm quay cung IO1 cắt đường tròn phụ tại A và B; + Nối O1 với A và B kéo dài cắt đường tròn O1 tại T1 và

T1’; + Từ O2 kẻ O2T2 song song với O1T1, O2T2’ song song với O1 T1’; + Nối T1 với T2 và T1’ với T2’ ta được hai tiếp tuyến chung của hai đường tròn

Hình 2 Cách vẽ tiếp tuyến chung trong của 2 đường tròn

Cách vẽ tiếp tuyến chung trong của 2 đường tròn

(hình 2): + Lấy O2 làm tâm quay đường tròn phụ có bán kính R1 + R2; + Vẽ tiếp tuyến chung của đường tròn phụ với tâm O1; + Chia đôi O1 với O2 trung điểm là I; + Lấy

I làm tâm quay một cung cắt đường tròn phụ tại A và B; + Nối O1 với A và B ta được O1A và O1B; + Từ O2 kẻ tới

A và B cắt đường tròn tâm O2 bán kính R2 tại T2 và T2’; + Từ O1 kẻ O1T1 song song với T2’B, O1T1’ song song với T2A; + Nối T1 với T2’ và T1’ với T2 ta được hai tiếp tuyến chung của hai đường tròn

- Bước 3: Trừu xuất (khái quát hoá lí thuyết hoàn chỉnh)

Gọi d là khoảng cách của hai tâm O1 và O2: + Nếu d

> R1 + R2 → có hai tiếp tuyến chung trong; + Nếu d = R1

+ R2 → có một tiếp tuyến tại tiếp điểm; + Nếu d < R1 +

R2 → không có tiếp tuyến chung trong

Trang 5

Đại diện các nhóm trình bày cách vẽ tiếp tuyến chung

với hai đường tròn GV nhận xét, bổ sung đưa ra kết luận

- Bước 4: Áp dụng

Bài tập thực hành: Vẽ tiếp tuyến chung với hai đường

tròn có bán kính và khoảng cách khác nhau?

2.6.3 Hình chiếu

- Chuẩn bị: + Giáo án, bài giảng, bài giảng điện tử,

giáo trình ; + Máy tính đã cài phần mềm GeoGebra và

Cabri3D, máy chiếu

Kịch bản sư phạm tổ chức dạy học theo vòng quy nạp

như sau:

- Bước 1: Tích luỹ sự kiện

+ Tổ chức lớp học theo vòng quy nạp: Chia lớp học

thành nhiều nhóm nhỏ (mỗi nhóm từ 4-5 SV), mỗi nhóm

có một máy tính, sơ đồ lớp học ngồi theo nhóm; + GV

đưa ra các yêu cầu cho cả lớp: Vẽ hình theo bản vẽ?

Hình 3

+ SV thực hành theo nhóm và ghi chép lại kết quả

thảo luận

+ SV đặt các câu hỏi (nếu có)

+ GV trả lời các câu hỏi của SV (nếu có)

- Bước 2: Trừu xuất (khái quát hoá cho từng sự kiện)

Các nhóm trình bày kết quả thực hành của nhóm

mình: + Đại diện các nhóm đưa ra kết quả của các mặt

phẳng chiếu; + GV nhận xét, bổ sung và đưa ra kết luận

- Bước 3: Trừu xuất (khái quát hoá lí thuyết hoàn chỉnh)

Đại diện các nhóm trình bày hình chiếu cơ bản sau đó

GV nhận xét, bổ sung và đưa ra kết luận

Hình 4

- Bước 4: Áp dụng

Bài tập thực hành: Tìm hình chiếu của vật theo hình

vẽ cho trước

3 Kết luận

Nhờ sự phát triển của công nghệ thông tin và những tiến bộ của lí luận dạy học (đặc biệt là lí luận dạy học quy

nạp) mà quá trình dạy và học học phần Vẽ kĩ thuật có

nhiều lựa chọn phương pháp dạy học để đạt hiệu quả hơn Một trong những ứng dụng đó là xây dựng bài giảng điện

tử, ứng dụng phần mềm để giảng dạy học phần Vẽ kĩ

thuật bằng phương pháp quy nạp (theo vòng quy nạp),

từng bước nâng cao chất lượng đào tạo Qua đó, góp phần thay đổi phương pháp dạy và phương pháp học trong học

phần Vẽ kĩ thuật của ngành Cơ khí một cách sâu sắc là

chuyển từ lấy việc dạy làm trọng tâm sang lấy việc học làm trọng tâm

Tài liệu tham khảo

[1] Nguyễn Xuân Lạc (2017) Nhập môn Lí luận và công

nghệ dạy học hiện đại NXB Giáo dục Việt Nam

[2] Trần Khánh Đức (2013) Lí luận và phương pháp

dạy học hiện đại NXB Giáo dục Việt Nam

[3] Vũ Thị Lan (2014) Dạy học dựa vào nghiên cứu

trường hợp ở đại học NXB Bách khoa

[4] Nguyễn Văn Bảy (2015) Dạy học trải nghiệm và

vận dụng trong đào tạo nghề điện dân dụng cho lực lượng lao động nông thôn Luận án tiến sĩ Khoa học

giáo dục, Trường Đại học Sư phạm Hà Nội

[5] Nguyễn Xuân Lạc (2015) Công nghệ dạy học tương

tác ảo Tạp chí Thiết bị giáo dục, số 122, tr 1-3

[6] Trần Văn Việt (2016) Thiết kế bài giảng dạy học

theo hướng quy nạp một số nội dung trong môn Vẽ

kĩ thuật ở các trường cao đăng kĩ thuật Tạp chí

Thiết bị giáo dục, số đặc biệt tháng 11, tr 20-23

[7] Kolb, David A (1984) Experiential Learning:

Experience as the Source of Learning and Development Prentice - Hall, Inc., Englewood Cliffs,

New Jersey

[8] Nicola Whitton (2010) Learning with Digital

Games Routledge, NY

[9] Madeleine Roy - Jean-Marc Denomme (2009) Sư

phạm tương tác - Một tiếp cận khoa học thần kinh

về học và dạy (Trịnh Văn Minh và cộng sự dịch)

NXB Đại học Quốc gia Hà Nội

Ngày đăng: 01/04/2021, 17:54

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w