1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Giáo trình Luật thương mại (Tập I): Phần 1 - Trường Đại Học Quốc Tế Hồng Bàng

20 19 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 20
Dung lượng 1,23 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Laptev về luật kinh tế là ngành luật độc lập là tổng hợp các quy phạm pháp luật quy định trật tự quản lí và thực hiện các hoạt động kinh tế và điều chỉnh các quan [r]

Trang 1

T Â P I

Trang 2

43-201 l/CXB/221 -2506/CAND

Trang 3

TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI

Giáo trình

TẬP I

(Tái bản lần thứ 4)

m r r - t

T r ■ ' ' * “> ' • , / “ * .■“ " / * 1 I ! A / ' * 1 1 1 I I

í K ;J Ji\ỉG ĐA! HOC

_ ĩR u n g T â ív T ^ Ĩ£ £ 2 G - 3 f

THÔNG TIN THƯ VIỀN

*»■»<» »rv- s»ú»r

NHÀ XUẤT BẢN CÔNG AN NHÂN DÂN

Trang 4

Chủ biên

TS NGUYỄN VIẾT TÝ

Tập thể tác giả

Trang 5

LỜI GIỚI THIỆU

Từ đầu nhữnq nàm 90 của thế kỉ trước, đẻ ptìiic vụ công tác giảng dạy và học tập môn học luật kinh tế, Trường Đại học Luật Hờ Nội đã xuất bản và tái bân nhiều lán giáo trình luât kinh tế vù iỊỉủo trình luảỉ thương mại Vỉêt Nam Các giáo trình đó đã nhân đươc sư quan tâm và đón ciỊÊkcíia bạn

Tuy nhiên, trong những nám qua, cùng với sựịđếyểti đổi nhanh chong của nền kinh tể Việt Nam, pháp liiậiậcậih tế đã thay dổi cơ bảny dã xuất hiện những quan điầện lí luận, phạm trù, khái niệm mới so với trước Hơn nữa, ịể p h ụ c vụ cho việc nghiên cứu, giảng dạy và học tập theo c!ề(ơng trình dào íạo mới của nhà trường,(j) Trường Đại học Luật Hà Nội

tổ chức biên soạn giáo trình luật thương mại, thay thế giáo (rình Ỉỉiật kinh tế và ụáo trình luật thương mại Việt Nam tỉèii trẽn.

Với những cô gắng vượt bậc của mình, tập thể tác giả dã tập trung nghiên cứu và biên soạn những vấn đề lí luận và

thực tiễn CƯ bản cấp bách của pháp luật thương mại Việt

Nam nhằm đáp ứng nhu cầu ỹảng dạy, học tập và nghiên

(i) Xem: * Chương trình dào tạo1', được ban hành kèm Quyết định số 709/Đ T Của Hiệu trường Trường Đại học Luật Hà Nội, ngày 4 tháng 6 năm 2003.

Trang 6

cứu môn luật thương mại Bên cạnh đó, cuốn giáo trình cũng gợi mả những đề tài cần dược nghiên cứu sâu thêm, khi bạn đọc có nhu cáu.

Giáo trình luật thương mại gồm 18 chương, được thể hiện trong hai tập: Tập I có 8 chương (từ chươtĩg 1 đến chương 8), phục vụ cho việc học tập và giảng dạy hai học phần bắt buộc (học phần pháp luật về doanh nghiệp và học phần pháp luật cạnh tranh) và một học phần tự chọn; Tập II

có 10 chương (từ chương 9 đến chương 18), phục vụ cho việc học tập và giảng dạy hai học phần bắt buộc (học phần pháp luật vê các hành vi thương mại và học phần pháp luật vê phá sản và giải quyết tranh chấp trong thương mại) và một học phẩn tự chọn.

Chúng tôi trân trọng cảm ơn tập thể tác giả đã dành nhiều thời gian để biên soạn và chỉnh lí chỉnh sửa giáo trình Đặc biệt chúng tôi trân trọng câm ơn Hội đồng nghiệm thu giáo trình Luật thương mại về sự hổ trợ các ỷ kiến đóng góp hết sức quỷ báu trong quá trình biên soạn và thẩm định giáo trình này.

Giáo trình luật thương mại lần đầu tiên được biên soạn chắc khó tránh khỏi những hạn chế nhất định Trường Đại học Luật Hà Nội chân thành cảm ơn những ý kiến đóng góp cùa bạn đọc đ ể hoàn thiện giáo trình trong các lần tái bán.

Hà Nội, tháng 4 năm 2006

TRUỒNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI

Trang 7

K H Á I Q U Á T LUẬT THƯ Ơ NG M Ạ I V IỆ T N AM

i

I QUAN NIỆM VỀ LUẬT KINH TẾ, LUẬT THUƠNG MẠI, LUẬT KINH DOANH

1 Quan niệm về luật kinh tẽ Quan niệm về luật kinh tế được biết đến ở các nước tư bản từ những năm đầu của thế kỉ XX, khi trong nền kinh tế xuất hiện những nhân tố mới như: sự can thiệp của nhà nước vào nền kinh tế, sự phát triển của kinh tế nhà nước, sự xuất hiện độc quyền V V Những người theo trường phái luật kinh tế cho rằng sự phân chia truyền thống pháp luật tư sản ra luật công và luật tư, trong hoàn cảnh đó không còn

có ý nghĩa mà cần có một ngành luật mới đó là luật kinh tế

chỗ giáp ranh giữa luật công và luật tư

Nội dung của luật kinh tế gổm có: Luật thương mại, luật lao động, luật điều chinh sả hữu công nghiệp và một sô chế định, quy phạm của luật dân sự có có áp dụng pháp luật công (quan hệ dãn sự do các chế định, quy phạm này điều chỉnh

có sự can thiệp của nhà nước) Trong nội dung của luật kinh

tế theo quan niệm này thi luật thương mại có vị trí quan

Trang 8

trọng nhất.

Cho đến nay, vẫn đề này vẫn được GS.TS Friedrich Kubler khẳng định lại rằng luật kinh tế không thuần túy thuộc công pháp hoặc tư pháp mà nó trùm lên cả công pháp và tư pháp,

có vấn đề thuộc công pháp và có vấn đề thuộc tư pháp.(l)

Sau Cách mạng tháng Mười Nga vĩ đại, cùng với việc thiết lập chính quyền chuyên chính vô sản, giai cấp công

nhân và nhân dân lao động đã thiết lập chế độ sở hữu hoàn

toàn mới - chế độ sở hữu XHCN về tư liệu sản xuất Sở hữu XHCN về tư liệu sản xuất là cơ sở của nền kinh tế quốc dân XHCN Hầu hết mọi chủ trương chính sách của các đảng cộng sản và các nhà nước XHCN đều nhăm phát triển tối đa hình thức sở hữu này Mặt khác, nhà nước XHCN không chỉ

là trung tâm quyền lực chính trị rr>à còn là trung tâm kinh tế Với tư cách là người chủ sở hữu tư liệu sản xuất chủ yếu và

là người nấm quyền lực chính trị, nhà nước XHCN trực tiếp tiến hành hoạt động kinh tế và lãnh đạo hoạt động đó Tất cả các tình tiết đó có ý nghĩa quan trọng để nhận thức bản chất của luật kinh tế trong nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung ở các nước XHCN nói chung và ở nước ta nói riêng

Mặc dù, ở các nước XHCN trước đây có các điều kiện kinh tế, chính trị - xã hội tương đối giống nhau nhưng quan niồ*n về luật kinh tế cũng khong hoàn toàn thống nhất với nhau Thậm chí, ngay ờ trong một nước như Liên Xô (cũ), trong mỗi thời kì lịch sử, cũng có nhiều quan niệm khác nhau về luật kinh tế

(i).X em : V F Kubler và J Simon (1992), M ấy vấn d ề ph áp ĩuật kinh t ế Cộng

hoà liên bang Đức% Nxb Pháp lí, Hà N ội, tr 223.

Trang 9

- Theo GS.VS Laptev - người đứng đầu trường phái luật kinh tế trong những năm 60, 70 thế kỉ trước thì luật kinh tế là một ngành luật - tổng hợp các quy phạm pháp luật quy định trật tự quản lí và thực hiện các hoạt động kinh tế và điều chỉnh các quan hệ kinh tế giữa các tổ chức kinh tế XHCN cũng như các đơn vị cấu thành bên trong của nó với việc vận dụng nhiều phương pháp điều chỉnh khác nhau.(l)

Như vậy, những người theo trường phái luật kinh tế của GS.VS Laptev cho rằng luật kinh tế là ngành luật độc lập trong hệ thống pháp luật Xô viết, điều chỉnh các quan hệ giữa các tổ chức kinh tê XHCN và các bộ phận cấu thành của chúng tronjị lãnh đạo và thực hiện các hoạt động kinh tế Những quan kệ này được gọi là các quan hệ kinh tế và phát sinh trong quá trình tái sản xuất XHCN Tất nhiên, đối tượng điều chình của luật kinh tế không phải là tất cả các quan hệ phát sinh trong quá trình tái sản xuất XHCN mà chỉ một phần các quan hệ đó - các quan hệ kinh tế, với đặc trưng quan trọng nhất của chúng là trong các quan hệ đó bao giờ cũng kết họp hài hòa yếu tô' tài sản và yếu tố tổ chức - kế hoạch Ngoài ra, những người theo trường phái này còn khảng định ràng luật kinh tế không chỉ có dối tượng điéu chỉnh riêng mà còn có phương pháp điều chỉnh và các

nguyên tắc riêng.

Ở Việt Nam, vào những năm 60, 70 của thế kỉ XX, nhân dân ta phải thực hiện hai nhiệm vụ chiến lược, đó là giải phóng miền Nam thống nhất đất nước và xây dựng CNXH ờ

(l).X cn i: v v Lap chep (1975), Giáo trình InợỊ kinh tê\ Nxb Khoa học,

Moskva tr 17.

Trang 10

miền Bắc Trong quá trình xây dựng CNXH ở miền Bắc, chúng

ta có những điều kiện kinh tế, chính trị, xã hội cơ bản tương tự như Liên Xô và các nước Đông Âu, do đó chúng ta đã áp dụng

cơ chế quản lí kinh tế kế hoạch hóa tập trung như các nước

đó Đó là lí do cơ bản để lí giải cho sự tác động của khoa học pháp lí của Liên Xô và các nước Đông Âu đối với khoa học pháp lí nước ta Có thể nói, trong thời kì này, Việt Nam đã tiếp thu hoàn toàn các quan điểm lí luận của GS.VS Laptev

về luật kinh tế là ngành luật độc lập là tổng hợp các quy phạm pháp luật quy định trật tự quản lí và thực hiện các hoạt động kinh tế và điều chỉnh các quan hệ kinh tế giữa các tổ chức kinh tế XHCN cũng như các đơn vị cấu thành bên trong của nó với việc vận dụng nhiều phương pháp điều chỉnh khác nhau mà không có sự tranh luận gay gắt nào xảy ra

Chính vì vậy, quan niệm về luật kinh tế trong giới lí luận cũng như các nhà thực tiễn ở nưóe ta lúc bấy giờ khống có gì khác so với quan niệm của GS vs Laptev như đã trình bày ở trên

Trong thời gian gần đây ở nước ta, luật kinh tế vẫn được

quan niêm là: "Tổng thể các quy phạm pháp luật điều

chỉnh các quan hệ xã hội phát sinh trong quá trình tô’ chức, quàn lí và hoạt động của sản xuất kỉnh doanh giữa các doanh nghiệp với nhau và với cơ quan quản lí nhà nước”,{X)

Như vậy, có thể nói, luật kinh tế là ngành luật điều chỉnh hai nhóm quan hộ xã hội chủ yếu, đó là những quan hệ phát sinh trong quá trình thực hiộn hoạt động kinh doanh và những quan hệ trong quá trình quản lí nhà nước đối với hoạt

(l).X em : Truờng Đại học Luật Hà Nội (1996), Giáo trình luật kinh tê\ Nxb

Giáo dục, Hà N ội tri 23.

Trang 11

động kinh doanh đó Tương ứng với các quan hệ đó, nội dung của luật kinh tế bao gồm hai bộ phận quy phạm pháp luật chính: thứ nhất, những quy định về việc thực hiện hoạt động kinh doanh; thứ hai, những quy định về quản lí nhà nước đối với hoạt động kinh doanh Tùy thuộc vào bản chất của nền kinh tế trong từng giai đoạn lịch sử mà nhà nước chú trọng ưu tiên phát triển các quy định về thực hiện hoạt động kinh doanh hoặc các quy định về quản lí nhà nước đôi với hoạt động kinh doanh

2 Quan niệm về luật thương mại Trong đời sống kinh tế xã hội cũng như trong khoa học pháp lí ờ các nước theo hệ thống pháp luật châu Ầu lục địa, luật thương mại đã tổn tại như một ngành luật quan trọng, cùng với luật dân sự điều chỉnh các quan hệ tài sản mang

tính chất hàng hóa - tiền tệ.

Luật thương mại ra đời do yêu cầu mới của đời sống kinh

tế xã hội lúc bấy giờ và do các quy định của luật dân sự không thể đáp ứng được đối với những quan hệ mới phát sinh trong lĩnh vực lưu thông thương mại Lúc đầu người ta chỉ biết có dân luật Tới thời kì thương mại phát triển, người

ta nhận thấy có nhu cầu đặc biệt, cần có các quy tắc riêng mới thoả mãn được Thí dụ, nhu cầu nhanh chóng, Itiau lẹ vể thủ tục, nhu cầu tín dụng.(1)

Lúc khởi thủy, luật thương mại là ngành luật tư điển hình, là luật của các thương gia, điều chỉnh các quan hẹ mua

(l).X em : Nguyền Quang Quýnh (1967), Giáo trình dân luật, quyển 1, Viên

Đại học Cần Thơ xuất bản, tp Cần Thơ, tr 56.

Trang 12

bán trên thị trường.(l) Như vậy, lúc bấy giờ luật thương mại chi điều chỉnh các hành vi mua bán hàng hóa nhằm mục đích kiếm lòi Nhưng về sau, quan niệm "hành vi thương mại" không còn bị bó hẹp là hành vi mua bán mà được mờ rộng ra, bao gồm tất cả các hành vi: đầu tư, sản xuất, trao đổi hàng hóa, cung ứng dịch vụ nhằm mục đích sinh lợi Do đó, phạm

vi điều chỉnh của luật thương mại ngày càng được mở rộng và nội dung của nó ngày càng phong phú hơn Nội dung của luật thương mại các nước này được thể hiện tập trung nhất trong các bộ luật thương mại, đề cập những vấn đề cơ bản như: địa

vị pháp lí và hoạt động của các thương nhân, các giao dịch thương mại và đại diện thương mại, chứng khoán, thương mại hàng hải, mất khả năng thanh toán và phá sản Ngoài ra, bộ luật thương mại của một số nước còn chứa đựng những quy định về giải quyết tranh chấp trong thương mại

Ở Việt Nam, cùng với việc ban hành Luật thương mại năm 1997, trên thực tế đã xuất hiộn khái niệm "luật thương mại" Song, do khái niệm thương mại được hệ thống pháp luật nước ta lúc đó được tiếp cận ờ nghĩa hẹp, tức chì là một khâu của hoạt động thương mại, cho nên luật thương mại không được coi là một ngành luật mà chỉ được coi như một

bộ phận của luật kinh tế Trong thời gian gần đây, để phù hợp vói Hiệp định thương mại Viột Nam - Hoa Kì cũng như các văn bản pháp lí của WTO, hoạt động thương mại được pháp luật Viột Nam ghi nhận theo nghĩa rộng Đó là hoạt động nhằm mục đích sinh lợi, bao gồm mua bán hàng hoá

(i).X em : Dương Đàng Huệ (1996), C ơ s ò khoa học cùa việc xây dim g pháp

luật thương mại kinh t ế à turớc ta, Tạp chí nhà nước và pháp luật, số 1, tr 42.

Trang 13

cung ứng dịch vụ, đầu tư, xúc tiến thương mại và các hoạt động nhằm mục đích sinh lợi khác.(l) Với quan niệm luật thương mại với nghĩa như vậy, cho nên ở trường Đại học luật

Hà Nội, môn học luật kinh tế trước đây được đổi thành môn học luật thương mại

3 Quan niệm về luật kinh doanh

Vào cuối thế kỉ XX, trong một số tài liệu nghiên cứu và giảng dạy pháp lí cùa một số nước trên thế giới xuất hiện khái niệm luật kinh doanh Theo các tài liệu đó, ở Liên bang Nga, luật kinh doanh (nPE^riPMHMMATEyibCKOE nPABO)

được coi là ngành luật và được hiểu là: "Tổng thể các quy

phạm pháp luật, điều chỉnh các quan hệ kinh doanh vờ các quan hệ xã hội khác liên quan mật thiết với quan hệ kinh doanh, trong đó có các quan hệ trong lĩnh vực quán lí nhà nước đối với hoạt động kỉnh doanh nhằm đảm bảo lợi ích của nhà nước và của xã hội".ữ) Hoặc ở Mĩ, vốn dĩ các khái

niệm luật dân sự và luật thương mại với tư cách là ngành luật độc lập hầu như không được biết đến, cho nên luật kinh doanh cũng không tồn tại như là một ngành luật mà chỉ tồn tại như là một môn học Trong cuốn "Luật kinh doanh" (Business law), ấn bản lần thứ 6, R Robert Rosenberg có giới thiệu: ''Cuốn luật kinh doanh dựa trên cơ sở Bộ luật thương mại thống nhất Hoa Kì, trình bày những vấn đề pháp

li cơ bản về pháp luật thương mại và pháp luật hành

(1).Xem: Điéu 2 Pháp lệnh trọng tài thương mại nãm 2003; khoản 1 Đièu 3 Luật thương mại (2005).

(2 ).Xem: l.B Doinhicop (1997) Luật kinh doanh, Nxb Branđec, Moskva, tr 17.

Ngày đăng: 01/04/2021, 17:46

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm