đặt hàng cho giáo dục, phát huy sức mạnh tổng hợp của cả hệ thống chính trị, giải quyết dứt điểm các hiện tượng tiêu cực kéo dài, gây bức xúc trong lĩnh vực giáo dục và đ[r]
Trang 1VỀ ĐỔI MỚI QUẢN LÍ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI GIÁO DỤC ĐẠI HỌC
ĐẶNG ỨNG VẬN (*)
TÓM TẮT
Bài viết đi sâu phân tích, lí giải nêu lên vấn đề: đổi mới quản lí nhà nước đối với giáo dục đại học phải đổi mới từ tư duy, dổi mới phương thức quản lí, đổi mới cách trao quyền phân cấp và trong đổi mới phải đảm bảo dân chủ
Từ khoá: đổi mới quản lí nhà nước, giáo dục đại học, tư duy, phương thức quản lí,
phân cấp, dân chủ
ABSTRACT
The article thoroughly analyses, reasons and raises the issues: the innovation of the state management of higher education must innovate the thinking, the modes of management, the methods of decentralization and there must be guaranteed democracy in the innovation
Keywords: innovation of state management, higher education, thinking, modes of
management, decentralization, democracy
1 MỞ ĐẦU
Nghị quyết kì họp thứ 8 Ban Chấp hành
Trung ương khoá XI (viết tắt là NQ8) mang
một luồng gió mới và tạo cơ hội mới cho sự
phát triển giáo dục đại học Việt Nam khởi
đầu bằng những đổi mới về tư duy quản lí
Những điểm mới về tư duy quản lí này tuy
không nhiều nhưng có tính đột phá Ví dụ:
đặt hàng cho giáo dục, phát huy sức mạnh
tổng hợp của cả hệ thống chính trị, giải quyết
dứt điểm các hiện tượng tiêu cực kéo dài,
gây bức xúc trong lĩnh vực giáo dục và đào
tạo; tạo sự đồng thuận và huy động sự tham
gia đánh giá, giám sát và phản biện của toàn
xã hội đối với công cuộc đổi mới, phát triển
giáo dục Thực hiện cơ chế người học tham
gia đánh giá hoạt động giáo dục, đào tạo; nhà
giáo tham gia đánh giá cán bộ quản lí; cơ sở
giáo dục đào tạo tham gia đánh giá cơ quan
quản lí nhà nước
Bên cạnh những điểm mới đó, NQ8
cũng đã một lần nữa khẳng định lại những
vấn đề cốt lõi của quản lí nhà nước đối với
giáo dục đại học Đó là:
1 Xác định rõ trách nhiệm của các cơ
quan quản lí nhà nước về giáo dục, đào tạo
và trách nhiệm quản lí theo ngành, lãnh thổ của các bộ, ngành, địa phương
2 Phân định công tác quản lí nhà nước với quản trị của cơ sở giáo dục và đào tạo Đẩy mạnh phân cấp, nâng cao trách nhiệm, tạo động lực và tính chủ động, sáng tạo của các cơ sở giáo dục, đào tạo giao quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm cho các cơ sở giáo dục, đào tạo; phát huy vai trò của hội đồng trường
3 Chuẩn hoá các điều kiện bảo đảm chất lượng và quản lí quá trình đào tạo; chú trọng quản lí chất lượng đầu ra Xây dựng
hệ thống kiểm định độc lập về chất lượng giáo dục, đào tạo
Những luận điểm nêu trên thực sự đã tạo cơ hội cho việc đổi mới về cơ bản quản
lí nhà nước đối với giáo dục đại học Việt Nam Tuy vậy, bên cạnh đó vẫn còn những thách thức đã và sẽ nảy sinh mà công tác quản lí giáo dục đại học phải đối mặt; đòi hỏi phải có những giải pháp hiệu quả cả về
tư duy và phương thức trong quá trình thực hiện nhằm đưa nghị quyết của Đảng vào cuộc sống
(*) GS.TS, Hiệu trưởng Trường Đại học Hòa Bình, Hà Nội
Trang 2Trong khuôn khổ báo cáo này chúng
tôi không có tham vọng trình bày hết các
thách thức và giải pháp cần thiết mà chỉ tập
trung vào 3 nội dung chủ yếu là: i) tiếp tục
đổi mới tư duy và phương thức quản lí nhà
nước ii) bảo đảm dân chủ trong nhà trường
và iii) trao quyền và phân cấp
2 TIẾP TỤC ĐỔI MỚI TƯ DUY VÀ
PHƯƠNG THỨC QUẢN LÍ NHÀ NƯỚC
2.1 Đổi mới tư duy
Đổi mới tư duy là việc đầu tiên và
quan trọng nhất phải làm Kết luận Hội
nghị trung ương 6 khoá XI đã khẳng định
Tư duy về giáo dục chậm đổi mới, không
theo kịp sự phát triển của đất nước trong
bối cảnh kinh tế thị trường định hướng
XHCN và hội nhập quốc tế Thực tiễn cho
thấy, khó nhất đối với việc đổi mới quản lí
không phải là các vấn đề kĩ thuật mà là tư
duy Chừng nào chưa thay đổi được tư duy
mà chỉ chú trọng vào kĩ thuật quản lí thì
việc quản lí chắc chắn không tiến bộ được
là bao Chương trình của Bộ GD-ĐT thực
hiện Chỉ thị 296/CT-TTg của Thủ tướng
Chính phủ về đổi mới quản lí giáo dục đại
học giai đoạn 2010-2012 huy động toàn hệ
thống đại học cao đẳng tham gia cũng chỉ
thu được kết quả hạn chế
Vì vậy, muốn đổi mới quản lí nhà
nước tốt thì phải bắt đầu bằng đổi mới tư
duy tốt, tư duy về giáo dục nói chung và tư
duy quản lí giáo dục nói riêng Mặt khác,
chỉ đổi mới tư duy quản lí cũng không đủ
Không đổi mới tư duy về giáo dục nhà
quản lí cũng khó có thể thực hiện được các
chức năng quản lí trong tiến trình đổi mới
quản lí
Đổi mới tư duy trước hết là phải nhận
dạng cho được những bất cập trong quan
điểm, nhận thức về các vấn đề chủ yếu của
giáo dục và xây dựng triết lí giáo dục mới
NQ8 đã chỉ rõ: “Mục tiêu giáo dục toàn
diện chưa được hiểu và thực hiện đúng
Bệnh hình thức, hư danh, chạy theo bằng
cấp chậm được khắc phục, có mặt
nghiêm trọng hơn Tư duy bao cấp còn
nặng, làm hạn chế khả năng huy động các nguồn lực xã hội đầu tư cho giáo dục, đào tạo Việc phân định giữa quản lý nhà nước với hoạt động quản trị trong các cơ sở giáo dục, đào tạo chưa rõ” Đối với giáo dục đại học chúng ta có thể cụ thể hoá thành một
số bất cập sau đây:
Nhận thức sai lệch về các giá trị, tư tưởng bằng cấp, tâm lí khoa cử, bệnh thành tích dẫn đến việc gia đình và xã hội xem việc học đại học là con đường tiến thân duy nhất cho thế hệ trẻ Trẻ em phải luyện thi
từ lớp một vào các trường điểm, lớp chọn, trường chuyên với hy vọng lọt qua cửa tuyển sinh đại học mà lãng quên việc phát triển nhân cách và năng lực của mỗi cá thể Quan điểm về chất lượng không thích hợp, thiếu toàn diện dẫn đến chủ quan nóng vội Ở quy mô hệ thống bài toán chất lượng phải được giải trên cơ sở cân bằng giữa yêu cầu phát triển quốc gia - năng lực đầu tư cho giáo dục – năng lực đào tạo của
hệ thống – năng lực sử dụng sản phẩm giáo dục của xã hội Cân bằng này đảm bảo cho hiệu quả đầu tư giáo dục quốc dân là cao nhất Đòi hỏi quá sức làm cho hệ thống trở nên bất ổn và mất phương hướng phát triển, thậm chí còn phát sinh bệnh thành tích, tiêu cực học đường
Nhận thức sai lệch về mục tiêu giáo dục dẫn đến lệch lạc về chức năng của cơ
sở giáo dục Mục tiêu của giáo dục đại học lâu nay vẫn được hiểu là nhằm cung cấp cho người học một kĩ năng và kiến thức tối thiểu để có được việc làm Thậm chí chiến lược giáo dục 2010-2020 còn xếp chung giáo dục đại học với giáo dục nghề nghiệp
Từ đó dẫn đến việc chúng ta chưa xây dựng được một hệ thống đại học lành mạnh trên nên tảng của nghiên cứu khoa học công nghệ và phát triển xã hội Cho đến nay đại học Việt Nam vẫn là một nền đại học “teaching” hướng tới mục tiêu đào tạo nhân lực mà chưa phải là một nền đại học
“research” hướng tới sáng tạo tri thức khoa học công nghệ và phát triển xã hội nên
Trang 3không hoặc đầu tư rất ít cho nghiên cứu
Điều này ảnh hưởng đến chất lượng đội
ngũ giảng viên Giảng viên đại học không
chỉ là người thầy mà còn phải là một nhà
khoa học biết cách tổ chức thực hiện và
trực tiếp thực hiện công việc nghiên cứu
khoa học
Tư duy hội nhập và học hỏi tinh hoa
của chúng ta hiện nay còn nhiều khiếm
khuyết Học hỏi kinh nghiệm các nước mà
không qua sàng lọc, không qua phân tích
đầy đủ các khía cạnh liên quan đến việc
triển khai trong điều kiện nước ta, không
có quyết tâm chính trị, không có năng lực
tổ chức thực hiện thì dễ dẫn đến thất bại
Đại học đại cương và đào tạo hai giai đoạn
là một ví dụ Chương trình liên thông cũng
vậy Hội nhập phải có điều kiện, mục tiêu
thích hợp và duy trì bản sắc dân tộc Thực
tiễn chứng minh rằng có một số thách thức
về thể chế và hệ thống trong xã hội chuyển
đổi và/hoặc đang phát triển vượt qua bất cứ
điều gì các nước tiên tiến đã từng phải đối
mặt
Tư duy về giáo dục và thị trường cần
phải thay đổi Lâu nay chúng ta thường né
tránh bàn về thị trường và giáo dục với lí
do không chấp nhận sự trao đổi ngang giá
trong giáo dục Giáo dục về cơ bản vẫn
phải là phúc lợi xã hội và do nhà nước đảm
nhận Tuy vậy, như là một thực tế khách
quan, thị trường nhân lực đã và đang điều
khiển chương trình đào tạo của tất cả các
cấp bậc học, đặc biệt là đào tạo nghề
nghiệp và giáo dục đại học Thị trường
thúc đẩy xu hướng kinh doanh ở các cơ sở
giáo dục, thậm chí tới từng giáo viên các
cấp Ở cấp học càng cao xu thế này càng
lớn Thị trường thúc đẩy việc tư nhân hoá
giáo dục đại học từ việc chia sẻ chi phí
giáo dục đào tạo thông qua học phí, lệ phí
đến việc mở các cơ sở giáo dục kiếm lời
đồng thời do người học tự trang trải học
phí nên giáo dục đại học trở thành hàng
hoá tư khác với việc đơn thuần là phúc lợi
công cộng trong quá khứ
Như là hệ quả tất yếu, đổi mới tư duy giáo dục dẫn tới đổi mới tư duy quản lí
Khi đã thay đổi tư duy về giáo dục trong nền kinh tế thị trường thì cũng tất yếu phải chuyển từ tư duy quản lí nhà trường như là một đơn vị hành chính sự nghiệp theo cơ chế bao cấp đối với một trường đại học sang tư duy quản lí doanh nghiệp (không phải là doanh nghiệp hoá nhà trường) trong cơ chế thị trường định hướng
xã hội chủ nghĩa
Khi đã thay đổi tư duy về chức năng của trường đại học thì việc tăng quyền tự chủ đặc biệt là tự chủ về học thuật và đào tạo cho nhà trường như là một điều tất yếu Những quy định hành chính cứng nhắc khuôn mẫu trở nên không thích hợp với một tổ chức cần có sự năng động sáng tạo
để tồn tại và phát triển Vậy là phải trao quyền quyết định cho Nhà trường và Nhà trường là người chịu trách nhiệm cuối cùng
về các quyết định và hành động của mình cũng như các hệ quả từ các quyết định và hành động đó đối với quyền tự chủ được giao
Đổi mới tư duy về chất lượng dẫn đến việc đổi mới tư duy về quản lí chất lượng
về phân tầng hệ thống và về kiểm định chất lượng
Đổi mới tư duy về hôi nhập và học hỏi kinh nghệm quốc tế giúp chúng ta đổi mới
tư duy quản lí sự thay đổi/đổi mới khi tiếp thu tinh hoa nhân loại trong quá trình phát triển giáo dục
2.2 Đổi mới phương thức quản lí
nhà nước đối với giáo dục đại học
Phương thức quản lí là cách thức thực hiện việc quản lí “ Phương thức” có ý nghĩa như là từ “phương thức” trong
“phương thức sản xuất” Đổi mới phương thức quản lí giáo dục được thực hiện trên
cơ sở đổi mới tư duy quản lí giáo dục Tư
duy thay đổi lại đòi hỏi phải thay đổi phương thức quản lí giáo dục Đặc biệt là khi sự phát triển đã tác động đến tư duy và làm thay đổi nó thì thể chế cũ sẽ nhanh
Trang 4chóng trở nên lạc hậu không đáp ứng nhu
cầu phát triển Nhưng vấn đề là làm thế nào
để thiết lập cho được những thể chế cần
thiết?
NQ8 đã khẳng định: “- Việc thể chế
hoá các quan điểm, chủ trương của Đảng
và Nhà nước về phát triển giáo dục và đào
tạo, nhất là quan điểm "giáo dục là quốc
sách hàng đầu" còn chậm và lúng túng
Việc xây dựng, tổ chức thực hiện chiến
lược, kế hoạch và chương trình phát triển
giáo dục - đào tạo chưa đáp ứng yêu cầu
của xã hội Dễ thấy rằng đây là các yếu
kém của quản lí nhà nước
Nếu không đi vào chi tiết thì nội dung
quản lí nhà nước về giáo dục được quy
định trong Điều 99 của Luật Giáo dục bao
gồm1:
1 Xây dựng thể chế (mục 1, 2, 3, 11)
2 Tổ chức thực hiện (mục 2) chỉ đạo
(mục 1, 7), quản lí (lại quản lí) (mục 4, 8,
9, 10), thực hiện (mục 5), tổ chức bộ máy
(mục 6), huy động (mục 8) và thanh tra,
kiểm tra (mục 12)
Tư duy không nhất quán dẫn đến việc
một văn bản Luật cấp Nhà nước trình bày
nội dung quản lí một cách không khoa học,
không rõ ràng và trùng lặp (huống chi khi
thực hiện; việc quản lí thiếu nhất quán,
phân tán, như là điều tất yếu) Rất đáng tiếc
là 4 năm sau (2009) Luật sửa đổi bổ sung
Luật giáo dục 2005 đã để nguyên không
sửa điều này Vậy là những nhược điểm cơ
bản trong quản lí giáo dục vẫn tồn tại cho
đến hôm nay NQ8 cũng yêu cầu phải “Xác
định rõ trách nhiệm của các cơ quan quản
lí nhà nước về giáo dục, đào tạo và trách
nhiệm quản lí theo ngành, lãnh thổ của các
bộ, ngành, địa phương Phân định công tác
quản lí nhà nước với quản trị của cơ sở
giáo dục và đào tạo Đẩy mạnh phân cấp,
nâng cao trách nhiệm, tạo động lực và tính
chủ động, sáng tạo của các cơ sở giáo dục,
đào tạo
Vì vậy, nên đổi mới căn bản và toàn diện quản lí giáo dục ngay từ văn bản Luật Giáo dục với 3 nội dung sau đây:
Thứ nhất là, phân biệt rõ quản lí nhà nước (hay nhà nước quản lí) với quản lí cơ
sở Trên cơ sở đó nhà nước chỉ nên tập trung vào 3 nhiệm vụ:
1 Xây dựng thể chế (bao gồm cả việc xây dựng chiến lược, kế hoạch và chương trình phát triển giáo dục - đào tạo);
2 Hướng dẫn, kiểm tra, giám sát việc thực hiện thể chế
3 Tổ chức bộ máy quản lí nhà nước bao gồm cả việc phân cấp, phân quyền trong phạm vi bộ máy quản lí nhà nước các cấp
Thứ hai là, quy định phạm vi định chế của nhà nước Phát huy đầy đủ quyền tự chủ, sức sáng tạo và năng động của cấp quản lí cơ sở Có thể trao quyền định chế cho các cơ sở giáo dục đại học trong một
số nội dung quản lí cụ thể, ví dụ chương trình, giáo trình, kế hoạch học tập, tài chính
… Thứ ba là, cụ thể hoá quyền tự chủ và nghĩa vụ giải trình và chịu trách nhiệm cuối cùng về những quyết định và hành động của trường đại học và về những hậu quả của các quyết định và hành động này (đặc biệt là về đảm bảo chất lượng và tài chính) Chuyển mô hình quản lí hành chính, quan liêu bao cấp của các cơ sở giáo dục đại học công hiện nay sang mô hình quản lí mới dựa trên phương thức quản lí doanh nghiệp để tăng tính năng động và hiệu quả của hệ thống, chống tham nhũng tiêu cực trong nhà trường, quy định việc trường đại học công phải bảo toàn và phát triển vốn nhà nước v.v…
Con đường phát triển của giáo dục đại học Việt Nam đang đòi hỏi mạnh mẽ sự đồng hành của cải cách thể chế Đây là trách nhiệm của quản lí Nhà nước.và cũng
là công việc đầy khó khăn thách thức Hội đồng trường là một ví dụ minh họa Việc tái cơ cấu các trường công đã được bắt đầu
Trang 5bằng việc bổ sung Hội đồng trường vào cơ
cấu tổ chức trường từ năm 2003 Đây là
một bước tiến đáng ghi nhận (LQ Thiệp,
xem NTM Lộc và NH Châu, 2012) Tuy
nhiên quá trình đưa Hội đồng trường vào
GDĐH nước cho ta đến nay diễn ra không
suôn sẻ Có nhiều nguyên nhân (NTM Lôc,
NH Châu, 2012) trong đó có việc nhà
trường không được tăng thêm quyền tự chủ
đi kèm với Hội đồng trường dẫn đến việc
chia sẻ quyền lực vốn có giữa Hiệu trưởng
và Hội đồng trường
Công việc quan trọng và cấp bách của
đổi mới quản lí nhà nước đối với giáo dục
hoàn chỉnh và xây dựng mới hệ thống các
văn bản quy phạm luật pháp và chính sách
về giáo dục đại học Thể hiện cho được tư
duy đổi mới của NQ8 trong hệ thống các
văn bản này Đặc biệt chú trọng đến các
nội dung cụ thể sau đây:
Một là, thể hiện rõ bốn chức năng cơ
bản của trường đại học: giáo dục nghề
nghiệp, phát triển và hoàn thiện nhân cách,
nghiên cứu khoa học công nghệ, dịch vụ xã
hội và phát triển và truyền bá tri thức văn
hoá nhân loại
Hai là, thể chế hoá quyền được học
tập và học tâp suốt đời của công dân; bảo
đảm tính dân chủ, công bằng, bình đẳng về
cơ hội giáo dục đại học cho mọi người
Ba là, đổi mới thể chế tài chính trong
giáo dục Thể chế hoá việc chuyển cơ chế
cấp phát kinh phí bình quân sang đặt hàng
trên cơ sở hệ thống định mức kinh tế - kĩ
thuật và tiêu chí, tiêu chuẩn của từng loại
hình dịch vụ giáo dục như NQ8 đã chỉ rõ;
đảm bảo suất đầu tư trên mỗi người học
tương ứng với chất lượng, phù hợp ngành
nghề và trình độ đào tạo Nhà nước hỗ trợ
hoặc bao cấp cho những ngành nghề đặc
biệt quan trọng; đối tượng chính sách và
vùng khó khăn Chuyển đầu tư nhà nước
qua cơ sở giáo dục và đào tạo sang trực
tiếp người được thụ hưởng Thể chế hoá
trách nhiệm của các doanh nghiệp, cá nhân
sử dụng lao động tham gia đầu tư cho giáo dục
Bốn là, thể chế hoá quyền tự chủ, nghĩa vụ báo cáo, giải trình và chịu trách nhiệm của các cơ sở giáo dục về các quyết định và hành động của họ khi thực hiện quyền tự chủ, thể chế hoá phương thức quản lí kiểu doanh nghiệp công khai, minh bạch và được kiểm định về chất lượng và kiểm toán
Năm là, thể chế hoá trách nhiệm công khai, tạo sự đồng thuận trong xã hội của các cấp quản lí trước khi triển khai các cơ chế, chính sách mới Thể chế hoá trách nhiệm giáo dục của gia đình và xã hội Cùng với nhà nước, các tổ chức xã hội cũng cần phải phát triển, định hướng, điều
phù hợp với sự đổi mới về thể chế giáo dục, truyền bá ý thức sống và làm việc theo pháp luật Làm sống lại tinh thần “nhân nghĩa trí tín” của những giảng viên và cán
bộ quản lí đại học – những người mà thời trước được liệt vào hàng ngũ các sĩ phu – hết lòng vì sự nghiệp trồng người
3 TRAO QUYỀN VÀ PHÂN CẤP Như đã phân tích ở trên để việc cơ cấu lại các trường đại học đáp ứng thể chế giáo dục đại học mới thì nhà nước phải giao thêm quyền cho các trường đại học so với những gì họ có được hiện nay Thách thức lớn nhất đối với cấp quản lí nhà nước chính
là ở điểm này vì kèm theo quyền quyết định là quyền giám sát và khả năng giám sát Khi khả năng giám sát hạn chế thì người ta, để đảm bảo an toàn, thường giữ lại quyền quyết định Vậy khi đã trao quyền quyết định thì đòi hỏi năng lực giám sát phải tăng lên Bởi vì dù có trao quyền thì cấp quản lí nhà nước vẫn chịu trách nhiệm liên đới về những việc mà trường làm sai NQ8 cũng đã chỉ ra cần phải “tăng cường công tác kiểm tra, thanh tra của cơ quan quản lí các cấp”; Bên cạnh đó là việc
“thực hiện giám sát của các chủ thể trong
Trang 6nhà trường và xã hội; bảo đảm dân chủ,
công khai, minh bạch”
Chúng tôi xin trình bày vấn đề phân
cấp từ một cách tiếp cận khác Từ các
nghiên cứu và thảo luận về các biện pháp
phân cấp trong năm nền kinh tế Đông Á
(Trung Quốc, Nhật Bản, Hồng Kông,
Singapore và Đài Loan) Leung (Leung,
2004) cho rằng các động cơ, bản chất và
ảnh hưởng của các biện pháp phân cấp
quản lí rất khác nhau; không ai trong số họ
thực sự hướng tới một sự chuyển giao đích
thực quyền cho các nhà giáo dục ở tuyến
đầu (tức là ở các cơ sở giáo dục), hoặc
nâng cao chất lượng giáo dục
Sự phân cấp không thành công chứng
minh rằng ý tưởng phân cấp không thích
hợp với văn hoá Á Đông Đặc biệt, hai đặc
điểm của văn hoá Á Đông được xem là lạc
lõng (at odd) đối với ý tưởng về phân cấp
là: tính đồng đều (uniformity) và chủ nghĩa
thực dụng (pragmaticism)
Ý tưởng về tính đồng đều (thống nhất),
dayitong hoặc một "đại nhất thống", là một
đặc điểm đặc trưng của văn hoá Trung
Quốc, nền văn hoá có ảnh hưởng lớn trong
khu vực Đông Á Trong nền văn hoá Đông
Á có một sự chú trọng hơn vào xã hội chứ
không phải là khía cạnh cá nhân của con
người So với các nền văn hoá phương
Tây nhấn mạnh sự độc lập và chủ nghĩa cá
nhân, văn hoá Đông Á nhấn mạnh hội
nhập và hòa hợp
Trong nền văn hoá này, cá nhân dự
kiến sẽ ghép mình phù hợp với cấu trúc xã
hội hiện có hơn là cấu trúc được thay đổi
để phù hợp với nhu cầu của cá nhân Nó
không phải là khó để thấy rằng những đặc
điểm này là phù hợp hơn với một hệ thống
tập trung, thống nhất chứ không phải là
một hệ thống phân cấp và phân tán
Văn hoá Đông Á cũng đặc trưng bởi
bản chất thực dụng khắc nghiệt của nó Đối
với phương Tây, trong khi phân cấp là với
mục đích "thúc đẩy sự linh hoạt và đổi mới
trong hệ thống” và tập trung là để "đảm
bảo rằng hệ thống chịu trách nhiệm cho thấy rằng tất cả học sinh đạt được và làm chủ các nội dung cốt lõi ", những điều này dường như không là mối quan tâm của các nền kinh tế Đông Á Đối với các nền kinh
tế Đông Á, tập trung là để kiểm soát và phân cấp quản lí là để có hiệu quả mà không bị mất kiểm soát Vì vậy, phân cấp
là một chủ nghĩa thực dụng chứ không phải
là một động thái ý thức hệ Khi nó được thực hiện như là một động thái ý thức hệ (như trong trường hợp của Đài Loan), nó
có thể dẫn đến sự hỗn loạn2 Trong nền văn hoá thống nhất và thực dụng này phân cấp đích thực không đạt được và do đó, người ta không hoàn toàn
hy vọng rằng chất lượng giáo dục sẽ được
tự động nâng cấp hoặc hệ thống giáo dục trở nên hiệu quả hơn đơn giản chỉ vì các biện pháp phân cấp Đây thực sự là một thách thức tiềm ẩn đối với quá trình đổi mới Nó cũng liên quan tới quyền tự chủ và trách nhiệm của các cơ sở giáo dục
Theo Uông Chu Lưu3 sản phẩm cuối cùng của quá trình phân cấp quản lí nhà nước là một hệ thống quy định pháp luật về phân định thẩm quyền quản lí nhà nước và
cơ chế thực hiện những thẩm quyền đó Cần xác định cơ chế giám sát, kiểm tra việc thực hiện thẩm quyền và quy định các điều kiện về tài chính, tổ chức, nhân sự để bảo đảm thực hiện thẩm quyền được phân định, đặc biệt là những thẩm quyền mới được chuyển giao
Trong thời gian qua, Chính phủ đã phân cấp cho địa phương quản lí các trường đại học tư nhưng chưa quy định các điều kiện đảm bảo việc thực hiện có hiệu quả thẩm quyền được giao đặc biệt là về nhân sự và tổ chức nên đã nảy sinh một số vấn đề cần phải giải quyết về trình độ và năng lực quản lí của cán bộ các cấp được phân cấp Ngoài ra, thủ tục hành chính và
lề thói quan liêu vẫn rất nặng nề nên tuy là phân cấp để mọi việc có thể được giải
Trang 7quyết nhanh hơn nhưng thực tế đã không
diễn ra như mong muốn
4 ĐẢM BẢO DÂN CHỦ
Việc trao quyền tự chủ cho nhà trường
không chỉ đi kèm với nghĩa vụ giải trình và
chịu trách nhiêm mà còn phải phát huy cao
độ dân chủ trong nhà trường Khì bàn về
dân chủ trong quản lí giáo dục cũng nên
nhắc lại tư tưởng Hồ Chí Minh về việc
thực hiện dân chủ trong nhà trường4
Người yêu cầu phải xem “giáo dục là sự
nghiệp của quần chúng” có mục tiêu cao
nhất là "đào tạo các em nên những người
công dân hữu ích cho nước Việt Nam
làm phát triển hoàn toàn những năng lực
sẵn có của các em" (Hồ Chí Minh 2002),
để "biến một nước dốt nát, cực khổ thành
một nước văn hoá cao và đời sống tươi vui
hạnh phúc" (Hồ Chí Minh 2002) Để làm
được điều đó, Người yêu cầu “phải phát
huy đầy đủ dân chủ xã hội chủ nghĩa” vì
theo Người, chỉ có phát huy dân chủ đến
cao độ thì mới động viên được tất cả sinh
viên, học sinh đề ra sáng kiến Theo đó,
nhà trường “phải thật sự mở rộng dân chủ
trong cơ quan” (Hồ Chí Minh 1954)
Dễ dàng nhận thấy rằng tư tưởng
HCM đã được quán triệt trong văn bản
NQ8 “Xây dựng nền giáo dục mở … hiện
đại hoá , dân chủ hoá ; “đổi mới căn bản
công tác quản lí giáo dục, đào tạo, bảo đảm
dân chủ, thống nhất”; “lãnh đạo nhà trường
phát huy dân chủ”,
Thách thức lớn nhất khi triển khai dân
chủ trong giáo dục ở nhà trường chính là ở
chỗ xem dân chủ là một phương thức quản
lí hay là mục tiêu của tổ chức Hồ Chí
Minh đã khẳng định chỉ có phát huy dân
chủ đến cao độ thì mới động viên được tất
cả sinh viên, học sinh đề ra sáng kiến để
trường học có thể thực sự trở thành một
trường tốt ở nơi đó có thể phát huy tài năng
tiềm ẩn của mỗi cá thể Suy nghĩ như vậy
thì dân chủ phải là mục tiêu và điều này
chưa được nhấn mạnh trong NQ8
Một xu thế mới theo hướng bảo đảm dân chủ trong nhà trường và hoàn toàn phù hợp với tư tưởng HCM đó là xây dựng các tập thể sư phạm trở thành tổ chức biết học hỏi là một tổ chức học và khuyến khích học tập cho giảng viên và cán bộ quản lí
Nó thúc đẩy trao đổi thông tin giữa các giảng viên và lãnh đạo trường, giữa giảng viên và giảng viên, giữa giảng viên và sinh viên, giữa giảng viên và những người tuyển dụng, giữa nhà trường và xã hội Do đó tạo
ra một lực lượng cán bộ, giảng viên không chỉ kiến thức hàn lâm mà cả kiến thức thực tiễn ngày càng được nâng cao Điều này tạo ra một tổ chức rất linh hoạt, ở nơi đó mọi người sẽ chấp nhận và thích nghi với những ý tưởng mới và những thay đổi thông qua một tầm nhìn chung của tổ chức
đó trước những biến động của xã hội và đặc biệt là thị trường lao động
Chuyển từ việc đảm bảo dân chủ là phương thức nâng cao hiệu quả quản lí sang mục tiêu xây dựng nhà trường dân chủ sẽ tạo nên một chuyển biến mạnh mẽ
và tích cực trong việc thực hiên quyền tự chủ và nghĩa vụ giải trình và chịu trách nhiệm của nhà trường Thể chế hoá việc xây dựng nhà trường dân chủ cũng là việc
mà quản lí nhà nước nên làm
5 KẾT LUẬN
Để có thể đổi mới quản lí nhà nước đối với giáo dục đại học theo tinh thần của NQ8 thì trước hết cần tiếp tục đổi mới tư duy giáo dục và tư duy quản lí giáo dục đại học Cần thay đổi nhận thức sai lệch về các giá trị, tư tưởng bằng cấp, tâm lí khoa cử, bệnh thành tích; các quan niệm thiếu toàn diện về chất lượng; về chức năng của các trường đại học; về hội nhập và học hỏi tinh hoa; về giáo dục và thị trường v.v… Khi sự phát triển đã tác động đến tư duy và làm thay đổi nó thì phương thức cũ sẽ nhanh chóng trở nên lạc hậu không đáp ứng nhu cầu phát triển Việc đổi mới phương thức quản lí nên bắt đầu từ việc: