1. Trang chủ
  2. » Kỹ Năng Mềm

Kiểm định chất lượng chương trình đào tạo trường đại học trong thời kỳ hội nhập

7 13 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 7
Dung lượng 292,81 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Kiểm định chất lượng giáo dục theo các tiêu chuẫn của Bộ tiêu chuẩn kiểm định chương trình đào tạo do Trung tâm kiểm định chất lượng giáo dục đảm nhận, việc công nhận nhà t[r]

Trang 1

KIỂM ĐỊNH CHẤT LƯỢNG CHƯƠNG TRÌNH ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC TRONG THỜI KỲ HỘI NHẬP

TRƯƠNG MINH TRÍ (*)

TÓM TẮT

Kiểm định chất lượng chương trình đào tạo của các trường đại học là một yêu cầu cần được thực hiện ưu tiên Nó mang ý nghĩa về lợi ích nội sinh; là nâng cao chất lượng giáo dục và đào tạo, nhà trường quản lý hiệu quả hơn Về lợi ích ngoại sinh; kiểm định chương trình đào tạo là mang đến sự an tâm, tin cậy cho lãnh đạo ngành giáo dục, người học, phụ huynh và xã hội Thời kỳ hội nhập các trường đại học phải kiểm định chất lượng chương trình đào tạo Vì đó là sự tồn tại và phát triển thương hiệu của nhà trường Hiện nay có các chuẩn kiểm định của Trung tâm Kiểm định chất lượng giáo dục Việt Nam (VNU - CEA), Kiểm định giáo dục Đông Nam Á (AUN), Kiểm định giáo dục của Hoa kỳ (ABET)…

Từ khoá: kiểm định chất lượng chương trình đào tạo, trường đại học, thời kỳ

hội nhập

ABSTRACT

Quality inspection training program of the university is a requirement to be made a priority It brings significant benefits endogenous; improving the quality of education and training, school management more efficient Regarding external benefits; inspection program is to bring peace of mind, confidence for educational leaders, students, parents and society Integration period universities have quality control programs Because it is the survival and development of the brand There are currently testing standards: (VNU - CEA) VNU Vietnam, AUN (Calibration Southeast Asia), ABET (Accreditation standards of the United States)

Keywords: quality inspection training program, university, integration period

1 ĐẶT VẤN ĐỀ(*)

Việt Nam gia nhập Tổ chức thương

mại thế giới (WTO) và thực hiện Hiệp định

chung về thương mại dịch vụ (GATS), giáo

dục là một trong các dịch vụ của hội nhập

Đại học Việt Nam đã từng bước phát triển

rõ rệt về quy mô, đa dạng về loại hình

trường và hình thức đào tạo, huy động

được nhiều nguồn lực xã hội cho phát triển

giáo dục đại học, đáp ứng ngày càng tốt

hơn nhu cầu học tập của nhân dân, đào tạo

nguồn nhân lực chất lượng cao để đáp ứng

nhu cầu xây dựng và phát triển đất nước Tuy nhiên, trước những thách thức và yêu cầu ngày càng cao trong quá trình hội nhập và phát triển, sự phát triển nhanh chóng của khoa học và công nghệ, yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, hệ thống giáo dục đại học Việt Nam cần được tiếp tục đổi mới, trong đó cần đặc biệt quan tâm đến kiểm định chất lượng chương trình đào tạo, các điều kiện nhằm nâng cao chất

lượng đào tạo Nhà nước cũng đã khuyến

khích các trường đại học và các chương trình đào tạo đăng ký kiểm định hoặc đánh giá bởi các tổ chức kiểm định quốc tế [12]

Trang 2

1.1 Khái niệm chương trình đào tạo

Chương trình đào tạo thể hiện trình độ

đào tạo; đối tượng đào tạo, điều kiện nhập

học và điều kiện tốt nghiệp; mục tiêu đào

tạo, chuẩn kiến thức, kỹ năng của người

học khi tốt nghiệp; khối lượng kiến thức lý

thuyết, thực hành, thực tập; kế hoạch đào

tạo theo thời gian thiết kế; phương pháp và

hình thức đào tạo; cách thức đánh giá kết

quả học tập; các điều kiện thực hiện

chương trình Chương trình đào tạo được

cấu trúc từ các học phần thuộc hai khối

kiến thức: giáo dục đại cương và giáo dục

chuyên nghiệp.

- Kiến thức giáo dục đại cương: Là kiến

thức của những môn khoa học cơ bản vừa có

tính chất đại cương của bậc đại học vừa có

tính chất nền tảng cho việc đào tạo chuyên

ngành Phần kiến thức này chủ yếu được

giảng dạy ở ba học kỳ đầu của khóa học

học chuyên ngành, trang bị cho sinh viên

những kiến thức, kỹ năng của một ngành

đào tạo mà họ đã chọn để đạt trình độ kỹ sư

hoặc cử nhân, tùy theo ngành Phần kiến

thức này được giảng dạy trên cơ sở nền tảng

của phần kiến thức giáo dục đại cương

Đề cương chi tiết của từng học phần

phải thể hiện rõ số lượng tín chỉ, điều kiện

tiên quyết (nếu có), học trước, học song

hành, nội dung lý thuyết và thực hành, cách

thức đánh giá học phần, giáo trình, tài liệu

tham khảo và điều kiện thí nghiệm, thực

hành, thực tập phục vụ học phần Chương

trình đào tạo của các trường đại học áp

dụng cho các khóa 2012 trở về sau có tổng

số tín chỉ là khoảng 150 [7]

1.2 Kiểm định chất lượng chương

trình đào tạo

Kiểm định là một quá trình đánh giá

toàn diện từ cung cách quản lý, cơ sở vật chất, nội dung giảng dạy đến chất lượng sinh viên tốt nghiệp Kiểm định trước hết phải là một quá trình tự nguyện của một trường đại học Kiểm định quá trình trường

tự nhìn lại mình để nhận ra mặt mạnh và mặt yếu Qua đó đưa ra một lộ trình phát triển cho tương lai Đó là một quá trình tự thân vận động theo hướng tích cực nhất, nó không phải là cứu cánh Kiểm định còn là

“sự tự chịu trách nhiệm” của nhà trường

đối với những người có lợi ích và của quá trình giáo dục, đào tạo, đến sự hiện hữu của trường như nhà đầu tư, xã hội Làm được như vậy trường đã tăng cường được tính minh bạch của nhà trường đối với xã hội

1.2.1 Trung tâm Kiểm định chất lượng giáo dục

+ Trung tâm Kiểm định chất lượng giáo dục – Đại học quốc gia Hà Nội) (VNU-CEA)

Ngày 5/9/2013, Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo ra Quyết định số 3568/QĐ–

BGDĐT thành lập Trung tâm Kiểm định

chất lượng giáo dục – Đại học quốc gia Hà Nội Tên giao dịch bằng tiếng anh: VNU

Center for Education Accreditation (VNU-CEA)

+ Trung tâm Kiểm định chất lượng giáo dục – Đại học quốc gia Thành phố

Hồ Chí Minh (VNU-HCM)

Quyết định số 5570/QĐ–BGDĐT, ngày 22/11/2013 thành lập Trung tâm Kiểm định chất lượng giáo dục – Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh Tên giao dịch bằng tiếng anh: VNU–HCM

center for Education Accreditation

(VNU-HCM CEA)

Nhiệm vụ của Trung tâm Kiểm định chất lượng giáo dục là đào tạo kiểm định viên kiểm định chất lượng giáo dục đại học

và trung cấp chuyên nghiệp Đây là tổ chức

Trang 3

kiểm định đầu tiên của Việt Nam được

quyền đánh giá và công nhận cho các

trường đại học và các chương trình đào

tạo ở trong nước Các tổ chức này được

quyền đưa ra các quyết định công nhân hay

không công nhận các trường đại học và các

chương trình đào tạo đáp ứng các tiêu

chuẩn kiểm định chất lượng giáo dục mà

không bị can thiệp bởi bên thứ ba [9]

Trung tâm Kiểm định chất lượng giáo

dục là tổ chức thực hiện các dịch vụ công

về kiểm định chất lượng giáo dục, tư vấn,

giám sát việc đảm bảo và nâng cao chất

lượng giáo dục theo các chuẩn mực quốc

gia, khu vực và quốc tế Kiểm định chất

lượng giáo dục theo các tiêu chuẫn của Bộ

tiêu chuẩn kiểm định chương trình đào tạo

do Trung tâm kiểm định chất lượng giáo

dục đảm nhận, việc công nhận nhà trường

đạt chuẩn kiểm định của quốc gia và bằng

cấp có giá trị ở trong nước

Các tổ chức kiểm định ngoài công lập

có thể được thành lập tại Việt Nam sau

năm 2015 Hệ thống đảm bảo chất lượng

giáo dục đại học ở Việt Nam đã tạo được

niềm tin trong các cơ sở giáo dục đại học

Sự tin tưởng này hỗ trợ các cơ sở giáo dục

đại học cùng nhau hợp tác trong việc

chuyển đổi tín chỉ, trao đổi sinh viên và

công nhận bằng cấp lẫn nhau [8]

1.2.2 Kiểm định chất lượng chương

trình đào tạo theo chuẩn kiểm định chất

lượng của Mạng lưới các trường đại học

Đông Nam Á (AUN)

Với mục đích phát triển nguồn nhân

lực thông qua giáo dục đại học trong khu

vực ASEAN, tháng 11 năm 1995, Mạng

lưới các trường đại học khu vực Đông Nam

Á AUN-QA (ASEAN University Network

- Quality Assurance) đã được thành lập

Tính đến nay (tháng 9/2014), đã có 27

trường đại học đến từ 10 quốc gia (trong đó

có Việt Nam) trong khu vực trở thành thành viên của tổ chức này [4] Nhằm đẩy

mạnh công tác đảm bảo chất lượng bên

trong các trường đại học trong khu vực, AUN đã đưa ra sáng kiến đánh giá chất lượng giáo dục đại học theo những tiêu chuẩn đảm bảo chất lượng chung của khu vực ASEAN Đây cũng là cách mà mạng lưới các trường đại học ASEAN nâng cao

sự tin tưởng lẫn nhau về chất lượng đào tạo giữa các trường trong khu vực cũng như với các trường đại học đối tác trên thế giới, từng bước góp phần thúc đẩy sự công nhận thành quả học tập và phát triển hợp tác giữa các trường đại học trong khu vực Đông Nam Á Theo TS Nguyễn Ngọc Thanh, Phó Hiệu trưởng Trường Đại học Kinh tế - Đại học quốc gia Hà nội, việc lựa chọn kiểm định theo chuẩn AUN nhằm giúp các trường biết chương trình đào tạo

đã đạt đến cấp độ nào trên thang đánh giá của khu vực Qua đó, phát hiện chương trình còn tồn tại những gì cần khắc phục nhằm đảm bảo chương trình đạt chất lượng ngang tầm các chương trình cùng lĩnh vực trong khu vực ASEAN [2]

Trong Bộ tiêu chuẩn của AUN có 18 tiêu chuẩn với 74 tiêu chí Mỗi tiêu chí được đánh giá theo 7 mức là: 1= không có gì (không có tài liệu, kế hoạch, minh chứng );

2 = chủ đề này của hệ thống đảm bảo chất lượng bên trong mới chỉ nằm trong kế hoạch; 3 = có tài liệu, nhưng không có minh chứng rõ ràng; 4 = có tài liệu và minh chứng; 5 = có minh chứng rõ ràng về hiệu quả trong lĩnh vực xem xét; 6 = chất lượng tốt; 7 = xuất sắc Mỗi tiêu chí trong bộ tiêu chuẩn đều có trọng số như nhau, điểm đánh giá của toàn bộ chương trình là điểm trung bình cộng của cả 74 tiêu chí 4.0 điểm, là ngưỡng điểm đạt tiêu chuẩn kiểm định chất lượng của AUN, trong đó điểm tối đa là 7

Trang 4

điểm Các trường kiểm định đạt theo chuẩn

kiểm định chất lượng của Mạng lưới các

trường đại học Đông Nam Á, việc công

nhận và bằng cấp có giá trị ở các nước trong

khu vực Đông Nam Á Như vậy, những sinh

viên tốt nghiệp từ các trường đại học đạt

chuẩn này sẽ dễ dàng hội nhập trong khu

vực ASEAN [3]

1.2.3 Kiểm định chất lượng giáo dục

theo chuẩn kiểm định ABET

ABET (Accreditation Board on

Engineering and Technology - Hội đồng

Kiểm định về Kỹ thuật và Công nghệ);

được thành lập từ năm 1932, là một tổ chức

phi lợi nhuận, phi chính phủ kiểm định

chương trình đại học và trường đại học các

ngành trong các lĩnh vực kỹ thuật

(engineering), công nghệ (technology), điện

toán (computing) và khoa học ứng dụng

(applied science) ABET là chuẩn kiểm định

được công nhận rộng rãi tại Hoa Kỳ Trong

nhiều trường hợp, các trường đại học phải

có các chương trình kỹ thuật được công

nhận bởi ABET thì mới đủ điều kiện để vận

hành Bên cạnh đó, nhiều cơ quan chuyên

môn đòi hỏi các kỹ sư phải tốt nghiệp từ các

chương trình được công nhận ABET mới có

thể hành nghề kỹ thuật ABET kiểm định

hơn 3.100 chương trình tại hơn 670 trường

cao đẳng và đại học tại 23 quốc gia ABET

cung cấp chuyên ngành, kiểm định chất

lượng chương trình và đánh giá một chương

trình cá nhân của nghiên cứu, chứ không

phải đánh giá một tổ chức như một toàn thể

ABET công nhận, đó là tự nguyện và

đạt được thông qua một quá trình thẩm

định, cung cấp sự bảo đảm rằng một

chương trình đại học hoặc đại học đáp ứng

các tiêu chuẩn chất lượng được thành lập

bởi các ngành nghề mà các chương trình

chuẩn bị cho sinh viên của mình Từ năm

2007, tổ chức này chính thức cấp chứng chỉ kiểm định cho các chương trình đào tạo của các trường đại học ngoài nước Mỹ

Bộ tiêu chuẩn ABET bao gồm 9 tiêu chuẩn: 1/ Sinh viên (Student), 2/ Mục tiêu đào tạo (Program Educational Objectives), 3/ Khả năng sinh viên (Student Outcomes), 4/ Liên tục cải thiện (Continuous improvement), 5/ Chương trình đào tạo (Curriculum), 6/ Ban giảng huấn (Faculty), 7/ Cơ sở vật chất (Facilities), 8/ Hỗ trợ của trường đại học (Institutional Support), 9/ Tiêu chuẩn riêng của từng chương trình

(Program criteria) Tiêu chuẩn “Sinh viên”

là tiêu chuẩn được xem xét đầu tiên; thể hiện quan điểm của ABET, xem người học

là trung tâm Tiêu chuẩn này đòi hỏi phải theo dõi sự phát triển của sinh viên nhằm giúp họ đạt được các kết quả mong muốn, xem xét các yêu cầu về việc nhận sinh viên vào học, việc hỗ trợ người học qua hệ thống cố vấn, qua cách vận hành chương

trình,… “Mục tiêu đào tạo” đòi hỏi phù

hợp với sứ mạng của trường đại học và dựa trên đóng góp của nhiều thành phần liên quan đến người học: giới doanh nghiệp, cựu sinh viên, giảng viên,… Điểm nổi bật trong các tiêu chuẩn ABET là tiêu chuẩn

“Khả năng sinh viên” (trước đây là

“Chuẩn đầu ra”- Program Outcomes) với

các yêu cầu cụ thể (gồm ít nhất 11 yêu cầu) thể hiện các kiến thức, kỹ năng và thái độ của người học đạt được khi tốt nghiệp Tiêu chuẩn này thể hiện quan điểm đánh giá của tổ chức ABET, là đánh giá sự thành công của một chương trình là dựa trên kết quả đạt được của người học chứ không tập trung vào những gì mà các giảng viên thực hiện trên lớp Một tiêu chuẩn quan trọng

khác là tiêu chuẩn “Liên tục phát triển”

Tiêu chuẩn này đòi hỏi một chương trình đào tạo cần phải có một hệ thống đánh giá

Trang 5

chất lượng người học để từ đó liên tục cải

thiện nhằm nâng cao chất lượng đạt được

Tiêu chuẩn “Chương trình đào tạo” bao

gồm một số yêu cầu tối thiểu về thời lượng

của các khối kiến thức Yêu cầu quan trọng

nhất của tiêu chuẩn này là phải đảm bảo

người học có thể đạt được các yêu cầu

trong “Khả năng sinh viên” Các tiêu chuẩn

khác nhằm đảm bảo khả năng vận hành

chương trình đào tạo: có đủ giảng viên

trong Ban giảng huấn và các giảng viên có

thời lượng làm việc hợp lý cho công tác

đào tạo; có đủ tiềm lực tài chính và cơ sở

vật chất phục vụ cho việc vận hành chương

trình đào tạo Các trường đại học kiểm

định đạt chất lượng giáo dục theo chuẩn

kiểm định ABET, việc công nhận và bằng

cấp có giá trị quốc tế Những sinh viên tốt

nghiệp từ các trường đại học đạt chuẩn

ABET sẽ dễ dàng hội nhập quốc tế [5]

1.3 Trường đại học trong thời kỳ

hội nhập

Trong điều kiện đất nước còn nhiều

khó khăn, nguồn lực còn hạn hẹp, được sự

quan tâm, chăm lo của Đảng, Nhà nước và

toàn xã hội, với những nỗ lực của đội ngũ

nhà giáo, cán bộ quản lý, giáo dục và đào

tạo nước ta đã đạt được nhiều thành tựu

quan trọng trong công cuộc đổi mới, xây

dựng và bảo vệ Tổ quốc: thực hiện giáo

dục toàn dân, nâng cao dân trí, phát triển

nhân lực, bồi dưỡng nhân tài; góp phần

giáo dục ý thức công dân, phẩm chất chính

trị, lý tưởng cách mạng cho các thế hệ con

người Việt Nam; giữ vững định hướng xã

hội chủ nghĩa; các điều kiện đảm bảo chất

lượng được tăng cường; chất lượng và hiệu

quả giáo dục ở các cấp học, trình độ đào

tạo có tiến bộ; hợp tác quốc tế được mở

rộng; lực lượng lao động qua đào tạo tăng

khá nhanh Những thành tựu trên và yêu

cầu phát triển đất nước trong thời kỳ mới

cho phép và đòi hỏi giáo dục Việt Nam chuyển từ phát triển thực tế chủ yếu theo mục tiêu số lượng sang mục tiêu coi trọng

cả chất lượng, hiệu quả và số lượng theo nhu cầu xã hội [13]

Trong khoảng hai thập niên qua, nền giáo dục đại học trên thế giới đã có những chuyển hướng sâu rộng đáng để tham khảo, nhất là trong tình hình xã hội đang đề cập ngày càng nhiều đến nhu cầu cải cách cấp bách giáo dục đại học của nước ta Một số chuyển hướng đáng kể như sau:

1.3.1 Giáo dục hóa đại học: Cùng với

sự phát triển nhanh về mọi mặt của xã

hội, giáo dục đại học đã chuyển mạnh từ

nền giáo dục tinh hoa sang giáo dục đại chúng, đáp ứng nhu cầu ngày càng cao về đời sống văn hoá và nguồn nhân lực trình

độ cao Số trường đại học mới thành lập gia tăng ở các tỉnh, cùng với sự đa dạng hoá các loại hình đào tạo (tại chức, đào tạo

từ xa, đào tạo liên thông, đào tạo theo dự án,…)

1.3.2 Thay đổi mục tiêu đào tạo theo

yêu cầu phát triển xã hội: Trong thời đại

thông tin, khối lượng kiến thức của nhân loại gia tăng nhanh chóng Vấn đề quan

viên bao nhiêu kiến thức, mà là trang bị cho sinh viên khả năng tự thu thập kiến thức, tự thân phát triển và năng lực giải quyết vấn đề một cách sáng tạo Vì vậy, người ta nói: dạy học đại học là dạy cách học cho sinh viên Sự thành đạt của con người ngày nay chủ yếu dựa vào những kiến thức tự học chứ không phải là số kiến thức do thầy truyền đạt ở nhà trường [6]

1.3.3 Đổi mới phương pháp giảng dạy của người thầy và cách học của sinh viên:

Ngày nay, vai trò chủ yếu của người thầy

là hướng dẫn việc học tập (facilitator of learning) của sinh viên, còn sinh viên tiếp

Trang 6

thu kiến thức chủ yếu thông qua tự học và

thảo luận nhóm, dưới sự hướng dẫn của

thầy, theo phương châm lấy sinh viên làm

trung tâm (student centered learning) Để

thực hiện được điều này, các trường đã áp

dụng nhiều phương pháp dạy học tích cực:

ứng dụng đa phương tiện trong dạy học và

phát huy tính năng động, sáng tạo của sinh

viên như nghiên cứu tình huống (case

study), học trên cơ sở giải quyết vấn đề

(problem based learning), học qua khám

phá (learning by discovery),… Internet và

các phương tiện kỹ thuật hiện đại đã được

tích cực huy động để hỗ trợ cho việc học

tập của sinh viên Sinh viên ngày càng

tham gia nhiều hơn và có hiệu quả hơn vào

các công trình nghiên cứu khoa học để rèn

luyện và trải nghiệm năng lực sáng tạo

1.3.4 Xu hướng giảm sự bao cấp của

nhà nước về tài chính: Sự phát triển mạnh

quy mô đào tạo cùng với sự gia tăng nhanh

chi phí đào tạo đại học đã trở thành gánh

nặng tài chính đối với các chính phủ Nếu

trước kia các trường đại học công chủ yếu

tồn tại nhờ vào nguồn tài chính công (ở

một số nước, ngay cả các trường tư cũng

được nhà nước tài trợ một phần), thì nay

một số nước như Thái Lan và cả nước giàu

như Nhật Bản cũng đang thực hiện chính

sách giảm dần mức trợ cấp của nhà nước

cho các trường đại học công và cho phép

các trường tự chủ về tài chính Điều này

bước đầu có gây một số khó khăn cho các

trường, nhưng ngược lại cũng thúc đẩy các

trường chi tiêu hợp lý hơn, nâng cao tính

năng động và hiệu quả hoạt động trong các

lĩnh vực: hợp đồng nghiên cứu khoa học,

chuyển giao công nghệ, tìm nguồn tài trợ,

sản xuất và dịch vụ,… Mặt khác, học phí là

nguồn tài chính quan trọng nhất của

trường, vì vậy các trường cũng phải nâng

cao chất lượng đào tạo để cạnh tranh thu

hút nhiều sinh viên, kể cả sinh viên nước ngoài vào học Để nhanh chóng nâng cao chất lượng đào tạo, nhiều trường đại học ở các nước Đông Nam Á đã mở rộng hợp tác với các trường đại học danh tiếng Âu - Mỹ

và giảng dạy bằng tiếng Anh theo chương trình của các trường đó Các trường đại học trong nước (Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật Thành phố Hồ Chí Minh) đã khuyến khích giảng dạy các chương trình đào tạo chất lượng cao (ngành đào tạo: Cơ khí chế tạo máy, ngành điện) bằng song ngữ: tiếng Anh – tiếng Việt từ năm học 2014 – 2015

1.3.5 Mở rộng quyền tự chủ của các trường: Ngoài những trường ở các nước đã

có quy chế tự chủ từ trước, xu hướng mở rộng quyền tự chủ đại học, nhất là tự chủ trong đào tạo và thi cử Từ năm học 2014 –

2015 Bộ Giáo dục và Đào tạo đã cho phép các trường tự ra đề và tuyển sinh trong kỳ thi đại học hằng năm Đây là một bước đột phá về mở rộng quyền tự chủ của các trường đại học Quyền tự chủ giúp cho các trường thoát khỏi việc phải vượt qua những chặn rào thủ tục hành chính không đáng có

để áp dụng những cải tiến, những biện pháp tiên tiến nhất mà hiệu quả đã được kiểm chứng ở nhiều nước

1.3.6 Xu hướng trường đa ngành

nghề: Ưu thế quan trọng nhất của các

trường đa ngành so với trường đơn ngành

là tận dụng hiệu quả hơn nguồn nhân lực

và cơ sở vật chất của trường, đồng thời cũng tạo điều kiện thuận lợi cho sự hợp tác liên ngành trong đào tạo và nghiên cứu khoa học Đây là xu hướng đã diễn ra mạnh ở các nước Đông Nam Á, và các nước Đông - Âu Ngoài các trường đa ngành mới thành lập, nhiều trường đơn ngành trước kia đã chuyển thành các trường đa ngành, ngay cả khi tên cũ của trường vẫn được giữ [10]

Trang 7

1.3.7 Chú trọng sự phát triển năng lực

cá nhân: Các chương trình đào tạo được

thiết kế linh hoạt hơn với tỷ lệ phần tự

chọn cao hơn và đi đôi với nó là học chế

tín chỉ giúp cho sinh viên nhiều khả năng

tự sắp xếp tiến độ học tập cũng như chọn

hướng chuyên sâu theo khả năng của mình

Nhờ vậy những sinh viên giỏi có thể rút

ngắn thời gian hoàn thành chương trình

hay học thêm một ngành khác Vừa qua,

Bộ Giáo dục và Đào tạo đã cho phép các

trường trọng điểm quốc gia được đề xuất

một số chương trình đào tạo hiện đại

(không bị ràng buộc bởi chương trình

khung của bộ), dựa trên cơ sở tham khảo

các chương trình đào tạo của nước ngoài,

để sớm đưa nền giáo dục đại học nước nhà

hội nhập với khu vực và thế giới

2 GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ

Để có được một bức tranh tổng quan

về việc kiểm định chất lượng chương trình

đào tạo Người nghiên cứu đã trực tiếp hoạt

động trong lĩnh vực giáo dục; nghiên cứu

chính sách giáo dục của Nhà nước, nghiên

cứu các loại hình kiểm định của thế giới,

theo dõi các hoạt động kiểm định của các

cơ sở giáo dục trong nước, tìm hiểu các

công văn, thông báo về việc Tổ chức Hội

thảo khoa học kiểm định cùng các hoạt

động kiểm định, đánh giá, nhằm thu thập

những thông tin, kết quả cũng như phương

hướng trong việc áp dụng xây dựng chiến

lược phát triển giáo dục cùng lộ trình kiểm

định chất lượng chương trình đào tạo Dưới

đây là các kết quả và chỉ tiêu được đề xuất

trong việc kiểm định chương trình đào tạo

cho các trường đại học

2.1 Đảm bảo chất lượng giáo dục

đại học

Tiêu chí đảm bảo chất lượng giáo dục

đại học là mối quan tâm hàng đầu của Bộ

Giáo dục và Đào tạo đối với các cơ sở giáo

dục Từ năm 2003 bằng việc thành lập Cục Khảo thí và Kiểm định chất lượng giáo dục thuộc Bộ Giáo dục và Đào tạo, Cục Khảo thí và Kiểm định chất lượng giáo dục đã trở thành thành viên chính thức của Mạng lưới chất lượng Châu Á - Thái Bình Dương(APQN) (Asia-Pacific Quality Network), Mạng lưới quốc tế các tổ chức đảm bảo chất lượng giáo dục đại học INQAAHE (International Network for Quality Assurance Agencies in Higher Education), Mạng lưới đảm bảo chất lượng các nước ASEAN – Asean Quality Assurance Network (AQAN) Các tiêu chí thành viên của những mạng lưới này và các nguyên tắc cũng đã có những ảnh hưởng mạnh mẽ đối với sự phát triển của hệ thống đảm bảo chất lượng giáo dục đại học ở Việt Nam (VNHEQAS) Hệ thống đảm bảo chất lượng giáo dục đại học Việt Nam bao gồm hệ thống đảm bảo chất lượng bên trong, đảm bảo chất lượng bên ngoài và các cơ quan đảm bảo chất lượng Theo quy định của Bộ Giáo dục và Đào tạo, tất cả các cơ sở giáo dục đại học (tức là các trường đại học và cao đẳng) cần phải thành lập đơn vị đảm bảo chất lượng bên trong của nhà trường Hiện tại (9/2014), đã có hơn 75% các trường đại học và 50% các trường cao đẳng đã có đơn vị đảm bảo chất lượng bên trong [12] Các đơn vị đảm bảo chất lượng bên trong có chức năng giúp nhà trường xây dựng và củng cố văn hóa chất lượng, hỗ trợ nhà trường đạt được sứ mạng của nhà trường, duy trì hệ thống quản lý chất lượng bên trong, phê duyệt chương trình, định kỳ giám sát đánh giá, nâng cao chất lượng giáo dục, đảm bảo chất lượng của đội ngũ giảng viên,… Các cán bộ, nhân viên của đơn vị đảm bảo chất lượng bên trong của nhà trường cũng phải

có trách nhiệm hỗ trợ các đơn vị khác để

Ngày đăng: 01/04/2021, 16:47

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w