1. Trang chủ
  2. » Văn Hóa - Nghệ Thuật

Đổi mới chương trình đào tạo tiếp cận yêu cầu người sử dụng lao động trong xu thế phát triển giáo dục đại học

7 6 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 7
Dung lượng 539,7 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Theo xu hướng phát triển giáo dục, chương trình đào tạo phải gắn kết chặt chẽ với yêu cầu tuyển dụng của thị trường lao động là một quy luật tất yếu.. Để có thể tạo ra nguồn nhân lực p[r]

Trang 1

ĐỔI MỚI CHƯƠNG TRÌNH ĐÀO TẠO TIẾP CẬN YÊU CẦU NGƯỜI SỬ DỤNG LAO ĐỘNG TRONG XU THẾ PHÁT TRIỂN GIÁO DỤC ĐẠI HỌC

LÊ CHI LAN (*)

TÓM TẮT

Giáo dục đóng vai trò quan trọng trong việc đào tạo và cung cấp nguồn nhân lực Theo xu hướng phát triển giáo dục, chương trình đào tạo phải gắn kết chặt chẽ với yêu cầu tuyển dụng của thị trường lao động là một quy luật tất yếu Để có thể tạo ra nguồn nhân lực phù hợp với yêu cầu tuyển dụng của thị trường lao động thì việc xem xét và điều chỉnh nội dung chương trình đào tạo theo yêu cầu tuyển dụng là điều cần thiết Vì vậy có thể nói yêu cầu của nhà tuyển dụng lao động đã phần nào tác động lên việc thay đổi chương trình

đào tạo

Từ khoá: đổi mới chương trình đào tạo, phát triển giáo dục, người sử dụng lao động

ABSTRACT

Education plays a very important role in training and supplying human resources According to the trends of higher education development, it is necessary that the curriculum must be closely linked with the requirements of the labour market In order to

be able to provide human resources in accordance with the requirements of the labour market, it is necessary to revise and adjust the content of the training program Therefore, the requirements of employers have certain impacts on curriculum innovation

Keywords: curriculum innovation, education development, employers

1 MỞ ĐẦU*

Hiện nay ngành giáo dục đang quan tâm

đến vấn đề “Đào tạo theo nhu cầu xã hội”

Tác giả Phùng Hữu Phú (2014) đã nêu “Sự

phát triển như vũ bão của cách mạng khoa

học, kĩ thuật công nghệ vừa là sản phẩm trí

tuệ của nhân loại, vừa nâng cao khả năng

sáng tạo của con người Khối lượng tri thức

được tạo ra ngày càng lớn và đa dạng và

luôn mang tính mới mẻ Trước thực tế đó,

con người buộc phải thay đổi phương thức

nắm bắt tri thức, chuyển từ nắm bắt tri thức

cụ thể sang trau đồi phương pháp tiếp cận,

sàng lọc, vận dụng và sáng tạo tri thức”

[6, tr.2]

Với tốc độ tăng trưởng kinh tế như hiện nay, nếu nhân lực được đào tạo ra không đáp ứng được yêu cầu của người sử dụng lao động (NSDLĐ) cả về số lượng và chất lượng thì sẽ dẫn đến lãng phí rất lớn về nguồn nhân lực và tài lực Bên cạnh đó, nếu các cơ sở giáo dục không nghiên cứu kĩ các yêu cầu của NSDLĐ, đào tạo một cách chủ quan thì việc đánh giá chất lượng của trường đại học sẽ khó thực hiện Chất lượng giáo dục không thể thay đổi trong phút chốc

mà cần cả một quá trình, thay đổi dần “từ gốc đến ngọn” Bài viết này chúng tôi sẽ trình bày một trong những phương pháp đổi mới giáo dục và đào tạo là “Tiếp cận yêu cầu của NSDLĐ”, qua đó đề xuất mô hình

Trang 2

gắn kết đào tạo với yêu cầu của NSDLĐ

2 YÊU CẦU CỦA NGƯỜI SỬ DỤNG

LAO ĐỘNG ĐỐI VỚI SINH VIÊN

TỐT NGHIỆP

Trong những năm gần đây, có xu

hướng tăng lên tình trạng sinh viên tốt

nghiệp (SVTN) ở các trường đại học, cao

đẳng không tìm được việc làm hoặc làm

việc không phù hợp với chuyên môn đào

tạo Theo số liệu khảo sát của dự án Giáo

dục đại học về việc làm cho SVTN, trong

khoảng 200.000 sinh viên ra trường hàng

năm chỉ có 45% - 62% sinh viên tìm được

việc làm sau khi tốt nghiệp, trong đó chỉ có

30% là làm đúng ngành nghề đào tạo

Trong khi SVTN không có việc làm thì các

doanh nghiệp lại thiếu lao động một cách

trầm trọng cả về số lượng và chất lượng

Theo thống kê của Bộ Kế hoạch và Đầu tư,

năm 2007 có khoảng 260.000 doanh

nghiệp đang hoạt động theo Luật Doanh

nghiệp, trong đó số lượng các doanh

nghiệp mới thành lập năm 2007 khoảng

50.000 doanh nghiệp, năm 2008 sẽ thêm

52.000 doanh nghiệp, nên nhu cầu lao động

của các doanh nghiệp là rất lớn Theo Bộ

Lao động - Thương binh và Xã hội, dự

kiến đến năm 2010, Việt Nam sẽ có

500.000 doanh nghiệp, tạo thêm 2,7 triệu

chỗ làm mới cho người lao động [8, tr.77]

Hiện nay, SVTN đại học ra trường rất

khó kiếm được việc làm phù hợp với

chuyên ngành mà họ đã được đào tạo Theo

nghiên cứu của Trường Đại học Khoa học

Xã hội và Nhân văn (Đại học Quốc gia Hà

Nội), hơn 60% sinh viên ra trường thất

nghiệp và hơn 70% làm việc trái với ngành

đào tạo Báo Tuối trẻ ngày 26/12/2013 đã

dẫn lời của Bà Nguyễn Th Xuân Mai, vụ

trưởng Vụ thống kê dân số và lao động cho

biết: “Năm 2010, người có trình độ đại học

từ độ tuổi 21 – 29 thất nghiệp khoảng

60.000 người (chiếm 6,84%), nhưng đến năm 2013, số thất nghiệp có trình độ đại học

ở độ tuổi dưới 30 tuổi đã tăng thành 101.000 người (chiếm 9.89%), riêng quý 3 năm

2013, tỉ lệ này tăng lên mức 11.75%” [5, tr.134-139]

GDĐH được xem là một công cụ hiệu quả để tăng cường khả năng làm việc của SVTN vì vậy muốn tăng cường chất lượng đào tạo thì các cơ sở giáo dục cần phải tăng cường khả năng làm việc của SVTN (G Mason, Williams, G & Crammer, 2006) Mặt khác, một số nghiên cứu tại Việt Nam

đã chỉ ra rằng, thực trạng chương trình đào tạo (CTĐT) của một số CSĐT tại Việt Nam quá nặng nề về lí thuyết và mang tính hàn lâm, thực hành thực tiễn rất ít Tình trạng này dẫn đến người học phải học rất nhiều trong quá trình đào tạo, nhưng khi va chạm thực tiễn thì khả năng xử lí công việc kém Thực tế có nhiều môn học người học và nhà quản lí không biết học để làm gì Sự tương ứng giữa lí thuyết và ứng dụng thực tế là vấn đề rất quan trọng, vì vậy khi thiết kế CTĐT nhà trường cần phải tìm hiểu yêu cầu của NSDLĐ để thiết kế các môn học và chỉ

rõ môn học này đáp ứng kĩ năng nào, thời gian cần thiết để có thể hình thành kiến thức

và kĩ năng trên là bao nhiêu lâu [1, tr.1-3] Trong 20 năm đổi mới giáo dục vừa qua, GDĐH đã có sự phát triển rõ rệt về quy

mô, mục tiêu đào tạo được mở rộng và nguồn đầu tư được đa dạng hóa Tuy nhiên, đổi mới giáo dục chưa mang tính hệ thống

và cơ bản, kết quả đổi mới giáo dục chưa toàn diện và vững chắc GDĐH còn tồn tại những bất cập chưa đáp ứng được sự đòi hỏi

và phát triển của xã hội, một trong những yếu tố tạo ra sự bất cập trên là đào tạo ít gắn với yêu cầu sử dụng [2, tr.1-6] Mặc dù Bộ GDĐT đã yêu cầu các trường đại học, cao đẳng xây dựng và công bố chuẩn năng lực

Trang 3

của SVTN (chuẩn đầu ra), tuy nhiên chất

lượng đào tạo còn thấp chưa đáp ứng được

kì vọng và nhu cầu xã hội Một số nghiên

cứu đã chỉ ra rằng phần lớn SVTN chỉ có

khoảng 60% làm việc phù hợp với ngành

đào tạo Chất lượng SVTN chưa đáp ứng

được yêu cầu của NSDLĐ chiếm tỉ lệ 74%,

phần lớn SVTN khi nhận công việc tại các

doanh nghiệp đều phải đào tạo lại Việc đào

tạo cần gắn với thực tế theo xu hướng chung

của thế giới, vấn đề đặt ra cần đào tạo phù

hợp với nhu cầu của th trường lao động của

Việt Nam Sự công nhận của NSDLĐ là

minh chứng tốt nhất thể hiện chất lượng đào

tạo đạt chuẩn [3, tr.9-11]

CTĐT giữ vai trò then chốt trong hoạt

động đào tạo Chất lượng đào tạo là kết quả

của quá trình đào tạo được thể hiện qua

chất lượng SVTN, mà quá trình đào tạo

phụ thuộc rất nhiều vào CTĐT CTĐT là

sản phẩm của thời đại, vì CTĐT là một

công cụ để tạo ra nguồn nhân lực phục vụ

cho thời đại, nó vừa là thước đo trình độ

phát triển của giáo dục trong thời đại mà

nó phục vụ, vừa là công cụ góp phần tạo

nên chất lượng nguồn nhân lực Theo yêu cầu của NSDLĐ, SVTN cần có đầy đủ kiến thức, kĩ năng, phẩm chất đạo đức và kinh nghiệm thực tiễn

+ Kiến thức chuyên môn phải qua quá trình thực hành/ thực tập thường xuyên trở thành kĩ năng chuyên môn Bên cạnh đó, kĩ năng mềm như làm việc nhóm, giao tiếp… cũng là điều cần thiết đối với SVTN + Hầu hết khi tuyển dụng SVTN các nhà doanh nghiệp điều đòi hỏi yếu tố phẩm chất đạo đức Vì vậy, SVTN cần phải được rèn luyện thêm phẩm chất đạo đức như: tính kỉ luật, trách nhiệm trong công việc… + Ngoài ra động lực/động cơ đóng vai trò quan trọng để hình thành nên kinh nghiệm thực tiễn, cụ thể đối với người có phẩm chất ham học hỏi + động lực làm việc sẽ dễ dàng tích lũy những kinh nghiệm cho bản thân

+ Bên cạnh đó, SVTN đã được trang b kiến thức ở nhà trường cần tiếp cận thực tế

để biến kiến thức thành kinh nghiệm thực tiễn

Hình 1 Các yêu cầu chung của người sử dụng lao động đối với sinh viên tốt nghiệp

Trang 4

Mặt khác, kiến thức môn học cụ thể

mà sinh viên học ở trường đại học không

phải là yếu tố quyết đ nh chính cho sự phù

hợp việc làm trong tuyển dụng lao động

NSDLĐ mong muốn tuyển dụng SVTN

ngoài kiến thức ngành, họ còn có những

năng lực cá nhân riêng như: tìm hiểu và

giải quyết vấn đề, năng lực tự học; năng

lực thích ứng… Theo yêu cầu của NSDLĐ,

SVTN cần có đầy đủ kiến thức, kĩ năng,

phẩm chất đạo đức và kinh nghiệm thực

tiễn

Năng lực có thể được xem như là khả

năng tiếp nhận và vận dụng tổng hợp, có

hiệu quả mọi tiềm năng của con người (tri

thức, kĩ năng, thái độ, thể lực, niềm tin )

để thực hiện công việc hoặc đối phó với

một tình huống, trạng thái nào đó trong

cuộc sống và lao động nghề nghiệp Năng

lực không có sẵn trong mỗi chúng ta mà nó

hình thành nhờ sự học hỏi và tập luyện

Yếu tố rất quan trọng để con người có năng

lực nào đó là ý thức vươn lên

Có nhiều cách phân loại năng lực khác

nhau trong đó 2 loại chủ yếu sau:

- Năng lực chung (Key Competency):

Là những năng lực cơ bản, thiết yếu hoặc

cốt lõi, làm nền tảng cho mọi hoạt động

của con người trong cuộc sống và lao động

nghề nghiệp như năng lực nhận thức, năng

lực trí tuệ, năng lực về ngôn ngữ và tính

toán; năng lực giao tiếp, năng lực vận

động… Các năng lực này được hình thành

và phát triển dựa trên bản năng di truyền

của con người, quá trình giáo dục và trải nghiệm trong cuộc sống

- Năng lực chuyên biệt (Domain-Specific

Competencies): Là những năng lực riêng được hình thành và phát triển trên cơ sở năng lực chung theo đ nh hướng chuyên sâu, riêng biệt trong các loại hình hoạt động, công việc hoặc tình huống, môi trường đặc thù Ví dụ như năng lực nhận dạng nhanh được hình thành trên cơ sở các năng lực chung về th giác, phán đoán, so sánh… và các phẩm chất, năng khiếu chuyên biệt

Dưới góc độ giáo dục học, chúng ta có thể xem xét năng lực là kết quả của quá trình giáo dục, rèn luyện của cá nhân, thể hiện ở những kiến thức, kĩ năng và thái độ phù hợp để cá nhân có thể tham gia hiệu quả vào một lĩnh vực hoạt động nhất đ nh Như vậy, ở góc độ này, người có năng lực ở lĩnh vực nào thì nhất đ nh phải có tri thức kĩ năng kĩ xảo trong lĩnh vực ấy, có thái độ tích cực để vận dụng tri thức kĩ năng hiệu quả vào các hoạt động Tuy nhiên có tri thức, kĩ năng chưa thể khẳng đ nh cá nhân

có phát huy được năng lực hay không, bởi tri thức kĩ năng ấy chưa chắc đã được hiện thực hóa trong hoạt động

Tiếp cận thế kỉ XXI, SVTN cần một

số thuộc tính cá nhân và năng lực để có thể vượt ra các khuôn khổ cho phép, để có thể

tự hoàn thiện bản thân qua việc học tập suốt đời Vì vậy chúng tôi đề ngh mô hình năng lực cốt lõi cho SVTN như sau:

Trang 5

Hình 2 Mô hình năng lực cốt lõi đối với sinh viên tốt nghiệp

Trong thực tế, nhiều SVTN có kiến

thức, kĩ năng được đào tạo, tuy nhiên khi

tiếp xúc công việc không mang lại hiệu quả

là do năng lực cá nhân còn b hạn chế Mô

hình năng lực cốt lõi của SVTN (Hình 2)

cho thấy rằng mỗi người đều có một ít

năng lực của bản thân (vùng A), qua quá

trình học tập sẽ giúp bản thân cá nhân đó

phát huy thêm (vùng B) và năng lực cá

nhân sẽ được phát triển mạnh khi tiếp xúc

môi trường làm việc trong xã hội (vùng C)

Trong CTĐT còn thiếu một số kĩ năng cần thiết, CTĐT cần điều chỉnh theo hướng tiếp cận yêu cầu của NSDLĐ tức là đào tạo theo hướng tiếp cận đào tạo theo năng lực của người học Phẩm chất, đạo đức được xem là nền tảng, qua quá trình đào tạo người học sẽ có những kiến thức kĩ năng cần thiết Nếu chương trình đào tạo được xây dựng theo hướng phát huy năng lực người học thì SVTN có thể hòa nhập môi trường làm việc đa lĩnh vực

Trang 6

Hình 3 Quá trình phát triển năng lực cốt lõi đối với sinh viên tốt nghiệp

3 MÔ HÌNH ĐỔI MỚI GIÁO DỤC VÀ

ĐÀO TẠO ĐÁP ỨNG YÊU CẦU

CỦA NSDLĐ

Trường đại học giữ vai trò đào tạo và

cung cấp nguồn nhân lực cho th trường lao

động Một trong những sản phẩm của giáo

dục đại học là SVTN Th trường lao động

được đại diện bởi những nhà doanh nghiệp

là NSDLĐ trực tiếp sử dụng SVTN 

Trường đại học và NSDLĐ có mối liên hệ

với nhau thông qua SVTN Có nhiều mô hình khác nhau được tạo ra bởi các nhà nghiên cứu để tìm hiểu mối liên hệ giữa trường đại học và NSDLĐ dựa trên việc tìm hiểu kĩ năng làm việc và việc làm của SVTN

Harvey (2002) trình bày các mô hình đơn giản của việc làm để thấy được mối quan hệ giữa trường đại học và NSDLĐ thông qua khả năng làm việc:

Hình 4 Mô hình việc làm Magic Bullet Nguồn: Harvey (2002), kĩ năng làm việc và sự đa dạng

Ngoài ra, Harvey (2002) đã phát triển

mô hình trên sau khi xem xét tất cả các bên

liên quan trong quá trình đào tạo - sử dụng

nguồn nhân lực và tất cả các yếu tố khả

năng làm việc quan trọng Harvey (2002)

đã chỉ ra tầm quan trọng của liên kết tất cả các yếu tố cùng với tất cả các bên liên quan đến quá trình này để phát triển các thuộc tính SVTN Các đối tượng liên quan vào quá trình đào tạo và sử dụng nguồn nhân

Trang 7

lực là SVTN, trường đại học và nhà tuyển

dụng SVTN có trách nhiệm lựa chọn và

tham gia với các cơ hội phát triển việc làm

được cung cấp ở các trường đại học và

kinh nghiệm tích lũy của bản thân để nâng

cao những kĩ năng làm việc

Harvey (2002) xác đ nh các hoạt động

phát triển việc làm bao gồm: sự phát triển

của các thuộc tính về kĩ năng việc làm,

kinh nghiệm làm việc, kĩ năng làm việc độc lập và sẵn sàng tìm hiểu để phát triển

Mô hình phát triển khả năng làm việc của SVTN được Harvey trình bày gồm 3 quy trình cốt lõi có tác động đến khả năng làm việc của SVTN là: (1) Quá trình giáo dục của trường đại học; (2) Phản ánh thông qua

tư duy và nhận thức; (3) Kết hợp và vận dụng giữa kiến thức và thực tiễn

Hình 5: Mô hình phát triển kĩ năng làm việc của SVTN Nguồn: Harvey (2002), kĩ năng làm việc và sự đa dạng

Dựa trên quan điểm trên, chúng tôi

nhận thấy rằng có mối liên kết giữa nhà

trường, nhà tuyển dụng và bản thân người

học Ba đối tượng này tham gia vào quá

trình đào tạo là SVTN, trường đại học và

NSDLĐ với những vai trò khác nhau:

+ Cơ sở đào tạo là nơi đào tạo, rèn

luyện kiến thức, kĩ năng và thái độ cho

người học thông qua CTĐT

+ Người học tham gia vào quá trình

đào tạo tiếp nhận kiến thức và kĩ năng

thông qua quá trình học tập, ngoài ra trong

quá trình đào tạo người học còn phải rèn

luyện thêm phẩm chất và đạo đức

+ NSDLĐ là nơi sử dụng SVTN với vai trò sử dụng và phát triển những kiến thức và kĩ năng cho SVTN qua công việc thực tiễn

Hình 6 Mô hình 3 bên liên quan chính

tham gia vào quá trình đào tạo

Ngày đăng: 01/04/2021, 16:46

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w