1. Trang chủ
  2. » Cao đẳng - Đại học

Mức độ áp dụng kế toán quản trị trong các doanh nghiệp Việt Nam - Kết quả từ nghiên cứu thực nghiệm

7 26 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 7
Dung lượng 302,15 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Bên cạnh các công trình nghiên cứu về mức độ áp dụng KTQT trong các DN, nhiều công trình nghiên cứu tập trung lý giải nguyên nhân và ảnh hưởng của các yếu tố đến việc áp dụng các phươn[r]

Trang 1

MỨC ĐỘ ÁP DỤNG KẾ TOÁN QUẢN TRỊ TRONG CÁC DOANH NGHIỆP VIỆT NAM

- KẾT QUẢ TỪ NGHIÊN CỨU THỰC NGHIỆM ADOPTION OF MANAGEMENT ACCOUNTING PRACTICES:

AN VIETNAMESE STUDY

#Thái Anh Tuấn Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật Vinh

Tóm tắt: Kế toán quản trị (KTQT) là nguồn thông tin quan trọng hỗ trợ cho các nhà quản trị

doanh nghiệp (DN) trong quá trình ra quyết định Trên thế giới, KTQT đã có lịch sử hình thành và phát triển hơn 100 năm Tuy nhiên, ở Việt Nam KTQT trong các DN, KTQT còn tương đối sơ khai, nhiều kỹ thuật KTQT hiện đại chưa được áp dụng Bài viết cũng nghiên cứu ảnh hưởng của một số yếu tố ngẫu nhiên đến mức độ áp dụng KTQT Kết quả nghiên cứu cho thấy, mức độ phân quyền, mức độ áp dụng CNTT và trình độ nhân viên có ảnh hưởng đáng kể đến mức độ áp dụng KTQT trong các DN

Từ khóa: CNTT, KTQT, mức độ áp dụng, phân quyền, trình độ kế toán

Abstract: Management accounting is critical information for decision making In the

developed countries, the management accounting has been developing and adopting for more than 100 years In Vietnam, however, management accounting is rarely Many management accounting practices aren’t adopted Researcher also indicated affect of some contingency factors to adoption of management accounting practices Level of decentralized, IT and knowledge of accountants has significant affect to the adoption, others are not

Keywords: Adoption, IT, management accounting, decentralized, knowledge of accountants

1 Giới thiệu

Trong điều kiện toàn cầu hóa và hội nhập kinh tế quốc tế, các DN Việt Nam đang đối mặt với sự cạnh tranh gay gắt với các DN trong và ngoài nước Để nâng cao năng lực cạnh tranh, các DN cần sử dụng hiệu quả các nguồn lực, đem lại nhiều giá trị gia tăng cho khách hàng với các chi phí thấp Để thực hiện được điều này, các DN cần có hệ thống thông tin trợ giúp cho các nhà quản trị trong quá trình ra quyết định KTQT là nguồn thông tin quan trọng giúp các nhà quản trị phân tích để đưa ra các quyết định đúng đắn góp phần nâng cao hiệu quả kinh doanh của DN

Trên thế giới, KTQT đã được các DN Mỹ áp dụng từ cuối thế kỷ thứ XIX và hiện nay

ở các cường quốc kinh tế, KTQT rất được coi trọng và được ứng dụng rộng rãi trong thực tiễn Tại Việt Nam, mặc dù nền kinh tế đã chuyển sang vận hành theo cơ chế thị trường từ hơn 30 năm nay nhưng hệ thống KTQT trong các DN vẫn còn sơ khai và chưa được quan tâm đúng mức Thực trạng này đã ảnh hưởng không nhỏ đến hiệu quả quản trị DN nói riêng và khả năng cạnh tranh của DN Việt Nam trên thị trường nói chung Bài viết này giới thiệu kết quả nghiên cứu bằng một khảo sát thực nghiệm tương đối toàn diện về mức độ áp dụng KTQT và các nhân tố ảnh hưởng đến mức độ áp dụng KTQT trong các DN Việt Nam Nghiên cứu sẽ trả lời hai câu hỏi sau: (i) Các phương pháp và kỹ thuật KTQT được các DN Việt Nam

Trang 2

áp dụng ở mức độ nào? (ii) Các yếu tố ngẫu nhiên có ảnh hưởng như thế nào đến việc áp dụng các phương pháp KTQT trong các DN Việt Nam?

Kết quả nghiên cứu sẽ góp phần bổ sung lý luận về tổ chức áp dụng KTQT trong các

DN Việt Nam và cơ sở cho các khuyến nghị và biện pháp, nhằm thúc đẩy việc áp dụng KTQT trên thực tế trong các DN Việt Nam

Sau phần mở đầu, phần hai của bài viết sẽ là tổng quan nghiên cứu về KTQT trong và ngoài nước Phần ba là phương pháp nghiên cứu Phần bốn là kết quả khảo sát và phân tích kết quả Phần cuối cùng là các phát hiện, khuyến nghị và hướng nghiên cứu tiếp theo trong tương lai

2 Tổng quan nghiên cứu và khoảng trống nghiên cứu

Trong khoảng 30 năm trở lại đây, đã có nhiều công trình nghiên cứu về KTQT, các công trình nghiên cứu tập trung vào các chủ đề như mức độ áp dụng KTQT trong các DN, so sánh mức độ áp dụng KTQT trong các DN ở một số nước và các nhân tố ảnh hưởng đến việc

áp dụng KTQT trong các DN Tiêu biểu cho các công trình nghiên cứu này là công trình nghiên cứu của Chenhall và Langfield-Smith (1998) nghiên cứu mức độ áp dụng các phương pháp KTQT tại 140 DN lớn trong ngành công nghiệp chế biến của Úc Mô hình nghiên cứu của Chenhall & Langfield-Smith sau này được nhiều công trình nghiên cứu khác áp dụng để nghiên cứu mức độ áp dụng KTQT trong các DN ở các nước hoặc trong các lĩnh vực kinh doanh khác nhau như Abdel- Kader và Luther (2006), Pierce&O’Dea(1998), Shields (1998), Wijewardena & Zoysa(1999), Ahmad(2012), Yalcin (2012); NuatipSumkaew (2012), v.v…

Bên cạnh các công trình nghiên cứu về mức độ áp dụng KTQT trong các DN, nhiều công trình nghiên cứu tập trung lý giải nguyên nhân và ảnh hưởng của các yếu tố đến việc áp dụng các phương pháp KTQT trong các DN Nổi bật trong các công trình này là các nghiên cứu của các tác giả Joshi (2001), Haldma&Laats (2002), Szychta (2002), Sulaimanetal (2004), Pierce và O’Dea (1998), Karanja và cộng sự (2013), Abdel- Kader và Luther (2006), Abdel- Kaderetal., (2008), Ahmad, K (2012), Doan Ngoc Phi Anh (2012), Pollanen và Abdel- Maksoud (2010), Ahmad &Leftesi, 2014; Doan, 2016; James, 2013; Maelah & Ibrahim, 2007; Subasinghe & Fonseka, 2009 Hầu hết các công trình nghiên cứu về các yếu tố ảnh hưởng đến việc áp dụng các phương pháp KTQT trong các DN đều dựa trên lý thuyết ngẫu nhiên để xác định các yếu tố ảnh hưởng Tuy nhiên, các yếu tố ảnh hưởng được mỗi công trình nghiên cứu không hoàn toàn giống nhau

Yếu tố đầu tiên được nhiều tác giả nghiên cứu là mức độ cạnh tranh trên thị trường Sulaimanetal (2004), Halma và Laats (2002), Karanja và cộng sự (2014), Sulaimanetal (2015), Ahmad, K (2012), Doan Ngoc Phi Anh (2012), Ahmad, K etal (2015), (Leite, 2015), Kariuki, S N (2016) đều cho rằng cạnh tranh ngày càng tăng dẫn đến các DN phải sử dụng nguồn lực và ra quyết định hiệu quả hơn từ đó làm phát sinh nhu cầu thông tin phục vụ quản trị DN

Yếu tố thứ hai được nhiều tác giả quan tâm nghiên cứu là quy mô DN Quy mô DN thường xuyên được coi là một yếu tố trong mô hình ngẫu nhiên (Chenhall, 2007) Các công trình nghiên cứu của các tác giả Joshi (2001), Haldma&Laats (2002), Szychta (2002), Alattaretal (2009), Sulaimanetal (2004), Pierce và O’Dea (1998), Karanja và cộng sự (2013), Abdel- Kader và Luther (2006), Abdel- Kaderetal (2008), Ahmad, K (2012), Doan Ngoc Phi

Trang 3

Anh (2012), Albu, N etal., (2012), Pollanen và Abdel- Maksoud (2010) đều coi quy mô là một yếu tố có ảnh hưởng quan trọng đến việc áp dụng các phương pháp KTQT trong các DN

Yếu tố thứ ba được nghiên cứu là mối quan hệ giữa phân quyền và việc áp dụng KTQT được Abdel- Kader (2008), Doan (2012) và Leite (2015) nghiên cứu và cho kết quả giống nhau là việc phân quyền trong quản trị có tác động tích cực đến việc áp dụng các phương pháp KTQT hiện đại (Chia, (1995), Abdel- Kader (2008)

Ngoài các yếu tố trên, ảnh hưởng của việc áp dụng CNTT, sự quan tâm của nhà quản trị đến KTQT và trình độ nhân viên kế toán đến mức độ áp dụng KTQT cũng được nhiều tác giả nghiên cứu

Tại Việt Nam, mặc dù KTQT đã được đưa vào giảng dạy trong các trường đại học từ gần 30 năm qua Tuy nhiên, các công trình nghiên cứu về KTQT vẫn còn khiêm tốn Cho đến nay ngoài các công trình nghiên cứu về khả năng áp dụng các kỹ thuật KTQT của phương Tây vào các DN Việt Nam của Đoàn Ngọc Phi Anh (2012) và nghiên cứu của Nguyễn Thị Phương Dung (2014) nhằm mục đích xác định KTQT trong các DN Việt Nam đang ở trong giai đoạn nào trong quá trình phát triển của KTQT

Như vậy, có thể nói, cho đến nay chưa có công trình nào tại Việt Nam nghiên cứu đầy

đủ về mức độ áp dụng KTQT và ảnh hưởng của các yếu tố ngẫu nhiên đến việc áp dụng các phương pháp KTQT trong các DN hoạt động trong các lĩnh vực kinh doanh khác nhau Đây chính là khoảng trống cho nghiên cứu này

3 Phương pháp nghiên cứu

3.1 Thu thập dữ liệu

Bảng hỏi được thiết kế và phát triển dựa trên các câu hỏi khảo sát đã được một số tác giả sử dụng trước đây như: Chenhall và Langfield- Smith (1998), Wijewardena (1999), Joshi (2001), Hyvonen (2005), Ahmad (2012), Yalcin (2012) và có sự chỉnh sửa cho phù hợp với văn hóa, ngôn ngữ và thực tiễn của DN Việt Nam trên cơ sở thông tin phản hồi từ 4 chuyên gia là giảng viên dạy kế toán trong các trường đại học tại Vinh và Hà nội và 6 chuyên gia là phụ trách kế toán trong các DN tại Vinh và Hà nội

Bảng câu hỏi gồm 30 câu, gồm các phần sau:

Phần giới thiệu: Trình bày mục đích, ý nghĩa nghiên cứu, mời tham gia khảo sát và

cam kết về mục đích sử dụng và bảo mật thông tin đối với người trả lời

Phần 1 Thông tin chung về DN và người trả lời (từ câu hỏi 1 đến câu hỏi 8): Các câu

hỏi về DN, bao gồm các thông tin phục vụ cho phân loại và đánh giá quy mô DN như số lượng lao động sử dụng, doanh thu hàng năm, quy mô tài sản Thông tin về thời gian thành lập hoặc số năm hoạt động được sử dụng để xác định tuổi của DN Thông tin về người trả lời bao gồm các thông tin về vị trí công việc mà người trả lời đảm nhận và số năm công tác tại

DN để đánh giá mức độ hiểu biết của họ về hệ thống KTQT của công ty

Phần 2 Khảo sát mức độ áp dụng KTQT trong DN (từ câu hỏi 9 đến câu hỏi 21):

Phần này bao gồm các câu hỏi được thiết kế phục vụ cho việc đánh giá mức độ áp dụng KTQT trong các DN để trả lời cho câu hỏi nghiên cứu thứ nhất.Câu hỏi sử dụng cho mục này

là “Công ty của anh/chị đang áp dụng các phương pháp KTQT dưới đây ở mức độ nào?” Thang đo Likert 5 mức độ được sử dụng để trả lời cho các câu hỏi này với 1 = chưa bao giờ

Trang 4

và 5 = rất thường xuyên

Phần 3 Khảo sát các nhân tố ảnh hưởng đến KTQT trong DN (từ câu 21 đến câu 30):

Phần này gồm các câu hỏi thu thập thông tin để đánh giá mức độ của một số yếu tố ngẫu

nhiên trong mô hình nghiên cứu Các yếu tố ngẫu nhiên được lựa chọn dựa trên các mô hình

nghiên cứu trước đây gồm: Cạnh tranh, phân quyền, mức độ áp dụng CNTT trong DN, Sự

quan tâm của nhà quản trị đến KTQT và Trình độ nhân viên kế toán Thang đo Likert 5 mức

độ được sử dụng để trả lời cho các câu hỏi này

Bảng hỏi điều tra được phát trực tiếp thông qua các mối quan hệ cá nhân và đồng thời

được gửi qua thư điện tử (emai) nhờ công cụ Google Docs Tổng cộng có hơn 1.000 bảng hỏi

được phát ra cho các đối tượng là nhà quản lý, phụ trách kế toán và kế toán viên trong các DN

được lựa chọn trong phạm vi nghiên cứu Khảo sát được thực hiện từ tháng 4/2017 đến tháng

12/2017 Số phiếu nhận được là 483 phiếu, sau khi làm sạch, loại bỏ các phiếu trả lời trùng,

các phiếu bỏ trống quá nhiều câu hỏi không sử dụng được và các phiếu trả lời không phù hợp,

có nhiều mâu thuẫn còn lại 437 phiếu

Đặc điểm của các DN trả lời khảo sát thể hiện ở bảng sau:

Bảng 1 Đặc điểm các DN trả lời khảo sát Các đặc điểm Số lượng Tỷ lệ

Lĩnh vực kinh doanh

Tổng 437 100,0

Số lao động

Tổng 437 100,0

Lĩnh vực kinh doanh: Các DN trả lời khảo sát được chia thành 5 lĩnh vực kinh doanh:

Sản xuất, xây dựng, thương mại, dịch vụ và đa ngành Trong đó, các DN đa ngành là những

DN có hoạt động chính từ 2 ngành nghề trở lên như sản xuất và xây dựng, thương mại và dịch

vụ hoặc xây dựng và thương mại, v.v… Bảng 1 cho thấy trong số các DN trả lời khảo sát, DN

xây dựng chiếm tỷ lệ cao nhất (40%), tiếp theo là DN thương mại (22,2%) và thấp nhất là các

DN dịch vụ (26 DN, chiếm 5,9%)

Trang 5

Quy mô DN: Nghiên cứu sử dụng tiêu chí số lao động để phân loại quy mô DN, đây là

cách phân loại được một số tác giả như Szychta (2002), Halbouni(2014) sử dụng Theo cách phân loại này, các DN có quy mô nhỏ dưới 100 người chiếm tỷ lệ cao nhất (57,7%), tiếp đến

là các DN có số lượng lao động từ trên 100 người đến 300 người (20,6%) Các DN có từ 501 đến 1.000 người và trên 1.000 người chiếm tỷ lệ như nhau (6,4%)

Địa phương đóng trụ sở của DN: Các DN trả lời khảo sát nằm rải rác tại 26 tỉnh trên

cả nước, đông nhất là Hà Nội, chiếm 69,6%, ít nhất là các tỉnh Cao Bằng, Đà Nẵng, Đồng Nai, Hà Tĩnh, Kon Tum và Lạng Sơn, mỗi tỉnh chỉ có 1 DN trả lời khảo sát

3.2 Kỹ thuật xử lý dữ liệu

Dữ liệu thu được từ khảo sát chính thức sẽ được làm sạch sau đó dùng cho phân tích nhân tố khám phá EFA Các nhân tố thu được rút trích từ phân tích EFA sẽ được đánh giá độ tin cậy thông qua hệ số Cronbach’s alpha trước khi phân tích tương quan và phân tích hồi quy

để kiểm định các giả thuyết

4 Kết quả và bàn luận

4.1 Mức độ áp dụng các kỹ thuật KTQT trong các DN Việt Nam

4.1.1 Kỹ thuật hạch toán chi phí

Xét chung tổng số các DN trả lời khảo sát, tỷ lệ các DN áp dụng hạch toán chi phí theo sản phẩm ở mức thường xuyên và rất thường xuyên chiếm 66,1% số DN trả lời khảo sát

Số còn lại không áp dụng hoặc áp dụng ở mức thấp Tỷ lệ các DN hạch toán chi phí theo bộ phận (phân xưởng, đội sản xuất, đội xây lắp, phòng ban, v.v… ) ở mức thường xuyên và rất thường xuyên chỉ chiếm 30,9% Tỷ lệ áp dụng hạch toán chi phí toàn DN đạt 59,3% và tính giá thành theo chi phí biến đổi đạt tỷ lệ 26,1% Điều này có thể do các DN khảo sát phần lớn

là các DN có quy mô vừa và nhỏ nên thường hạch toán chi phí trên quy mô toàn DN

Về mức độ áp dụng các kỹ thuật hạch toán chi phí

Mức độ hạch toán theo sản phẩm cũng giảm dần giữa các DN Đứng đầu là các DN xây dựng có mức độ hạch toán chi phí theo sản phẩm đạt điểm trung bình là 4,46/5 điểm Đứng thứ hai về mức độ áp dụng hạch toán chi phí theo sản phẩm là các DN sản xuất, với điểm trung bình là 4,30 điểm Các DN thương mại và dịch vụ có mức áp dụng rất thấp, lần lượt là 2,18 và 1,96 điểm Các DN đa ngành áp dụng ở mức trung bình, 3,03 điểm

Mức độ hạch toán chi phí theo bộ phận trong các DN còn thấp hơn so với hạch toán chi phí theo sản phẩm Ngoài các DN xây dựng áp dụng hạch toán theo bộ phận đạt mức trung bình, các DN còn lại đều dưới 3 điểm Thấp nhất là các DN thương mại với điểm trung bình là 1,57 điểm

Mức độ áp dụng hạch toán chi phí toàn DN cao nhất là các DN dịch vụ với điểm trung bình đạt 4,24 điểm Trong các DN khác mức áp dụng phương pháp này đều đạt ở mức trung bình

Mức độ áp dụng tính giá thành theo chi phí biến đổi trong các DN Việt Nam nhìn chung khá thấp Ngoài các DN dịch vụ đạt điểm trung bình là 3,04, các DN còn lại có điểm trung bình đều dưới 3 Điều này chứng tỏ phương pháp hạch toán chi phí này còn chưa phổ biến ở Việt Nam

4.1.2 Sử dụng dự toán

Dự toán là công cụ được sử dụng để lập kế hoạch, kiểm soát và đánh giá hoạt động trong các DN Kết quả nghiên cứu cho thấy tỷ lệ và mức độ dự toán khá cao trong các DN xây

Trang 6

dựng và sản xuất Ngược lại, trong các DN thương mại và dịch vụ tỷ lệ sử dụng dự toán khá thấp

Cụ thể trong các DN xây dựng, tỷ lệ lập dự toán đạt từ 46,1 trở lên Tỷ lệ lập dự toán sản xuất đạt cao nhất (100,0%), thấp nhất là báo cáo tài chính dự toán (46,1%) Các dự toán tiêu thụ, dự toán mua vật tư và dự toán tiền lần lượt đạt tỷ lệ 52,8; 65,2 và 57,3%

Các DN sản xuất có tỷ lệ sử dụng dự toán đứng thứ hai sau các DN xây dựng Tỷ lệ áp dụng cao nhất đối với dự toán mua vật tư (52,6%), thấp nhất vẫn là áp dụng báo cáo tài chính

dự toán (43,4%) Các dự toán sản xuất, tiêu thụ, và dự toán tiền lần lượt đạt tỷ lệ 51,3; 44,7 và 51,3%

Đứng thứ ba về tỷ lệ lập dự toán là các DN đa ngành Trong các DN này, dự toán mua vật tư có tỷ lệ áp dụng cao nhất (58,3%), báo cáo tài chính (BCTC) dự toán có tỷ lệ sử dụng thấp nhất (31,7%) Dự toán tiêu thụ đạt tỷ lệ 53,3% Cả hai dự toán sản xuất và dự toán tiền đều đạt tỷ lệ 41,7%

Các DN dịch vụ có tỷ lệ sử dụng dự toán tiền đạt tỷ lệ cao nhất (65,4%) Dự toán sản xuất đạt tỷ lệ thấp nhất (15,4%) Các dự toán khác đạt tỷ lệ trên dưới 40% (38,5% đối với dự toán tiêu thụ, dự toán mua đạt 46,2% và BCTC dự toán đạt 42,3%)

Trong các DN thương mại, tỷ lệ sử dụng các loại dự toán khá thấp Thấp nhất là tỷ lệ

sử dụng dự toán sản xuất (6,2%) Các dự toán còn lại đạt tỷ lệ từ 38,1 (báo cáo tài chính dự toán) đến 48,5% (dự toán tiền) Các dự toán tiêu thụ và mua hàng hóa đạt tỷ lệ tương đương nhau (45,4 và 46,4%)

Mức độ sử dụng các loại dự toán trong các DN đạt mức trung bình từ 3,12 đến 3,44 điểm Dự toán mua hàng có mức sử dụng cao nhất là 3,44 điểm báo cáo tài chính dự toán có mức sử dụng thấp nhất (3,12)

Xét theo lĩnh vực hoạt động, các DN xây dựng có mức độ sử dụng dự toán cao nhất Điểm trung bình sử dụng dự toán trong các DN này đạt từ 3,35 đến 4,37 điểm Mức độ sử dụng dự toán trong các DN thương mại thấp hơn trung bình Ngoài dự toán sản xuất ít được

sử dụng, các dự toán khác cũng chỉ đạt mức trung bình xung quanh 3 điểm (từ 2,78 đến 3,09 điểm)

4.1.3 Sử dụng các chỉ tiêu đánh giá hoạt động

Ngoài chỉ tiêu lợi nhuận ròng được hầu hết các DN sử dụng, chỉ tiêu có tỷ lệ sử dụng trên 50% là chỉ tiêu tỷ lệ tăng trưởng doanh thu Chỉ tiêu doanh thu trên một lao động có tỷ lệ

sử dụng thấp nhất (từ 7,2% trong các DN thương mại đến 25% trong DN sản xuất) Các chỉ tiêu khác có tỷ lệ sử dụng trên dưới 40%

Mức độ áp dụng các chỉ tiêu tài chính đánh giá hoạt động

Ngoài việc sử dụng thường xuyên chỉ tiêu lợi nhuận ròng, các chỉ tiêu tài chính đánh giá hoạt động được các DN sử dụng ở mức trung bình (trên 3,0) Chỉ tiêu doanh thu trên một lao động được sử dụng ở mức thấp nhất (2,6) Mức độ sử dụng các chỉ tiêu trong DN thương mại thấp hơn mức độ sử dụng chung của các DN được nghiên cứu

Tỷ lệ sử dụng các chỉ tiêu đánh giá hoạt động phi tài chính

Nhìn chung, việc sử dụng các chỉ tiêu đánh giá hoạt động phi tài chính trong các DN đều ở tỷ lệ thấp Chỉ tiêu tỷ lệ hài lòng của khách hàng được sử dụng với tỷ lệ cao nhất 46,2% trong các DN dịch vụ Các chỉ tiêu thời gian giao hàng đúng hạn và thời gian sản xuất/thi

Trang 7

công được sử dụng ở tỷ lệ 45,0% và 41% trong các DN đa ngành và DN xây dựng Các chỉ

tiêu còn lại đều có tỷ lệ sử dụng dưới 40%

Mức độ sử dụng các chỉ tiêu đánh giá phi tài chính cũng khá thấp Các chỉ tiêu đều có

giá trị trung bình (mean) xung quanh 3,0

4.1.4 Sử dụng các kỹ thuật phân tích thông tin để ra quyết định ngắn hạn

Hai kỹ thuật phân tích thông tin được sử dụng phổ biến nhất là phân tích CVP và phân

tích lợi nhuận sản phẩm, với tỷ lệ sử dụng đạt trên 53% Các kỹ thuật còn lại đều có tỷ lệ sử

dụng thấp trong khoảng từ 20 đến 50%

Tương ứng với tỷ lệ sử dụng, mức độ sử dụng hai kỹ thuật phân tích CVP và phân tích

lợi nhuận sản phẩm cũng đạt mức trên trung bình (3,4) Các kỹ thuật còn lại đều xung quanh

3,0

4.1.5 Các kỹ thuật phân tích thông tin để ra quyết định dài hạn

Trong số các kỹ thuật phân tích thông tin để ra quyết định dài hạn, tỷ lệ hoàn vốn nội

bộ được sử dụng nhiều nhất trong các DN thương mại (88,7%), tiếp theo là thời gian hoàn

vốn trong các DN xây dựng (51,7%) Các chỉ tiêu còn lại đều có tỷ lệ sử dụng dưới 50%

Mức độ sử dụng các kỹ thuật phân tích thông tin để ra quyết định dài hạn trong các

DN xây dựng cao hơn các DN khác nhưng cũng chỉ đạt từ 3,4 đến 3,6

4.1.6 Các kỹ thuật KTQT chiến lược

KTQT chiến lược là các kỹ thuật mới không chỉ ở Việt Nam mà còn với nhiều nước

trên thế giới Tại Việt Nam, kỹ thuật được sử dụng nhiều nhất là chi phí mục tiêu cũng chỉ đạt

tỷ lệ 24,7% trong các DN xây dựng Trong số các DN trả lời khảo sát chưa có DN nào sử

dụng bảng điểm cân bằng Các kỹ thuật còn lại có tỷ lệ sử dụng đều dưới 20%

Từ tỷ lệ sử dụng thấp làm cho mức độ áp dụng trung bình các kỹ thuật KTQT chiến

lược trong các DN cũng thấp Ngoài chi phí mục tiêu đạt giá trị trung bình trên 3,2 các kỹ

thuật còn lại đều có giá trị trung bình dưới 3,0 Đặc biệt, chưa có DN nào trong số các DN

được khảo sát áp dụng bảng điểm cân bằng

Mười kỹ thuật KTQT được sử dụng nhiều nhất trong các DN so với tỷ lệ áp dụng và

xếp hạng trong các DN Ấn Độ và Australia trong nghiên cứu của Joshi (2001) như sau:

Bảng 2 Mười kỹ thuật KTQT được áp dụng phổ biến trong các DN Việt Nam

Việt Nam Ấn Độ Australia

(%) hạng Thứ Tỷ lệ (%) hạng Thứ Tỷ lệ (%) hạng Thứ

2 Hạch toán chi phí sản phẩm 66,1 2 n/a n/a n/a n/a

Ngày đăng: 01/04/2021, 16:31

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm