Đối với các doanh nghiệp (hay ngân hàng) là cổ đông lớn của ngân hàng, sở hữu chéo cho phép một doanh nghiệp (hay ngân hàng) có tỷ lệ cổ phần lớn trong các NHTM có thể gây áp lực (mộ[r]
Trang 1SƠû HỮU CHÉO TRONG
CÁC TỔ CHỨC TÍN dỤNG
LÊ THị THùy NGOaN*
*Kiểm tốn nhà nước Khu vực IX
tế, đặc biệt là trong ngành ngân hàng Sở hữu chéo đã và đang đe dọa đến tính minh bạch,
an tồn của hệ thống ngân hàng nĩi riêng, hệ thống tài chính nĩi chung Hiện tại, hầu hết các ngân hàng thương mại (NHTM) đã hồn thành bước đầu lộ trình cơ cấu lại theo phương án được phê duyệt Mục tiêu đến năm 2020, chỉ giữ lại 15 - 17 NHTM cổ phần thật sự vững mạnh, đủ năng lực cạnh tranh với các NHTM trong khu vực.
Bài viết tập trung làm rõ những nội dung chủ yếu sau: (1) làm rõ những vấn đề lý luận về sở hữu chéo; (2) phân tích, đánh giá thực trạng sở hữu chéo hiện nay trong các tổ chức tín dụng; (3) kiến nghị một số giải pháp khắc phục tình trạng sở hữu chéo.
Từ khĩa: Sở hữu chéo trong hoạt động tín dụng.
Cross ownership of credit institutions
Cross ownership is a growing relationship between businesses in the economy, especially in the banking industry Cross-ownership has been threatening the transparency and safety of the banking system in particular, the financial system in general Currently, most commercial banks have completed the initial restructuring plan in accordance with the approved plan With aim to 2020, only 15-17 commercial joint stock banks are retained and have capable of competing with commercial banks in the region
This article focuses on the main contents: (1) clarify theorical issues on cross ownership; (2) analysis and evaluate the current cross ownership status in credit institutions; (3) offer some solutions to handle the cross ownership problem
keywords: Cross ownership in credit activities.
Trang 2Minh bạch hóa hoạt động tài chính tín dụng - nợ xấu và sở hữu chéo
1 khái niệm sở hữu chéo và các
hình thức sở hữu chéo, lợi ích và
rủi ro của sở hữu chéo
1.1 Sở hữu chéo
Sở hữu chéo (cross ownership)
là mối quan hệ phức tạp và cĩ nhiều
dạng thức, được hiểu là mối quan
hệ giữa hai hay nhiều chủ thể kinh
tế, trong đĩ các chủ thể kinh tế cĩ
quan hệ sở hữu lẫn nhau Động lực
cho sở hữu chéo thường là để tăng
cường mối quan hệ kinh doanh và
quan hệ giữa các bên liên quan, và
để kiểm sốt mức độ cạnh tranh tồn
tại trong thị trường
Sở hữu chéo trong hệ thống
NHTM Việt Nam xuất phát từ việc
NHTM Nhà nước nắm giữ một
phần vốn tại các NHTM cổ phần
nhằm hỗ trợ các NHTM cổ phần
Vì thế, các mối quan hệ sở hữu chéo
được hình thành chằng chịt giữa
các NHTM Nhà nước, NHTM cổ
phần, NHTM nước ngồi, các quỹ
tài chính, doanh nghiệp nhà nước,
và doanh nghiệp tư nhân
Sở hữu chéo tại Việt Nam thời gian qua đã bị
một số cá nhân tổ chức lạm dụng để các cổ đơng chi
phối và cấp vốn theo mục đích riêng, làm cho đồng
vốn chạy lịng vịng, gây tình trạng đội vốn ảo hàng
nghìn tỷ đồng Đồng thời cũng làm gia tăng xung
đột lợi ích, thiếu minh bạch trong hoạt động của hệ
thống ngân hàng và doanh nghiệp, tiềm ẩn nhiều
rủi ro khĩ lường, bởi do khơng biết được trong số
vốn của các cổ đơng, bao nhiều phần trăm là vốn ảo
1.2 Các hình thức sở hữu chéo
Theo cách phân nhĩm của Ủy ban Kinh tế của
Quốc hội, hiện cĩ 06 nhĩm sở hữu chéo khác nhau:
(1) Sở hữu của ngân hàng trong nước và nước
ngồi tại ngân hàng liên doanh;
(2) Cổ đơng chiến lược nước ngồi sở hữu tại
các ngân hàng thương mại (NHTM) trong nước; (3) Cổ đơng tại các ngân hàng là các cơng ty quản lý quỹ;
(4) Sở hữu của các Ngân hàng thương mại Nhà nước tại các NHTM cổ phần;
(5) Sở hữu lẫn nhau giữa các NHTM cổ phần; (6) Sở hữu Ngân hàng cổ phần bởi Tập đồn, Tổng cơng ty nhà nước và tư nhân
Sở hữu chéo làm tăng vốn ảo trong hệ thống ngân hàng, giảm tính minh bạch, khiến hoạt động quản trị của ngân hàng bị bĩp méo Về lâu dài, tình trạng thiếu sự giám sát, quản lý từ nhiều bên, đặc biệt là các cổ đơng ngồi nhĩm cổ đơng sở hữu chéo và ban kiểm sốt nội bộ sẽ làm xĩi mịn hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp
Trang 3bạch và sức cạnh tranh của cả nền kinh tế, tạo ra sự e
ngại, tác động không tốt tới việc thu hút đầu tư trong
và ngoài nước vào các lĩnh vực có sở hữu chéo
1.3 Lợi ích và rủi ro của sở hữu chéo
a Lợi ích của sở hữu chéo
Thứ nhất, tạo ra và duy trì nguồn tài trợ tài
chính ổn định cho các DN, đồng thời các DN đó
đóng vai trò như một khách hàng ổn định và tiềm
năng của Ngân hàng;
Thứ hai, giảm bớt tình trạng bất cân xứng thông
tin giữa ngân hàng và các doanh nghiệp, qua đó
tăng cường giám sát của ngân hàng và giảm bớt chi
phí giao dịch;
Thứ ba, tạo ra nguồn lực dùng chung như nguồn
vốn, khách hàng và quản trị, nhờ đó giúp làm tăng
tính kinh tế theo quy mô và phạm vi cho đối tác
trong liên kết sở hữu Các đối tác này có thể chia
sẻ những lợi ích hoặc lợi thế chung nhằm giảm chi
phí trung bình và duy trì sức cạnh tranh của khối;
Thứ tư, giúp vô hiệu hóa một số quy định của
Chính phủ Ví dụ, các quy định về giám sát ngân hàng
Bên cạnh những lợi ích mang lại từ việc sở hữu
chéo thì trong một số trường hợp sở hữu chéo
mang lại những rủi ro và phí tổn cho các thực thể
từ bên ngoài làm ảnh hưởng đến môi trường cạnh
tranh của nền kinh tế
b Rủi ro do sở hữu chéo mang lại
Thứ nhất, sở hữu chéo có thể giúp tăng cường khả
năng giám sát nhưng bản thân nó cũng có thể được
tạo ra để bỏ qua vai trò giám sát này Các giao dịch nội
bộ thường không được đánh giá một cách cẩn trọng
và thường những ràng buộc bị bỏ qua và xem nhẹ
Thứ hai, phát sinh các giao dịch bất hợp lý, các
giao dịch có tính chất phi thị trường, không dựa
trên quan hệ giá cả Các nguồn lực được chuyển
giao nội bộ không theo tính thị trường làm tổn thất
cho các chủ thể khác
Thứ ba, tạo lá chắn phòng thủ từ bên ngoài và
những lợi ích cục bộ của nhóm sở hữu làm giảm
mức độ minh bạch thông tin, làm suy yếu sức cạnh
tranh của nền kinh tế, không tạo động lực cho sự
Thứ tư, làm ảnh hưởng đến môi trường quản trị
doanh nghiệp và tạo ra các rủi ro đặc thù trong hệ thống, làm biến dạng giá trị doanh nghiệp dẫn đến các quyết định đầu tư, định giá M&a không đúng
c Nguyên nhân dẫn đến sở hữu chéo trong hệ thống tín dụng
- Điều kiện nâng vốn chủ sở hữu tại các ngân hàng nông thôn chuyển sang ngân hàng thành thị
- áp lực tăng trưởng tín dụng cao
- Sự thiếu tin tưởng giữa cổ đông sở hữu và người điều hành doanh nghiệp dẫn đến sự tham gia sở hữu (ngầm) qua sở hữu chéo
- Sự bất cân xứng thông tin giữa ngân hàng và doanh nghiệp Bên cạnh các nguyên nhân này, sự phát triển nhanh của một số thị trường thu hút các nhà đầu
cơ như thị trường ngoại hối, thị trường bất động sản cũng khiến động lực tham gia vào các mối quan hệ sở hữu nhằm vượt các giới hạn về đầu tư tăng lên
2 Thực trạng sở hữu chéo trong các tổ chức tín dụng
2.1 Sở hữu chéo trong các ngân hàng thương mại nhà nước
Ngoại trừ Ngân hàng agribank, các ngân hàng thương mại nhà nước còn lại đã thực hiện cổ phần hóa với tỷ lệ Nhà nước nắm giữ từ 60% đến 96% (như: 60,3% Ngân hàng Vietinbank; 77,1% Ngân hàng Vietcombank và 95,8% Ngân hàng BIDV) Trên thực tế, nhóm các ngân hàng lớn như VietinBank, Vietcombank, BIDV, agribank đều đang sở hữu các TCTD khác Chẳng hạn, là Ngân hàng thương mại Nhà nước đầu tiên cổ phần hóa, Vietcombank đang có tỉ lệ vốn góp tại Ngân hàng Eximbank là 8,19%; tại Saigonbank 4,3%; tại Ngân hàng TMCP Quân đội (MBBank) là 9,59%; tại Ngân hàng TMCP Phương Đông (OCB) là 5,07% và 10,91% vốn tại Công ty Tài chính Cổ phần Ximăng (CFC) VCB vẫn giữ vị trí là một cổ đông lớn và do vậy có quyền chi phối trực tiếp công tác quản trị và hoạt động kinh doanh tại các ngân hàng này
2.2 Sở hữu chéo giữa doanh nghiệp nhà nước với ngân hàng thương mại
Trang 4Minh bạch hóa hoạt động tài chính tín dụng - nợ xấu và sở hữu chéo
Hầu hết các Tập đồn và Tổng cơng ty nhà nước
lớn đều sở hữu ngân hàng Chẳng hạn như, Ngân
hàng MB được sở hữu bởi các cổ đơng nhà nước
là Tập đồn Viễn thơng Quân đội với tỷ lệ sở hữu
10%, Tổng Cơng ty Tân Cảng Sài Gịn 5,7% và Tổng
Cơng ty Trực thăng Việt Nam 7,2%; Tập đồn Dệt
May sở hữu 13,2% ngân hàng Nam Việt; Tập đồn
Bảo Việt nắm cổ phần chi phối 52% ở ngân hàng
Bảo Việt; Tổng Cơng ty Xăng dầu Việt Nam nắm
giữ 40% cổ phần của ngân hàng xăng dầu
Qua đây cho thấy, sự liên kết giữa các DNNN
với NHTM NN thơng qua sở hữu chung của Nhà
nước, nhờ vậy mà các DNNN dễ dàng tiếp cận vốn
tín dụng của ngân hàng
2.3 Sở hữu chéo giữa các ngân hàng với nhau
và với các doanh nghiệp
Ngân hàng Techcombank được sở hữu bởi tập
đồn Masan 7,2%, Eurowindow 19,7% và Ngân
hàng HSBC 19,6%; 02 ngân hàng Nam Việt và
Phương Tây cũng cĩ cùng chủ sở hữu là Cơng ty
Cổ phần Năng lượng Sài Gịn Bình Định; Tập đồn
Tín Nghĩa (tỷ lệ sở hữu 14,4%) và Cơng ty Xổ số &
kiến thiết Đồng Nai (tỷ lệ 5,8%) cùng sở hữu Ngân
hàng Đại á
So với cấu trúc sở hữu của các NHTMCP phức
tạp hơn vì vậy khĩ nhận biết chủ sở hữu cùng
nhau Trong khối NHTMCP, cấu trúc sở hữu của
Ngân hàng Eximbank, Sacombank và aCB là cĩ độ
phức tạp hàng đầu
Ngân hàng Eximbank thơng qua Cơng ty cổ
phần Đầu tư Sài Gịn Exim sở hữu 5,2% Ngân hàng
Sài Gịn Thương Tín (STB) Tương
tự Ngân hàng Phương Nam thơng qua các cơng ty liên quan là Cơng
ty chứng khốn Phương Nam và Cơng ty Vàng bạc Đá quý Phương Nam để sở hữu STB; aCB sở hữu 5% Sacombank thơng qua Cơng
ty cổ phần Đầu tư Tài chính Sài Gịn á Châu Ngồi ra, aCB cịn
sở hữu 20% Eximbank và nhiều ngân hàng TMCP khác như Việt Nam Thương Tín (10%), Đại á (10,8%), Kiên Long (6,1%) thơng qua cơng ty Chứng khốn Ngân hàng á Châu (aCBS)
2.4 Ảnh hưởng sở hữu chéo trong hệ thống NHTM Việt Nam
Với lộ trình tái cơ cấu giai đoạn II kéo dài từ 2016-2020, nhiệm vụ đặt ra với hệ thống ngân hàng bên cạnh việc tiếp tục xử lý nợ xấu, nâng cao hiệu quả sử dụng vốn và quản trị ngân hàng… thì việc
sở hữu chéo kỳ vọng sẽ được xử lý quyết liệt hơn trong năm 2017
Thơng tư số 36 quy định, một NHTM chỉ được nắm giữ cổ phiếu của tối đa khơng quá hai TCTD khác (trừ trường hợp TCTD khác là cơng ty con của ngân hàng đĩ), đồng thời lượng cổ phần được nắm giữ tối đa này phải dưới 5% vốn cổ phần cĩ quyền biểu quyết của TCTD đĩ (trừ trường hợp TCTD là cơng ty con của ngân hàng hoặc NHTM tham gia tái cơ cấu, xử lý TCTD yếu kém theo chỉ định của Ngân hàng Nhà nước - NHNN) Theo lộ trình, các NHTM đang sở hữu cổ phần tại hơn hai
tổ chức tín dụng khác hoặc nắm giữ trên 5% vốn
cổ phần của các TCTD đĩ phải tính đến việc thối vốn trong vịng một năm
Đánh giá về tình trạng sở hữu chéo, cần phải nhìn nhận sở hữu chéo dưới hai gĩc độ khác nhau
ở mặt tích cực, sở hữu chéo cĩ thể gĩp phần cải thiện năng lực về vốn, kỹ thuật, kinh nghiệm, thúc đẩy quản trị kinh doanh tốt hơn, mở rộng quy mơ thị trường Tuy nhiên, nếu chỉ để phục vụ lợi ích nhĩm hay để xử lý những điểm “mù” trong hoạt động kinh doanh thì điều đĩ sẽ mang lại những
Trang 5của NHNN yêu cầu giảm tỉ lệ sở hữu của NHTM
xuống 5% là điều hợp lý để quyền lực được trải
đều Vì trong hoạt động ngân hàng, một cổ đông
có lượng cổ phiếu khoảng 5% đã là rất lớn và với
tỉ lệ này thì chỉ cần khoảng 10 cổ đông hợp tác với
nhau là có thể có tỉ lệ khống chế cả ngân hàng
Tình trạng sở hữu chéo làm sai lệch các hệ số an
toàn vốn trong hoạt động ngân hàng và tạo tiền đề
cho việc sử dụng vốn tín dụng vì lợi ích cá nhân và
lợi ích nhóm có quan hệ sở hữu chéo
Thực trạng sở hữu chéo trong hệ thống ngân
hàng Việt Nam như tỷ lệ nắm giữ giữa các tổ chức,
vai trò của các cổ đông và công tác giám sát vai
trò này là những vấn đề hết sức phức tạp bởi quan
hệ chồng chéo mang tính lịch sử, đồng thời cũng
mang tính biến động cao, kết hợp với nguồn thông
tin hạn chế Trước hết, rất nhiều công ty lớn, đặc
biệt là các Tập đoàn kinh tế Nhà nước và các Tập
đoàn cổ phần, dù không thuộc lĩnh vực tài chính
nhưng hiện đang đầu tư dài hạn với vai trò nhà
sáng lập, nhà đầu tư chiến lược trong các NHTM
Theo báo cáo của Ủy ban Kinh tế Quốc hội, hiện tại
có khoảng gần 40 các doanh nghiệp nhà nước và tư
nhân có sở hữu trên 5% tại các NHTMCP
Nguồn lực và khả năng chống đỡ rủi ro của ngân
hàng không được đánh giá đúng mức Thông qua sở
hữu chéo, cổ đông của ngân hàng a có thể vay tiền
ngân hàng B thông qua một công ty đầu tư tài chính
của mình để góp vốn vào ngân hàng a và ngược lại
hoặc là ngân hàng a đầu tư vào ngân hàng B, ngân
hàng B đầu tư vào ngân hàng C và ngân hàng C lại
quay lại đầu tư vào ngân hàng a Chính điều này
đã tạo ra luồng vốn tưởng là góp thật vào hệ thống
nhưng thực chất lại là vốn vay lẫn nhau giữa các ngân
hàng Trong 4 năm qua, hàng loạt các NHTMCP đã
nâng vốn điều lệ lên 3.000 tỷ đồng Nhưng trên thực
tế, quy mô của dòng vốn mới thực sự được bổ sung
vào hệ thống ngân hàng vẫn chưa được làm rõ Với
quy mô vốn điều lệ tăng, các ngân hàng được phép
huy động thêm tiền gửi trong dân cư và hàng nghìn
tỷ đồng vốn huy động mới này lại có thể được dùng
để tài trợ cho những dự án sân sau của chính các cổ
đông lớn của ngân hàng
rủi ro của hệ thống ngân hàng vì rất nhiều chỉ số dựa trên số vốn tự có như hệ số an toàn (Car), hay tỷ lệ vốn tự có/tổng tài sản Trong khi đó, vốn
tự có của các ngân hàng không thực chất là có quy
mô như vậy mà bao gồm cả nguồn vốn ảo do sở hữu chéo Trong những năm gần đây, tăng trưởng tín dụng của các ngân hàng liên tục nóng khiến
hệ số đòn bẩy tài chính tăng lên và hệ số an toàn vốn Car giảm, đồng thời tấm đệm để phòng ngừa rủi ro là vốn tự có lại mỏng và bị gây nhiễu bởi
sở hữu chéo Tất cả những điều đó càng làm trầm trọng hơn những khó khăn của hệ thống Các chỉ
số không chính xác lại dẫn đến sai lệch cả về quản trị ngân hàng cũng như việc giám sát đối với hệ thống tài chính
Sở hữu chéo có thể làm gia tăng việc cho vay thiếu kiểm soát Đối với các doanh nghiệp (hay ngân hàng) là cổ đông lớn của ngân hàng, sở hữu chéo cho phép một doanh nghiệp (hay ngân hàng)
có tỷ lệ cổ phần lớn trong các NHTM có thể gây áp lực (một cách hợp pháp như qua bỏ phiếu trong hội đồng quản trị với vị thế cổ đông chiến lược)
để ngân hàng này cấp vốn đầu tư vào những dự án không đủ tiêu chuẩn của doanh nghiệp hay ngân hàng của mình
Các quy định về giới hạn tín dụng, phân loại nợ
và trích lập dự phòng rủi ro của NHNN có thể bị làm sai lệch tinh thần bởi sở hữu chéo Khi khách hàng doanh nghiệp không trả được nợ cho ngân hàng, thay vì xếp khoản vay thành nợ xấu và trích
dự phòng rủi ro theo quy định, ngân hàng a giấu
nợ xấu của mình bằng cách không khai báo nợ xấu
mà nhờ ngân hàng B (ngân hàng a có sở hữu) cho vay để đảo nợ Đây cũng là một trong những lý do khiến NHNN khó nắm được chính xác số nợ xấu của toàn bộ hệ thống ngân hàng
3 Một số khuyến nghị khắc phục tình trạng
sở hữu chéo
(1) Tách bạch sở hữu với giám sát của Ngân hàng Nhà nước trong hệ thống ngân hàng và công khai minh bạch thông tin
NHNN cần độc lập trong việc giám sát hoạt động của các NHTM, trước hết cần tách bạch
Trang 6Minh bạch hóa hoạt động tài chính tín dụng - nợ xấu và sở hữu chéo
giữa vai trị đại diện sở hữu với vai trị quản lý và
giám sát của NHNN đối với các NHTMNN Đối
với NHTMNN đã cổ phần hĩa, các quyết định
của cơ quan đại diện sở hữu cần phải được thực
hiện thơng qua đại hội cổ đơng với quyền bỏ phiếu
tương ứng tỷ lệ sở hữu Các thơng tin tài chính và
quản trị của các ngân hàng cần phải được cơng
khai và minh bạch
Nâng cao vai trị và trình độ, quyền hạn và trách
nhiệm của thanh tra, giám sát ngân hàng, đảm bảo
sự ổn định, an tồn và bền vững của cả hệ thống
ngân hàng, đánh giá sát thực hiện trạng tài chính
cũng như thực trạng cổ đơng NH để làm rõ việc sở
hữu chéo NH Trong đĩ, phương pháp thanh tra,
giám sát cần chuyển từ thanh tra, giám sát tuân thủ
là chủ yếu sang thanh tra, giám sát theo mơ hình
quốc tế (CaMELS) để cĩ thể giám sát từ vốn, thanh
khoản, chất lượng tài sản cĩ, quản trị, lợi nhuận,
mức độ rủi ro… Bên cạnh đĩ, NHNN nên sớm ban
hành các quy định pháp luật liên quan đến vấn đề
sở hữu chéo để hệ thống NH hoạt động minh bạch,
lành mạnh hơn
Thúc đẩy việc cơng khai, minh bạch thơng tin
và phát triển cơng nghệ trong hệ thống ngân hàng
Nâng cao năng lực quản trị rủi ro và năng lực tài
chính, nâng cao hiệu quả hoạt động của bộ máy
kiểm sốt, kiểm tốn nội bộ Cơ cấu lại hoạt động
ngân hàng theo hướng an tồn, hiệu quả, giảm
thiểu các hoạt động tiềm ẩn nhiều rủi ro, tiến tới
sớm áp dụng tiêu chuẩn quản trị rủi ro Basel III
Xem xét tăng “room” cho các nhà đầu tư nước
ngồi vào các NH Việt Nam Với tiềm lực tài chính
tăng thêm, năng lực cạnh tranh của các NH cũng
vì thế sẽ tăng lên đáng kể Và quan trọng hơn cả, sự tham gia của một NH nước ngồi vào một NH Việt Nam với tỷ lệ sở hữu thích hợp cĩ thể làm giảm sở hữu chéo cũng như đĩng gĩp nhiều hơn trong việc xây dựng chiến lược phát triển bao gồm cả việc xử
lý nợ xấu của NH trong nước
(2) Đảm bảo tuân thủ triệt để các quy định, mở rộng quyền giám sát của các cổ đơng sở hữu ngân hàng và nâng cao hiệu lực chế tài
Cần phải cĩ những quy định rõ ràng để ngăn ngừa việc thao túng, sử dụng tài sản của ngân hàng cho một nhĩm cơng ty liên quan, cĩ như vậy hệ thống ngân hàng mới lành mạnh, an tồn và bền vững hơn
(2.1) Khống chế tỷ lệ sở hữu chéo: Cổ đơng
cá nhân khơng quá 5% vốn điều lệ của TCTD,
cổ đơng tổ chức khơng quá 15% Tuy nhiên, mối quan hệ giữa NH và các doanh nghiệp tư nhân vẫn cịn nhiều khoảng trống cần được xem xét Một cá nhân hoặc một doanh nghiệp cĩ thể cĩ ảnh hưởng rất lớn đến các hoạt động tín dụng tại NH thơng qua các cơng ty con của mình Những quan hệ sở hữu gián tiếp này cần phải được tính đến
(2.2) Tăng vốn điều lệ: Các ngân hàng cĩ thể cải thiện vốn điều lệ thơng qua hai con đường: đầu tư gĩp thêm vốn thơng qua phát hành thêm
cổ phiếu và thực hiện mua bán, sáp nhập (M&a) Trong khi việc tăng vốn thơng qua kêu gọi thêm vốn từ nhà đầu tư khĩ khăn, M&a như là giải pháp hữu hiệu trong việc giảm sở hữu chéo hoặc đáp ứng trần sở hữu 5% Nếu như giữa hai TCTD đang cĩ quan hệ sở hữu lẫn nhau, việc M&a giữa hai tổ chức sẽ xĩa bỏ hiện tượng sở hữu chéo và qua M&a, vốn điều lệ tăng lên cũng gĩp phần đẩy tỷ lệ sở hữu của cá nhân, TCTD khác đối với TCTD sau M&a giảm xuống
(2.3) NHNN cần phải ra thời hạn rõ ràng, quyết liệt trong việc yêu cầu các ngân hàng thối vốn tại những ngân hàng khác, doanh nghiệp theo quy định Các ngân hàng thương mại phải khai báo một cách trung thực, chính xác việc họ sở hữu cổ phần của các ngân hàng khác, hay các doanh nghiệp là bao nhiêu, nếu khai gian phải cĩ chế tài xử lý
Trang 7hữu chéo, minh bạch hóa cơ cấu cổ đông, đảm bảo
các cổ đông lớn tại tổ chức tín dụng có đủ năng lực
tài chính, tránh trường hợp nguồn vốn góp là vốn
“ảo” do chủ yếu từ nguồn vốn vay tại tổ chức tín
dụng, giúp cho hệ thống hoạt động lành mạnh, an
toàn và thực chất
(2.4) Cần luật hóa các hình thức đầu tư lòng
vòng, tăng vốn ảo cho các tổ chức tín dụng, lừa dối
cơ quan chức năng Đồng thời, chú trọng việc nâng
cao trình độ cho cán bộ làm thanh tra, kiểm tra,
kiểm toán, điều tra, truy tố, xét xử về các hoạt động
sở hữu chéo, phát hiện các công ty sân sau để
nâng cao chất lượng phòng ngừa, phát hiện, ngăn
chặn, xử lý các hành vi vi phạm liên quan để sở hữu
chéo, lợi ích nhóm Quy định cấm tình trạng đầu
tư “lòng vòng” giữa các ngân hàng với nhau (theo
kiểu ngân hàng a đầu tư vào ngân hàng B, ngân
hàng B đầu tư vào ngân hàng C và ngân hàng C lại
quay lại đầu tư vào ngân hàng a) Nếu hiện tượng
này bị phát hiện, cần có các chế tài theo hướng xử
lý hình sự Trong đó, để xử lý các mối quan hệ sở
hữu chéo hiện tại, phần sở hữu chéo giữa các tổ
chức tín dụng có thể được nhượng lại cho các trung
gian độc lập, trong đó ưu tiên đầu tư của các định
chế tài chính, ngân hàng nước ngoài
(3) Đề nghị Kiểm toán nhà nước kiểm toán vốn
để xác định lại vốn tự có
Vì sở hữu chéo có thể tạo ra tình trạng vốn ảo
trong các ngân hàng, làm cho việc đánh giá năng
lực tài chính, đặc biệt là năng lực vốn tự có thực
sự của các ngân hàng không chính xác Do vốn tự
có là một cơ sở hết sức quan trọng để làm căn cứ
xác định các giới hạn đảm bảo an toàn khác trong
hoạt động ngân hàng như giới hạn cấp tín dụng
cho khách hàng, giới hạn gia tăng tài sản có thông
qua hệ số Car, giới hạn góp vốn, mua cổ phần
Nếu vốn tự có không được tính toán và xác
định một cách chính xác thì các chỉ tiêu đảm bảo
an toàn được tính dựa trên cơ sở vốn tự có không
còn giá trị nữa
Vì vậy, cần thực hiện kiểm toán các nội dung
liên quan đến vốn tự có như các nguồn tài chính
hình thành nên vốn tự có (như giá trị thực của vốn
qua đó nhằm đánh giá năng lực vốn tự có thực sự của bản thân từng ngân hàng; kiểm toán các vấn
đề nợ xấu thông qua việc trích lập dự phòng rủi ro tín dụng
Vì thế, cần kết hợp kiểm toán toàn diện hoạt động ngân hàng, không chỉ bao gồm kiểm toán báo cáo tài chính mà còn phải kết hợp kiểm toán hoạt động và kiểm toán tuân thủ, để đánh giá tình trạng tài chính thực sự của các ngân hàng để làm cơ sở lập đề án tái cấu trúc ngân hàng và thực hiện tốt các biện pháp xử lý phù hợp, không gây ra những tổn hại với nền kinh tế và ngân sách nhà nước
4 kết luận
Các TCTD có tỷ lệ sở hữu vượt Thông tư 36 đã thoái vốn hoặc các TCTD đang có sở hữu của một TCTD khác bị vượt đã tăng vốn điều lệ thông qua phát hành cổ phiếu và/hoặc M&a với TCTD khác,
có thể là ngân hàng hoặc công ty tài chính
Bức tranh sở hữu chéo của hệ thống ngân hàng Việt Nam tuy đã giảm nhưng vẫn còn một số trường hợp chưa đáp ứng được Thông tư 36 do các điều kiện khó khăn của thị trường chứng khoán, thu hút nhà đầu tư, trong đó có nhà đầu tư nước ngoài Nghiên cứu cho rằng trong tương lai cần hướng tới việc giảm các động lực tham gia vào mối quan hệ sở hữu chéo trong hệ thống TCTD, đặc biệt tiếp tục thu hút nhà đầu tư chiến lược nước ngoài tham gia tái cơ cấu hệ thống ngân hàng
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1 Tra cứu thông tin về sở hữu trên www.cafef.vn.
2 http://www.thesaigontimes.vn/147195/Giam-so-huu-cheo -loi-hen-voi-Thong-tu-36.html.
3 Adams, M., 1999, Cross Holdings in Germany, Journal of Institutional and Theoretical Economics.
4 Alberto, O and Alessia, P., 2009, Ownership and control in Germany: Do cross-shareholdings reflect bank control on large companies?, Corporate ownership and control.