Nội dung nghiên cứu Nghiên cứu tổng quan cơ sở lý luận và chính sách pháp luật về việc việc tích tụ, tập trung ruộng đất trong sản xuất nông nghiệp; Điều tra, khảo sát, thu thập tà
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC TỰ NHIÊN
- -
LÊ TẤN TÙNG
NGHIÊN CỨU VÀ ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP SỬ DỤNG ĐẤT HIỆU QUẢ, BỀN VỮNG TẠI MỘT SỐ MÔ HÌNH SỬ DỤNG ĐẤT TẬP TRUNG, QUY MÔ LỚN, ỨNG DỤNG CÔNG NGHỆ CAO TRONG SẢN XUẤT NÔNG NGHIỆP TRÊN
DDDDDDDDDĐ ĐỊA BÀN TỈNH QUẢNG NGÃI
LUẬN VĂN THẠC SỸ KHOA HỌC
HÀ NỘI - 2021
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC TỰ NHIÊN
- -
LÊ TẤN TÙNG
NGHIÊN CỨU VÀ ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP SỬ DỤNG ĐẤT HIỆU QUẢ, BỀN VỮNG TẠI MỘT SỐ MÔ HÌNH SỬ DỤNG ĐẤT TẬP TRUNG, QUY MÔ LỚN, ỨNG DỤNG CÔNG NGHỆ CAO TRONG SẢN XUẤT NÔNG NGHIỆP TRÊN
DDDDDDDDDĐ ĐỊA BÀN TỈNH QUẢNG NGÃI
LUẬN VĂN THẠC SỸ KHOA HỌC
Chuyên ngành: Quản lý đất đai
Mã số: 8850103.01
Người hướng dẫn khoa học: TS Thái Thị Quỳnh Như
XÁC NHẬN HỌC VIÊN ĐÃ CHỈNH SỬA THEO GÓP Ý CỦA HỘI ĐỒNG
Giáo viên hướng dẫn Chủ tịch hội đồng chấm luận văn
thạc sĩ khoa học
TS Thái Thị Quỳnh Như PGS.TS Phạm Quang Tuấn
HÀ NỘI - 2021
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan luận văn với đề tài: “Nghiên cứu và đề xuất giải pháp
sử dụng đất hiệu quả, bền vững tại một số mô hình sử dụng đất tập trung, quy
mô lớn, ứng dụng công nghệ cao trong sản xuất nông nghiệp trên địa bàn tỉnh
và chưa được công bố trong bất cứ công trình nghiên cứu nào của người khác Trong quá trình thực hiện luận văn tôi đã thực hiện nghiêm túc quy tắc đạo đức nghiên cứu Các kết quả trình bày trong luận văn là sản phẩm nghiên cứu khảo sát của riêng cá nhân tôi
Tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm về tính trung thực của số liệu và các nội dung khác trong luận văn của mình
Hà Nội, ngày tháng năm 2021
Tác giả luận văn
Lê Tấn Tùng
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Trong suốt quá trình nghiên cứu, thực hiện đề tài tôi đã nhận được sự giúp đỡ nhiệt tình, những ý kiến đóng góp quý báu của nhiều tập thể và cá nhân để tôi hoàn thành luận văn Thạc sĩ này
- Lời đầu tiên tôi xin chân thành cảm ơn TS Thái Thị Quỳnh Nhƣ
người đã trực tiếp hướng dẫn, giúp đỡ tôi trong suốt thời gian nghiên cứu, thực hiện luận văn
- Tôi xin chân thành cảm ơn các Thầy, Cô giáo trong khoa Địa Lý Trường Đại Học Quốc Gia Hà Nội, Trường Đại Học Khoa Học Tự Nhiên đã tạo điều kiện cho tôi thực hiện luận văn
- Tôi xin chân thành cảm ơn sự giúp đỡ của Lãnh đạo Ủy ban nhân dân huyện Nghĩa Hành, huyện Mộ Đức, phòng Tài nguyên và Môi trường, Văn phòng đăng ký đất đai chi nhánh huyện Nghĩa Hành; các phòng ban, đơn vị của Huyện; Ủy ban nhân dân các xã Hành Dũng, Hành Tín Tây, huyện Nghĩa Hành; Ủy ban nhân dân xã Đức Thạnh, huyện Mộ Đức đã tạo điều kiện cho tôi thực hiện luận văn
- Tôi xin chân thành cảm ơn sự giúp đỡ nhiệt tình của Giám đốc các HTX Chăn nuôi Tân Hòa Phú, HTX măng tây xã Đức Thạnh, Công ty TNHH Khoa học & Công Nghệ Nông Tín đã tạo điều kiện cho tôi thực hiện luận văn
- Tôi xin chân thành cảm ơn sự giúp đỡ của bạn bè, đồng nghiệp; sự động viên, tạo điều kiện về vật chất, tinh thần của gia đình, người thân trong suốt quá trình tôi học tập và nghiên cứu thực hiện luận văn
Xin trân trọng cảm ơn!
Hà Nội, ngày tháng năm 2021
Tác giả luận văn
Lê Tấn Tùng
Trang 5i
MỤC LỤC
MỤC LỤC i
D NH MỤC CHỮ VI T TẮT iv
DANH MỤC BẢNG v
DANH MỤC HÌNH, ĐỒ THỊ vi
MỞ ĐẦU 1
1 Tính cấp thiết của đề tài 1
2 Mục tiêu nghiên cứu 3
3 Nội dung nghiên cứu 3
4 Phạm vi và đối tượng nghiên cứu 3
5 Phương pháp nghiên cứu 3
a) Phương pháp điều tra, thu thập thông tin thứ cấp 3
b) Phương pháp điều tra, thu thập thông tin bằng phiếu xã hội học 4
c) Phương pháp tổng hợp, phân tích, so sánh 4
d) Phương pháp đánh giá hiệu quả sử dụng đất 4
6 Cơ sở tài liệu để thực hiện Luận văn 4
Chương 1 Tổng quan về vấn đề nghiên cứu 5
1.1 Cơ sở lý luận về tích tụ, tập trung đất đai trong sản xuất nông nghiệp 5
1.1.1 Các khái niệm cơ bản 5
1.1.2 Quyền sử dụng đất nông nghiệp và vấn đề tích tụ, tập trung đất đai quy mô lớn 12
1.1.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến tích tụ, tập trung đất nông nghiệp 13
1.1.4 Vai trò, mục đích của việc tích tụ tập trung ruộng đất quy mô lớn, ứng dụng cao nghệ cao trong sản xuất nông nghiệp ở nước ta 16
Trang 6ii
1.2 Chính sách pháp luật về tích tụ, tập trung ruộng đất nông nghiệp 17
1.2.1 Giai đoạn trước năm 1986 17
1.2.2 Giai đoạn từ năm 1986 đến nay 19
1.3 Cơ sở thực tiễn của vấn đề nghiên cứu 31
1.3.1 Kinh nghiệm của nước ngoài trong tích tụ, tập trung đất nông nghiệp 31
1.3.2 Tình hình chung về tích tụ, tập trung đất nông nghiệp ở nước ta 39
1.3.3 Khái quát đề án“Chương trình Mỗi xã một sản phẩm tỉnh Quảng Ngãi, giai đoạn 2018 - 2020, định hướng đến năm 2030” của tỉnh Quảng Ngãi 42
Chương 2: Thực trạng thực hiện tích tụ, tập trung đất đai quy mô lớn để phát triển sản xuất nông nghiệp hàng hóa, ứng dụng công nghệ cao tại tỉnh Quảng Ngãi……… E rror! Bookmark not defined 2.1 Điều kiện tự nhiên kinh tế - xã hội 43
2.1.1 Đặc điểm tự nhiên và các nguồn tài nguyên 43
2.1.2 Đặc điểm về kinh tế - xã hội 51
2.1.3 Đánh giá chung về điều kiện tự nhiên – kinh tế, xã hội và ảnh hưởng đến sử dụng đất nông nghiệp 54
2.2 Tình hình quản lý, sử dụng đất nông nghiệp trên địa bàn 55
2.2.1 Cơ cấu sử dụng đất trên địa bàn 55
2.2.2 Hiện trạng sử dụng đất nông nghiệp trên địa bàn 55
2.3 Thực trạng thực hiện tích tụ, tập trung ruộng đất quy mô lớn để phát triển sản xuất nông nghiệp, ứng dụng công nghệ cao tại tỉnh Quảng Ngãi 58
2.3.1 Khái quát tình hình dồn điền, đổi thửa, cánh đồng lớn, tích tụ, tập trung ruộng đất quy mô lớn để phát triển sản xuất nông nghiệp, ứng dụng công nghệ cao tại tỉnh Quảng Ngãi 58
Trang 7iii
2.3.2 Phân tích thực trạng tích tụ, tập trung ruộng đất quy mô lớn để phát triển sản xuất nông nghiệp, ứng dụng công nghệ cao thông qua tổng hợp phiếu điều tra
xã hội học 66
2.4 Đánh giá hiệu quả sử dụng đất của một số mô hình tập trung ruộng đất quy mô lớn để phát triển sản xuất nông nghiệp, ứng dụng công nghệ cao trên địa bàn……… 75
Chương 3: ĐỀ XUẤT MỘT SỐ GIẢI PHÁP SỬ DỤNG ĐẤT HIỆU QUẢ, BỀN VỮNG TẠI MỘT SỐ MÔ HÌNH SỬ DỤNG ĐẤT TẬP TRUNG, QUY MÔ LỚN, ỨNG DỤNG CÔNG NGHỆ CAO TRONG SẢN XUẤT NÔNG NGHIỆP TRÊN ĐỊA BÀN NGHIÊN CỨU 84
3.1 Chủ trương phát triển nền nông nghiệp tập trung, quy mô lớn ứng dụng công nghệ cao của tỉnh Quảng Ngãi: 84
3.2 Những điểm đạt được, những điểm tồn tại, vướng mắc: 85
3.2.1 Những điểm đạt được: 85
3.2.2 Những khó khăn, tồn tại, hạn chế 86
3.3 Đề xuất một số giải pháp sử dụng đất hiệu quả, bền vững tại một số mô hình sử dụng đất tập trung, quy mô lớn, ứng dụng công nghệ cao trong sản xuất nông nghiệp tại địa bàn nghiên cứu 89
3.3.1 Giải pháp về chính sách pháp luật 89
3.3.2 Giải pháp về quy hoạch sử dụng đất 90
3.3.3 Giải pháp về tài chính và khoa học, công nghệ 90
3.3.4 Giải pháp về tổ chức thực hiện, nguồn nhân lực 91
K T LUẬN VÀ KI N NGHỊ 94
TÀI LIỆU THAM KHẢO 96
Trang 8iv
DANH MỤC CHỮ VI T TẮT
UBND Ủy ban nhân dân
GCN Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà
ở và tài sản khác gắn liền với đất QSDĐ Quyền sử dụng đất
VPĐK Văn phòng đăng ký đất đai
STNMT Sở Tài nguyên và Môi trường
Trang 9v
DANH MỤC BẢNG
Bảng 1.1 Một số chỉ tiêu sản xuất nông nghiệp của các nước trên thế giới 32
Bảng 1.2 Số lượng trang trại chăn nuôi đạt tiêu chí kinh tế trang trại theo Thông tư 27/2011/TTBNNPTNT 40
Bảng 1.3 Số lượng các loại hình trang trại năm 2015 của các vùng kinh tế 41
Bảng 2.1: Đặc trưng thủy văn các sông chính tỉnh Quảng Ngãi 47
Bảng 2.2: Diện tích các nhóm đất trên địa bàn tỉnh Quảng Ngãi 51
Bảng 2.3: Cơ cấu kinh tế (GDP) theo ngành và lĩnh vực 52
Bảng 2.5: Tổng hợp kết quả điều tra về hạn mức và thời hạn sử dụng đất nông nghiệp, tiếp cận đất đai, chế độ sử dụng đất có phù hợp cho nhu cầu sử dụng đất tập trung, quy mô lớn, ứng dụng công nghệ cao trong sản xuất nông nghiệp tại địa phương 77
Bảng 2.6: Tổng hợp kết quả điều tra việc thực hiện các giải pháp về cơ chế, chính sách đất đai để sử dụng đất tập trung, quy mô lớn, ứng dụng công nghệ cao trong sản xuất nông nghiệp tại địa phương 80
Trang 111
MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Trong quá trình thực hiện Nghị định số 64/CP ngày 27/9/1993 của Chính phủ
về việc giao đất nông nghiệp cho hộ gia đình, cá nhân sử dụng ổn định lâu dài vào mục đích sản xuất nông nghiệp, bên cạnh những kết quả tích cực đã đạt được về phát triển sản xuất, thì việc giao đất cho hộ nông dân trong giai đoạn này có một số hạn chế: gây nên tình trạng manh mún ruộng đất; quy mô diện tích đất theo hộ thấp
do quỹ đất có hạn mà phải chia bình quân, khó áp dụng máy móc cơ giới hóa, tăng chi phí sản xuất… Cụ thể,cả nước có 75 triệu thửa đất, bình quân mỗi hộ có 6 - 8 thửa với khoảng 0,3 - 0,5 ha/hộ (Nguyễn Đức, 2008) Dẫn đến tình trạng chung là hiệu quả sản xuất thấp, hạn chế khả năng đổi mới và ứng dụng các tiến bộ khoa học
kỹ thuật, ứng dụng các quy trình kỹ thuật đồng nhất của một loại hình canh tác nào
đó trong sản xuất; sản xuất phổ biến thủ công, mang tính nhỏ lẻ; vùng sản xuất chuyên canh chưa hình thành rõ, còn xen kẽ, không cân đối và vẫn còn bất hợp lý; khó khăn về các khâu dịch vụ kỹ thuật, vật tư, tiêu thụ sản phẩm… Những mặt hạn chế này đến nay vẫn chưa khắc phục được nhiều, làm cản trở đến việc phát triển sản xuất nông nghiệp quy mô lớn với năng suất, chất lượng và hiệu quả cao
Như vậy, để tổ chức và sử dụng quỹ đất nông nghiệp một cách hợp lý, tiết kiệm, đem lại hiệu quả cao và bền vững thì cần thiết phải đưa ra những biện pháp phù hợp Một trong những biện pháp quan trọng và có ý nghĩa thực tiễn trong giai đoạn này là giải pháp tích tụ, tập trung đất nông nghiệp Tăng quy mô diện tích đất đai là phương thức làm giảm chi phí, tăng sản lượng, giảm giá thành, tăng khả năng cạnh tranh giúp người nông dân tăng thu nhập, cải thiện đời sống Cả về mặt lý luận và thực tiễn đều khẳng định tích tụ và tập trung đất đai trong nông nghiệp là một xu thế tất yếu để đưa sản xuất nông nghiệp lên sản xuất hàng hóa, tập trung có quy mô lớn, có liên kết chặt chẽ, có kế hoạch và phân phối lợi ích hài hòa giữa sản xuất và tiêu thụ nông sản hàng hóa.Tuy nhiên, khi đất nước bước vào thời kỳ hội nhập và phát triển theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp nông thôn thì đất đai manh mún nhỏ lẻ là một trở ngại cho sản xuất, khó áp dụng cơ giới hóa,
Trang 122
tiến bộ khoa học kỹ thuật, khó hình thành vùng sản xuất hàng hóa tập trung Vì vậy, tích tụ đất nông nghiệp là yêu cầu tất yếu, khách quan trong quá trình phát triển sản xuất nông nghiệp theo hướng sản xuất hàng hoá
Để khắc phục một phần tình trạng đất nông nghiệp manh mún, tại các địa phương trên cả nước đã triển khai thực hiện chương trình dồn điền đổi thửa Tuy nhiên, việc thực hiện chương trình này mới chỉ dồn nhiều thửa nhỏ thành thửa lớn, một hộ có nhiều thửa trở nên ít thửa hơn, nhưng diện tích của hộ không thay đổi Do
đó quy mô diện tích của các hộ dân vẫn ở mức nhỏ Với quy mô diện tích nhỏ như vậy là một rào cản cho các hộ trong việc áp dụng cơ giới hóa và hình thành vùng sản xuất tập trung theo hướng sản xuất hàng hóa Thực tế, trong quá trình thực hiện dồn điền đổi thửa các hộ đã thực hiện tích tụ đất nông nghiệp thông qua việc thực hiện các quyền sử dụng đất: chuyển nhượng, cho thuê Do vậy, chương trình dồn điền đổi thửa là cơ sở tiền đề cho tích tụ đất nông nghiệp phát triển, giúp các hộ dân
mở rộng diện tích sản xuất nông nghiệp
Chủ trương tích tụ và tập trung ruộng đất được đặt ra từ nhiều năm nay nhưng kết quả thực hiện chủ trương đó không đạt được mục tiêu kỳ vọng Một trong những nguyên nhân chủ yếu của tình trạng này là ở chỗ thị trường đất nông nghiệp chưa phát triển Thị trường đất nông nghiệp chưa phát triển lại bắt nguồn từ nguyên nhân bất cập trong chính sách đất nông nghiệp hiện hành Chính những bất cập này đang trở thành một trong những lực cản thúc đẩy liên kết giữa hàng triệu nông dân
cá thể với doanh nghiệp nhằm phát triển nông nghiệp công nghệ cao, nông nghiệp sạch dưới tác động của biến đổi khí hậu và hội nhập quốc tế
Xuất phát từ những lý do trên, tôi lựa chọn đề tài: “Nghiên cứu và đề xuất
giải pháp sử dụng đất hiệu quả, bền vững tại một số mô hình sử dụng đất tập trung, quy mô lớn, ứng dụng công nghệ cao trong sản xuất nông nghiệp trên địa bàn tỉnh Quảng Ngãi” để thực hiện Đề tài này là một phần nghiên cứu của Đề tài
Nghiên cứu cơ sở khoa học, thực tiễn đề xuất mô hình sử dụng đất tập trung, quy
mô lớn, hiệu quả, bền vững đáp ứng yêu cầu ứng dụng công nghệ cao trong sản xuất nông nghiệp tại các vùng kinh tế trọng điểm Việt Nam do TS Thái Thị Quỳnh
Như làm chủ nhiệm
Trang 133
2 Mục tiêu nghiên cứu
Đánh giá thực trạng sử dụng đất và đề xuất một số quy định của pháp luật liên quan đến sử dụng đất tập trung, quy mô lớn, ứng dụng công nghệ cao trong sản xuất nông nghiệp trên địa bàn tỉnh Quảng Ngãi
3 Nội dung nghiên cứu
Nghiên cứu tổng quan cơ sở lý luận và chính sách pháp luật về việc việc
tích tụ, tập trung ruộng đất trong sản xuất nông nghiệp;
Điều tra, khảo sát, thu thập tài liệu, số liệu về tình hình quản lý đất đai, thực trạng thực hiện tích tụ, tập trung ruộng đất;
Đánh giá, phân tích thực trạng về tích tụ, tập trung ruộng đất quy mô lớn để phát triển sản xuất nông nghiệp, ứng dụng công nghệ cao tại tỉnh Quảng Ngãi;
Đánh giá hiệu quả sử dụng đất của một số mô hình tập trung ruộng đất quy
mô lớn để phát triển sản xuất nông nghiệp, ứng dụng công nghệ cao trên địa bàn;
Đề xuất một số giải pháp sử dụng đất hiệu quả, bền vững tại một số mô hình sử dụng đất tập trung, quy mô lớn, ứng dụng công nghệ cao trong sản xuất nông nghiệp tại địa bàn nghiên cứu
4 Phạm vi và đối tượng nghiên cứu
Phạm vi nghiên cứu: tỉnh Quảng Ngãi
Đối tượng nghiên cứu: một số mô hình sử dụng đất tập trung, quy mô lớn, ứng dụng công nghệ cao trong sản xuất nông nghiệp tại địa bàn nghiên cứu
5 Phương pháp nghiên cứu
a) Phương pháp điều tra, thu thập thông tin thứ cấp
Được sử dụng để thu thập thông tin, tài liệu, gồm: các chủ trương, chính sách, các văn bản quy phạm pháp luật, các tài liệu hướng dẫn…các báo cáo và số liệu của tỉnh Quảng Ngãi về tình hình tích tụ ruộng đất quy mô lớn để phát triển sản xuất nông nghiệp hàng hóa, ứng dụng công nghệ cao trong nông nghiệp
Trang 144
b) Phương pháp điều tra, thu thập thông tin bằng phiếu xã hội học
Được sử dụng để thu thập các thông tin, số liệu có liên quan bằng phiếu điều tra của 30 hộ gia đình, cá nhân tham gia các mô hình sản xuất nông nghiệp tập trung, quy mô lớn và 03 tổ chức (chủ trang trại, chủ doanh nghiệp, Hợp tác xã, câu lạc bộ, tổ hợp tác sản xuất nông nghiệp…), 10 cán bộ quản lý đất đai các cấp
c) Phương pháp tổng hợp, phân tích, so sánh
Dùng để tổng hợp, phân tích, so sánh số liệu sau khi đã thu thập được toàn bộ tài liệu, số liệu, thông tin cần thiết và phiếu điều tra từ các phương pháp được tiến hành trước đó
d) Phương pháp đánh giá hiệu quả sử dụng đất
Sử dụng để đánh giá hiệu quả sử dụng đất (kinh tế, xã hội, môi trường) của một số mô hình sử dụng đất nông nghiệp tập trung quy mô lớn, ứng dụng công nghệ
cao trên địa bàn nghiên cứu
6 Cơ sở tài liệu để thực hiện Luận văn
Tài liệu khoa học tham khảo;
Các văn bản pháp lý liên quan đến công tác dồn điền đổi thửa, tích tụ ruộng đất và sản xuất đất đai tập trung;
Tài liệu, số liệu thu thập, điều tra thực tế tại địa phương;
Cấu trúc luận văn: (gồm 3 phần):
Chương 1: Tổng quan về vấn đề nghiên cứu
Chương 2: Thực trạng thực hiện tích tụ, tập trung đất đai, quy mô lớn để phát triển sản xuất nông nghiệp, ứng dụng công nghệ cao tại tỉnh Quảng Ngãi
Đề xuất một số giải pháp sử dụng đất hiệu quả, bền vững tại một số mô hình
sử dụng đất tập trung, quy mô lớn, ứng dụng công nghệ cao trong sản xuất nông nghiệp tại tỉnh Quảng Ngãi
Kết luận và kiến nghị
Trang 155
Chương 1 TỔNG QUAN VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
1.1 Cơ sở lý luận về tích tụ, tập trung đất đai trong sản xuất nông nghiệp
1.1.1 Các khái niệm cơ bản
a Khái niệm về đất đai
Trong phạm vi nghiên cứu về sử dụng đất, đất đai được nhìn nhận là một nhân
tố sinh thái Với khái niệm này, đất đai bao gồm tất cả các thuộc tính sinh học và tự nhiên của bề mặt trái đất có ảnh hưởng nhất định đến tiềm năng và hiện trạng sử dụng đất Đất theo nghĩa đất đai bao gồm: Khí hậu; dáng đất, địa hình; Thổ nhưỡng; Thủy văn; Thảm thực vật tự nhiên; Cỏ dại trên đồng ruộng; Động vật tự nhiên; Những biến đổi của đất do hoạt động của con người
Đất đai (Land): là diện tích đất cụ thể của bề mặt Trái Đất: khí hậu, địa hình, nước, thổ nhưỡng, trầm tích, sinh vật, hoạt động của con người
Theo học thuyết sinh thái học cảnh quan (landscape ecology), đất đai được coi
là vật mang của hệ sinh thái Đất đai được định nghĩa đầy đủ như sau: “Một vạt đất xác định về mặt địa lý là một diện tích bề mặt của trái đất với những thuộc tính tương đối ổn định hoặc thay đổi có tính chất chu kỳ có thể dự đoán được của sinh quyển bên trên, bên dưới nó như là: không khí, đất (soil), điều kiện địa chất, thủy văn, thực vật và động vật cư trú, những hoạt động hiện nay và trước đây của con người, ở chừng mực mà những thuộc tính này ảnh hưởng có ý nghĩa tới việc sử dụng vạt đất đó của con người hiện tại và trong tương lai”
b Khái niệm đất nông nghiệp
Theo Điều 10 Luật Đất đai năm 2013, căn cứ vào mục đích sử dụng, đất đai của Việt Nam được phân loại thành 3 nhóm đất: đất nông nghiệp, đất phi nông nghiệp và đất chưa sử dụng Trong đó đất nông nghiệp là đất được sử dụng vào mục đích sản xuất, nghiên cứu, thí nghiệm về nông nghiệp, lâm nghiệp, nuôi trồng thủy sản, làm muối và mục đích bảo vệ, phát triển rừng Đất nông nghiệp bao gồm: Đất trồng cây hàng năm bao gồm đất trồng lúa và đất trồng cây hàng năm khác, đất trồng cây lâu năm, đất rừng sản xuất, đất rừng phòng hộ, đất rừng đặc dụng, đất nuôi trồng thủy sản, đất làm muối và đất nông nghiệp khác bao gồm đất sử dụng để
Trang 166
xây dựng nhà kính và các loại nhà khác phục vụ mục đích trồng trọt, kể cả các hình thức trồng trọt không trực tiếp trên đất; xây dựng chuồng trại chăn nuôi gia súc, gia cầm và các loại động vật khác được pháp luật cho phép; đất trồng trọt, chăn nuôi, nuôi trồng thủy sản cho mục đích học tập, nghiên cứu thí nghiệm; đất ươm tạo cây giống, con giống và đất trồng hoa, cây cảnh
Vai trò của đất đai nói chung, đất nông nghiệp nói riêng là vô cùng to lớn Nó không những đóng vai trò là điểm tựa trong ngành sản xuất, là cơ sở cung cấp nuôi dưỡng cây trồng trong sản xuất nông nghiệp mà còn là tư liệu sản xuất đặc biệt, là thành phần quan trọng của môi trường sốnglà nơi tạo ra giá trị sản xuất và thu nhập của các hộ dân Nếu con người biết cách sử dụng các công thức luân canh cây trồng phù hợp với từng loại đất sẽ đảm bảo được năng suất cho cây cũng như đảm bảo được tính bền vững trong quá trình sử dụng đất nông nghiệp
c Khái niệm sử dụng đất nông nghiệp
Sử dụng đất nông nghiệp là hành vi lấy đất kết hợp với sức lao động, vốn để sản xuất nông nghiệp tạo ra lợi ích, tùy vào mức độ phát triển kinh tế, xã hội, ý thức của loài người về môi trường sinh thái được nâng cao, phạm vi sử dụng đất nông nghiệp được mở rộng ra các mặt sản xuất, sinh hoạt, sinh thái
Nguyên tắc sử dụng đất: Tại Điều 6 Luật Đất đai năm 2013 quy định có 3
nguyên tắc phải đảm bảo khi sử dụng đất: (1) Đúng quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất và đúng mục đích sử dụng đất; (2) Tiết kiệm, có hiệu quả, bảo vệ môi trường và không làm tổn hại đến lợi ích chính đáng của người sử dụng đất xung quanh; (3) Người sử dụng đất thực hiện các quyền, nghĩa vụ của mình trong thời hạn sử dụng đất theo quy định của Luật này và các quy định khác của pháp luật có liên quan Đất đai là nguồn tài nguyên có hạn, trong khi đó nhu cầu của con người lấy từ đất ngày càng tăng, mặt khác đất nông nghiệp ngày càng bị thu hẹp do bị trưng dụng sang các mục đích khác Vì vậy, sử dụng đất nông nghiệp ở nước ta phải đáp ứng được mục tiêu là nâng cao hiệu quả KT-XH trên cơ sở đảm bảo an ninh lương thực, thực phẩm, tăng cường nguyên liệu cho công nghiệp và hướng tới xuất khẩu
Sử dụng đất trong sản xuất nông nghiệp trên cơ sở cân nhắc những mục tiêu phát triển KT-XH, tận dụng tối đa lợi thế so sánh về điều kiện sinh thái và không làm
Trang 177
ảnh hướng xấu đến môi trường là những nguyên tắc cơ bản và cần thiết để đảm bảo cho khai thác sử dụng bền vững nguồn tài nguyên đất Do đó, đất nông nghiệp cần được sử dụng theo nguyên tắc “đầy đủ và hợp lý”, phải có các quan điểm đúng đắn theo xu hướng tiến bộ, phù hợp với điều kiện, hoàn cảnh cụ thể, làm cơ sở thực hiện việc sử dụng đất nông nghiệp có hiệu quả kinh tế cao
Thực hiện sử dụng đất nông nghiệp đầy đủ và hợp lý là cần thiết vì:
Nó sẽ làm tăng nhanh khối lượng nông sản trên 1 đơn vị diện tích, xây dựng
cơ cấu cây trồng, chế độ bón phân hợp lý, góp phần bảo vệ độ phì đất;
Là tiền đề để sử dụng có hiệu quả cao các nguồn tài nguyên khác, từ đó nâng cao đời sống của nông dân;
Trong cơ chế kinh tế thị trường cần phải xét đến tính quy luật của nó, gắn với các chính sách vĩ mô nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp và phát triển nền nông nghiệp bền vững
d Tích tụ đất đai
Tích tụ đất đai (land accumulation) là một hành vi trong đó chủ thể sở hữu và
sử dụng ruộng đất dung các biện pháp khác nhau như mua, chuyển nhượng và các biện pháp khác nhằm tăng được quy mô ruộng đất mà mình sở hữu và sử dụng
Mặc dù có nhiều cách tiếp cận và quan điểm khác nhau liên quan đến tích tụ đất đai nhưng tất cả đều có những điểm chung là: 1- Tích tụ đất nông nghiệp làm tăng quy mô ruộng đất của một chủ sở hữu; 2- Tích tụ đất nông nghiệp sẽ khắc phục được tình trạng manh mún đất đai khi tăng quy mô diện tích canh tác của hộ gia đình; 3- Hoạt động tích tụ không thể tách rời với thị trường đất đai mà cụ thể bao gồm thị trường chuyển nhượng QSDĐ và thị trường thuê đất; 4- Tích tụ và tập trung đất đai đều nhằm mục đích giảm manh mún, nhưng tích tụ đất đai gắn trực tiếp đến sự phân tầng về diện tích đất và mức sống ở khu vực nông thôn
Tích tụ đất đai có thể coi là một dạng tích tụ tư bản dưới hình thức hiện vật trong nông nghiệp Tuy nhiên, đặc trưng của tích tụ đất đai trong nông nghiệp khác với tích tụ tư bản trong công nghiệp Do đất đai là tư liệu sản xuất chủ yếu không thể thay thế được và có giới hạn, và do sản xuất nông nghiệp phụ thuộc vào nhiều
Trang 188
yếu tố sinh thái, tự nhiên, thời tiết, khí hậu nên lợi thế kinh tế theo quy mô có phần hạn chế Trong khi tích tụ tư bản trong công nghiệp gần như là không giới hạn, hình thành nên những doanh nghiệp có quy mô vốn lớn, tận dụng được lợi thế kinh tế theo quy mô Từ đó có thể thấy, cần tính toán quy mô tích tụ đất đai phù hợp mang lại hiệu quả kinh tế cao nhất Trên thực tế, các mô hình nông nghiệp công nghệ cao không đòi hỏi quy mô ruộng đất quá lớn.Một điểm nữa cũng cần quan tâm, đó là tích tụ ruộng đất đồng nghĩa với việc một bộ phận nông dân sẽ mất QSDĐ, đồng nghĩa với việc họ có nguy cơ bị bần cùng hóa rất cao
Hình thức tích tụ đất đai liên quan đến các mô hình giúp tăng diện tích ruộng đất của các hộ gia đình hoặc tổ chức kinh tế nhận chuyển nhượng QSDĐ nông nghiệp từ các cá nhân, tổ chức kinh tế hoặc qua các mô hình góp vốn bằng quyền sử dụng đất có chuyển QSDĐ giữa nông dân với doanh nghiệp
e Tập trung đất đai
Tập trung đất đai (land concentration) được hiểu là quá trình làm tăng quy mô
đất đai cho sản xuất kinh doanh hay mục đích nào đó nhưng không thay đổi quyền
sở hữu hay quyền sử dụng của các chủ thể sở hữu và sử dụng ruộng đất
Tập trung ruộng đất có thể được hiểu là “gom” nhiều mảnh đất hiện có thành mảnh đất, khu đất, cánh đồng có quy mô lớn, liền vùng, liền thửa, phục vụ cho sản xuất nông nghiệp, công nghiệp dịch vụ, bằng con đường thuê mướn hoặc liên kết sản xuất, kinh doanh, góp vốn QSDĐ vào doanh nghiệp
Theo một cách hiểu khác, tập trung ruộng đất là một sự điều chỉnh và sắp xếp lại các thửa ruộng, thường được áp dụng để hình thành những vùng đất rộng lớn và hợp lý hơn Tập trung ruộng đất bên cạnh tạo thuận lợi cho thay đổi phương thức sản xuất nông nghiệp còn có thể được sử dụng để cải thiện kết cấu hạ tầng nông thôn và thực hiện các chính sách bảo đảm tính bền vững của môi trường và nông nghiệp
Từ các cách hiểu trên, có thể đưa ra nhận xét: (i) Tập trung ruộng đất là sự mở rộng quy mô diện tích ruộng đất do hợp nhất nhiều thửa đất lại, chủ sở hữu không thay đổi; (ii) Tập trung ruộng đất cần có sự hỗ trợ của tín dụng; (ii) Tập trung ruộng
Trang 19+ Hình thức thuê đất nông nghiệp dài hạn: (thời gian theo thỏa thuận nhưng phải tuân thủ Luật Đất đai) của tổ chức hay của Nhà nước Hành vi thuê đất để tích
tụ đất nông nghiệp được thực hiện theo cơ chế thị trường và phải theo quy định của Nhà nước Giá thuê đất của cá nhân, của tổ chức theo cơ chế thị trường, thuê của Nhà nước theo đơn giá do Nhà nước quy định
- Cơ chế dân sự:
+ Hình thức chuyển nhượng quyền sử dụng đất là hình thức thông qua cơ chế dân sự trường, các cá nhân, tổ chức nhận mua quyền sử dụng đất của các tổ chức, cá nhân khác với mục đích có thêm diện tích đất để bố trí sử dụng đất và tổ chức sản xuất nông nghiệp
+ Hình thức thừa kế đất nông nghiệp, nhận trao tặng đất nông nghiệp là hình thức chuyển đổi quyển sử dụng đất từ người này sang người khác cũng được coi là hình thức tích tụ đất nông nghiệp; được thực hiện theo theo các quy định của pháp luật đất đai và pháp luật dân sự
+ Hình thức cá nhân thuê đất của cá nhân nhằm tăng quy mô diện tích đất cho sản xuất nông nghiệp Hình thức thuê đất ngắn hạn không chuyển quyền sử dụng đất từ người này sang người khác Người thuê đất được sử dụng trong một thời hạn nhất định theo thỏa thuận
Trang 2010
+ Hình thức nông dân góp đất vào doanh nghiệp thông qua hình thức góp vốn bằng giá trị quyền sử vào một doanh nghiệp Hình thức này là quyền sử dụng đất được quy ra thành tiền, đất góp vào doanh nghiệp quy ra thành tiền, để góp vào doanh nghiệp dạng góp cổ phần Doanh nghiệp tổ chức sử dụng đất trong thời hạn thỏa thuận nhưng quyền sử dụng đất vẫn thuộc về người dân Người nông dân góp vốn bằng giá trị quyền sử dụng đất khi đó trở thành cổ đông, trở thành công nhân của doanh nghiệp, được lao động và hưởng lương, được hưởng lợi nhuận từ sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp Khi không muốn tham gia góp cổ phần với doanh nghiệp, nông dân có quyền đòi lại mảnh đất của mình theo thỏa thuận trong hợp đồng
- Cơ chế hỗn hợp:
+ Hình thức góp đất vào các HTX, các tổ hợp tác là hình thức các hộ nông dân góp đất vào các HTX, các tổ hợp tác để tăng quy mô sản xuất Người góp đất vào HTX, tổ hợp tác được tham gia sản xuất, hưởng công lao động và lợi nhuận tùy theo mức đóng góp của mình
+ Hình thức vận động nhiều hộ có đất trong 1 vùng để cùng sản xuất một loại nông sản theo hướng dẫn của 1 tổ chức, 1 doanh nghiệp: Đây là hình thức nhiều hộ nông dân có ruộng đất “liền đồng, cùng trà, khác chủ”, cùng sản xuất một loại nông sản, cùng kỹ thuật canh tác theo hướng dẫn, yêu cầu của doanh nghiệp, doanh nghiệp nhận thu mua và tiêu thụ sản phẩm
Điểm giống nhau của hai khái niểm trên là đều là quá trình tăng quy mô diện tích đất đai phục vụ mục đich kinh tế nhất đinh Tuy nhiên chúng có điểm khác nhau cơ bản, tích tụ và tập trung đất đai được thể hiện qua hai tiêu chí: (i) về việc chuyển giao quyền sử dụng đất và (ii) về tính ổn định của chủ thể có quyền sử dụng đất Về việc chuyển giao quyền sử dụng đất, tích tụ đất đai là quá trình nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất để sở hữu đất đai ở quy mô lớn hơn, còn tập trung đất đai là liên kết nhiều mảnh đất của nhiều chủ sở hữu khác nhau lại thành mảnh đất lớn hơn Do đó, tích tụ đất đai làm thay đổi chủ thể có quyền sử dụng đất từ nhiều người thành một người duy nhất, còn tập trung đất đai thì quyền sử dụng đất của các chủ hộ vẫn không thay đổi Về tính ổn định của chủ thể có quyền sử dụng đất, tích
Trang 2111
tụ đất đai giúp người tích tụ có quyền sử dụng đất lâu dài nên sẽ yên tâm hơn khi tập trung đầu tư và phát triển nông nghiệp vì có đủ quyền năng của chủ sở hữu, nhưng sẽ làm phát sinh bài toán về xã hội và dân cư khi một bộ phận nông dân sẽ mất quyền sử dụng đất do ông cha để lại Đó cũng là một trong những nguyên nhân khiến nhà nước phải ban hành các chính sách và pháp luật về hạn điền để hạn chế tình trạng nêu trên Việc phân biệt rõ tích tụ và tập trung đất đai giúp nhà nước có những chính sách phù hợp hơn để phục vụ sản xuất NN Như vậy, tích tụ và tập trung ruộng đất khác nhau từ cách thức tiến hành, quyền tài sản (ở đây là QSDĐ) và một số tác động xã hội như cách thức duy trì thu nhập, việc làm của người nông dân sau tích tụ và tập trung ruộng đất cũng khác Tuy nhiên, về mặt kinh tế, mục tiêu cuối cùng vẫn là tạo ra một diện tích đất đai quy mô lớn để có thể ứng dụng công nghệ, máy móc vào sản xuất nông nghiệp để đạt được hiệu quả cao hơn
f Khái niệm nông nghiệp công nghệ cao
Theo Luật Công nghệ Cao (2008): “Công nghệ cao là công nghệ có hàm lượng cao về nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ, được tích hợp từ thành tựu khoa học và công nghệ hiện đại, tạo ra sản phẩm có chất lượng, tính năng vượt trội, giá trị gia tăng, thân thiện với môi trường, có vai trò quan trọng đối với việc hình thành ngành sản xuất, dịch vụ mới hoặc hiện đại hoá ngành SX, dịch vụ hiện có Theo ý kiến của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn: “Nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao là nền nông nghiệp được áp dụng những công nghệ mới vào sản xuất, bao gồm: công nghiệp hóa nông nghiệp (cơ giới hóa các khâu của quá trình sản xuất), tự động hóa, công nghệ thông tin, công nghệ vật liệu mới, công nghệ sinh học và các giống cây trồng, giống vật nuôi có năng suất và chất lượng cao, đạt hiệu quả kinh tế cao trên một đơn vị diện tích và phát triển bền vững trên
cơ sở canh tác hữu cơ
Vùng nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao: Là vùng sản xuất nông nghiệp tập trung, ứng dụng thành tựu của nghiên cứu và phát triển CNC vào lĩnh vực nông nghiệp để thực hiện nhiệm vụ sản xuất một hoặc một vài nông sản hàng hóa và hàng hóa xuất khẩu chiến lược dựa trên các kết quả chọn tạo, nhân giống cây trồng, giống vật nuôi cho năng suất, chất lượng cao; phòng, trừ dịch bệnh; trồng trọt, chăn nuôi
Trang 2212
đạt hiệu quả cao; sử dụng các loại vật tư, máy móc, thiết bị hiện đại trong nông nghiệp; bảo quản, chế biến sản phẩm nông nghiệp và dịch vụ CNC trong sản xuất nông nghiệp
Trong nông nghiệp, khái niệm "công nghệ cao" hình thành, sử dụng rộng rãi là
sự kết hợp và ứng dụng các công nghệ trên để nâng cao hiệu quả trong sản xuất nông nghiệp nhằm tạo ra bước đột phá về năng suất, chất lượng hàng hóa, thỏa mãn nhu cầu ngày càng cao của con người, đặc biệt là đảm bảo sự phát triển nông nghiệp bền vững
1.1.2 Quyền sử dụng đất nông nghiệp và vấn đề tích tụ, tập trung đất đai quy mô lớn
Ðể tích tụ ruộng đất phục vụ phát triển nông nghiệp hiện đại, quy mô lớn, cần tiếp tục đổi mới, hoàn thiện chính sách, pháp luật về đất đai Trong đó, tập trung nâng cao hiệu quả quản lý, có quy định phù hợp về hạn mức nhận chuyển quyền sử dụng đất nông nghiệp của hộ gia đình, cá nhân, nhằm vừa nâng cao hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp, vừa bảo đảm quyền lợi của nông dân…
Quyền lợi của nông dân được đặt lên hàng đầu Khi thực hiện tích tụ ruộng đất, vấn đề quan trọng nhất là cần bảo đảm quyền lợi cho người nông dân Thực tế nước ta hiện nay có một tỷ lệ khá lớn người lao động và dân cư sống phụ thuộc vào nông nghiệp, trong khi công nghiệp và dịch vụ chưa đủ mạnh để thu hút lao động ra khỏi lĩnh vực nông nghiệp Do vậy, việc chuyển nhượng, thu hồi ruộng đất của nông dân để giao cho các doanh nghiệp phát triển nông nghiệp hàng hóa lớn, công nghệ cao cần được xem xét trong mọi điều kiện cụ thể, nhằm bảo đảm ổn định, thỏa đáng lợi ích của nông dân Tích tụ ruộng đất dưới bất kỳ hình thức nào cũng nhằm tăng năng suất lao động, nâng cao hiệu quả sử dụng đất, qua đó tăng thu nhập cho người sản xuất nông nghiệp, góp phần tích lũy xã hội
Tuy nhiên, đi cùng với đó, nếu chính sách không tốt sẽ tạo ra sự mất cân bằng thu nhập xã hội, tạo ra sự phân hóa giàu, nghèo Những người nông dân đi làm thuê
có thể bị bần cùng hóa do mất tư liệu sản xuất, tạo ra gánh nặng cho xã hội Do đó, việc xây dựng khung pháp lý cần phù hợp, minh bạch cho các hình thức tích tụ ruộng đất, cần loại bỏ tình trạng tích tụ và sử dụng ruộng đất theo hình thức đầu cơ,
Trang 2313
"phát canh thu tô" Hiện nay, người nông dân cũng đã ý thức được việc sản xuất nông nghiệp dựa trên diện tích đất manh mún, nhỏ lẻ sẽ không hiệu quả, dẫn tới lợi nhuận thu lại không cao Bản thân người nông dân rất mong muốn được phối hợp, hợp tác cùng các doanh nghiệp để sản xuất theo chuỗi giá trị và tăng cường đầu ra cho sản phẩm Nhưng họ cũng luôn mong muốn quyền lợi của mình được bảo đảm thông qua sự bảo vệ bằng cơ chế, chính sách quản lý của Nhà nước
1.1.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến tích tụ, tập trung đất nông nghiệp
Hiện nay, tích tụ, tập trung đất nông nghiệp tồn tại một số yếu tố hạn chế trong quá trình thực hiện của các hộ dân tại địa phương, bao gồm các yếu tố sau: tập trung đất nông nghiệp bao gồm: Chính sách pháp luật của Nhà nước, thị trường, điều kiện
tự nhiên, kinh tế - xã hội, khoa học kỹ thuật, phong tục tập quán Cụ thể:
a Chủ trương, chính sách của Nhà nước:
Chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước liên quan đến đất nông nghiệp được thể hiện cụ thể như sau: Luật đất đai, Luật HTX, các chính sách thuế, chính sách ruộng đất, chính sách bảo hộ sản phẩm, trợ giá sản phẩm, đào tạo lao động, chính sách cho vay vốn, giải quyết việc làm… Chính sách, pháp luật là yếu tố thúc đẩy hoặc cản trở hạn chế quá trình tập trung, tích tụ đất nông nghiệp Đây là yếu tố đóng vai trò quan trọng trong việc tích tụ, tập trung đất đai, nó là yếu tố thúc đẩy hoặc ngược lại là yếu tố cản trở quá trình tập trung tích tụ đất nông nghiệp Cụ thể, trước Luật đất đai năm 1993 khi chính sách của Nhà nước chưa cho phép chuyển nhượng (mua bán) đất đai thì không có thị trường đất đai hợp pháp Thời gian này vẫn diễn ra hoạt động mua bán đất đai nhưng chỉ hoạt động dưới dạng thị trường
“ngầm“ Do vậy các giao dịch này là bất hợp pháp và có thể xuất hiện nhiều rủi ro Thể chế hóa chính sách đất đai của Đảng, hệ thống pháp luật đất đai từng bước được hoàn thiện Trên cơ sở khẳng định chế độ sở hữu toàn dân về đất đai, từng bước mở rộng các quyền của người sử dụng đất, quy định các QSDĐ được tham gia thị trường bất động sản
Mở rộng thời hạn sử dụng đất từ 20 năm đối với đất trồng cây hằng năm, 50 năm đối với đất trồng cây lâu năm lên 50 năm đối với các loại đất trồng cây hằng
Trang 2414
năm và đất trồng cây lâu năm (Luật Đất đai năm 2013) Mở rộng hạn mức nhận chuyển QSDĐ từ gấp 2 lần (Nghị quyết số 1126/2007/NQ-UBTVQH11, ngày 21-6-2007), lên 10 lần
b Thị trường:
Yếu tố thị trường là yếu tố khá quan trọng của quá trình tích tụ, tập trung đất đai Thị trường thúc đẩy quá trình chuyển từ sản xuất tự cấp tự túc, sản xuất nhỏ lẻ sang sản xuất hàng hóa, sản xuất tập trung với quy mô lớn Muốn có sản xuất hàng hóa tập trung thì buộc phải tích tụ đất đai thành các trang trại, hoặc là tập trung đất đai trong các liên kết trong sản xuất Vì vậy, thị trường là một trong những yếu tố tác
động mạnh đến quá trình tích tụ, tập trung đất đai
c Điều kiện tự nhiên:
Các điều kiện tự nhiên có ảnh hưởng lớn đến kết quả sản xuất nông nghiệp, bao gồm các yếu tố chính như: vị trí địa lý, điều kiện thời tiết khí hậu, thổ nhưỡng
và điều kiện địa hình Đặc biệt, khi tích tụ, tập trung đất nông nghiệp để sản xuất quy mô lớn thì điều kiện tiên quyết phải có những nghiên cứu, phân tích, đánh giá rất sâu sắc về các yếu tố điều kiện tự nhiên của vùng, chất lượng đất cũng như các đặc điểm của đất, địa hình của từng vùng miền thì mới có thể tổ chức sản xuất có hiệu quả
d Về điều kiện kinh tế - xã hội:
Sự phát triển của các ngành phi nông nghiệp không chỉ chiếm một phần đất nông nghiệp, mà còn tạo thêm nhiều việc làm, tăng thu nhập, thu hút lao động từ nông nghiệp, làm cho nhiều hộ có quyền sử dụng đất nhưng không còn nhu cầu sử dụng, là điều kiện cần thiết để các hộ này chuyển nhượng quyền sử dụng đất cho người khác
Sản xuất phát triển, kinh tế tăng trưởng, thu nhập của nông dân ngày càng cao
là điều kiện quan trọng, không chỉ nâng cao về nhận thức mà còn giúp họ có tiền
vốn để mua thêm đất, tích tụ, tập trung đất nông nghiệp
e Khoa học kỹ thuật:
Các yếu tố về kỹ thuật canh tác, ứng dụng tiến bộ khoa học - công nghệ cũng
có tác động đến tích tụ, tập trung đất nông nghiệp
Trang 2515
Trình độ kỹ thuật canh tác, công nghệ sản xuất càng tiến bộ thì thường đòi hỏi
quy mô diện tích lớn hơn
f Phong tục tập quán và thói quen sản xuất
Tích tụ đất nông nghiệp được thực hiện và phát triển cần phải có sự tương hỗ giữa các hộ có nhu cầu tích tụ đất nông nghiệp (muốn tăng diện tích sản xuất) và những hộ không còn nhu cầu sử dụng đất (muốn chuyển nhượng hoặc cho thuê quyền sử dụng đất) Hiện nay, do thói quen canh tác với quy mô nhỏ lẻ nên các hộ rất ngại tiếp cận với sản xuất quy mô lớn và sử dụng máy móc, áp dụng cơ giới hóa Bên cạnh đó, các hộ nông dân không muốn chuyển nhượng quyền sử dụng đất nông nghiệp cho người khác vì các lý do sau: 1) Quy mô đất nông nghiệp nhỏ, mỗi gia đình đều đủ lao động để đảm đương công việc đồng áng nhằm tự cung cấp lương thực cho hộ; 2) Giá đất nông nghiệp thấp nên chuyển nhượng không thu hút hết lượng lao động dư thừa ở nông thôn, thậm chí nhiều lao động thất nghiệp ở thành thị quay về làm ruộng
g Hiệu quả sản xuất nông nghiệp và nguy cơ rủi ro trong quá trình sản xuất nông nghiệp:
Tích tụ đất đai làm gia tăng diện tích canh tác trên nông hộ với mục đích gia tăng lợi nhuận tổng cộng Hay nói một cách khác, quá trình tích tụ, tập trung ruộng đất đã tạo ra quy mô lớn hơn cho đơn vị sản xuất, nhiều mô hình trang trại và cánh đồng mẫu lớn hình thành.Trên thực thế, khi quy mô diện tích tăng lên, việc sản xuất thuận lợi hơn nhưng hiệu quả sản xuất mang lại không cao bởi chưa có liên kết trong tiêu thụ và bảo quản sản phẩm dẫn đến tình trạng mất mùa được giá và được mùa mất giá Bên cạnh đó, hiệu quả sản xuất còn phụ thuộc vào các yếu tố đầu vào như: giống, phân bón, chăm sóc, mùa vụ, rủi ro (do thiên tai, dịch bệnh) Yếu tố rủi
ro ở đây có thể là do khách quan hoặc chủ quan, có thể con người ứng phó được hoặc không ứng phó được nhưng nó cũng ảnh hưởng phần nào đến quá trình sản xuất nông nghiệp của các hộ
h Chính sách khác:
Trang 2616
Muốn tích tụ ruộng đất cần tăng quy mô diện tích đất canh tác/hộ Trong điều kiện quỹ đất sản xuất nông nghiệp đã khai thác đến trần (khoảng 10 triệu héc-ta) có thể làm là giảm số hộ trực tiếp sản xuất nông nghiệp Năm 2015, nước ta có khoảng 9,3 triệu hộ nông thôn, với 8,5 triệu hộ trực tiếp sản xuất nông nghiệp, quy mô sản xuất 1,21ha đất sản xuất nông nghiệp/hộ Muốn tăng quy mô tích tụ ruộng đất cần tiếp tục đẩy mạnh chuyển dịch cơ cấu lao động trong khu vực nông nghiệp, nông thôn Hộ gia đình muốn tích tụ ruộng đất cần phải có vốn, nếu giá chuyển nhượng QSDĐ từ 100.000 VNĐ - 200.000 VNĐ/1m2 thì để có thêm 1ha, phải có 1 tỷ - 2 tỷ VNĐ Điều này vượt quá khả năng của nông dân Vì vậy, muốn thúc đẩy tích tụ ruộng đất, Nhà nước cần có quỹ phát triển đất và hỗ trợ nông dân vay vốn với cơ chế phù hợp
1.1.4 Vai trò, mục đích của việc tích tụ tập trung ruộng đất quy mô lớn, ứng dụng cao nghệ cao trong sản xuất nông nghiệp ở nước ta
Tích tụ, tập trung đất đai để khắc phục tình trạng ruộng đất phân tán, nhỏ lẻ, manh mún, hình thành các vùng sản xuất hàng hóa tập trung quy mô lớn Qua đó, tạo điều kiện thuận lợi cho doanh nghiệp, HTX, tổ hợp tác đầu tư sản xuất nông nghiệp hàng hóa, công nghệ cao, nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng đất, nâng cao năng suất, chất lượng, khả năng cạnh tranh của nông sản hàng hóa, nâng cao thu nhập cho người sản xuất Đồng thời, đáp ứng yêu cầu đẩy mạnh tái cơ cấu và phát triển nông nghiệp, xây dựng nông thôn mới theo hướng hiện đại bền vững, góp phần thúc đẩy kinh tế - xã hội của các địa phương và của cả tỉnh phát triển Đây là mục tiêu đề ra tại Nghị quyết số 13 – NQ/TU ngày 11– 1–2019 (gọi tắt là NQ13) của Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh về tích tụ, tập trung đất đai để phát triển nông nghiệp quy mô lớn, công nghệ cao đến năm 2025, định hướng đến năm 2030
Ở nước ta, những năm qua, các địa phương đã triển khai thực hiện có hiệu quả tái cơ cấu gắn với chuyển đổi mô hình tăng trưởng, khuyến khích tích tụ, tập trung đất đai để phát triển nông nghiệp, sản xuất hàng hóa quy mô lớn, tạo điều kiện để doanh nghiệp đầu tư vào nông nghiệp, nông thôn Nhiều nơi sản xuất còn phân tán, manh mún, nhỏ lẻ; chưa có nhiều vùng sản xuất hàng hóa quy mô lớn, chủ yếu vẫn là sản xuất nông hộ, chất lượng sản phẩm còn thấp, khả năng cạnh tranh hạn
Trang 2717
chế Một số diện tích đất đã được tích tụ, tập trung nhưng chưa gắn với đổi mới phương thức sản xuất, chưa có phương án sản xuất cụ thể nên chưa phát huy được hiệu quả Chính vì vậy, tích tụ, tập trung đất đai là nhiệm vụ, giải pháp đột phá quan trọng hàng đầu để chuyển từ SX nhỏ lẻ lên SX tập trung quy mô lớn, công nghệ cao và thực hiện tái cơ cấu nông nghiệp gắn với xây dựng nông thôn mới
1.2 Chính sách pháp luật về tích tụ, tập trung ruộng đất nông nghiệp
1.2.1 Giai đoạn trước năm 1986
Giai đoạn này bao gồm toàn bộ thời kỳ Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà (1945-1975) Trong đó: từ năm 1945-1954, nước ta thực hiện Cách mạng dân tộc dân chủ; từ năm 1954-1975 nước ta thực hiện xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc và tiến hành cách mạng giải phóng dân tộc ở miền Nam Đặc trưng cơ bản của chính sách ruộng đất trong thời kỳ này là: khai hoang, vỡ hoá, tận dụng diện tích đất đai để sản xuất nông nghiệp; tịch thu ruộng đất của thực dân, việt gian, địa chủ, phong kiến chia cho dân nghèo; chia ruộng đất vắng chủ cho nông dân
Đồng thời, giai đoạn này còn gồm cả thời kỳ đầu của Nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam từ khi thống nhất đất nước cho đến khi bắt đầu đổi mới (1976- 1987), cả nước xây dựng chủ nghĩa xã hội theo nền kinh tế kế hoạch
Vì vậy, mỗi thời kỳ đều có chính sách quản lý đất đai khác nhau, phù hợp với tình hình lịch sử của đất nước
Khi nước Việt Nam dân chủ cộng hoà vừa ra đời, để giảm bớt khó khăn cho nông dân, Nhà nước và các Bộ đã ban hành một loạt các văn bản quy định giảm thuế đất, quy định về sử dụng đất, điển hình là các văn bản sau:
Ngày 26 tháng 10 năm 1945, Bộ Tài chính ban hành Nghị định "Miễn giảm thuế điền", theo đó giảm 20% thuế ruộng đất và miễn thuế hoàn toàn cho những vùng bị lụt Cũng ngày 26 tháng 10 năm 1945, Bộ Quốc dân kinh tế ban hành Thông
tư về "Khẩn cấp chấn hưng nông nghiệp"
Ngày 15 tháng 11 năm 1945, Bộ Quốc dân kinh tế ban hành Nghị định về
"Kê khai và cho mượn đất giồng màu
Trang 2818
Ngày 21 tháng 11 năm 1945, Bộ Quốc dân kinh tế ban hành Thông tư số 577- BKT về “Phương pháp cấp tốc khuếch trương mọi việc giồng màu”
Ngày 30 tháng 01 năm 1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh ban hành Sắc lệnh số
15 "Bãi bỏ thuế thổ trạch ở thôn quê"
Trong Cách mạng Tháng Tám, nước ta chủ trương tạm gác khẩu hiệu về ruộng đất.Vì vậy quyền sở hữu ruộng đất của địa chủ vẫn chưa bị đụng chạm đến Tháng 01 năm 1948, Hội nghị Trung ương Đảng đã xây dựng một cách hệ thống chính sách ruộng đất của Nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hoà trong thời kỳ kháng chiến là: triệt để thực hiện việc giảm 25% địa tô, bài trừ những thứ địa tô phụ thuộc (như tiền trình gặt, tiền đầu trâu ); bỏ chế độ quá điền; đưa ruộng đất và tài sản của bọn phản quốc tạm cấp cho dân nghèo; chia lại công điền cho hợp lý; đem ruộng đất, đồn điền của địch cấp cho dân công nghèo, chấn chỉnh các đồn điền do Chính phủ quản lý
Ngày 14 tháng 7 năm 1949, lần đầu tiên pháp luật nước ta đánh vào quyền
sờ hữu ruộng đất của địa chủ bằng Sắc lệnh số 78/SL của Hồ Chủ tịch ấn định việc giảm địa tô, theo đó quy định giảm 25% địa tô
Ngày 21 tháng 8 năm 1949, liên bộ Nội vụ - Tư pháp - Canh nông - Tài chính ban hành Thông tư liên tịch số 33- Nvll "Quy định việc sử dụng ruộng đất của người Pháp
Ngày 22 tháng 5 năm 1950, Hồ Chủ tịch ban hành Sắc lệnh số 88/SL quy định thể lệ lĩnh canh ruộng đất; theo đó, đảm bảo quyền được lĩnh canh của tá điền với thời hạn ít nhất là 3 năm, cấm địa chủ vô cớ đòi lại ruộng đất trong thời hạn lĩnh canh
Cũng ngày 22 tháng 5 năm 1950, Hồ Chủ tịch còn ban hành Sắc lệnh số 90/SL quy định việc sử dụng các ruộng đất bỏ hoang Cho đến cuối năm 1951, chính quyền đã tịch thu 258.863 ha đất, tạm cấp cho 500.000 nhân khẩu nông dân; đồng thời, chính quyền còn vận động một số địa chủ giàu hiến ruộng đất để chia cho nông dân với gần 1 triệu ha
Trang 2919
Ngày 5 tháng 3 năm 1952, Hồ Chủ tịch ký Sắc lệnh số 87/SL ban hành Điều lệ tạm thời sử dụng công điền công thổ Theo Điều lệ này, công điền công thổ được chia cho dân theo 3 nguyên tắc chung: lợi cho tăng gia sản xuất, củng cốđoàn kết nông thôn, dân chủ và công bằng
Ngày 9 tháng 10 năm 1952, Bộ Canh nông ban hành Thông tư số 22CN-
RĐ về việc "Tạm cấp ruộng đất của người Pháp và Việt gian"
Thực hiện mục tiêu đánh đổ giai cấp địa chủ, phong kiến, thủ tiêu chế độ tư hữu về ruộng đất, chia ruộng đất cho nông dân, ngày 4 tháng 12 năm 1953, Quốc hội nước Việt Nam Dân chủ cộng hoà thông qua Luật Cải cách ruộng đất Ngày 19/12/1953, Chủ tịch nước Hồ Chí Minh ký Sắc lệnh số 179/SL ban hành Luật Cải cách ruộng đất
Như vậy, giai đoạn 1945 đến 1986, tuy chưa có Luật đất đai nhưng đã có nhiều văn bản pháp quy để điều chỉnh các quan hệ về ruộng đất với nội dung cơ bản
là ngày càng tăng cường công tác quản lý đất đai Đồng thời cũng đã sơ khai quy định các nội dung quản lý nhà nước về đất đai
1.2.2 Giai đoạn từ năm 1986 đến nay
a Đổi mới chính sách quản lý
Sau Luật Đất đai 1988, Nghị quyết 10/NQ-TW ngày 05 tháng 04 năm 1988 về đổi mới quản lý kinh tế nông nghiệp lần đầu tiên thừa nhận kinh tế hộ gia đình là đơn vị kinh tế tự chủ, xác định chủ trương: “Củng cố và tăng cường các HTX quy
mô toàn xã, sản xuất kinh doanh có hiệu quả Điều chỉnh quy mô quá lớn của một
số HTX ở các tỉnh đồng bằng và trung du phía Bắc, duyên hải miền Trung, Tây Nguyên mà sản xuất trì trệ, quản lý kém và xã viên yêu cầu thành các HTX có quy
mô thích hợp” Thực hiện Nghị quyết 10, trong nông thôn sản xuất và xã hội đã có
sự thay đổi nhiều cụ thể: sản xuất lương thực tăng (1989 đạt 20,5 triệu tấn lương thực), Việt Nam đã trở thành nước xuất khẩu gạo lớn của thế giới Sau này, ngoài xuất khẩu gạo Việt Nam còn xuất khẩu một số nông sản như: điều, tiêu
Nghị quyết Đại hội Đảng Cộng Sản Việt Nam lần thứ VII (tháng 6/1991) xác định: “Ruộng đất thuộc quyền sở hữu toàn dân, giao cho nông dân quyền sử dụng
Trang 30 Nghị quyết Hội nghị Trung ương 2 khóa VII (29/6/1992) xác định: “Việc chuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuê, thế chấp, thừa kế quyền sử dụng ruộng đất phải được pháp luật quy định cụ thể theo hướng khuyến khích nông dân an tâm đầu
tư kinh doanh, nâng cao hiệu quả sử dụng đất, tạo điều kiện từng bước tích tụ ruộng đất trong giới hạn hợp lý để phát triển hàng hóa, đi đôi với mở rộng phân công lao động và phân bố lao động gắn với quá trình công nghiệp hóa”
Nghị quyết hội nghị Trung ương 4 khóa VIII (1997): “Thực hiện chính sách ruộng đất phù hợp với sự phát triển nông nghiệp hàng hóa và chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn Vừa khuyến khích sử dụng ruộng đất có hiệu quả thông qua tích
tụ ở những nơi có điều kiện bằng hình thức hạn điền theo quy định cụ thể, vừa bảo
vệ quyền lợi chính đáng của người nông dân có đất canh tác, không bị bần cùng hóa
và nghiêm cấm hành vi mua bán đất để kiếm lời Kinh tế trang trại với các hình thức sở hữu khác nhau (Nhà nước, tập thể, tư nhân) được phát triển chủ yếu để trồng cây dài ngày, chăn nuôi đại gia súc ở những nơi có nhiều ruộng đất, khuyến khích khai phá đất hoang vào mục đích này”
Nghị quyết 06 của Bộ Chính trị khóa VIII (10/11/1998) về một số vấn đề nông nghiệp và nông thôn quy định: “Về tích tụ ruộng đất, việc chuyển nhượng quyền sử dụng, tích tụ và tập trung ruộng đất là hiện tượng sẽ diễn ra trong quá trình phát triển nông nghiệp sản xuất hàng hóa lớn Việc tích tụ và tập trung ruộng đất phải được kiểm soát, quản lý chặt chẽ của Nhà nước không để quá trình này
Trang 3121
diễn ra tự phá làm cho người nông dân mất ruộng mà không tìm được việc làm, trở thành bần cùng hóa”.Đây là chính sách đầu tiên đề cập đến vấn đề tích tụ và tập trung đất thông qua chuyển nhượng quyền sử dụng đất
Nghị quyết 03/2000/NQ-CP (20/2/2000) về kinh tế trang trại xác định: Sự phát triển của kinh tế trang trại đã góp phần khai thác thêm nguồn vốn trong dân,
mở mang thêm diện tích đất trống, đồi núi trọc, đất hoang hoá, nhất là ở các vùng trung du, miền núi và ven biển; tạo thêm việc làm cho lao động nông thôn, góp phần xoá đói giảm nghèo; tăng thêm nông sản hàng hoá Một số trang trại đã góp phần sản xuất và cung ứng giống tốt, làm dịch vụ, kỹ thuật tiêu thụ sản phẩm cho nông dân trong vùng
Nghị quyết số 26 - NQ/TW7 (khóa X) (25/8/2008) về nông nghiệp, nông dân, nông thôn xác định: Tiếp tục khẳng định đất đai là sở hữu toàn dân, Nhà nước thống nhất quản lý theo quy hoạch, kế hoạch để sử dụng có hiệu quả; giao đất cho
hộ gia đình sử dụng lâu dài; mở rộng hạn mức sử dụng đất, thúc đẩy quá trình tích
tụ đất đai; công nhận quyền sử dụng đất được vận động theo cơ chế thị trường, trở thành một nguồn vốn trong sản xuất, kinh doanh Bên cạnh đó, những vấn đề về vốn, đào tạo nghề, đào tạo cán bộ quản lý, hỗ trợ chuyển đổi nghề, hạn mức giao đất nông nghiệp… cũng được đưa ra với mục tiêu là phát triển bền vững, toàn diện nông nghiệp, nông dân, nông thôn Đây là chìa khóa để quá trình tích tụ đất nông nghiệp diễn ra phổ biến tại các địa phương
b Pháp luật đất đai liên quan đến tích tụ đất nông nghiệp
Hiến pháp
Tại Điều 17 của Hiến pháp năm 1992 đã quy định “Đất đai, rừng núi, sông
hồ, nguồn nước, tài nguyên trong lòng đất, nguồn lợi ở vùng biển, thềm lục địa và vùng trời, phần vốn và tài sản do Nhà nước đầu tư vào các xí nghiệp, công trình thuộc các ngành và lĩnh vực kinh tế, văn hoá, xã hội, khoa học, kỹ thuật, ngoại giao, quốc phòng, an ninh cùng các tài sản khác mà pháp luật quy định là của Nhà nước, đều thuộc sở hữu toàn dân”
Trang 3222
Hiến pháp năm 2013: Đây là bản hiến pháp mới nhất tại thời điểm hiện tại, hiến pháp thể chế hóa Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, kế thừa được giá trị to lớn của các bản Hiến pháp năm 1946, năm
1959, năm 1980 và năm 1992, nhân dân Việt Nam xây dựng, thi hành và bảo vệ Hiến pháp này vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh Tại Khoản 1 Điều 54 quy định: Đất đai là tài nguyên đặc biệt của quốc gia, nguồn lực quan trọng phát triển kinh tế đất nước, được quản lý theo pháp luật
Luật đất đai
Nhằm mục đích thể chế hóa chính sách đất đai của Đảng, cụ thể hóa các quy định của Hiến Pháp 1980, 1992, 2013, hệ thống pháp luật đã được hình thành và từng bước phát triển từ Luật đất đai 1987 đến Luật đất đai 2013
Luật Đất đai năm 1987 là văn bản đầu tiên do Quốc Hội ban hành về đất đai
và ruộng đất Việc ban hành Luật đất đai năm 1987 giúp cho các cơ quan quản lý đất đai thuận lợi hơn trong việc quản lý Tuy nhiên, trong thời kỳ này việc chuyển quyền sử dụng đất đai chỉ thực hiện cụ thể tại Điều 16: 1) Khi hộ nông dân vào hoặc
ra hợp tác xã, tập đoàn sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp; 2) Khi hợp tác xã, tập đoàn sản xuất nông nghiệp và cá nhân thỏa thuận đổi đất cho nhau để tổ chức lại sản xuất; 3) Khi người được giao đất chuyển đi nơi khác hoặc đã chết mà thành viên trong hộ của người đó vẫn còn tiếp tục sử dụng Trong thời kỳ này nghiêm cấm việc chuyển quyền sử dụng đất thông qua hình thức mua bán
Luật Đất đai năm 1993: đã thể chế hóa chính sách đất đai cho phù hợp với yêu cầu kinh tế - xã hội đặt ra và khẳng định đất đai thuộc sở hữu toàn dân và nguyên tắc giao đất sử dụng ổn định lâu dài cho tổ chức, hộ gia đình cá nhân (thể hiện rõ trong NĐ 64/CP năm 1993), xác lập các quyền của người sử dụng đất như quyền chuyển đổi, thừa kế, thế chấp, cho thuê, chuyển nhượng nhằm tăng cường tính tự chủ và lợi ích kinh tế được đảm bảo về mặt pháp lý cho những người sử dụng đất Thời hạn giao đất nông nghiệp để trồng cây hàng năm, nuôi trồng thuỷ sản là 20 năm, để trồng cây lâu năm là 50 năm Hạn mức đất nông nghiệp trồng cây hàng năm đối với các tỉnh Đông Nam Bộ không quá 3 ha, các tỉnh và thành phố trực
Trang 3323
thuộc trung ương khác khác không quá 2 ha, đất nông nghiệp trồng cây lâu năm các
xã đồng bằng không quá 10 ha, các xã trung du miền núi không quá 30 ha Bên cạnh đó, ngày 15 tháng 3 năm 1994, Ủy ban Thường vụ Quốc hội thông qua pháp lệnh thuế bổ sung đối với hộ gia đình sử dụng đất nông nghiệp vượt hạn mức giao đất với mức thuế bổ sung đối với phần diện tích trên hạn mức bằng 20% mức thuế
sử SDĐNN Quy định đất có giá và do Nhà nước định giá để tính tiền sử dụng đất, thu tiền sử dụng đất khi giao đất, cho thuê đất, tính thuế sử dụng đất… Tuy đạt được những thành tựu về tích tụ ruộng đất nhưng quá trình tích tụ ruộng đất trong thời kỳ này đã bộc lộ những tồn tại, vướng mắc cần được tháo gỡ về cơ chế chính sách như: Chưa có quy hoạch về phát triển sản xuất hàng hoá quy mô lớn, theo hướng hiện đại bền vững; hạn mức giao đất thấp, thời hạn sử dụng đất ngắn; chưa
có chính sách khuyến khích đầu tư cơ sở hạ tầng, chính sách hỗ trợ đào tạo quản lý,
kỹ thuật, thông tin thị trường, đào tạo, chuyển đổi nghề, khuyến khích liên kết, chế biến và tiêu thụ nông sản cho nông dân tích tụ ruộng đất phát triển kinh tế trang trại
Luật Đất đai năm 2003 và những văn bản hướng dẫn thi hành đã đổi mới một bước các quy định có liên quan đến tập trung ruộng đất, tích tụ đất nông nghiệp
là một trong những biện pháp quan trọng nhất để phát triển sản xuất hàng hóa nông nghiệp ở quy mô lớn hơn nhằm thực hiện chủ trương, chính sách phát triển sản xuất hàng hóa trong kinh tế nông nghiệp
Dựa vào cơ sở pháp lý này, Nhà nước khuyến khích khu vực nông thôn thực hiện "dồn điền, đổi thửa" để khắc phục tình trạng manh mún do quá trình giao đất trước đây, có điều kiện quy hoạch lại đồng ruộng hợp lý, ứng dụng các tiến bộ khoa học - công nghệ trong nông nghiệp Từ đó, người nông dân có tiềm lực về tài chính, biết tổ chức sản xuất, am hiểu thị trường có thể tập trung ruộng đất hình thành các trang trại quy mô lớn
Cụ thể hóa các quy định của Luật Đất đai, Điều 59 và Điều 60 Nghị định 181/2004/NĐ-CP đã quy định:
- Nhà nước giao đất nông nghiệp không thu tiền sử dụng đất cho hộ gia đình,
cá nhân
- Nhà nước giao đất có thu tiền sử dụng đất, cho thuê đất thông qua đấu giá hoặc theo giá do Nhà nước quy định
Trang 3424
- Hộ gia đình, cá nhân chuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuê, cho thuê lại, thừa kế, tặng cho quyền sử dụng đất; thế chấp, bảo lãnh, góp vốn bằng quyền sử dụng đất
Nghị định 181 cũng đã quy định các nội dung về quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất, giao đất, cho thuê đất, chuyển mục đích sử dụng đất, chuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuê, cho thuê lại, thừa kế, tặng cho quyền sử dụng đất, thế chấp, bảo lãnh, góp vốn bằng quyền sử dụng đất, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất Đó
là những quy định tạo điều kiện thuận lợi để quá trình tích tụ, tập trung đất nông nghiệp được diễn ra nhanh tróng và thuận lợi
Tuy nhiên, các quy định về hạn mức giao đất của Luật Đất đai 2003 và Nghị định 181 còn phần nào “trói buộc” sự tích tụ, tập trung đất nông nghiệp Cụ thể, quy định hạn mức giao đất cho mỗi hộ: đối với cây hàng năm, làm muối, nuôi trồng thủy sản không quá ba héc ta (khu vực Đông Nam bộ và khu vực đồng bằng sông Cửu Long) và không quá hai héc ta cho mỗi loại đất; đối với cây lâu năm không quá mười héc ta (vùng đồng bằng) và không quá ba mươi héc ta (trung du, miền núi); đối với rừng phòng hộ, đất rừng sản xuất không quá ba mươi héc ta
Trường hợp hộ gia đình, cá nhân được giao nhiều loại đất bao gồm đất trồng cây hàng năm, đất nuôi trồng thuỷ sản, đất làm muối thì tổng hạn mức giao đất không quá năm héc ta Trường hợp hộ gia đình, cá nhân được giao thêm đất trồng cây lâu năm thì hạn mức đất trồng cây lâu năm là không quá năm héc ta đối với các xã, phường, thị trấn ở đồng bằng; không quá hai mươi lăm héc ta đối với các xã, phường, thị trấn ở trung du, miền núi Trường hợp hộ gia đình, cá nhân được giao thêm đất rừng sản xuất thì tổng hạn mức giao đất rừng sản xuất là không quá hai mươi lăm héc ta
Ngày 21 tháng 06 năm 2007, Ủy ban Thường vụ Quốc hội ra Nghị quyết của số 1126/2007/NQ-UBTVQH11 về hạn mức nhận chuyển quyền sử dụng đất nông nghiệp của hộ gia đình, cá nhân để sử dụng vào mục đích nông nghiệp đã quy định hạn mức nhận chuyển quyền sử dụng đất của hộ gia đình, cá nhân để sử dụng vào mục đích nông nghiệp dưới các hình thức nhận chuyển nhượng, nhận tặng cho quyền sử dụng đất, xử lý nợ theo thoả thuận trong hợp đồng thế chấp, bảo lãnh bằng quyền sử dụng đất đối với đất trồng cây hàng năm, đất trồng cây lâu năm, đất rừng sản xuất là rừng trồng, đất nuôi trồng thuỷ sản và đất làm muối Cụ thể:
Đất trồng cây hàng năm, đất nuôi trồng thuỷ sản và đất làm muối, không quá sáu (06) ha đối với các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương thuộc khu vực
Trang 35ở trung du, miền núi
Đất rừng sản xuất là rừng trồng: không quá năm mươi (50) ha đối với các
xã, phường, thị trấn ở đồng bằng; không quá một trăm (100) ha đối với các xã, phường, thị trấn ở trung du, miền núi
Thời hạn giao đất, cho thuê đất theo qui định của Luật Đất đai 2003 còn khá ngắn cũng là một yếu tố hạn chế đến sự tích tụ, tập trung đất đai Cụ thể: Thời hạn giao đất, cho thuê đất trồng cây hàng năm, đất nuôi trồng thuỷ sản, đất làm muối không quá hai mươi năm; thời hạn giao đất, cho thuê đất trồng cây lâu năm, đất rừng sản xuất không quá năm mươi năm Tuy Luật có quy định khi hết thời hạn, người sử dụng đất được Nhà nước tiếp tục giao đất, cho thuê đất nếu có nhu cầu tiếp tục sử dụng, chấp hành đúng pháp luật về đất đai trong quá trình sử dụng và việc sử dụng đất đó phù hợp với quy hoạch sử dụng đất đã được xét duyệt nhưng thời hạn sử dụng đất ngắn đã hạn chế khuyến khích việc đầu tư cho sản xuất nông nghiệp, hạn chế đến quá trình tích tụ, tập trung đất đai trong nông nghiệp
Nghị quyết số 26-NQ/TW Hội nghị lần thứ bảy Ban Chấp hành Trung ương khoá X ngày 5 tháng 8 năm 2008 về nông nghiệp, nông dân, nông thôn đã xác định
rõ chủ trương về tích tụ, tập trung đất nông nghiệp phục vụ phát triển nông nông thôn Nhiều vấn đề về nông nghiệp, nông dân, nông thôn được đề cập và định hướng phát triển một cách toàn diện, bền vững trong Nghị quyết số 26-NQ/TW Phát triển nông nghiệp, nông thôn và nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của nông dân phải dựa trên cơ chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, phù hợp với điều kiện của từng vùng, từng lĩnh vực, để giải phóng và sử dụng có hiệu quả các nguồn lực xã hội, trước hết là lao động, đất đai, rừng và biển; khai thác tốt các điều kiện thuận lợi trong hội nhập kinh tế quốc tế cho phát triển lực lượng sản xuất trong nông nghiệp, nông thôn; phát huy cao nội lực; đồng thời tăng mạnh đầu tư của Nhà nước và xã hội, ứng dụng nhanh các thành tựu khoa học, công nghệ tiên tiến cho nông nghiệp, nông thôn, phát triển nguồn nhân lực, nâng cao dân trí nông dân
Nghị quyết đặt ra nhiệm vụ và giải pháp xây dựng nông nghiệp, nông thôn trên cơ sở đổi mới và xây dựng các hình thức tổ chức sản xuất, dịch vụ có hiệu quả
ở nông thôn Có chính sách khuyến khích phát triển các mối liên kết giữa hộ nông
Trang 3626
dân với các doanh nghiệp, hợp tác xã, tổ chức khoa học, hiệp hội ngành hàng và thị trường tiêu thụ sản phẩm để hỗ trợ kinh tế hộ phát triển theo hướng gia trại, trang trại có quy mô phù hợp, sản xuất hàng hoá lớn Phát triển mô hình hợp tác xã, tổ hợp tác phù hợp với nguyên tắc tổ chức của hợp tác xã và cơ chế thị trường; hỗ trợ kinh tế tập thể về đào tạo cán bộ quản lý, lao động; tiếp cận các nguồn vốn, trợ giúp
kỹ thuật và chuyển giao công nghệ, phát triển thị trường, xúc tiến thương mại và các
dự án phát triển nông thôn; hợp tác xã phải làm tốt các dịch vụ đầu vào, chế biến, tiêu thụ sản phẩm cho nông dân
Hoàn thành việc sắp xếp, đổi mới các doanh nghiệp nhà nước trong nông nghiệp Đổi mới căn bản việc tổ chức quản lý nông, lâm trường quốc doanh Thực hiện tốt việc giao khoán đất, vườn cây cho người lao động, nông, lâm trường quốc doanh chuyển sang làm tốt các dịch vụ cho người nhận khoán và nông dân trong vùng, nhất là hướng dẫn kỹ thuật, dịch vụ vật tư, tiêu thụ và chế biến sản phầm Rà soát hiện trạng sử dụng quỹ đất rừng, thu hồi đất rừng sử dụng sai mục đích, kém hiệu quả, vượt khả năng quản lý của đơn vị, giao lại cho chính quyền địa phương để cho các tổ chức, cá nhân thuê sử dụng có hiệu quả
Như vậy, lần đầu tiên vấn đề tập trung đất nông nghiệp được Nghị quyết số
26, Hội nghị lần thứ bảy Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá X đưa ra Đồng thời những vấn đề về vốn, đào tạo nghề, đào tạo cán bộ quản lý, hỗ trợ chuyển đổi nghề, hạn mức giao đất nông nghiệp… cũng được đưa ra với mục tiêu là phát triển bền vững, toàn diện nông nghiệp, nông dân, nông thôn Đây là chìa khóa để quá trình tập trung đất nông nghiệp diễn ra sâu, rộng
Luật Đất đai năm 2013 có hiệu lực từ ngày 01/7/2014 giúp cho việc quản lý đất đai cũng như việc tích tụ đất nông nghiệp của người dân được thực hiện thuận lợi hơn Điển hình là việc thay đổi hạn mức nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất nông nghiệp của hộ gia đình, cá nhân tại điểm a Điều 126: “Hạn mức nhận chuyển quyền sử dụng đất nông nghiệp của hộ gia đình, cá nhân không quá 10 lần hạn mức giao đất nông nghiệp của hộ gia đình, cá nhân đối với mỗi loại đất quy định tại các khoản 1, 2 và 3 Điều 129 của Luật Đất đai năm 2013” Bên cạnh đó tại Điều 167 quy định về 8 quyền riêng của người sử dụng đất là: chuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuê, cho thuê lại, thừa kế, tặng cho, thế chấp, góp vốn quyền sử dụng đất
Trang 3727
- Với việc ban hành Luật Đất đai năm 2013 đã giải quyết được một số hạn chế của Luật Đất đai năm 2003 và có những hướng mới hơn cho việc tích tụ đất nông nghiệp điển hình là tăng thời hạn sử dụng đất nông nghiệp và tăng hạn mức chuyển nhượng quyền sử dụng đất nông nghiệp giữa các hộ gia đình Ngoài ra, một số trường hợp phát sinh khó khăn trong quá trình tích tụ tập trung như dồn điền đổi thửa, chuyển nhượng, góp vốn, thế chấp bằng đất nông nghiệp đã được quy định trong các văn bản dưới Luật Đây là cơ sở tạo điều kiện thuận lợi hơn cho thực hiện tích tụ đất nông nghiệp ở Việt Nam
Chủ trương phát triển sản xuất hàng hóa trong kinh tế nông nghiệp được Đảng
và Nhà nước ta đặt ra như một bước đi tất yếu nhằm giải quyết vấn đề “tam nông” Một trong những biện pháp quan trọng nhất để phát triển sản xuất hàng hóa nông nghiệp là giải pháp tập trung ruộng đất, tích tụ đất nông nghiệp, tổ chức sản xuất ở quy mô lớn hơn Hộ dân có thể thực hiện tích tụ thông qua các quyền chuyển đổi, chuyển nhượng, thừa kế, thế chấp, cho thuê, cho thuê lại, góp vốn bằng giá trị quyền sử dụng đất đối với đất sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp Bên cạnh đó, Điều
9 quy định người sử dụng đất bao gồm: các tổ chức, cá nhân được Nhà nước giao đất, cho thuê đất hoặc công nhận quyền sử dụng đất; tổ chức kinh tế nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất
Thời hạn sử dụng đất, tại điều 109 của Luật đất đai 2013 đã quy định thời hạn Nhà nước giao đất nông nghiệp cho cá nhân, hộ gia đình sử dụng được nâng lên mức 50 năm
c Các cơ chế, chính sách trên địa bàn tỉnh Quảng Ngãi
Đối với ngành nông nghiệp tỉnh Quảng Ngãi, việc hình thành các mô hình sử dụng đất tập trung, quy mô lớn, ứng dụng công nghệ trong sản xuất nông nghiệp đó
là nhiệm vụ trọng tâm và thường xuyên Để đạt được mục tiêu đó thì việc hình thành các cơ chế, chính sách khuyến khích phát triển sản xuất dựa trên cơ sở tiềm năng, lợi thế vốn có của tỉnh và nhu cầu sản phẩm của xã hội là điều cần thiết Những năm qua, Tỉnh ủy, HĐND, UBND tỉnh đã ban hành nhiều cơ chế, chính sách nhằm thúc đẩy sự phát triển mô hình sản xuất tập trung, quy mô lớn có ứng dụng công nghệ trong sản xuất nông nghiệp, cụ thể như sau:
Trang 3828
Chương trình hành động số 05-CTr/TU ngày 21/6/2002 của Tỉnh ủy thực hiện Nghị quyết Trung ương 5 về tiếp tục đổi mới, phát triển và nâng cao hiệu quả kinh tế tập thể;
Báo cáo số 88/BC-TU ngày 16/7/2007 tổng kết 5 năm thực hiện Nghị quyết Trung ương 5 khoá IX của Tỉnh uỷ Quảng Ngãi về tiếp tục đổi mới, phát triển và nâng cao hiệu quả KTTT;
Quyết định số 3022/QĐ-UBND ngày 12/12/2006 về việc quy định một số
cơ chế khuyến khích đối với HTX chuyên canh mía kết hợp chăn nuôi giai đoạn
2006 - 2010;
Quyết định số 1750/QĐ-UBND ngày 23/10/2008 của Chủ tịch UBND tỉnh Quảng ngãi về việc thành lập Ban Chỉ đạo đổi mới và phát triển Hợp tác xã tỉnh Quảng Ngãi;
Quyết định số 58/QĐ-UBND ngày 20/4/2012 của UBND tỉnh Quảng Ngãi
về việc phê duyệt Đề án xây dựng và phát triển HTX dịch vụ và khai thác hải sản xa
bờ giai đoạn 2011 - 2015;
Quyết định số 04/2014/QĐ-UBND ngày 13/01/2014 của UBND tỉnh về việc phê duyệt Đề án củng cố, phát triển và nâng cao hiệu quả hoạt động của các tổ chức Hợp tác xã trên địa bàn tỉnh Quảng Ngãi đến năm 2015, định hướng đến năm 2020;
Quyết định số 31/2014/QĐ-UBND ngày 24/6/2014 về việc ban hành quy định chính sách hỗ trợ khuyến khích phát triển hợp tác xã trên địa bàn tỉnh Quảng Ngãi, giai đoạn 2014 - 2020;
Quyết định số 143/QĐ-UBND ngày 19/5/2015 của UBND tỉnh Quảng Ngãi
về việc phê duyệt Đề án xây dựng và phát triển HTX dịch vụ và khai thác hải sản xa
bờ giai đoạn 2015 - 2020;
Quyết định số 33/2015/QĐ-UBND ngày 27/7/2015 về việc ban hành Quy định một số chính sách hỗ trợ phát triển HTX dịch vụ và khai thác hải sản xa bờ trên địa bàn tỉnh Quảng Ngãi, giai đoạn 2015 - 2020;
Trang 39 Chính sách cán bộ, đào tạo và thu hút nguồn nhân lực: Các đối tượng trong HTX được đào tạo tập trung gồm các chức danh trong HĐQT, Ban Giám đốc, Ban Kiểm soát, Kế toán trưởng; thành viên đang làm công việc chuyên môn kỹ thuật, nghiệp vụ của HTX; cán bộ quản lý, kỹ thuật đang công tác tại các cơ quan Nhà nước trên địa bàn tỉnh khi được tăng cường có thời hạn về làm việc tại HTX, được hưởng nguyên lương, bảo hiểm xã hội và các chế độ khác do đơn vị phân công cán
bộ tăng cường có trách nhiệm chi trả Ngoài ra, cán bộ tăng cường được hưởng phụ cấp đối với hiệu quả kinh doanh, HTX quy định mức chi trả phụ cấp cho cán bộ tăng cường
Chính sách hỗ trợ thành lập mới HTX: Ngân sách hỗ trợ thành lập mới HTX, quan tâm hỗ trợ các HTX được thành lập mới và hoạt động tại các địa bàn huyện miền núi, huyện đảo Lý Sơn, xã miền núi của huyện đồng bằng,
Chính sách hỗ trợ giải thể HTX, hợp nhất hoặc sáp nhập HTX: Ngân sách tỉnh hỗ trợ hợp nhất hoặc sáp nhập HTX nông nghiệp (HTXNN) quy mô xã Các HTXNN bị hợp nhất, bị sáp nhập và sáp nhập được hỗ trợ kinh phí cho quá trình tuyên truyền, kiểm kê, quyết toán, đại hội thành viên, xây dựng các phương án và các khoản chi phí có liên quan đến hoạt động của HTX Đối với HTX giải thể tự nguyện trong thời gian từ ngày 01/7/2013 đến ngày 31/12/2015 mà không có kinh phí để chi cho việc giải thể thì được tỉnh xem xét hỗ trợ kinh phí để giải thể tự nguyện
Chính sách tài chính, tín dụng: Đã thành lập Quỹ hỗ trợ phát triển HTX nhằm mục đích trợ giúp HTX, thành viên HTX có vốn để hoạt động và phát triển
Trang 4030
sản xuất kinh doanh Ngoài ra, Quỹ còn thực hiện các nhiệm vụ được UBND tỉnh giao để hỗ trợ HTX nông nghiệp được vay mua giống, vật tư nông nghiệp khi sản xuất của HTX bị thiệt hại do thiên tai, dịch bệnh
Chính sách hỗ trợ đầu tư: Ngân sách tỉnh hỗ trợ những HTXNN có đầu tư
cơ giới hoá vào nông nghiệp như máy làm đất, máy thu hoạch, hệ thống sấy, bảo quản sản phẩm và các phương tiện, thiết bị phục vụ sản xuất kinh doanh Ngân sách tỉnh hỗ trợ những dự án: Trang bị phương tiện, công cụ lao động của HTX tiếp nhận giải quyết việc làm cho những người lao động ở các khu kinh tế, khu công nghiệp,
đô thị mới do nhường đất sản xuất; những HTX tiếp nhận, giải quyết việc làm cho người khuyết tật
Chính sách hỗ trợ khoa học - công nghệ, khuyến công - nông - thương và chương trình hỗ trợ phát triển HTX: Hằng năm, ngân sách tỉnh dành nguồn kinh phí cần thiết thông qua các hệ thống khuyến nông, khuyến công, vốn sự nghiệp khoa học công nghệ, vốn hỗ trợ KTTT để hỗ trợ trực tiếp cho HTX trong việc: ứng dụng tiến bộ kỹ thuật, công nghệ mới phục vụ phát triển sản xuất (tập trung vào công nghệ sinh học, giống cây trồng, vật nuôi, chế biến, bảo quản nông thuỷ sản sau thu hoạch); ứng dụng công nghệ thông tin; nâng cao chất lượng và xây dựng thương hiệu sản phẩm; học tập thực tế các mô hình quản lý, mô hình làm ăn có hiệu quả; hỗ trợ để HTX có điều kiện tham gia hội chợ, triển lãm, tìm kiếm thị trường
Chính sách đối với Chủ nhiệm HTX (Chủ tịch HĐQT, Giám đốc HTX) làm việc lâu năm trong HTX nông nghiệp: Trong khoảng thời gian từ ngày 01/7/1997 cho đến ngày 01/7/2013, Chủ nhiệm HTX làm việc liên tục tại HTX từ 5 năm trở lên, có quá trình công tác tốt, không vi phạm pháp luật, nghỉ làm việc tại HTX trước ngày 31/12/2015 mà không đủ điều kiện để hưởng chế độ hưu, được ngân sách tỉnh
hỗ trợ một phần kinh phí theo quy định
Đối với các HTX dịch vụ và khai thác hải sản xa bờ: Tỉnh có cơ chế hỗ trợ riêng theo Đề án xây dựng và phát triển HTX dịch vụ và khai thác hải sản xa bờ được UBND tỉnh phê duyệt tại Quyết định số 58/QĐ-UBND ngày 20/4/2012