1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Hệ thống cơ quan của quốc hội trong điều kiện xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa ở việt nam TT

28 6 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 28
Dung lượng 681,98 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Mục đích của luận án : Phân tích, vai trò của Quốc hội trong điều kiện xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, từ đó đưa ra định hướng và đề xuất giải pháp hoàn thiện cho quá trìn

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI

MAI THỊ MAI

H TH NG C QU N C QU C HỘI TRONG ĐIỀU KI N NG NHÀ NƯ C PHÁP QU ỀN HỘI CH NGH VI T NAM

Chuyên ngành: Luật Hiến pháp và Luật Hành chính

Mã số đề tài: 9380102

TÓM TẮT LUẬN ÁN TIẾN S LUẬT HỌC

HÀ NỘI – 2021

Trang 2

Công trình được hoàn thành tại:

TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI

Người hướng dẫn khoa học: 1 PGS.TS Tô Văn Hoà

Trang 3

DANH MỤC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC ĐÃ CÔNG BỐ

LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI

1 Những vấn đề đặt ra đối với hoạt động của Uỷ ban thường vụ Quốc hội trong một Quốc hội hoạt động chuyên nghiệp – Tạp chí Luật học, số 10/2018

2 Một số vấn đề về thẩm quyền giải thích hiến pháp, luật và pháp lệnh của Uỷ ban thường vụ Quốc hội – Tạp chí Công thương, số tháng 3/2019

3 Luật Tiếp cận thông tin – Góc nhìn so sánh với Luật Tự do Thông tin của Hoà kỳ - Tạp chí Dân chủ và pháp luật, số 2/2018

4 Lý luận về án lệ trong hệ thống pháp luật các nước Common Law, Civi law và những vấn đề đặt ra cho Việt Nam, Tạp chí Nghiên cứu lập pháp, số tháng 5/2017

5 Phương pháp xác định kết quả bầu cử theo đa số - Nhận thức lại qua cuộc bầu cử Hạ nghị viện Vương Quốc Anh, Tạp chí Luật học, số tháng 12/2016

6 Tính tự quản của địa phương – sự ảnh hưởng đến mô hình tổ chức chính quyền địa phương của Hoa kỳ và Trung Quốc, Tạp chí Luật học, số tháng 7/2016

7 Góc nhìn khác về quy trình hiệp thương giới thiệu ứng cư viên Đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân - Tạp chí nghiên cứu lập pháp số tháng 5/2016

8 Nguyên tắc chủ quyền nhân dân trong Hiến pháp năm 2013, Tạp chí Luật học, số tháng 5/2015

9 Dự thảo Luật Tổ chức Quốc hội (sửa đổi) với các quy định về

uỷ ban lâm thời, đồng tác giả với TS Tô Văn Hoà – Tạp chí Nghiên cứu lập pháp, số tháng 6/2014

10 Vị trí, vai trò của Uỷ ban lâm thời hạ nghị viện một số quốc gia phát triển, đồng tác giả với TS Tô Văn Hoà – Tạp chí

Luật học số tháng 1/2014

Trang 4

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu

Ngày 28 tháng 11 năm 2013, Quốc hội đã thông qua Hiến pháp nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam – Hiến pháp của thời kỳ xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa với nhiều nội dung tiến bộ, trong đó đặc biệt ghi nhận nguyên tắc: “Quyền lực nhà nước là thống nhất có sự phân công, phối hợp và kiểm soát giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp” Nguyên tắc này nhấn mạnh việc tổ chức và thực hiện quyền lực nhà nước giữa các cơ quan nhà nước ở cấp trung ương, trong đó quyền lập pháp giao cho Quốc hội, quyền hành pháp giao cho Chính phủ, và quyền tư pháp được giao cho Tòa án Với sự minh bạch và phân công cụ thể về chức năng và nhiệm vụ quyền hạn cho từng cơ quan như vậy, đồng nghĩa với việc vị trí của Quốc hội – cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất được tăng cường và khẳng định Hiến pháp 2013, khẳng định một cách mạnh

mẽ một lần nữa chức năng lập pháp – chức năng quyết định lựa chọn điều chỉnh một quan hệ xã hội và điều chỉnh quan hệ xã hội đó như thế nào? Giao cho Quốc hội - cơ quan đại diện cao nhất của người dân nước Cộng hoà XHCN Việt Nam Hơn thế nữa, Hiến pháp 2013 đã bổ sung thêm hoạt động “kiểm soát” quyền lực nhà nước trên cơ sở thể chế hóa đường lối của Đảng, điều này được hiểu rằng chức năng giám sát tối cao của Quốc hội tiếp tục được tăng cường hơn nữa nhằm đảm bảo mục đích

“kiểm soát” quyền lực nhà nước, đảm bảo vị trí là cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất của Quốc hội

Với vị trí đó, các cơ quan của Quốc hội cần được tổ chức như thế nào để có thể phát huy được hiệu quả hoạt động của Quốc hội nhất là trong bối cảnh xây dựng nhà nước pháp quyền XHCN Trước tình hình

đó, việc đi sâu vào phân tích, luận giải và đưa ra được hệ thống các tiêu chí về mặt lý luận cho cách thức tổ chức và hoạt động của Quốc hội hay nói cách khác là một mô hình tổ chức cho các cơ quan của Quốc hội là một đòi hỏi bức thiết

Với những lý do trên nghiên cứu sinh (NCS) lựa chọn nghiên cứu

về “Hệ thống cơ quan của Quốc hội trong điều kiện xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam” làm đề tài cho luận án

2 Mục đích nghiên cứu của đề tài

Trang 5

Mục đích của luận án : Phân tích, vai trò của Quốc hội trong điều

kiện xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, từ đó đưa ra định hướng và đề xuất giải pháp hoàn thiện cho quá trình đổi mới về mặt tổ chức và hoạt động của hệ thống các cơ quan của Quốc hội với một tầm nhìn dài hạn và mang tính lý luận để phục vụ việc xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam một cách hiệu quả

Nhiệm vụ của luận án: Phân tích những vấn đề lý luận về hệ thống

các cơ quan của Quốc hội Việt Nam cũng như tìm hiểu vê tổ chức và hoạt động của một số nước trên thế giới để có thể rút ra được một số bài học kinh nghiệm cho Việt Nam; Thực trạng hoạt động của các cơ quan của Quốc hội theo quy định của pháp luật hiện hành; Đề xuất quan điểm

và giải pháp đề hoàn thiện hệ thống các cơ quan của Quốc hội Việt Nam trong điều kiện Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam

3 Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu của đề tài

Đối tượng nghiên cứu của luận án là góc nhìn lý luận về vị trí, vai

trò của các cơ quan của Quốc hội (gồm: Ủy ban thường vụ Quốc hội, Hội đồng dân tộc và các ủy ban của Quốc hội đối với việc xây dựng một Quốc hội chuyên nghiệp trong điều kiện Việt Nam xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN

Phạm vi nghiên cứu của luận án là:

Về mặt không gian: Luận án tập trung nghiên cứu về những vấn đề

lý luận của các Cơ quan của Quốc hội trong điều kiện Việt Nam xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN Cùng với đó, luận án cũng đi nghiên cứu về tổ chức và hoạt động của cơ quan lập pháp ở một số quốc gia điển hình được lựa chọn trên thế giới dựa trên hệ thống pháp luật và các hình thức chính thể cơ bản gồm: Trung Quốc, CHLB Đức, Cộng hoà Pháp và Hoa kỳ

Về mặt thời gian: Luận án nghiên cứu sự hình thành và phát triển

cũng như vị trí, vai trò của các cơ quan của Quốc hội Việt Nam bám theo các bản Hiến pháp Việt Nam

4 Đóng góp khoa học của Luận án

Luận án góp phần bổ sung, làm rõ và phát triển một bước lý luận về

vị trí, vai trò của Quốc hội trong bối cảnh xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam Cùng với đó, làm rõ yêu cầu về một cơ quan lập pháp trong nhà nước pháp quyền XHCN thì cần hướng đến xây dựng một

Trang 6

cơ quan lập pháp chuyên nghiệp, hoạt động hiệu quả Từ bối cảnh đó, Luận án tập trung nhận diện về khía cạnh lý luận các cơ quan chuyên môn của Quốc hội cần được thay đổi lại về vị trí, vai trò cũng như nhiệm

vụ, quyền hạn để Quốc hội có thể đảm trách được vị trí của một cơ quan lập pháp trong nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam

5 Ý nghĩa thực tiễn của Luận án

Các nội dung được đưa ra phân tích và trình bày trong luận án là những tư tiệu được nghiên cứu và tìm hiểu công phu, có hệ thống dưới góc độ lý luận và góc độ lịch sử để lý giải về các nhiệm vụ, quyền hạn của hệ thống các cơ quan của Quốc hội Bên cạnh đó, các đề xuất, kiến nghị đã theo hướng trực tiếp giải quyết những hạn chế, những bất cập và các vấn đề vướng mắc hiện nay trong quá trình tổ chức và hoạt động của các cơ quan của Quốc hội trên thực tiễn Do đó, kết quả nghiên cứu của Luận án không chỉ có ý nghĩa về mặt lý luận mà có thể trực tiếp xem xét

để tham khảo và đề xuất trong việc sửa đổi, bổ sung các văn bản quy

phạm pháp luật hiện hành liên quan đến Quốc hội

6 Kết cấu của Luận án

Luận án được kết cấu thành 4 chương, cụ thể:

Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu

Chương 2: Lý luận về hệ thống cơ quan của Quốc hội trong điều kiện xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam

Chương 3: Thực trạng và thực tiễn thi hành quy định của pháp luật Việt Nam về hệ thống các cơ quan của Quốc hội Việt Nam

Chương 4: Quan điểm và giải pháp hoàn thiện hệ thống cơ quan của Quốc hội Việt Nam trong điều kiện xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam

Trang 7

CHƯƠNG 1

TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU

1.1 Tình hình nghiên cứu trong nước

1.1.1 Nhóm các nghiên cứu về Quốc hội và Nhà nước pháp quyền

Quốc hội – thiết chế đại diện cho dân chủ đã là đối tượng nghiên cứu hàng trăm năm nay của các học giả, các triết gia, các nhà chính trị học cũng như các luật gia Các nhà tư tưởng vĩ đại của cách mạng tư sản, cách mạng XHCN với các khía cạnh quan tâm khác nhau đều đi tìm hiểu,

lý giải về nguồn gốc, bản chất, quy luật vận động của Nhà nước, trong đó

có Quốc hội Vì vậy, các nghiên cứu về Quốc hội và thiết chế đại diện có khối lượng công trình đồ sộ Trong đó, có thể kể đến các tác phẩm kinh điển đề cập một cách sâu sắc, lý giải một cách thấu đáo về sự tồn tại, tính chất, chức năng cũng như các phương thức hoạt động của Quốc hội, là tiền đề để đánh giá tính hiệu quả của các mô hình tổ chức của Quốc hội

trong các chính thể khác nhau Đó là cuốn sách Chính thể đại diện

(Representative government, 1861) của John Stuart Mill, do hai dịch giả

nổi tiếng là Nguyễn Văn Trọng và Bùi Văn Nam Sơn dịch và chú thích,

được xuất bản bởi nhà xuất bản (Nxb) Tri thức, 2012; Cuốn Khảo luận

thứ hai về chính quyền, của John Locke,(2007) do Lê Huy Tuấn dịch,

chú thích và giới thiệu, do Nxb Tri thức xuất bản; cuốn Bàn về khế ước

xã hội của Jean – Jacques Rousseau, do Nxb Lý luận chính trị (2004);

cuốn Tinh thần pháp luật của Montesquieu(1996) Nxb giáo dục… ở Việt

Nam cũng có một số tác phẩm chịu ảnh hưởng sâu sắc của tư tưởng chính trị pháp lý của các học giả tư sản thời kỳ khai sáng và của các nhà

lập hiến của Hoa kỳ như: Luật Hiến pháp và chính trị học (1967) của Nguyễn Văn Bông do Nxb Sài Gòn xuất bản; Cuốn Luật hiến pháp và

các định chế chính trị và Luật hiến pháp – Khuôn mẫu dân chủ của Lê

Đình Chân, do tủ sách Đại học Sài Gòn phát hành năm 1975 Những cuốn sách trên đề cao chủ nghĩa hiến pháp, bàn đến sự hạn chế quyền lực

và phân chia quyền lực trong việc vận hành quyền lực nhà nước

Một số tác phẩm được viết trong thời kỳ hiện đại, nghiên cứu về nhà nước pháp quyền và Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam bao

gồm: Cuốn Tổ chức và hoạt động của Nghị viện một số nước trên thế

giới, văn phòng Quốc hội, Nguyễn Sĩ Dũng (2014) do Văn phòng Quốc

hội xuất bản Nhà nước pháp quyền, tác phẩm là một tập hợp những bài

Trang 8

viết học thuật của nhiều tác giả, được biên tập bởi Josef Thesing, sách tham khảo được dịch và xuất bản bởi Nhà xuất bản chính trị quốc gia,

2002; Tư tưởng Hồ Chí Minh về nhà nước pháp quyền”(2007) của nhóm

tác giả: Nguyễn Đăng Dung, Bùi Ngọc Sơn, Nguyễn Mạnh Tường, Nxb

Đại học Quốc gia Hà Nội; “Đổi mới sự lãnh đạo của Đảng trong điều

kiện xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam”,

(2017) của tác giả Vũ Trọng Lâm, Nxb Chính trị Quốc gia Sự thật; Xây

dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong Văn kiện Đại hội XII của Đảng”,(2016) chủ biên: Nguyễn Bá

Dương, Nguyễn Văn Dũng, Nxb Chính trị Quốc gia - Sự thật; Xây dựng

Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam”, (2005), sách chuyên

khảo, Nhà xuất bản chính trị quốc gia Hà Nội

1.1 Nhóm các nghiên cứu về Quốc hội Việt Nam và các cơ quan của Quốc hội trong điều kiện Nhà nước pháp quyền XHCN

Quốc hội Việt Nam trong Nhà nước pháp quyền”, PGS.TS Nguyễn

Đăng Dung (chủ biên), Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội; “Mô hình tổ chức

và phương thức hoạt động của Quốc hội và chính phủ trong Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam”,GS.TS Trần Ngọc Đường và TS

Ngô Đức Mạnh (chủ biên), Nhà xuất bản chính trị quốc gia, 2008; Đổi

mới, hoàn thiện bộ máy nhà nước trong giai đoạn hiện nay, PGS.TS Bùi

Xuân Đức, NXB Tư pháp, Hà Nội, 2007; Quốc hội và các thiết chế trong

Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa”; “Quốc hội Việt Nam - Tổ chức, hoạt động và đổi mới” (2010) PGS.TS Phan Trung Lý; Hoạt động của Quốc hội trong điều kiện Việt Nam là thành viên của WTO”(2009) TS

Đỗ Ngọc Hải; Một số vấn đề về Đổi mới tổ chức, hoạt động của Quốc

hội, (2007) TS Lê Thanh Vân; Một số vấn đề về hoàn thiện tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước Nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam,(2001) TS Lê Minh Thông; Quốc hội Việt Nam – Những vấn đề lý luận và thực tiễn” (Nxb Tư pháp, 2005) là cuốn sách được xuất bản bởi

Văn phòng Quốc hội, nhân dịp nhìn lại chặng đường 60 năm của Quốc hội Việt Nam

Bên cạnh các sách chuyên khano nêu trên, cũng có rất nhiều các công trình nghiên cứu về Quốc hội với các mức độ khác nhau, cụ thể:

Luận án tiến sĩ luật học bao gồm: “Cơ sở lý luận của việc đổi mới cơ cấu

tổ chức và phương thức hoạt động của Quốc hội ở Việt Nam hiện nay”

(2003), NCS Lê Thanh Vân; “Hoàn thiện quy trình lập pháp ở Việt Nam

Trang 9

hiện nay” (2004) của NCS Hoàng Văn Tú; “Quyền giám sát của Quốc hội đối với Tòa án nhân dân và Viện kiểm sát nhân dân” (2004) NCS

Phạm Văn Hùng; “Nâng cao chất lượng hoạt động lập pháp của Quốc

hội nước CHXHCN Việt Nam trong giai đoạn hiện nay”, (2007) NCS

Trần Hồng Nguyên; “Hoàn thiện cơ chế pháp lý đảm bảo chức năng

giám sát của Quốc hội nước CHXHCN Việt Nam” (2007) NCS Trương

Thị Hồng Hà; “Cơ sở lý luận và thực tiễn trong việc nâng cao hiệu lực và

hiệu quả hoạt động giám sát của Quốc hội Việt Nam” (2009) NCS Trần

Thị Tuyết Mai; “Quốc hội Mỹ và Quốc hội Việt Nam – Những vấn đề

tham chiếu” (2013), NCS Nguyễn Quốc Văn; “Hoạt động của Hội đồng dân tộc, các Ủy ban của Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam” (2016), NCS Trần Văn Thuân Cùng rất nhiều các luận văn thạc sĩ

luật học có thể kể đến như:: “Các ủy ban của Quốc hội theo quy định của

pháp luật Việt Nam và Cộng hòa Pháp” của thạc sĩ Nguyễn Thị Phương

Thảo,(2004), người hướng dẫn khoa học, TS Phan Trung Lý và

GS.Serge SUR; “Hoàn thiện tổ chức và nâng cao hiệu quả hoạt động của

Hội đồng dân tộc và các Ủy ban thường trực của Quốc hội Việt Nam trong giai đoạn hiện nay.” Của Thạc sĩ Đoàn Thu Huyền, (2010), người

hướng dẫn, TS Tô Văn Hòa; “Hoạt động của Hội đồng Dân tộc và các

Ủy ban của Quốc hội - Thực trạng và hướng hoàn thiện” Đỗ Thị Như

Hảo, người hướng dẫn GS.TS Nguyễn Đăng Dung Cùng với đó là rất nhiều đề tài nghiên cứu khoa học ở các mức độ khác nhau: Đề tài cấp

Nhà nước: “Xây dựng mô hình tổ chức, phương thức hoạt động của Quốc

hội và Chính phủ trong Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của dân,

do dân và vì dân ở nước ta” (2004), GS.TS Trần Ngọc Đường làm chủ

nhiệm; Đề tài cấp Bộ “Cơ sở lý luận và thực tiễn xây dựng và hoàn thiện

quy định của pháp luật về hoạt động báo cáo, giải trình tại HĐDT, các

Ủy ban của Quốc hội ở nước ta hiện nay” (2014), do PGS.TS Đinh

Xuân Thảo làm chủ nhiệm; Báo cáo nghiên cứu “Đổi mới tổ chức và

hoạt động của Văn phòng Quốc hội” Cơ quan tài trợ: Dự án “Tăng

cường năng lực cho các cơ quan đại diện ở Việt Nam” (UNDP, 00049114) của Văn phòng Quốc hội

1.2 Tình hình nghiên cứu ngoài nước

(1), “Quốc hội và các thành viên” (Congress and its member),

(2002), các tác giả: Roger H Davidson, Walter J Oleszek, người dịch:

Trần Xuân Danh, Trần Hương Gian, Minh Long; Quốc hội Mĩ hoạt động

Trang 10

như thế nào” (How congress works) (2003), sách dịch, Trung tâm khoa

học xã hội và nhân văn Quốc gia; Cuốn “The National Assembly in the

French institutions”( Những cơ quan của Hạ nghị viện Pháp) (2007) do

Service des affaires internationals et de defense xuất bản; Cuốn

“Reforming parliamentary committees” (Cải cách các ủy ban của nghị

viện) của Reuven Hazan xuất bản năm 2001; Cuốn sách chuyên khảo

“The Committees of the House of Representatives in Comparative

Perspective” của Phil Larkin, Parliamentary Studies Centre, Australian

National University; Cuốn “The new role of parliamantery committees”

(Những vai trò mới của các ủy ban của nghị viện) của Lawrence Longley

và Roger Davidson xuất bản năm 1998; Cuốn “Select committees and

their role in keeping parliament relevant” (Các ủy ban chuyên trách và

vai trò của nó trong việc duy trì hoạt động hiệu quả của nghị viện) của

Marcus Ganley xuất bản năm 2001; Báo cáo Parliament and democracy

in the 21 st Century (Nghị viện và dân chủ trong Thế kỷ 21) do Ngân hàng

thế giới tài trợ, Orientation handbook for members of parliaments (Sổ tay dành cho các nghị sĩ), Tools for parliamentary oversight (Các công cụ

giám sát của nghị viện) do Tổ chức nghị viện dân chủ thế giới Bên cạnh

đó cũng có một số ít các bài nghiên cứu trên tạp chí của các học giả về chủ đề UBLT của nghị viện Tuy nhiên số lượng các bài nghiên cứu này

rất ít, có thể kể đến công trình “Report of the national committee of

inquiry into compensation and rehabilitation in Australia” (Báo cáo của

ủy ban điều tra về tiền công và tiền lương ở Úc) của J.F Keeler đăng trên

tạp chí luật Adelaide, “The report of the Committee of Inquiry on

Industrial Democracy – “the Bullock Committee” (Báo cáo của ủy ban

điều tra về dân chủ công nghiệp - Ủy ban Bullock) của Brian Youngman đăng trên Tạp chí Luật kinh doanh quốc tế.v.v

1.3.1 Những kết quả đạt được

Các công trình nêu trên đều đã đi sâu vào phân tích quan điểm, nguyên tắc của việc cải cách bộ máy nhà nước; làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn của những đổi mới căn bản của bộ máy nhà nước qua Hiến pháp mới; đồng thời luận giải những phương hướng, giải pháp tiếp tục đổi mới, hoàn thiện bộ máy nhà nước theo hướng xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, bảo đảm việc tăng cường hiệu lực, hiệu quả, đáp ứng yêu cầu quản lý đất nước trong giai đoạn mới Trên cơ sở luận giải những nguyên tắc và giải pháp để hoàn thiện bộ máy

Trang 11

nhà nước nói chung thì các cuốn sách trên đề cập đến vấn đề xác định vị trí, vai trò của Quốc hội trong sự nghiệp đổi mới, phát huy dân chủ, xây dựng nhà nước pháp quyền Giới thiệu về cơ cấu tổ chức của Quốc hội/ Nghị viện, trong đó đề cập đến chức năng, nhiệm vụ quyền hạn của Ủy ban thường vụ Quốc hội, về Hội đồng dân tộc và hệ thống Ủy ban của Quốc hội Cùng với đó, các công trình nghiên cứu khoa học nói trên đã phân tích và làm rõ những vấn đề lý luận chung, về xây dựng Quốc hội,

và xây dựng nhà nước pháp quyền XHCN với việc phát huy vai trò của nhân dân Phân tích những đòi hỏi của Quốc hội Việt Nam trong bối cảnh xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN của dân, do dân và vì dân

1.3.2 Một số vấn đề cần tiếp tục nghiên cứu

Mặc dù đã có rất nhiều các công trình khoa học nghiên cứu về Quốc hội nói chung và các khía cạnh của Quốc hội nói riêng, trong đó có khía cạnh về tổ chức và hoạt động của Quốc hội cũng như về các cơ quan của Quốc hội, nhưng các nghiên cứu trên mới chỉ dừng lại ở việc đi sâu vào nghiên cứu về Ủy ban thường Vụ Quốc hội, các ủy ban thường trực và Hội đồng dân tộc của Quốc hội Việt Nam mà ít có nghiên cứu nào tương xứng

đề cập đến hệ thống ủy ban lâm thời Quan trọng hơn cả là chưa có công trình nào nghiên cứu về các cơ quan của Quốc hội dưới góc độ tổng thể, có mối liên hệ mật thiết với nhau, tác động qua lại lẫn nhau trong quá trình tổ chức, hoạt động và tác động đến hiệu quả hoạt động chung của Quốc hội Việt Nam

Trang 12

CHƯƠNG 2

LÝ LUẬN VỀ HỆ THỐNG CƠ QUAN CỦA QUỐC HỘI TRONG ĐIỀU KIỆN XÂY DỰNG NHÀ NƯỚC PHÁP QUYỀN

XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

2.1 Quốc hội trong điều kiện xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam

2.1.1 Vị trí của Quốc hội trong điều kiện xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam

Quốc hội đã trở thành yếu tố cơ bản trong việc đảm bảo các đặc điểm của Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam, yếu tố quy định về mối quan

hệ giữa quyền lực nhà nước với pháp luật, là yếu tố bảo đảm biến ý chí của nhân dân thành ý chí của nhà nước Tóm lại, sự hiện diện của Quốc hội, vị trí vai trò của Quốc hội được ghi nhận trong Hiến pháp là một bảo đảm quan trọng cho các yêu cầu của NNPQ về chủ quyền nhân dân và tính hợp pháp của chính quyền Không cơ quan nào khác mà chỉ có Quốc hội mới là thiết chế xứng đáng nhất đóng vị trí trung tâm trong việc đảm bảo thuộc tính đại diện cho tiếng nói của nhân dân, thay mặt nhân dân thực hiện quyền lực nhà nước trong Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam

Sự hiện diện của Quốc hội, vị trí vai trò của Quốc hội được ghi nhận trong Hiến pháp là một bảo đảm quan trọng cho các yêu cầu của NNPQ về chủ quyền nhân dân và tính hợp pháp của chính quyền Không cơ quan nào khác mà chỉ có Quốc hội mới là thiết chế xứng đáng nhất đóng vị trí trung tâm trong việc đảm bảo thuộc tính đại diện cho tiếng nói của nhân dân, thay mặt nhân dân thực hiện quyền lực nhà nước trong Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam

2.1.2 Chức năng của Quốc hội trong điều kiện xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam

2.1.2.1 Chức năng lập pháp của Quốc hội

Xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa thì cần nhấn mạnh,

đề cao và đòi hỏi Quốc hội phải tăng cường và đẩy mạnh hoạt động lập hiến, lập pháp – chức năng được nhắc đến đầu tiên của Quốc hội Để đẩy mạnh được hoạt động này, Quốc hội phải đổi mới quy trình hoạt động, phải cải cách để nâng cao hiệu quả hoạt động của các cơ quan của Quốc hội để biến

ý chí của nhân dân thành các quy tắc xử sự có tính chất bắt buộc chung trên

Trang 13

quy mô toàn xã hội dưới dạng là các đạo luật có chất lượng tốt, xứng đáng là luật của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của Nhân dân, do Nhân dân

vụ nhân dân Mặc dù vậy, năng lực quyết định của Quốc hội phụ thuộc vào các yếu tố như: thời gian hoạt động của Quốc hội, thời gian thực hiện nhiệm

vụ đại biểu của các ĐBQH, tính chuyên nghiệp của các ĐBQH, khả năng tổ chức và hoạt động của các cơ quan chuyên môn của Quốc hội…

2.1.2.3 Chức năng giám sát tối cao đối với hoạt động của nhà nước

Quốc hội thực hiện giám sát tối cao đối với hoạt động của Nhà nước trong điều kiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam có vai trò

to lớn trong việc góp phần phòng chống lạm quyền, lộng quyền từ phía các

cơ quan nhà nước có thẩm quyền Đảm bảo quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân và phục vụ nhân dân

2.1.3 Vai trò của Quốc hội trong điều kiện xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam

Một là, Quốc hội cũng là chủ thể thay mặt nhân dân giám sát tối cao

đối với hoạt động của Nhà nước, nhất là hoạt động thực hiện quyền hành pháp

Hai là, Quốc hội đảm bảo xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN tổ

chức và hoạt động trên cơ sở của Hiến pháp và pháp luật

Ba là, Quốc hội trong NNPQ hướng đến việc bảo vệ quyền con người

bằng cách đặt ra các quy định pháp luật ràng buộc, ngăn chặn những nguy

cơ xâm hại quyền con người, quyền công dân của người dân từ các chủ thể khác trong xã hội

Bốn là, Trong nền dân chủ hiện đại, chính thể của nhiều quốc gia trao

cho Quốc hội – đại diện chính đáng của toàn thể nhân dân có thẩm quyền soạn thảo và thông qua Hiến pháp, để làm khuôn mẫu cho việc tổ chức và

Trang 14

hoạt động của chính quyền

Năm là, Quốc hội là cơ quan đóng vai trò vô cùng quan trọng trong

quá trình phân công và kiểm soát QLNN của BMNN nước Cộng hoà XHCN Việt Nam

2.1.4 Quốc hội trong điều kiện xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam – Một Quốc hội chuyên nghiệp

Quốc hội chuyên nghiệp hay tính chuyện nghiệp của Quốc hội là những thuật ngữ đã được đưa ra bàn luận trong vài năm gần đây, nhất là trong xu hướng xây dựng Quốc hộ để đáp của Nhà nước pháp quyền XHCN ứng kịp thời với các đòi hỏi và yêu cầu khách quan tuy nhiên, vẫn chưa có một nghiên cứu nào dày dặn để đưa ra một khái niệm đầy đủ về Quốc hội chuyên nghiệp Mặc dù vậy, tựu trung lại các nghiên cứu về Quốc hội chuyên nghiệp thì đều đưa ra hai đặc điểm cơ bản của một Quốc hội chuyên nghiệp, cụ thể:

Thứ nhất, Một Quốc hội chuyên nghiệp là một Quốc hội có các đại

biểu chuyên nghiệp

Hiện nay, dưới khía cạnh pháp lý, ở Việt Nam mới chỉ có các ĐBQH chuyên trách mà chưa có các ĐBQH chuyên nghiệp Do những điều kiện lịch sử trong quá khứ, trước đây lý thuyết đại biểu kiêm nhiệm tỏ ra thích hợp với thực tiễn, nhưng cũng do những đòi hỏi của thực tiễn cuộc sống và hoạt động của Quốc hội, kiêm nhiệm hôm nay lại khó có thể đáp ứng được hết những yêu cầu khó khăn của công tác lập pháp, giám sát và quyết định những vấn đề quan trọng của đất nước trong điều kiện hiện nay Bởi vậy, yêu cầu chuyên nghiệp hoá đại biểu trở nên cấp thiết Trên con đường nâng cao hiệu quả hoạt động của Quốc hội, chuyên nghiệp hoá hoạt động lập pháp, những nhiệm kỳ gần đây Quốc hội luôn tăng số lượng ĐBQH chuyên trách ĐBQH chuyên nghiệp cần đầy đủ phẩm chất và kỹ năng của một nhà lập pháp, cùng với hỗ trợ của một bộ máy giúp việc lành nghề Các tác giả của cuốn “Quốc hội Mỹ ngày nay” cũng nhấn mạnh đến thực tế là “vấn đề càng phức tạp, càng nhiều đại biểu cần đến sự trợ giúp của bộ máy giúp việc, của chuyên gia” Có thể thấy, “chuyên trách” làm đại biểu mới là một trong những nội hàm của tính chuyên nghiệp Để chuẩn bị bước sang chuyên nghiệp, Quốc hội nói chung và ĐBQH nói riêng cần được có những điều kiện hỗ trợ đầy đủ để ĐBQH của chúng ta dần trở thành chuyên nghiệp

Thứ hai, tính chuyên nghiệp của Quốc hội thể hiện trong từng hoạt

động của Quốc hội, nói cách khác, cần xây dựng quy trình, thủ tục bảo đảm cho Quốc hội hoạt động chuyên nghiệp

Ngày đăng: 01/04/2021, 16:10

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w