ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI KHOA QUẢN TRỊ VÀ KINH DOANH *** *** *** NGUYỄN ĐẠO THỦY ĐẢM BẢO AN NINH CON NGƯỜI, PHỤC VỤ PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG KHU TÁI ĐỊNH CƯ THỦY ĐIỆN BẢN CHÁT LUẬN VĂN THẠC
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI KHOA QUẢN TRỊ VÀ KINH DOANH
*** *** ***
NGUYỄN ĐẠO THỦY
ĐẢM BẢO AN NINH CON NGƯỜI, PHỤC VỤ PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG KHU TÁI ĐỊNH CƯ THỦY ĐIỆN BẢN CHÁT
LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN TRỊ AN NINH PHI TRUYỀN THỐNG (MNS)
Hà Nội - 2021
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI KHOA QUẢN TRỊ VÀ KINH DOANH
*** *** ***
NGUYỄN ĐẠO THỦY
ĐẢM BẢO AN NINH CON NGƯỜI, PHỤC VỤ PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG KHU TÁI ĐỊNH CƯ THỦY ĐIỆN BẢN CHÁT
Chuyên ngành: Quản trị An ninh phi truyền thống
Mã số: 8900201.05QTD
LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN TRỊ AN NINH PHI TRUYỀN THỐNG (MNS)
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS.TS ĐỖ CẢNH THÌN
Hà Nội - 2021
Trang 3CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan, luận văn là công trình nghiên cứu khoa học của riêng cá nhân tôi, số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn là trung thực, khách quan và chưa được sử dụng trong bất kỳ công trình khoa học nào đã được công bố trước đây
Các thông tin được trích dẫn trong luận văn đã được chú thích và chỉ rõ nguồn trích cụ thể Tôi hoàn toàn chịu trách nhiệm trước Hội đồng bảo vệ luận văn, Khoa Quản trị và Kinh doanh và trước pháp luật về những cam kết nói trên
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Thực hiện luận văn, tôi đã nhận được sự hướng dẫn, giúp đỡ nhiệt tình, các thầy cô giáo, các nhà khoa học và những ý kiến đóng góp của các cá nhân và tập thể cũng như nỗ lực của bản thân tôi để hoàn thành luận văn này
Nhân dịp này, tác giả luận văn xin chân thành cảm ơn thầy giáo hướng dẫn - PGS,TS Đỗ Cảnh Thìn và các thầy, cô giáo Khoa Quản trị và Kinh doanh, Đại học Quốc gia Hà Nội đã giúp đỡ tôi trong thời gian học tập và thực hiện luận văn
Tôi xin chân thành cảm ơn các đơn vị: Sở Kế hoạch và Đầu tư, tỉnh Lai Châu, Ban quản lý dự án tái định cư Thủy điện Bản Chát, tỉnh Lai Châu, chính quyền một
số địa phương vùng tái định cư Thủy điện Bản Chát và một số hộ dân thuộc diện điều tra, khảo sát đã tạo điều kiện và giúp đỡ tôi trong thời gian nghiên cứu thực hiện luận văn tại địa phương
Tôi xin cảm ơn tới gia đình, những người thân, cán bộ, đồng nghiệp và bạn bè
đã tạo điều kiện về mọi mặt cho tôi trong quá trình thực hiện đề tài này
Một lần nữa tôi xin trân trọng cảm ơn!
Trang 5MỤC LỤC
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT i
DANH MỤC BẢNG BIỂU ii
PHẦN MỞ ĐẦU 1
Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ ĐẢM BẢO AN NINH CON NGƯỜI, PHỤC VỤ PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG 8
1.1 Nhận thức chung về an ninh con người 8
1.1.1 Khái niệm về an ninh con người 8
1.1.2 Các thành tố cấu thành an ninh con người 11
1.1.3 Tầm quan trọng của an ninh con người 14
1.2 Nhận thức chung về phát triển bền vững 15
1.2.1 Khái niệm về phát triển bền vững 15
1.2.2 Mục tiêu của phát triển bền vững 16
1.3 Nhận thức về đảm bảo an ninh con người, phục vụ phát triển bên vững 18
Chương 2: THỰC TRẠNG ĐẢM BẢO AN NINH CON NGƯỜI,PHỤC VỤ PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG TẠI KHU TÁI ĐỊNH CƯTHỦY ĐIỆN BẢN CHÁT 21
2.1 Khái quát về Khu tái định cư Thủy điện Bản Chát 21
2.1.1 Điều kiện tự nhiên 21
2.1.2 Điều kiện kinh tế - xã hội 21
2.1.3 Những thuận lợi khó khăn về điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội 24
2.2 Thực trạng công tác bảo đảm an ninh con người tại khu tái định cư Thủy điện Bản Chát 25
2.2.1 Thực trạng bảo đảm về an ninh kinh tế 25
2.2.2 Thực trạng bảo đảm an ninh về sức khỏe 34
2.2.3 Thực trạng bảo đảm về an ninh lương thực 41
2.2.4 Thực trạng về bảo đảm an ninh môi trường 46
2.3 Nhận xét, đánh giá chung 51
2.3.1 Ưu điểm 51
2.3.2 Hạn chế, thiếu sót 53
Trang 62.3.3 Nguyên nhân 55
Chương 3: GIẢI PHÁP ĐẢM BẢO AN NINH CON NGƯỜI PHỤC VỤ PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG TẠI KHU TÁI ĐỊNH CƯTHỦY ĐIỆN BẢN CHÁT 58
3.1 Cơ sở dự báo 58
3.2 Quan điểm, định hướng về đảm bảo an ninh con người phục vụ phát triển bền vững tại khu tái định cư Thủy điện Bản Chát 63
3.2.1 Quan điểm của Đảng và Nhà nước 63
3.2.2 Quan điểm về các giải pháp nhằm đảm bảo an ninh con người phục vụ phát triển bền vững tại khu tái định cư Thủy điện Bản Chát 63
3.2.3 Định hướng về đảm bảo an ninh con người phục vụ phát triển bền vững tại khu tái định cư Thủy điện Bản Chát 65
3.3 Giải pháp nhằm đảm bảo an ninh con người phục vụ phát triển bền vững tại Khu tái định cư Thủy điện Bản Chát 65
3.3.1 Giải pháp về tăng cường các nguồn lực 65
3.3.2 Giải pháp phát triển kinh tế 70
3.3.3 Giải pháp về cơ chế chính sách 71
3.4 Kiến nghị 72
3.4.1 Đối với Nhà nước 72
3.4.2 Đối với chính quyền địa phương 73
3.4.3 Đối với doanh nghiệp 74
KẾT LUẬN 75
TÀI LIỆU THAM KHẢO 77
Trang 7i
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
TỪ VIẾT TẮT DIỄN GIẢI
CNH, HĐH Công nghiệp hoá, Hiện đại hoá
GTSX Giá trị sản xuất
HCSN Hành chính sự nghiệp
SXNN Sản xuất nông nghiệp
TTCN Tiểu thủ công nghiệp
UBND Ủy ban nhân dân
KT-XH Kinh tế - Xã hội
XHCN Xã hội chủ nghĩa
BQLDA Các Ban quản lý Dự án di dân tái định cư Thủy điện Bản
ChátDATĐC Dự án di dân tái định cư Thủy điện Bản Chát
PTBV Phát triển bền vững
ANCN An ninh con người
CSHT Cơ sở hạ tầng
Trang 8ii
DANH MỤC BẢNG BIỂU
Bảng 2.1: Tình hình sản xuất vùng tái định cư Thủy điện Bản Chát 23
Bảng 2.2: Các mô hình kinh tế của hộ nông dân năm 2019 28
Bảng 2.3: Phân loại việc làm 30
Bảng 2.4: Thu nhập từ hoạt động sản xuất nông nghiệp bình quân hộ 2019 31
Bảng 2.5: Thu nhập từ hoạt động thương mại dịch vụ bình quân 1 hộ 2019 31
Bảng 2.6: Thu nhập từ tiền công bình quân 1 hộ điều tra năm 2019 32
Bảng 2.7: Thay đổi thu nhập khả năng kiếm sống sau tái định cư 33
Bảng 2.8: Tổng hợp đánh giá của người dân khu tái định cư thủy điện Bản Chát về công tác bảo đảm an ninh sức khỏe cho con người 34
Bảng 2.9: Tỷ lệ trẻ em dưới 1 tuổi được tiêm chủng đầy đủ các loại văc-xin 37
Bảng 2.10: Công tác thú y trên địa bàn xã 40
Bảng 2.11: Tổng hợp đánh giá của người dân về công tác bảo đảm an ninh lương thực cho con người 42
Bảng 2.12: Tổng hợp đánh giá của người dân về công tác bảo đảm an ninh môi trường cho con người 47
Trang 91
PHẦN MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Ở bất cứ quốc gia nào trên thế giới an ninh con người luôn được coi là trung tâm là mục tiêu phấn đấu, các nước trên thế giới đều hướng tới phục vụ và bảo vệ con người với mục tiêu con người có thể xây dựng một cuộc sống tự do, bình đẳng, hạnh phúc và phát triển bền vững
Ở Việt Nam, vấn đề bảo đảm an ninh con người luôn được Đảng và Nhà nước coi trọng, Hiến pháp 2013 khẳng định xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của dân, do dân và vì dân với mục tiêu vì con người Đảng,Nhà nước, cả
hệ thống chính trị từ trung ương tới địa phương trong nhận thức và hành động luôn coi an ninh con người là vấn đề cốt lõi, xác định con người ở vị trí trung tâm của các chính sách kinh tế - xã hội, là nhân tố quan trọng để phát triển bền vững và thực hiện phát triển thành công công sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước
Thủy điện Bản Chát, tỉnh Lai Châu do Tập đoàn Điện lực Việt Nam (viết tắt là EVN) làm chủ đầu tư, triển khai xây dựng và quản lý vận hành nhà máy; Uỷ ban nhân dân tỉnh Lai Châu làm chủ đầu tư các dự án di dân, tái định cư Để xây dựng công trình này, Nhà nước đã triển khai việc di chuyển 2.664 hộ với 15.017 nhân khẩu thuộc khu vực lòng hồ thủy điện tại 02 huyện Than Uyên, Tân Uyên đến nơi ở mới Việc di chuyển người dân nói trên đã làm thay đổi nơi ở, địa bàn sản xuất, đã ảnh hưởng trực tiếp đến công tác an ninh, đời sống của người dân, đến phát triển bền vững và các hoạt động văn hóa truyền thống của các hộ dân thuộc diện tái định cư
Sau 05 năm tổ chức di dân phục vụ Dự án, tỉnh Lai Châu đã hoàn thành di chuyển toàn bộ 2.664 hộ dân với 15.017 nhân khẩu ra khỏi vùng lòng hồ với mục tiêu tạo điều kiện để đồng bào tái định cư (TĐC) có đời sống tốt hơn nơi ở cũ, từng bước thay đổi cơ cấu kinh tế, phát triển sản xuất, nâng cao thu nhập, cuộc sống vật chất, tinh thần ngày càng tốt hơn góp phần xây dựng công trình hoàn thành theo tiến
độ đề ra Hầu hết các hộ dân khi di chuyển đến nơi ở mới đã được bồi thường, hỗ trợ tái định cư; cơ sở hạ tầng tại khu tái định cư đã được đầu tư xây dựng; công tác thu hồi, giao đất sản xuất, tổ chức lại sản xuất đã được quan tâm chỉ đạo, hướng dẫn
Trang 10- Việc giao đất, bồi thường hỗ trợ tái định cư cho các hộ dân ở khu tái định
cư chưa đảm bảo công bằng giữa các hộ, nhiều hộ diện tích đất cấp mới ít hơn nhiều lần diện tích đất bị thu hồi dẫn đến mâu thuẫn khiếu kiện đông người, gây mật trật
tự an ninh trong nhiều năm chưa được giải quyết dứt điểm;
- Nhiều hộ dân còn rất khó khăn trong việc tạo dựng việc làm, phương thức, qui mô sản xuất lạc hậu, nhỏ lẻ, manh mún, hiệu quả thấp
- Số lượng lao động được hỗ trợ chuyển đổi ngành nghề sang phi nông nghiệp còn ít, khó khăn trong tìm kiếm việc làm, tỷ lệ hộ nghèo và cận nghèo vẫn cao hơn so với mức trung bình toàn tỉnh;
- Công tác đầu tư xây dựng các công trình hạ tầng ở một số nơi còn thiếu đồng bộ, kém chất lượng nhất là các công trình thủy lợi, nước sinh hoạt cộng đồng;
- Ý thức trách nhiệm và nhận thức của nhân dân trong quản lý, vận hành, sử dụng công trình công cộng, công trình hạ tầng kỹ thuật còn hạn chế;
- Công tác giáo dục, môi trường, sức khỏe trong khu tái định cư chưa được quan tâm giải quyết đúng mức Tình trạng nhiều thanh, thiếu niên do thay đổi nơi sinh sống dẫn đến không có công ăn việc làm đã sa ngã vào các tệ nạn xã hội như trộm cắp, nghiện ma túy, … đang diễn biến khá phức tạp tại địa bàn
Cho đến nay chưa có công trình nào nghiên cứu về bảo đảm an ninh con người phục vụ phát triển bền vững tại khu tái định cư Thủy điện Bản Chát dưới góc
độ khoa học an ninh phi truyền thống Vì vậy, việc học viên lựa chọn đề tài:
“Đảm bảo an ninh con người phục vụ phát triển bền vững tại khu tái định
cư Thủy điện Bản Chát” làm luận văn tốt nghiệp chương trình thạc sĩ quản trị an
ninh phi truyền thống đã đáp ứng được tính cấp thiết cả về lý luận và thực tiễn
Trang 11- Khảo sát đánh giá thực trạng công tác bảo đảm an ninh con người, phát triển bền vững tại khu tái định cư Thủy điện Bản Chát
- Đề xuất giải pháp đảm bảo an ninh con người phát triền vững cho người dân tại vùng tái định cư Thủy điện Bản Chát, tỉnh Lai Châu
2.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Phân tích, luận giải, làm sáng rõ cơ sở nhận thức lý luận về an ninh con người và phát triển bền vững đối với khu vực tái định cư
+ Sử dụng các phương pháp nghiên cứu khoa học quản trị an ninh phi truyền thống để khảo sát, đánh giá thực trạng tình hình bảo đảm an ninh con người, phát triển bền vững trên các bình diện về sản xuất, đời sống, môi trường, các quyền lợi hợp pháp của người dân, an ninh, trật tự… tại khu vực tái định cư Thủy điện Bản Chát Phân tích, đánh giá về ưu điểm, hạn chế và nguyên nhân của các hạn chế, thiếu sót trong công tác bảo đảm an ninh con người, phát triển bền vững tại khu tái định cư Thủy điện Bản Chát
+ Đề xuất các giải pháp nâng cao hiệu quả công tác bảo đảm an ninh con người, phát triển bền vững tại khu tái định cư Thủy điện Bản Chát
3 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Luận văn nghiên cứu những vấn đề lý luận và thực
tiễn công tác bảo đảm an ninh con người, phục vụ phát triển bền vững tại khu tái định cư Thủy điện Bản Chát
Trang 124
- Phạm vi nội dung: Công tác bảo đảm an ninh con người tại khu tái định cư Thủy điện Bản Chát (tập trung các nội dung chủ yếu về an ninh kinh tế; an ninh sức khỏe; an ninh lương thực; an ninh môi trường)
4 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu cụ thể
4.1 Phương pháp luận
Luận văn nghiên cứu dựa trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác - Lê nin và tư tưởng Hồ Chí Minh; các quan điểm, chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước về vấn đề con người và an ninh con người, phát triển bền vững; hệ thống phương pháp luận các ngành khoa học xã hội, khoa học an ninh, quản trị an ninh phi truyền thống
4.2 Phương pháp cụ thể
- Phương pháp thu thập số liệu thứ cấp: các thông tin, nội dung được công bố rộng rãi dưới dạng các báo cáo, tài liệu tham khảo, bài viết, website về công tác bảo đảm an ninh con người hoặc có liên quan đến công tác bảo đảm an ninh con người do các tổ chức, cá nhân thực hiện Việc thu thập các thông tin sẽ giúp tác giả có được một nguồn thông tin hữu ích, đa dạng và riêng biệt phục vụ nghiên cứu của tác giả
- Phương pháp điều tra xã hội học (bảng hỏi) học viên sử dụng bảng hỏi để lấy căn cứ xây dựng đề tài Dữ liệu sơ cấp được tác giả thu thập bằng cách phát phiếu điều tra, thang đo được sử dụng trong phiếu điều tra là thang đo Likert 5 mức
độ (rất không hài lòng, không hài lòng, bình thường, hài lòng, rất hài lòng)
- Phương pháp chuyên gia: Tác giả tiến hành tham khảo ý kiến của các chuyên gia là cán bộ quản lý, hoạt động thực tiễn (Ban giám đốc Ban quản lý dự án; cán bộ chính quyền địa phương ) và các nhà nghiên cứu về khoa học quản trị an ninh phi truyền thống (giảng viên tại Khoa quản trị và Kinh doanh, các nhà khoa học trong các lĩnh vực an ninh môi trường, an ninh lương thực )
- Phương pháp tổng hợp, phân tích, thống kê
Trên cơ sở các tài liệu, số liệu thu thập được, tác giả tiến hành các phương pháp, thống kê, phân tích để luận giải làm rõ những nội dung nghiên cứu
- Sử dụng phương trình cơ bản về quản trị an ninh phi truyền thống: S = (S1+S2+S3) - (C1+C2+C3) để đo lường, đánh giá hiệu quả quản trị an ninh phi
Trang 135 Tổng quan tình hình nghiên cứu đề tài
Quản trị an ninh con người phục vụ phát triển bền vững cho người dân tại khu tái định cư Thủy điện Bản Chát, tỉnh Lai Châu là một vấn đề thực tiễn của an ninh phi truyền thống, đây là một vấn đề nhận được sự quan tâm đặc biệt của Chính phủ, địa phương, người dân, các nhà khoa học, các nhà hoạt động xã hội và hoạt động môi trường với mục tiêu ổn định an ninh đảm cuộc sống của người dân khu vực này được phát triển bền vững Trong quá trình nghiên cứu, tác giả đã tham khảo một số công trình có liên quan như sau:
- Các công trình nghiên cứu lý luận về an ninh phi truyền thống liên quan đến an ninh con người, phát triển bền vững
- “An ninh phi truyền thống - vấn đề mang tính toàn cầu” của PGS.TS
Nguyễn Mạnh Hưởng đăng trên Tạp chí Cộng sản, số 829 Theo tác giả, để đối phó với các vấn đề an ninh phi truyền thống ở cấp độ quốc tế, cần phải có sự phối hợp hành động của các quốc gia trong khu vực và trên thế giới, đây được coi là một giải pháp quan trọng Tác giả cho rằng, để Việt Nam đối phó hiệu quả với các mối đe dọa an ninh phi truyền thống, cần thực hiện nhiều giải pháp đồng bộ và toàn diện
Từ đó, tác giả nhấn mạnh “Vấn đề an ninh phi truyền thống là một nội dung rất quan trọng của nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa của nhân dân ta trong thời kỳ mới”
- “Quản trị an ninh phi truyền thống để phát triển bền vững” của PGS.TS
Hoàng Đình Phi, TS Nguyễn Văn Hưởng, PGS.TS Bùi Văn Nam đăng trên Tạp chí Công an nhân dân 2015 Trong bài viết này, các tác giả đã giới thiệu một cách tiếp cận mới về quản trị an ninh phi truyền thống, phân tích và giới thiệu bảng so sánh một số lĩnh vực quản trị an ninh phi truyền thống, trong đó có các khái niệm, nội
Trang 146
hàm và công cụ quản trị chủ yếu đối với lĩnh vực an ninh con người, an ninh lương thực, an ninh môi trường, an ninh tài chính, an ninh doanh nghiệp,…
- “Tác động, ảnh hưởng của an ninh phi truyền thống đến công tác đảm bảo
an ninh truyền thống ở nông thôn Việt Nam hiện nay” của PGS.TS Đỗ Cảnh Thìn
đăng trên Kỷ yếu hội thảo an ninh phi truyền thống của Viện Chiến lược và khoa học công an [tr 176] Bài viết đề cập đến những yếu tố tác động của an ninh phi truyền thống ở địa bàn nông thôn trong bối cảnh toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế với nhiều thời cơ và thách thức đan xen Nội dung này có thể tham khảo đối với bảo đảm an ninh con người, phát triển bền vững tại khu vực tái định cư của các công trình thủy điện
- “Những vấn đề an ninh phi trên thống và tác động của nó đối với các nước” của PGS.TS Nguyễn Thế Chinh, Viện trưởng Viện Chiến lược Chính sách
Tài nguyên và Môi trường, Bộ Tài Nguyên và Môi trường đăng trên trang thông tin điện tử Hội đồng lý luận Trung ương Nội dung bài viết đưa ra nhận dạng các vấn
đề an ninh phi truyền thống, các tác động của thách thức an ninh phi truyền thống đến các quốc gia, phói hợp hành động nhằm giảm thiểu tác động của an ninh phi truyền thống giữa các nước
Một số bài viết khác cũng đề cập đến vấn đề an ninh phi truyền thống như:
“An ninh phi truyền thống - Những thách thức mang tính toàn cầu”, của tác giả Trần Văn Trình đăng trên Website http://ca.cand.com.vn năm 2006; “Tiếp c n thách thức an ninh phi truyền thống”, của tác giả Nguyễn Vũ Tùng đăng trên Tạp chí Những vấn đề kinh tế và chính trị thế giới, số 4 (144), 2008, [tr 8 – 10]; “Tác động của nhân tố an ninh phi truyền thống đối với văn hóa và con người ở một số nước Đông Á” của tác giả Lê Văn Cương đăng trên Tạp chí Thông tin Khoa học xã
hội, số 9-2008, [tr 9]
- Các bài viết về công tác tái định cư tại Thủy điện Bản Chát
+ “Sớm khắc phục bất c p trong tái định cư thủy điện Bản Chát” của tác giả
Vũ Lâm, Minh Phúc trên báo Nhân dân điện tử: Bài báo tập trung phản ánh về tình trạng thiếu nước sinh hoạt, trường học, đất sản xuất, giao thông không thuận lợi,
Trang 15Thủy điện Bản Chát, tỉnh Lai Châu
Những công trình nghiên cứu, các bài viết trên là nguồn tài liệu quan trọng
để tác giả có thể tham khảo trong quá trình thực hiện luận văn Tuy nhiên, các công trình, bài viết trên không trùng với đối tượng, nội dung nghiên cứu của luận văn Vì vậy, luận văn là công trình nghiên cứu độc lập của tác giả
6 Cấu trúc của luận văn :
Ngoài phần mở đầu, phụ lục, tài liệu tham khảo, luận văn bố cục thành 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận về đảm bảo an ninh con người phục vụ phát triển bền vững
Chương 2: Thực trạng an ninh con người phục vụ phát triển bền vững cho người dân tái định cư Thủy điện Bản Chát
Chương 3: Giải pháp đảm bảo an ninh con người phục vụ phát triển bền vững cho người dân tái định cư Thủy điện Bản Chát
Trang 168
Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ ĐẢM BẢO AN NINH CON NGƯỜI, PHỤC VỤ
PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG
1.1 Nhận thức chung về an ninh con người
1.1.1 Khái niệm về an ninh con người
Quan niệm về an ninh con người đã xuất hiện từ rất lâu, từ khi Tổng thống Franklin Roosevelt đang còn đương chức là người đứng đầu Hợp chủng quốc Hoa
Kỳ Theo ông, an ninh con người gồm bốn quyền tự do cơ bản của con người, trong
đó có quyền “không phải sống trong sợ hãi” [4, tr.5] Đến năm 1960, các nhà kinh
tế học bắt đầu bàn về an ninh và các mô hình phát triển kinh tế, trong đó có an ninh con người Khoảng thập niên 70, các nhà nghiên cứu quan hệ quốc tế đã phác thảo
và tranh luận về một mô hình trật tự thế giới mới ổn định hơn và bắt đầu quan tâm đến sự an toàn của cá nhân con người Trong giai đoạn này, câu lạc bộ Rome đã đưa
ra nhiều báo cáo về “những vấn đề của thế giới” dựa trên các ý tưởng cho rằng đang tồn tại rất nhiều vấn đề phức tạp đe dọa tất cả mọi người đang sống trên khắp thế giới như đói nghèo, vấn đề môi trường, đô thị hóa không kiểm soát được, lạm phát, khủng hoảng kinh tế và tiền tệ,…
Tất cả mọi người trên thế giới đều phải đối mặt và chịu nhiều sức ép, nhiều vấn đề ở nhiều mức độ khác nhau và đòi hỏi mất nhiều thời gian đấu tranh, vượt qua,… Họ lo lắng về sức mạnh của bản thân và sự an toàn của cả quốc gia Họ lo lắng về một cuộc chiến có thể xảy ra bất cứ lúc nào, nguy hại đến bản thân và đất nước của họ
Trong thời đại ngày nay, khi xu thế toàn cầu hóa đang phát triển mạnh mẽ ở khắp mọi nơi ảnh hưởng đến từng cá nhân con người, đặc biệt là việc gia tăng dân
số, sự xuống cấp và ô nhiễm môi trường,… Tuy nhiên, mọi người đều tin rằng “một trạng thái cân bằng toàn cầu” sẽ được tạo ra để bảo đảm đáp ứng được các nhu cầu
cơ bản của con người và mỗi cá nhân đều có những cơ hội bình đẳng để phát huy khả năng của mình Như vậy, bước đầu đã có các ý tưởng về an ninh con người, cơ hội của mỗi người trong cuộc sống và nhất định sẽ có những cách thức chuyển đổi
Trang 17có viết “Báo cáo của chúng tôi dựa trên những lợi ích chung và cơ bản nhất Đó là những
gì để nhân loại cần để tồn tại và không đặt ra những câu hỏi về chiến tranh và hòa bình
mà là vấn đề cả thế giới sẽ làm gì để vượt qua đói nghèo và những khoảng cách trong điều kiện sống giữa người giàu và người nghèo…) [6, tr.13]
Khái niệm về an ninh con người cũng xuất hiện vào những năm 90 Mahbubul Haq, một nhà kinh tế, một cố vấn lâu năm cho Chương trình phát triển Liên Hợp Quốc (UNDP) và nhân vật chính trong việc đưa ra chỉ số so sánh về phát triển con người của Liên Hợp Quốc đã có đóng góp to lớn khi đưa ra định nghĩa về
an ninh con người Theo đó, an ninh con người được hiểu là sự an toàn của con người trước những đe dọa triền miên và sự bảo vệ con người trước những biến động bất thường ảnh hưởng tiêu cực đến cuộc sống
Như vậy, mặc dù có nhiều định nghĩa khác nhau về an ninh con người nhưng hầu hết các định nghĩa đều nhấn mạnh đến phúc lợi của dân thường, thừa nhận con người có quyền được bảo vệ an toàn và an ninh đối với bản thân họ Nói cách khác, con người phải được bảo vệ khỏi các mối đe dọa từ bên ngoài đối với bản thân mình
và tạo lập cảm giác an toàn trong cuộc sống gia đình, nơi làm việc và trong xã hội Theo đó, khái niệm an ninh con người được hiểu theo nhiều nghĩa khác nhau
Thứ nhất, an ninh con người được hiểu theo nghĩa hẹp là “việc bảo vệ các cộng đồng và cá nhân khỏi bạo lực từ bên trong” (Tổng Thư ký Liên Hợp Quốc, Kofi Annan) [4, tr.2] Theo quan niệm này, an ninh con người tập trung vào chiến tranh, xung đột, bạo lực,… và các tác động của chúng tới con người, nhà nước đóng vai trò quan trọng trong việc bảo đảm an ninh con người Năm 1997, Bộ trưởng Bộ Ngoại giao Canada, Lloyd Axworthy đã chỉ ra rằng an ninh con người bao gồm an ninh chống lại tình trạng thiếu thốn về kinh tế, một chất lượng cuộc sống chấp nhận được và bảo đảm các quyền cơ bản của con người Ông còn đưa ra nhận xét rằng an ninh con người đã trở thành một biện pháp mới của an ninh toàn cầu Trong khi đó,
Trang 18Như vậy, theo quan niệm chính thức được ghi nhận trong “Báo cáo phát triển con người” năm 1994 của Hội nghị Liên Hợp Quốc, an ninh con người gồm hai khía cạnh:
(1) An toàn trước các mối đe dọa triền miên như đói khát, bệnh tật, áp bức; (2) Con người cần được bảo vệ trước những biến động bất thường và có hại đối với cuộc sống hàng ngày dù trong gia đình, nơi làm việc hay ngoài xã hội
Theo Ủy ban an ninh con người của Liên Hợp Quốc, an ninh con người là
“phải bảo vệ các giá trị cơ bản quan trọng nhất trong cuộc sống của tất cả mọi người theo hướng tăng cường khả năng tự do lựa chọn và hưởng thụ của con người, nghĩa
là bảo vệ con người khỏi những mối đe dọa và tình huống nguy hiểm và hiện hữu ở khắp mọi nơi” Nói cách khác, cần phải tạo dựng các hệ thống chính trị, pháp luật, môi trường, kinh tế, quân sự và văn hóa cùng một lúc để giúp con người đặt nền móng cho sự tồn tại, cho cuộc sống của bản thân và nhân phẩm của chính mình
Qua phân tích, có thể hiểu, an ninh con người là những bảo đảm bằng pháp luật quốc tế và quốc gia để con người không bị đe dọa trước các mối nguy hiểm và tạo lập một cuộc sống an toàn và phát triển
An ninh của một cá nhân là một trạng thái hay một mức độ mà ở đó trong một không gian, thời gian và địa điểm cụ thể, một con người cảm thấy an toàn về mặt tâm lý và trên thực tế cá nhân được an toàn và tự do
An ninh con người được đảm bảo khi mà các nhu cầu vật chất cơ bản được đáp ứng không bị đe dọa tới tự tồn tại, được tự do mong muốn, vượt qua cả mức độ
an toàn về cơ chế cho đến việc được tham gia tích cực vào đời sống của cộng đồng, kiểm soát được cuộc sống của mình và tự do không bị bóc lột hay thống trị; mất an
Trang 1911
ninh con người là một trạng thái bị tổn thương mà ở đó sức khỏe và tài sản của con người đang bị đe dọa
1.1.2 Các thành tố cấu thành an ninh con người
Theo quan điểm chính thức được ghi nhận trong “Báo cáo phát triển con người” năm 1994 của Liên Hợp Quốc, một báo cáo được coi là tài liệu đề cập toàn diện nhất về khái niệm an ninh con người, an ninh con người gồm 07 nhân tố cơ bản cấu thành, đó là kinh tế, lương thực, sức khỏe, môi trường, an ninh cá nhân, cộng đồng và chính trị
- An ninh kinh tế: An ninh kinh tế ở đây không hướng tới việc duy trì hay
thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, không nhằm bảo vệ hàng hóa trong nước khỏi sự cạnh tranh của hàng hóa nước ngoài, cũng không nhấn mạnh đến các vấn đề chính trị, thuế quan mà hướng vào bảo đảm mức thu nhập cơ bản cho con người, trong đó vấn
đề việc làm đóng vai trò rất quan trọng Trong thời đại khoa học, công nghệ phát triển nhanh chóng như hiện nay, bất cứ ngành nghề nào trong xã hội đều đòi hỏi lao động có trình độ, có tay nghề cao và có thể nhanh nhạy, năng động để thích ứng với các yêu cầu về công việc mới ngày càng đòi hỏi khắt khe Các ngành sản xuất sử dụng nhiều lao động nhưng lại thu hẹp quy mô khiến sức ép cạnh tranh việc làm ngày càng lớn, đe dọa trực tiếp tới an ninh kinh tế của mỗi cá nhân
- An ninh lương thực: An ninh lương thực được hiểu là bảo đảm một trạng
thái mà con người không bị đói, nghĩa là con người có đủ các chất dinh dưỡng để có một cuộc sống hiệu quả, hoạt bát, khỏe mạnh Tuy nhiên hiện nay, việc có sẵn nguồn lương thực chưa thể bảo đảm an ninh lương thực bởi con người vẫn có thể chết đói Theo báo cáo “Tình trạng an ninh lương thực và dinh dưỡng trên thế giới 2018” của Tổ chức Lương Nông Liên Hợp Quốc (FAO), năm 2018, có 38 triệu người chết đói trên toàn thế giới và 821 triệu người đang phải sống trong tình trạng thiếu ăn Nguyên nhân là do việc phân phối lương thực kém hiệu quả và con người thiếu khả năng mua hàng Như vậy, có thể thấy ngoài nhân tố thiên tai thì khả năng sản xuất lương thực, các chính sách, trình độ quản lý kinh tế của các quốc gia cũng tác động rất nhiều tới việc bảo đảm cung cấp lương thực cũng như thu nhập cho người dân
Trang 2012
- An ninh sức khỏe: Sức khỏe luôn là vấn đề quan tâm hàng đầu của con
người, của quốc gia Sức khỏe ảnh hưởng trực tiếp nhất đến an ninh con người Bất
cứ cá nhân nào bị ốm, đặc biệt là những người bị bệnh nặng luôn có cảm giác thiếu
an toàn, bất an và lo sợ Cả các nước phát triển và nước đang phát triển, mối đe dọa tới sức khỏe con người thường có xu hướng lan rộng hơn trong cộng đồng dân cư nghèo khổ, đặc biệt là những người sống ở nông thôn, vùng sâu, vùng xa, trẻ em và phụ nữ Những năm gần đây, nhiều loại bệnh nguy hiểm và chưa có thuốc chữa như HIV/AIDS,… ngày càng trở nên nguy hiểm hơn Thậm chí, những đợt dịch bệnh mới như cúm gia cầm H5N1, Ebola, Rubella, gần nhất là dịch Covid – 19 đã trở thành đại dịch có nguy cơ đe dọa tính mạng của hàng chục triệu người trên thế giới gây thiệt hại nghiệm trọng về kinh tế cũng như con người trên toàn thế giới
- An ninh môi trường: Các mối đe dọa từ môi trường đối với con người do
hai nguyên nhân chính, do con người và do thiên nhiên tạo ra Những mối đe dọa do con người tạo ra gồm làm ô nhiễm nguồn đất, nước, không khí, tiếng ồn, sa mạc hóa, chặt phá rừng bữa bãi,… “Báo cáo phát triển con người” năm 2016 của Liên Hợp Quốc cho biết, có tới 1,6 tỷ người ở các nước đang phát triển không được tiếp cận với nguồn nước một cách đầy đủ và khoảng 2,8 tỷ người thiếu các điều kiện vệ sinh cơ bản Trong đó, mối đe dọa do thiên nhiên gây ra gồm bão, lũ, lụt, hạn hán, động đất, sóng thần, …Tại châu Á, số người chết do sóng thần năm 2018 ước tính gần 300.000 người và chỉ riêng Indonesia, số người bị thiệt hại là 1.200 người Khoa học đã chứng minh rằng con người và thiên nhiên có mối quan hệ mật thiết với nhau và do dó hiện tượng biến đổi khí hậu sẽ khiến thiên nhiên ngày càng trở nên khắc nghiệt, trong đó phần lớn bắt nguồn từ các hoạt động của con người Một thực tế đang khắc nghiệt hiện nay đó là trái đất đang ngày càng nóng lên do lượng khí thải mà con người xả ra môi trường ngày một lớn gây nên hiệu ứng nhà kính, lũ lụt, hạn hán bắt nguồn từ việc chặt phá rừng bừa bãi, trái phép Rõ ràng, chính con người đang tự hủy hoại môi trường sống, sự an toàn và làm gia tăng bất bình đẳng của chính mình Và thế giới đang tiến sát tới thời điểm không thể tránh được thảm họa sinh thái
Trang 2113
- An ninh cá nhân: An ninh cá nhân đề cập đến các hành vi bạo lực, một
trong những khía cạnh quan trọng nhất của an ninh con người Bất kỳ quốc gia nào trên thế giới cũng đều tồn tại vấn nạn bạo lực với một số hình thức đe dọa như sau:
+ Đe dọa từ nhà nước như tra tấn, lao động khổ sai,…
+ Đe dọa từ các quốc gia như chiến tranh, xung đột vũ trang giữa các nhóm xuyên biên giới,
+ Đe dọa từ các nhóm người khác như căng thẳng, xung đột sắc tộc,…
+ Đe dọa từ các cá nhân và băng nhóm chống lại các cá nhân và các băng nhóm khác như tội phạm, tội phạm có tổ chức xuyên quốc gia, bạo lực đường phố,…
+ Đe dọa trực tiếp đối với phụ nữ và trẻ em như bạo lực trong gia đình, lạm dụng trẻ em, xâm hại trẻ em,…
+ Đe dọa đối với bản thân các cá nhân như tự tử, nghiện hút,…
Tùy từng điều kiện của các quốc gia khác nhau mà các hình thức đe dọa đến
an ninh con người sẽ khác nhau
- An ninh cộng đồng: An ninh con người chủ yếu đều gắn với một nhóm
người nhất định trong cộng đồng như cộng đồng dân cư, tổ chức hay một nhóm sắc tộc,… Nói cách khác, an ninh con người chỉ được bảo đảm khi người đó sống trong một cộng đồng ổn định, văn minh, bình đẳng và phát triển Một cộng đồng thường
có khả năng tập hợp lực lượng mạnh hơn để chống lại các mối đe dọa từ bên ngoài
Do đó, nếu cộng đồng đó được an toàn, khả năng các thành viên trong cộng đồng đó được an toàn là rất cao
- An ninh chính trị: Liên Hợp Quốc cũng đã gắn an ninh chính trị với việc
“xã hội tôn trọng các quyền cơ bản của con người” Theo đó, an ninh chính trị được hiểu rộng hơn bởi bản thân quyền con người đã bao hàm cả quyền chính trị, nghĩa là nếu vi phạm nhân quyền sẽ đồng nghĩa với việc đe dọa tới an ninh chính trị Do đó, bảo đảm an ninh chính trị chính là việc tập trung vào bảo đảm cho con người không phải chịu sự đàn áp, ngược đãi, đối xử bất công của các lực lượng thuộc quyền lực nhà nước, đặc biệt là công an và quân đội Trong đó, mức độ an ninh chính trị cũng được đánh giá bằng các tiêu chí như tỷ lệ ngân sách quốc phòng so với chi phí cho giáo dục, chăm sóc sức khỏe, các dịch vụ xã hội khác
Trang 2214
1.1.3 Tầm quan trọng của an ninh con người
An ninh con người phản ánh sự tùy thuộc lẫn nhau giữa các quốc gia và cộng đồng quốc tế trong bối cảnh toàn cầu hóa Vì vậy, an ninh con người có vai trò tích cực trên cả khía cạnh lý luận và thực tiễn
Thứ nhất, an ninh con người ghi nhận sự tồn tại một quan niệm mới trong
quan hệ quốc tế Khái niệm quyền con người xuất hiện và được thừa nhận trong pháp luật quốc tế, thực hiện mục tiêu an ninh con người là bảo vệ quyền con người
Thứ hai, an ninh con người đòi hỏi mỗi cá nhân con người phải nhận thức về
chính mình và có những hành động tích cực hơn đối với xã hội Xã hội tốt sẽ tạo ra những con người tốt với những hành động tích cực Do đó, an ninh con người không chỉ là vấn đề của pháp luật quốc tế, quốc gia mà còn góp phần tạo dựng các giá trị văn hóa, xã hội thông qua các cá nhân
Thứ ba, an ninh con người giúp bổ sung và làm phong phú thêm khái niệm
an ninh quốc gia Theo quan niệm truyền thống, an ninh quốc gia được tiếp cận chủ yếu ở phương diện giữa biên giới và toàn vẹn lãnh thổ Sự toàn vẹn lãnh thổ cũng đồng thời bảo đảm an ninh của cộng đồng dân cư trên lãnh thổ của quốc gia đó Do vậy, an ninh con người khẳng định rõ hơn mối quan hệ giữa các cá nhân và cộng đồng qua quyền của cá nhân và quyền dân tộc tự quyết Hơn nữa, an ninh con người còn giúp làm sáng tỏ hơn vai trò của an ninh quốc gia với tư cách chủ thể của luật quốc tế
Thứ tư, an ninh con người góp phần hình thành nên quan điểm tổng thể trong
nhận thức và hành động của các quốc gia cũng như cộng đồng quốc tế với các vấn
đề toàn cầu Về cơ bản, các vấn đề toàn cầu là đòn bẩy để các quốc gia tập trung phát triển kinh tế, giải quyết các vấn đề xã hội trên quan điểm phát triển và tập trung
xử lý các vấn đề toàn cầu, qua đó các quốc gia sẽ gần lại với nhau hơn và giảm bớt các căng thẳng, xung đột Vì vậy, trước thách thức của các vấn đề toàn cầu, an ninh con người như một giải pháp giúp tạo lập hòa bình và bảo đảm an ninh quốc tế
Thứ năm, an ninh con người giúp thúc đẩy các nỗ lực hợp tác quốc tế của các
quốc gia mạnh mẽ hơn Bất cứ quốc gia nào đều phải hợp tác quốc tế mới có thể phát triển được Nó thể hiện sự tuân thủ của các quốc gia đối với nguyên tắc tận tâm
Trang 2315
thực hiện cam kết quốc tế Hơn nữa, thách thức toàn cầu tác động tiêu cực đến an ninh con người và an ninh con người không thể được bảo đảm nếu các quốc gia không hợp tác với nhau
Thứ sáu, an ninh con người góp phần khẳng định vai trò của các tổ chức
quốc tế, đặc biệt là Liên Hợp Quốc trong việc xử lý các vấn đề toàn cầu và khu vực Mỗi tổ chức quốc tế đều có chức năng và nhiệm vụ riêng nhưng tất cả đều tập trung hợp tác, hành động vì nhau và cùng nhau phát triển Do đó, các quốc gia phải cùng tập trung xây dựng và thực hiện chiến lược phòng ngừa toàn diện, cụ thể, lấy con người làm trung tâm và coi đó là cách tiếp cận mới : vì an ninh con người
Thứ bảy, an ninh con người đòi hỏi phải nâng cao về luật pháp quốc tế Hiện
nay, luật pháp quốc tế xác lập quyền, nghĩa vụ ràng buộc trách nhiệm đối với các chủ thể Vì vậy, an ninh con người cần trực tiếp được ghi nhận và điều chỉnh bằng luật pháp quốc tế để có thể tăng tính trách nhiệm của mỗi quốc gia
1.2 Nhận thức chung về phát triển bền vững
1.2.1 Khái niệm về phát triển bền vững
Phát triển bền vững là một yêu cầu, đồng thời là qui luật tất yếu của sự phát triển Đó chính là điều kiện để đem lại những giá trị tốt đẹp, lâu bền cho mỗi quốc gia, dân tộc nói riêng, cho cả nhân loại nói chung
Những hạn chế nhận thức về phát triển bền vững cũng như những khó khăn, trở ngại trong quá trình phát triển đang là những thách thức lớn đối với mọi chế độ
xã hội, để lại nhiều hệ lụy cho hiện tại và tương lai Việc nâng cao nhận thức, kiến thức, trách nhiệm trong quản trị các hoạt động kinh tế - xã hội có ý nghĩa, vai trò rất quan trọng xây dựng và phát triển đất nước
Phát triển bền vững được phổ biến rộng rãi vào năm 1987 nhờ Báo cáo của
Ủy ban Môi trường và Phát triển thế giới - WCED là sự phát triển có thể đáp ứng được những nhu cầu hiện tại mà không ảnh hưởng, tổn hại đến những khả năng đáp ứng nhu cầu của các thế hệ tương lai
Phát triển bền vững là một phương hướng phát triển được các quốc gia trên thế giới ngày nay hướng tới trên cơ sở kết hợp chặt chẽ, hài hoà giữa tăng trưởng kinh tế, giải quyết các vấn đề xã hội và bảo vệ môi trường và tôn trọng các quyền
Trang 2416
con người Khái niệm phát triển bền vững được xây dựng trên một nguyên tắc chung của sự tiến bộ loài người - nguyên tắc bảo đảm sự bình đẳng giữa các thế hệ Phát triển bền vững thể hiện quan điểm nhân văn, hiện đại hơn hẳn so với quan điểm "phát triển bằng bất kì giá nào", bởi phát triển bằng mọi giá, là khai thác tối đa các nguồn tài nguyên thiên nhiên để phục vụ cho hoạt động phát triển, không tính đến sự ảnh hưởng của nó đến chính quá trình phát triển
Phát triển bền vững là một khái niệm nhằm khái quát những vận động theo chiều hướng tích cực, tiến lên từ thấp đến cao, từ đơn giản đến phức tạp đáp ứng nhu cầu của thế hệ hiện tại mà không làm tổn hại đến khả năng đáp ứng các nhu cầu
đó của các thế hệ tương lai Hiện nay có nhiều khái niệm về phát triển bền vững, trong đó có những tuyên bố tại các hội nghị của Liên Hợp quốc với những khái niệm chủ yếu như sau:
- Phát triển bền vững là một sự phát triển về mọi mặt trong hiện tại mà vẫn phải bảo đảm sự tiếp tục phát triển trong tương lai xa Khái niệm này hiện đang là
mục tiêu hướng tới nhiều quốc gia trên thế giới, mỗi quốc gia sẽ dựa theo đặc thù kinh tế, xã hội, chính trị, địa lý, văn hóa… riêng để hoạch định chiến lược phù hợp nhất với quốc gia đó
- Theo Báo cáo của Tổ chức bảo tồn thiên nhiên quốc tế (IUCN) đưa ra năm
1980 thì: “Phát triển bền vững phải cân nhắc đến hiện trạng khai thác các nguồn tài nguyên tái tạo và không tái tạo, đến các điều kiện thu n lợi cũng như khó khăn trong việc tổ chức các kế hoạch hành động ngắn hạn và dài hạn đan xen nhau”
- Theo Luật Bảo vệ môi trường của Việt Nam thì: Phát triển bền vững là phát
triển đáp ứng được nhu cầu của hiện tại mà không làm tổn hại đến khả năng đáp ứng nhu cầu đó của các thế hệ tương lai trên cơ sở kết hợp chặt chẽ, hài hòa giữa tăng trưởng kinh tế, bảo đảm tiến bộ xã hội và bảo vệ môi trường
1.2.2 Mục tiêu của phát triển bền vững
-Tính bền vững về kinh tế
Phát triển kinh tế nhanh và an toàn Tức là sự tăng trưởng và phát triển lành mạnh nền kinh tế phải đáp ứng được yêu cầu của cuộc sống, nâng cao đời sống
Trang 2517
người dân, tránh được sự suy thoái hoặc đình trệ trong tương lai, nhất là tình trạng
nợ nần, biến nó thành di chứng cho thế hệ sau
- Tính bền vững về xã hội
Công bằng xã hội và phát triển con người, lấy chỉ số HDI làm thước đo cao nhất cho sự phát triển xã hội Tức là tính bền vững thể hiện ở sự đảm bảo về sức khỏe, dinh dưỡng, học vấn, giảm nghèo đói, đảm bảo công bằng xã hội và tạo cơ hội bình đẳng cho mọi thành viên trong xã hội Theo đó, công bằng xã hội là một trong những mục tiêu trọng yếu của phát triển bền vững Khoảng cách chênh lệch giàu nghèo quá lớn sẽ không giúp cải thiện vấn đề môi trường tại nơi đói nghèo, vì những người nghèo hầu như vẫn không được hưởng lợi gì từ sự tăng trưởng kinh tế, cho nên thái độ của họ đối xử với môi trường cũng vẫn như trước đây Thậm chí bất bình đẳng kinh tế có nguy cơ dẫn đến xung đột xã hội hay chiến tranh, mà hậu quả
là môi trường bị phá hủy nghiêm trọng
- Tính bền vững về môi trường
Khai thác và sử dụng hợp lí các nguồn tài nguyên thiên nhiên, bảo vệ và không ngừng cải thiện chất lượng môi trường sống theo hướng tích cực Đảm bảo cho con người sống trong môi trường trong lành và an toàn, đảm bảo mối quan hệ hài hòa thật sự giữa con người, xã hội và tự nhiên Sự khai thác, sử dụng hợp lí các nguồn tài nguyên thiên nhiên, bảo tồn được sự đa dạng sinh thái… nhằm thỏa mãn nhu cầu sống của thế hệ hiện tại, nhưng không cản trở các thế hệ mai sau có cơ hội thỏa mãn nhu cầu của họ về tài nguyên và môi trường và những đòi hỏi như vậy chỉ có thể thực hiện được khi những mục tiêu kinh tế và công bằng xã hội được đảm bảo
Trang 2618
Mô hình của phát triển bền vững
1.3 Nhận thức về đảm bảo an ninh con người, phục vụ phát triển bên vững
An ninh của con người được nghiên cứu trên nhiều trụ cột khác nhau như an ninh kinh tế, an ninh môi trường, an ninh sức khỏe, an ninh lương thực, an ninh năng lượng, an ninh cá nhân, an ninh cộng đồng, an ninh chính trị
Tuy nhiên, trong khuôn khổ của luận văn này, giới hạn phạm vi nghiên cứu tại khu tái định cư thủy điện Bản Chát với 04 yếu tố cấu thành chính, đó là:
Trang 2719
Theo TS Nguyễn Văn Hưởng và PGS.TS Hoàng Đình Phi [16] thì quản trị an ninh phi truyền thống của một chủ thể được thể hiện dưới dạng phương trình 3S-3C như sau:
An ninh phi truyền thống của chủ thể = (An toàn + Ổn định + Phát triển bền vững) - (Chi phí cho các hoạt động quản trị rủi ro + Chi phí quản trị khủng hoảng + Chi phí cho các hoạt động khắc phục sau khủng hoảng)
Subject’Snt Sercurity = (Safety + Stability + Sustainable Development) – (Cost for Risk Management Activities + Cost of Crisis Management Activities + Cost of Crisis Recovery Activities)
S’S = (S1 + S2+ S3) – (C1 + C2 + C3)
Căn cứ theo các lý luận cơ bản của quản trị an ninh phi truyền thống và trên
cơ sở phương trình cơ bản này thì đảm bảo an ninh con người hay quản trị an ninh con người (cho nhân dân và các hộ dân trong một địa bàn hành chính nhất định như
xã, huyện, tỉnh, quốc gia ) được thể hiện theo phương trình:
An ninh con người = (An toàn + Ổn định + Phát triển bền vững) – (Chi phí cho các hoạt động quản trị rủi ro) + Chi phí quản trị khủng hoảng liên quan + Chi phí khắc phục sau khủng hoảng)
An ninh con người = (S1 + S2+ S3) – (C1 + C2 + C3)
Trong đó: sự an toàn (S1), ổn định (S2) và phát triển bền vững (S3) của mỗi
cá nhân hay nhóm người
Đối với an ninh con người khu tái định cư thủy điện Bản Chát bao gồm các hợp phần: (S1) đời sống của người dân thực hiện tái định cư xây dựng thủy điện Bản Chát (nơi ở mới) so với đời sống (nơi ở cũ), (S2) mức độ ổn định cuộc sống của người dân khu tái định cư Bản Chát, (S3) an ninh con người hiện tại khu tái định cư thủy điện Bản Chát phục vụ cho phát triển bền vững (C1) chi phí và hoạt động quản trị rủi ro trong thực hiện tái định cư thủy định Bản Chát, (C2) chi phí và hoạt động quản trị khủng hoảng trong thực hiện ổn định đời sống của người dân sau tái định cư, (C3) Chi phí bỏ ra để giải quyết các xung đột, bất ổn của việc tái định
cư thủy điện Bản Chát
Trang 28và tình huống mất an toàn ở khắp mọi nơi
An ninh con người được bảo đảm khi mà các nhu cầu vật chất được đáp ứng, các thành tố cấu thành an ninh con người cơ bản đó là kinh tế, lương thực, sức khỏe, môi trường, an ninh cá nhân, cộng đồng và chính trị Tầm quan trọng của an ninh con người có vai trò tích cực trên cả khía cạnh lý luận và thực tiễn
Phát triển bền vững là một yêu cầu và là quy luật tất yếu của sự phát triển đó chính là điều kiện để đem lại những giá trị tốt đẹp, lâu bền cho mỗi quốc gia dân tộc nói riêng cho cả nhân loại nói chung, là một sự phát triển về mọi mặt trong hiện tại
mà vẫn phải đảm bảo sự tiếp tục phát triển trong tương lai xa Mục tiêu của phát triển bền vững thể hiện tính bền về kinh tế - xã hội - môi trường, tác động qua lại ảnh hưởng trực tiếp đến tính phát triển bền vững
Cơ sở lý luận, khoa học trên là cơ sở để tác giả đáng giá thực trạng đảm bảo
an ninh con người phục vụ cho phát triển bền vững tại khu tái định cư thủy điện Bản Chát trên 4 yếu tố An ninh kinh tế, an ninh sức khỏe, an ninh lương thực, an ninh môi trường
Trang 2921
Chương 2 THỰC TRẠNG ĐẢM BẢO AN NINH CON NGƯỜI, PHỤC VỤ PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG TẠI KHU TÁI ĐỊNH CƯ
THỦY ĐIỆN BẢN CHÁT
2.1 Khái quát về Khu tái định cư Thủy điện Bản Chát
2.1.1 Điều kiện tự nhiên
- Vị trí địa lý
Vùng tái định cư nằm trên địa bàn 02 huyện Than Uyên và huyện Tân Uyên, tỉnh Lai Châu thuộc địa bàn miền núi vùng Tây Bắc Phía Đông giáp tỉnh Lào Cai, phía Tây và phía Nam giáp tỉnh Sơn La; phía Bắc giáp huyện Tam Đường, tỉnh Lai Châu
2.1.2 Điều kiện kinh tế - xã hội
Khu tái định cư dự án thủy điện Bản Chát thuộc địa bàn huyện Than Uyên vàTân Uyên, có 10 dân tộc sinh sống gồm: Thái, Kinh, Khơ Mú, H'Mông, Dao, Tày,
Si La, Kháng, Mảy, Lự, có trên 15 nghìn nhân khẩu sinh sống Kinh tế trên địa bàn huyện chủ yếu là nông nghiệp, hình thức canh tác nhìn chung còn lạc hậu; sản xuất công nghiệp rất hạn chế (chỉ có một nhà máy chế biến chè qui mô nhỏ, công nghệ lạc hậu), thương mại và dịch vụ còn sơ khai chủ yếu là một số mặt hàng thủ công
mỹ nghệ và mặt hàng nông sản như chè, gỗ, vải thổ cẩm, nhựa thông, thảo quả,
Cùng với việc tách huyện, năm 2009, tỉnh Lai Châu thực hiện di dân huyện Than Uyên để xây dựng thủy điện Bản Chát (theo Quyết định số 834/QĐ-TTg ngày 18/6/2009 của Thủ tướng Chính phủ về phê duyệt quy hoạch tổng di dân, tái định
cư dự án thủy điện Bản Chát)
Trang 3022
Dự án triển khai từ năm 2009 đến cuối năm 2018 cơ bản đã hoàn thành, người dân cơ bản đã ổn định sinh sống tại nơi ở mới khu tái định cư tập trung thủy điện Bản Chát
Ngoài nghề nông các hoạt động kinh doanh, dịch vụ, thương mại, vận chuyển trên địa bàn những năm gần đây cũng phát triển khá sôi nổi, góp phần tích cực vào việc giải quyết việc làm và tăng thu nhập cho người dân địa phương
- Tình hình cơ sở hạ tầng tại khu tái định cư
+ Về giao thông: Hệ thống đường giao thông trong vùng tái định cư đã có
bước phát triển nhanh, đáp ứng ngày một tốt hơn nhu cầu đi lại và phục vụ sản xuất của người dân, đường liên huyện, liên xã, đường vào các khu, điểm tái định cư, đường nội đồng phục vụ sản xuất, đường đến trung tâm các xã lâm cận được đầu tư xây dựng Ngoài ra, tại một số khu, điểm tái định cư được đầu tư xây dựng công trình giao thông khác, như rãnh thoát nước khu điểm tái định cư, đường vào khu nghĩa địa thôn (bản) và đường công vụ di chuyển dân
Nhìn chung, hệ thống công trình giao thông trong vùng tái định cư Thủy điện Bản Chát được phân bố hợp lý Tuy vậy, một số tuyến đường chất lượng kém và xuống cấp nghiêm trọng, đi lại khó khăn nhất là vào những ngày mưa, cùng với đó công tác quản lý còn hạn chế và không có kinh phí duy tu, bảo dưỡng định kỳ nên nhiều công trình bị hưng hỏng, xuống cấp nhanh, không phát huy được hết hiệu quả của công trình Đặc biệt, là các công trình giao thông loại B trải cấp phối, vào mùa mưa thường bị xói mòn, hư hỏng, xuống cấp nhanh, ảnh hưởng đến nhu cầu đi lại, sinh hoạt và sản xuất của người dân trong vùng
- Các công trình công cộng khác: Dự án tái định cư ngoài việc đầu tư xây dựng các công cơ sở hạ tầng trình thiết yếu để đón dân như đường giao thông, thủy lợi, điện, nước sinh hoạt, còn đầu tư các công trình công cộng phục vụ đời sống văn hóa, tinh thần cho người dân tại nơi ở mới, như trường học, nhà văn hóa, trạm y
tế, bưu điện, trụ sở HĐND, UBND xã, để phục con em học tập, sinh hoạt văn hóa cộng đồng, khám chữa bệnh cho người dân và chỉ đạo toàn diện các lĩnh vực phát triển kinh tế - xã hội, đảm bảo an toàn, an ninh trật tự xã hội trên địa bàn các khu, điểm tái định cư Ngoài các công trình công cộng trên, Dự án di dân, tái định cư
Trang 3123
Thủy điện Bản Chát còn đầu tư xây dựng các công trình công cộng khác, như: nghĩa trang, công viên cây xanh, sân thể thao, chợ, Tuy nhiên, ở một số nơi cơ sở hạ tầng và trang thiết bị đã xuống cấp
- Tình hình dân số
Tổng số dân tại các khu tái định cư đến ngày 31/12/2019 là 3.004 hộ với 16.894 nhân khẩu, tăng 340 hộ và 1.877 nhân khẩu so với Quyết định số 834/QĐ-TTg Thành phần dân tộc tại vùng tái định cư gồm 10 dân tộc, trong đó dân tộc Thái
có số lượng lớn nhất với 12.870 người, chiếm 76,2%; dân tộc Kinh có 946 người, chiếm 5,6%; dân tộc H’Mông có 473 người, chiếm 2,8%; dân tộc Khơ Mú có 507 người, chiếm 3%; dân tộc Dao có 574 người, chiếm 3.4%; dân tộc (Tày, Si La, Kháng, Mảy, Lự) là 1.520 người, chiếm 9% Tỷ lệ tăng dân số bình quân 3 năm của toàn vùng là 1,25% Dự báo dân số toàn vùng tái định cư đến năm 2025 vào khoảng 18.000 người
- Tình hình sản xuất kinh doanh
Bảng 2.1: Tình hình sản xuất vùng tái định cư Thủy điện Bản Chát
Trang 3224
Kết quả sản xuất kinh doanh của vùng tái định cư trong 3 năm qua có xu
hướng tăng Tổng giá trị sản xuất năm 2017 đạt 287,40 tỷ đồng, năm 2018 là 306,94
tỷ đồng, đến năm 2019 đạt 330,27 tỷ đồng Tốc độ tăng bình quân mỗi năm đạt 7,27% Trong đó, ngành nông nghiệp tuy vẫn tăng về giá trị nhưng có xu hướng giảm về tỷ trọng trong cơ cấu tổng giá trị sản xuất của toàn vùng Năm 2017, tỷ trọng ngành nông nghiệp chiếm 80,4% tổng giá trị sản xuất, đến năm 2019 chiếm 74,63% Trong ngành nông nghiệp, trồng trọt vẫn chiếm giá trị và tỷ trọng lớn hơn ngành chăn nuôi, tuy nhiên tốc độ tăng bình quân về giá trị sản xuất của ngành chăn nuôi cao hơn trồng trọt Đây là một dấu hiệu tích cực đối với sự phát triển kinh tế của vùng
Công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, thương mại dịch vụ và các lĩnh vực khác ngoài nông nghiệp chiếm tỷ lệ thấp hơn trong cơ cấu giá trị sản xuất, tuy nhiên, trong những năm qua lĩnh vực này có tốc độ tăng trưởng khá lớn nhờ xu hướng chuyển dịch cơ cấu kinh tế của các địa phương Hoạt động dịch vụ chủ yếu trong vùng là buôn bán, kinh doanh nhỏ diễn ra phần lớn ở khu vực đô thị và khu trung tâm vùng tái định cư Năm 2017, tổng giá trị sản xuất ngành công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, dịch vụ là 54,8 tỷ đồng, đến năm 2018 là 71,21 tỷ đồng, năm 2019 là 83,79 tỷ đồng, bình quân mỗi năm tăng 18,81%
Nhìn chung, kinh tế vùng tái định cư từng bước tăng trưởng về quy mô và dần chuyển dịch về cơ cấu theo hướng chuyển từ lĩnh vực nông nghiệp sang phi nông nghiệp Đây là sự chuyển hướng phù hợp với công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa của nước ta
2.1.3 Những thuận lợi khó khăn về điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội
Trang 3325
- Cơ cấu kinh tế từng bước có sự chuyển dịch theo hướng CNH, HĐH, trong
đó tỷ trọng giá trị sản xuất ngành nông nghiệp có xu hướng giảm dần, tỷ trọng giá
trị sản xuất ngành công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, thương mại, dịch vụ và du lịch
có tốc độ tăng nhanh
2.1.3.1 Khó khăn
- Địa hình hiểm trở, CSHT chưa đầy đủ và đồng bộ, xuống cấp nhanh, giao
thông không thuận lợi, thị trường kém phát triển gây khó khăn cho hoạt động sản
xuất kinh doanh
- Hoạt động kinh tế chủ yếu là nông nghiệp, lâm nghiệp với trình độ canh tác
lạc hậu, chuyển dịch cơ cấu kinh tế từ nông nghiệp sang công nghiệp, dịch vụ chậm
- Trình độ dân trí thấp, phần lớn lao động chưa qua đào tạo, trình độ tay nghề
thấp, khả năng cập nhật, ứng phó với những thay đổi kém
- Thiếu các cơ sở kinh tế, các nhà máy, xí nghiệp, cơ sở sản xuất công nghiệp
quy mô lớn cần nhiều lao động để có thể thu hút lao động địa phương và góp phần
đẩy nhanh chuyển dịch cơ cấu kinh tế, cơ cấu lao động
- Đây là khu tái định cư tập trung có tính bắt buộc từ việc di dân để xây dựng
Thủy điện Bản Chát đã làm thay đổi cuộc sống lâu đời của người dân Tuy vậy, nhiều
người chưa thích nghi với môi trường sống mới, với các hoạt động có tính tập trung tại
nơi ở mới cũng như chưa nắm rõ về chính sách đền bù, hỗ trợ tái định cư; mặt khác, công
tác tổ chức triển khai rà soát, kiểm đến tài sản đo đạc phân loại đất của dân cũng phải thu
hồi có nơi còn chưa đảm bảo tính thống nhất và đầy đủ Những khó khăn, hạn chế đó đã
dẫn đến phát sinh kiếu nại, tố cáo, kiến nghị kéo dài của người dân tái định cư, thậm chí
đã có một số đoàn đông người tiếp tục kéo lên các cơ quan Trung ương
2.2 Thực trạng công tác bảo đảm an ninh con người tại khu tái định cư Thủy
điện Bản Chát
2.2.1.1 Triển khai các mô hình, dự án trong vùng tái định cư Thủy điện Bản Chát
- Các mô hình đầu tư sản xuất chủ yếu
Trang 3426
+ Mô hình trồng cây cao su
Cây cao su được trồng thử ở vùng Tây Bắc từ khá lâu, nhưng đến năm 2007 Tập đoàn Cao su Việt Nam mới chính thức triển khai dự án trồng cao su thương mại
ở khu vực này Cao su là cây có giá trị nhiều mặt như cho mủ, lấy gỗ, Cao su là loại cây có chu kỳ khai thác và kinh doanh dài, đây là cây trồng được tỉnh Lai Châu xác định là cây xóa đói, giảm nghèo cho đồng bào các dân tộc nói chung
Mô hình canh tác cây cao su theo phương thức người dân địa phương góp đất, vào làm công nhân trong công ty cao su, kết hợp mô hình trồng cây cao su xen các loại cây lương thực để tạo thêm lương thực cũng như thức ăn chăn nuôi
Hiện nay, các hộ dân khu tái định cư Thủy điện Bản Chát đã triển khai mô hình trồng cây cao su, hầu hết các điểm tái định cư đều ở cao độ thấp, có các điều kiện tự nhiên phù hợp với điều kiện sản xuất, sinh trưởng và phát triển cây cao su
Do vậy, những điểm tái định cư có đất lâm nghiệp nhưng không còn rừng đã áp dụng tốt mô hình trồng cao su trên đất lâm nghiệp
+ Mô hình trồng và chế biến lâm sản
Ngoài diện tích cây cao su đang được trồng ở nhiều điểm tái định cư, mô hình trồng và chế biến lâm sản cũng đang được áp dụng ở một số điểm nhằm khai thác, chế biến sản phẩm và gia tăng độ che phủ của rừng thông qua mô hình người nông dân góp vốn bằng giá trị quyền sử dụng đất hợp tác với công ty lâm nghiệp Sản phẩm ngành lâm nghiệp trên địa bàn vùng tái định cư chủ yếu là gỗ rừng trồng như: keo tai tượng, keo lai, bạch đàn, bồ đề, tếch, mỡ, giổi,…và các sản vật khác của rừng như tre, nứa, song, mây… Do nhu cầu sử dụng các sản phẩm từ rừng rất lớn nên hầu hết các sản phẩm được người dân khai thác, chế biến thành sản phẩm đều được tiêu thụ nhanh chóng
Mặc dù sản phẩm từ rừng thu về chưa nhiều, nhưng nhìn chung các loại cây rừng trồng đều phát triển khá tốt, trong tương lai khi đến kỳ thu hoạch sản phẩm, đây sẽ là một nguồn thu đáng kể của các hộ trồng rừng và được giao quản lý chăm sóc rừng Nhờ thị trường tiêu thụ tương đối ổn định nên mô hình trồng và chế biến lâm sản, bước đầu đã tạo thêm được nhiều việc làm có thu nhập, dù chưa cao, nhưng đã góp phần đảm bảo cuộc sống của người dân
Trang 3527
+ Mô hình chăn nuôi đại gia súc
Nuôi trâu, bò, dê, ngựa và các loại gia súc lớn để lấy thịt ở vùng Tây Bắc là nghề truyền thống, mô hình này có thể được triển khai tại hầu hết các điểm tái định
cư, tuy nhiên người dân ở đây quen với phương thức chăn thả gia súc nhỏ lẻ, chưa
có mô hình chăn nuôi tập trung Hiện nay, tại các khu, điểm tái định cư chưa có mô hình chăn nuôi đại gia súc
Do có điều kiện tự nhiên tương đối thuận lợi, thị trường tiêu thụ rộng nên việc chăn nuôi bò lấy thịt ở các xã, huyện thuộc vùng tái định cư có tiềm năng phát triển tốt Theo nhận định của các cấp chính quyền địa phương và kết quả khảo sát thực tế cho thấy, chăn nuôi đại gia súc nói chung và nuôi bò lấy thịt nói riêng là một giải pháp hiệu quả giúp các hộ tái định cư phát triển kinh tế bền vững
+ Mô hình nuôi thủy sản trên lòng hồ thủy điện Bản Chát
Khi hồ thủy điện Bản Chát tích nước và phát điện, một mô hình sản xuất mới xuất hiện trong vùngtái định cư , đó là nghề nuôi trồng thủy sản trong lòng hồ thủy điện với nhiều phương thức đa dạng, như: cá lồng bè, cá hồ chứa, cá ao Hiện tại, trên vùng TĐC đã triển khai hiệu quả mô hình nuôi cá lồng trên hồ thủy điện
Mô hình nuôi cá lồng tại một số khu vực thuộc vùng ven hồ có tiềm năng phát triển tốt Tuy nhiên, các hộ dân tái định cư cần được bồi dưỡng, tạo điều kiện tiếp cận với quy trình kỹ thuật, kiến thức cần thiết để có thể phát triển ngành này đem lại thu nhập và hiệu quả cao
- Các chương trình, dự án khác hỗ trợ từ nhà nước
+ Chương trình Mục tiêu quốc gia nước sạch và vệ sinh môi trường nông thôn
Đến hết năm 2019, hầu hết các điểm tái định cư thuộc dự án tái định cư thủy điện Bản Chát đã được hưởng theo chính sách đầu tư hỗ trợ của Dự án tái định cư nên Chương trình này hầu như không lồng ghép đầu tư, hỗ trợ
+ Chương trình khuyến nông, khuyến công
Hoạt động khuyến nông, khuyến công tại các tỉnh Lai Châu tập trung vào một số lĩnh vực chính, như: Hỗ trợ xây dựng mô hình trình diễn kỹ thuật, chuyển giao công nghệ và tiến bộ khoa học kỹ thuật; hỗ trợ cho các đối tượng sản xuất công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp; mở các lớp đào tạo nghề; tư vấn lập phương án, dự án
Trang 3628
phát triển mở rộng sản xuất kinh doanh Tuy nhiên, hoạt động khuyến công vẫn còn những hạn chế: Việc tư vấn phát triển công nghiệp còn yếu, kết quả tư vấn còn thấp chưa đáp ứng yêu cầu; công tác thu hút đầu tư và lựa chọn doanh nghiệp phối hợp trong hoạt động tư vấn công nghiệp chưa đạt hiệu quả; công tác thông tin tuyên truyền còn hạn chế, chưa đa dạng, chưa thường xuyên Đặc biệt, các hộ dân tại các khu, điểm tái định cư đô thị và vùng ven hồ còn gặp khó khăn trong việc phát triển sản xuất và ổn định đời sống do các tỉnh chậm triển khai phương án sản xuất, phương án chuyển đổi nghề nghiệp đến các hộ dân
2.2.1.2 Phát triển kinh tế của người dân tại vùng tái định cư Thủy điện Bản Chát
- Chiến lược, phát triển kinh tế của hộ dân sau khi tái định cư
Sau khi bị thu hồi đất và di chuyển đến nơi ở mới tại vùng tái định cư, các hộ nông dân được chính quyền địa phương, cán bộ khuyến nông hướng dẫn, giúp đỡ trong việc xây dựng, định hướng việc làm trong trước mắt và lâu dài Các hộ dân dựa vào các nguồn lực hiện có của gia đình và thực tế tại vùng tái định cư đưa ra
mô hình kinh tế khác nhau như trồng trọt, chăn nuôi, nuôi trồng thủy sản, làm nghề thủ công, làm công nhân, làm thuê, kinh doanh dịch vụ, du lịch hoặc các mô hình kinh tế hỗn hợp để tạo thu nhập thường xuyên, góp phần ổn định cuộc sống trong hoàn cảnh mới
Bảng 2.2: Các mô hình kinh tế của hộ nông dân năm 2019
Chỉ tiêu mô hình
Toàn vùng
Vùng tái định cư
đô thị
Vùng tái định cư ven hồ
Vùng TĐC xen ghép
SL CC SL CC SL CC SL CC (hộ) (%) (hộ) (%) (hộ) (%) (hộ) (%) Trồng trọt(TT)–Chăn nuôi
TT - CN - Ngành nghề 8 3,6 2 4,4 5 4,0 1 2,0
Trang 37(Nguồn: Tổng hợp kết quả điều tra)
Qua kết quả điều tra một số hộ dân cho thấy, mô hình sản xuất trồng trọt kết hợp với chăn nuôi vẫn là mô hình kinh tế chủ yếu của phần lớn hộ nông dân vùng tái định cư Tỷ lệ hộ dân làm nông nghiệp thuần túy (gồm trồng trọt và chăn nuôi) chiếm 55,9% tổng số hộ điều tra Ở mỗi điểm tái định cư, tỷ lệ này có sự khác nhau, trong đó, tỷ lệ hộ dân làm nông nghiệp thuần túy ở vùng tái định cư đô thị chiếm 40,0%; vùng tái định cư ven hồ là 60,3%; vùng tái định cư xen ghép là 59,2% Kết quả điều tra cũng cho thấy, các hộ nông dân đã căn cứ vào đặc điểm đất đai, vị trí địa lý, địa hình và đặc điểm kinh tế - xã hội của vùng tái định cư để lựa chọn mô hình phát triển kinh kế bền vững Các hộ nông dân sinh sống tại khu vực tái định cư
đô thị có xu hướng tận dụng lợi thế của đô thị và lựa chọn làm các ngành nghề phi nông nghiệp hoặc kết hợp để kiếm sống Trong khi đó, các hộ dân sinh sống ở vùng tái định cư ven hồ có xu hướng tận dụng điều kiện vùng ven hồ để phát triển sản
Trang 3830
xuất nông nghiệp và nuôi trồng thủy sản Đối với các hộ dân vùng tái định cƣ xen ghép, ngoài việc ƣu tiên lĩnh vực kinh tế truyền thống đó là sản xuất nông nghiệp,
họ cũng đã làm thêm các công việc khác, trong đó có việc làm thuê mang tính thời
vụ, làm công nhân, kinh doanh dịch vụ, du lịch… Kết quả trên cho thấy, có sự đa dạng ngành nghề trong hoạt động sinh kế của hộ nông dân Tuy nhiên mức độ tập trung và chiếm tỷ lệ cao nhất vẫn là sản xuất nông nghiệp
Bảng 2.3: Phân loại việc làm Việc làm có tính tạm thời Việc làm có tính lâu dài
- Lao động tự do,
- Làm thuê thời vụ
- Xe ôm
- Sản xuất nông nghiệp
- Kinh tế rừng (trồng, bảo vệ và khai thác)
Trang 3931
- Kết quả làm kinh tế của hộ dân sau khi tái định cư
Bảng 2.4: Thu nhập từ hoạt động sản xuất nông nghiệp bình quân hộ 2019
Vùng TĐC xen ghép
(tr.đ) (%) (tr.đ) (%) (tr.đ) (%) (tr.đ) (%) Thu từ SXNN 53,93 100 46,3 100 60,4 100 55,1 100
- Trồng trọt 35 64,9 28,5 61,6 38,7 64,1 37,8 68,6
- Chăn nuôi 14,23 26,4 14,6 31,5 14,5 24,0 13,6 24,7
- Thuỷ sản 4,7 8,7 3,2 6,9 7,2 11,9 3,7 6,7
(Nguồn: Tổng hợp kết quả điều tra)
Bảng số liệu trên cho thấy, thu nhập từ nông nghiệp của nhóm hộ vùng tái định cư ven hồ có số thu nhập lớn hơn so với nhóm hộ nông dân trong vùng tái định
cư đô thị và vùng tái định cư xen ghép Người dân đã cố gắng thích nghi để ổn định cuộc sống bằng nhiều hoạt động tạo thu nhập, nhiều mô hình kinh tế khác nhau
Bảng 2.5: Thu nhập từ hoạt động thương mại dịch vụ bình quân 1 hộ 2019
Vùng TĐC xen ghép
(tr.đ) (%) (tr.đ) (%) (tr.đ) (%) (tr.đ) (%) Thu từ TMDV 92,5 100,0 103,6 100 81,7 100 92,1 100
- Buôn bán 46,7 50,5 48,6 46,91 42,8 52,4 48,8 53,0
- Sửa chữa 24,7 26,7 30,0 28,96 20,4 25,0 23,6 25,6
- V n tải 21,1 22,8 25,0 24,13 18,5 22,6 19,7 21,4 (Nguồn: Tổng hợp kết quả điều tra)
Trong cơ cấu thu từ thương mại dịch vụ của hộ dân thì nguồn thu từ buôn bán vẫn chiếm tỷ lệ cao nhất, ở nhóm hộ vùng tái định cư đô thị là 46,91%, ở nhóm
hộ vùng tái định cư ven hồ là 52,4% và nhóm hộ vùng tái định cư xen ghép là 53,0% Số lượng các cửa hàng sửa chữa xe máy tuy có sự gia tăng nhưng số hộ
Trang 4032
tham gia chưa nhiều, tuy nhiên đây lại là một nguồn thu ổn định cho hộ dân Trong khi
đó, nguồn thu từ dịch vụ vận tải ở vùng tái định cư ven hồ và vùng tái định cư xen ghép không ổn định, phụ thuộc vào thời vụ và điều kiện kinh tế - xã hội địa phương
Nguồn thu từ kinh doanh dịch vụ cũng góp phần ổn định và nâng cao thu nhập của không ít hộ gia đình Trong đó, một số hộ có nhận được tiền đền bù, hỗ trợ
và có điều kiện kinh doanh, buôn bán đã mở cửa hàng kinh doanh các mặt hàng phục vụ sản xuất, sinh hoạt hoặc mở các dịch vụ như sửa chữa xe máy, xe đạp, vận chuyển hàng hóa,
Bảng 2.6: Thu nhập từ tiền công bình quân 1 hộ điều tra năm 2019
Vùng TĐC xen ghép
(Nguồn: Tổng hợp kết quả điều tra)
Sau khi tái định cư, có những lao động đã thay đổi việc làm, di chuyển ra khỏi lĩnh vực sản xuất nông nghiệp và thay thế bằng các công việc khác như làm công nhân cho cao su, làm thuê tự do tại địa phương hoặc di chuyển đến các đô thị lớn để làm thuê có tính chất thời vụ, Trong cơ cấu thu nhập từ tiền công, nguồn thu từ tiền lương công nhân vẫn chiếm tỷ lệ từ 50% trở lên trong các hộ vùng tái định cư Đây là nguồn thu thường xuyên và có tính chất ổn định cao Ngoài ra, nguồn thu từ việc làm thuê cũng chiếm tỷ lệ tương đối lớn trong cơ cấu tiền công của hộ Tuy nhiên, nguồn thu này không ổn định, không bền vững, nó tùy thuộc vào sức khỏe, độ tuổi, độ linh hoạt, nhanh nhạy của người lao động