Qua bảng thống kê này có thể thấy các doanh nghiệp kinh doanh trong ngành vận tải và kho bãi của nước ta chủ yếu là các doanh nghiệp vừa và nhỏ, vốn ít nên gặp khó khăn trong [r]
Trang 1THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN NGÀNH LOGISTICS CHO CÁC DOANH NGHIỆP VỪA VÀ NHỎ TẠI THÀNH PHỐ
HỒ CHÍ MINH TRONG HỘI NHẬP QUỐC TẾ
Nguyễn Hoàng Phương*, Cao Thị Quỳnh Giao**
TÓM TẮT
Nền kinh tế thế giới năm 2018 và đầu năm 2019 có nhiều biến động mạnh mẽ, cuộc chiến tranh thương mại Mỹ – Trung, đồng USD tăng giá so với nhiều đồng tiền khác và chi phí vay cao hơn là những quan ngại về nền kinh tế toàn cầu, đặc biệt là tại các nền kinh tế đang phát triển như Việt Nam Trong năm 2018 và 6 tháng đầu năm 2019 nền kinh tế Việt Nam vẫn duy trì mức tăng trưởng vững vàng trong năm nay, các dự báo lạm phát được điều chỉnh giảm từ mức 3,5% ban đầu xuống còn 3,0% trong năm 2019 Việc ký kết hiệp định thương mại tự do với Liên minh Châu Âu (EU) gần đây
và Hiệp định Đối tác toàn diện và tiến bộ xuyên Thái Bình Dương hứa hẹn sẽ mở ra khả năng tiếp cận thị trường cho các hoạt động thương mại và đầu tư lớn hơn tại Việt Nam Trước tiềm năng như thế, việc đưa ra giải pháp phát triển cho các doanh nghiệp logistics đặc biệt vừa và nhỏ tại TPHCM
là một nhu cầu cấp thiết trong giai đoạn hội nhập quốc tế.
Từ khóa: doanh nghiệp logistics vừa và nhỏ, thời kỳ hội nhập, xuất nhập khẩu, giải pháp.
SITUATION AND LOGISTICS DEVELOPMENT SITUATION FOR SMALL AND MEDIUM ENTERPRISES IN HO CHI MINH CITY IN INTERNATIONAL
INTEGRATION ABSTRACT
The world economy in 2018 and early 2019 had many strong fluctuations, the US-China trade war, the dollar appreciated against many other currencies and higher borrowing costs were concerns about the global economy, especially in developing countries like Vietnam In 2018 and the first 6 months of 2019, Vietnam’s economy maintained a stable growth this year, inflation forecasts were revised down from the original 3.5% to 3.0% in 2019 The recent signing of a free trade agreement with the European Union (EU) and the Comprehensive and Progressive Agreement for Trans-Pacific Partnership promises to open up market access for activities trade and investment activities in Vietnam Facing such potential, offering development solutions for especially small and medium logistics enterprises in Ho Chi Minh City is an urgent need in the stage of international integration.
Keywords: small and medium logistics enterprises, integration period, import and export,
solutions.
Trang 2I TỔNG QUAN TÌNH HÌNH PHÁT TRIỂN
NGÀNH LOGISTICS VIỆT NAM
Thuật ngữ logistics thường được hiểu
là quản lý chuỗi cung ứng (supply chain
management) hay quản lý hệ thống phân phối
của doanh nghiệp đó Dịch vụ logistics Việt
Nam bắt đầu phát triển trên cơ sở dịch vụ giao
nhận vận tải (freight forwarding) từ những năm
1986 Hiện nay tổng số doanh nghiệp hoạt động
trong lĩnh vực logistics theo khảo sát của Hiệp
Hội doanh nghiệp logistics VLA là khoảng hơn
3.500 doanh nghiệp trong đó 20% là công ty
nhà nước, 70% là công ty Trách nhiệm hữu hạn
và doanh nghiệp tư nhân là 10% Nhìn chung
các doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực dịch
vụ logistics hoạt động ở quy mô vốn đăng ký
nhỏ cũng như quy mô lao động hạn chế Cụ thể,
theo kết quả thống kê của VLA thì vẫn có tới
90% số doanh nghiệp dịch vụ logistics có vốn
điều lệ đăng ký dưới 10 tỷ đồng Doanh nghiệp
logistics Việt Nam còn khá non trẻ, quy mô đa số
là những doanh nghiệp vừa và nhỏ nhưng phát triển nhanh, phần lớn xuất phát điểm từ các hoạt động truyền thống như vận chuyển kho bãi
và đang phát triển các dịch vụ tích hợp có hàm lượng giá trị gia tăng cao Tuy nhiên năng lực giữa các doanh nghiệp không đồng đều, thiếu chuyên nghiệp, hoạt động logistics còn phân tán, thiếu kết nối nên chưa thuyết phục được chủ hàng tăng thuê ngoài dịch vụ logistics
Thống kê số lượng doanh nghiệp và tỷ trọng doanh nghiệp logistics phân bổ theo vùng miền cho thấy miền Nam đang chiếm khoảng 60% số doanh nghiệp trong ngành tiếp theo là miền Bắc Thành phố Hồ Chí Minh chiếm tỷ trọng lớn nhất về số lượng doanh nghiệp logistics (54%) và tiếp theo là Hà Nội (18%) Đây là hai thị trường tiêu thụ lớn đồng thời đây cũng là hai cửa ngõ kết nối giao thông quan trọng với toàn
bộ khu vực miền Đông và Tây Nam Bộ cũng như khu vực miền Bắc
Hình 1 Phân bổ doanh nghiệp logistics theo vùng miền
Nguồn: Cục Quản lý đăng ký kinh doanh - Bộ Kế hoạch và Đầu tư
• Hoạt động logistics phục vụ xuất nhập
khẩu hàng hóa.
Dựa vào chuỗi giá trị của logistics tại Việt
Nam, có thể thấy các hoạt động của chuỗi tập
trung vào giao nhận, vận tải nội địa, khai thác cảng biển và cảng hàng không, lưu kho bãi, quản lý hàng hóa và vận tải quốc tế
Trang 3Hình 2 Chuỗi giá trị ngành logistics.
Hoạt động logistics tạo ra một mạng lưới
dịch vụ hỗ trợ cho việc lưu chuyển hàng hóa
trong phạm vi nội địa và ngoài biên giới các
quốc gia và vùng lãnh thổ Doanh thu của ngành công nghiệp này trong năm 2017 được định lượng trị giá 4.3 nghìn tỷ USD
Hình 3 Trị giá xuất khẩu 10 nhóm hàng lớn nhất 6 tháng/2019
Nguồn: Tổng cục Hải quan.
Qua đó ta có thể thấy ngành logistics ảnh
hưởng trực tiếp và sâu rộng đến các sản phẩm
xuất nhập khẩu Nếu Việt Nam có thể giảm thiểu
được chi phí logistics quốc gia và nâng cao năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp logistics sẽ góp phần đẩy mạnh ngành xuất nhập khẩu
Trang 4II THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG CỦA
DOANH NGHIỆP LOGISTICS TẠI THÀNH
PHỐ HỒ CHÍ MINH.
Vấn đề nổi cộm nhất đối với các Doanh
nghiệp dịch vụ logistics của Việt Nam là chi phí
đang ở mức cao Theo nghiên cứu của Ngân hàng
Thế giới, chi phí logistics của Việt Nam tương
đương 20.9% so với GDP; trong đó chi phí vận
tải chiếm khoảng 59% Bên cạnh đó, chi phí xăng
dầu chiếm khoảng 30 - 35%, phí cầu đường (phí
BOT) bình quân chiếm khoảng 10-15% Theo
Bộ Giao thông Vận tải, chi phí vận chuyển bằng
container loại 40 feet bằng đường bộ từ Hà Nội
vào Tp Hồ Chí Minh (không tính chi phí xếp dỡ
hai đầu) khoảng 40 triệu đồng, cao gấp 9.7 lần so
với vận chuyển bằng đường biển và cao hơn 2.5
lần so với vận chuyển bằng đường sắt Tuyến vận
chuyển Hải Phòng - Tp Hồ Chí Minh với đoạn
đường khoảng 1,700km, tổng chi phí vận chuyển
và xếp dỡ cho một container 20 feet theo đường
bộ trung bình tốn khoảng 34 triệu đồng và 60 giờ,
đường sắt hết 12.4 triệu đồng và 120 giờ, đường
biển hết 5.2 triệu đồng và 120 giờ Quãng đường
từ Tp Hồ Chí Minh đi Cái Mép chưa đến 200km
nhưng cả đi và về phải đi qua 8 trạm thu phí,
riêng phí qua trạm đã mất 800,000 đồng, trong
khi giá cước vận tải cho tuyến này chỉ khoảng 4
triệu đồng Các chi phí này chưa bao gồm các chi
phí không chính thức khác phát sinh trong quá
trình vận chuyển hàng hoá Theo ước lượng của
World Bank, tỷ trọng chi phí không chính thức
so với tổng chi phí nội địa ở mức rất lớn, chiếm
đến 13.4%
Đơn vị % - Nguồn: Nhịp cầu đầu tư tổng hợp
Một trong những nguyên nhân của việc chi phí logistics cao là do quy mô của doanh nghiệp logistics Việt Nam đặc biệt là tại TPHCM không lớn Theo số liệu trên từ Tổng cục thống
kê, số lượng doanh nghiệp được báo cáo bao gồm các doanh nghiệp có đăng ký mã ngành với
Sở Kế hoạch và Đầu tư và những doanh nghiệp kinh doanh vận tải kho bãi không đăng ký mã ngành Theo đó các doanh nghiệp có quy mô về vốn lớn từ 50 tỷ đồng trở lên còn rất hạn chế, chỉ chiếm khoảng 4,68% số lượng doanh nghiệp trong năm 2015 Số lượng doanh nghiệp chiếm
tỷ trọng cao nhất qua các năm chủ yếu là các doanh nghiệp có số vốn tương đối nhỏ từ 1 tỷ đến dưới 5 tỷ đồng Thậm chí có một số lượng các doanh nghiệp có số vốn cực kỳ ít ỏi là dưới
500 triệu đồng
Hình 4 Số lượng doanh nghiệp logistics theo quy mô vốn.
Nguồn: Hiệp hội doanh nghiệp logistics Việt Nam.
Trang 5Qua bảng thống kê này có thể thấy các
doanh nghiệp kinh doanh trong ngành vận tải và
kho bãi của nước ta chủ yếu là các doanh nghiệp
vừa và nhỏ, vốn ít nên gặp khó khăn trong việc
đầu tư trang thiết bị máy móc hiện đại để hỗ trợ
cho hoạt động vận tải đường bộ ngày càng phát
triển trong khu vực và trên thế giới Đặc biệt
khi nước ta tham gia vào AEC, việc trở thành
một mắt xích quan trọng trong chuỗi vận tải
xuyên biên giới đòi hỏi phải có nỗ lực của doanh
nghiệp và cũng cần có một số tiền đầu tư lớn Vì
đa số doanh nghiệp có quy mô nhỏ lẻ phân tán
nên không khai thác được tính kinh tế nhờ quy
mô (economies of scale) và mạng lưới vốn là
một điểm mạnh của khai thác vận tải đường bộ
Ngoài ra hạn chế về khả năng tài chính và
trình độ quản trị doanh nghiệp là rào cản lớn
cho các doanh nghiệp logistics Việt Nam trong
xu thế hội nhập kinh tế khu vực và toàn cầu Đa
phần doanh nghiệp logistics là các doanh nghiệp
trong nước (88%), 10% là các doanh nghiệp liên
doanh và chỉ có 2% là doanh nghiệp 100% vốn
nước ngoài Phạm vi hoạt động của các doanh nghiệp logistics bao trùm cả thị trường quốc tế với 84% số doanh nghiệp dịch vụ logistics Việt Nam có phạm vi hoạt động cả trong và ngoài nước và có 16% doanh nghiệp chỉ hoạt động trong nước Một chỉ tiêu rất quan trọng để đánh giá năng lực của các doanh nghiệp trong lĩnh vực logistics là dựa trên việc kinh doanh có lãi hoặc lỗ của họ Theo số liệu từ Tổng Cục Thống
kê liên quan đến việc kinh doanh lãi lỗ của các doanh nghiệp vận tải -kho bãi (dựa trên số liệu
từ trên 24.000 doanh nghiệp liên quan) có thể thấy tỷ lệ các doanh nghiệp kinh doanh có lãi đã tăng theo các năm, tuy nhiên mức độ tăng đang chậm lại trong những năm gần đây Bên cạnh đó, việc thiếu hụt nguồn nhân lực và việc không kịp thời cập nhật CNTT cũng là các nguyên nhân khiến cho các doanh nghiệp ngành logistics tại TPHCM chậm phát triển so với toàn cầu
Một số vấn đề còn tồn tạo đối với việc phát triển ngành logistics cho các doanh nghiệp vừa và nhỏ tại TPHCM:
Hình 5 Thực trạng những khó khăn của doanh nghiệp logistics tại TPHCM năm 2018
Nguồn: Hiệp hội doanh nghiệp logistics Việt Nam.
Có thể thấy doanh nghiệp logistics tại
TPHCM đang gặp phải những khó khăn chủ yếu
và trọng điểm Trong Báo cáo cuối kỳ năm 2014
“Dịch vụ tư vấn: Hỗ trợ Bộ GTVT về Phát triển
Vận tải đa phương thức”, Công ty Tư vấn ALG
của Ngân hàng Thế giới (WB) đã thông tin chi
phí logistics của Việt Nam tương đương 20,9% GDP Theo báo cáo này, thì chi phí logistics trong tổng giá thành hàng hóa chiếm tỷ trọng cao ở các ngành hàng sản xuất gạo (29,8%), rau quả (29,5%), nội thất (22,8%) và chiếm tỷ trọng thấp ở các ngành hàng sản xuất giá trị cao như
Trang 6thiết bị và phụ tùng điện (3,5%), dược phẩm
(0,3%), ô tô (2%) và điện tử (1,2%) Do đó, khi
so sánh đánh giá chi phí logistics tương đương
với GDP của Việt Nam so với các nước trên thế
giới, cũng cần có sự phân tích sâu để thấy rằng
chi phí logistics/GDP sẽ thấp khi giá trị đóng
góp vào GDP đến từ các ngành sản xuất giá trị
cao và ngược lại Đối với từng mặt hàng khác
nhau chi phí logistics chiếm tỷ lệ khác nhau,
với mặt hàng thủy sản xuất khẩu, chi phí vận tải
chiếm 51%, lưu kho chiếm 20%, xếp dỡ 23%,
đóng gói 5% và cảng phí 1%; mặt hàng may
mặc xuất khẩu chi phí vận tải là 61%, lưu kho
9%, xếp dỡ 19%, đóng gói 9% và cảng phí 2%;
gạo xuất khẩu chi phí vận tải chiếm 58%, lưu
kho chiếm 10%, xếp dỡ 24%, đóng gói 7% và
cảng phí chiếm 1%; cây ăn trái chi phí vận tải
chiếm 61%, lưu kho 14%, xếp dỡ 20%, đóng gói
5% và cảng phí là 1% Theo đánh giá sơ bộ, cơ
cấu chi phí chủ yếu của các phương thức vận tải
hàng hóa trong tổng chi phí vận tải bao gồm: chi
trực tiếp (Khấu hao, tiền lương công nhân vận
hành, nhiên liệu, sửa chữa, bảo dưỡng) chiếm từ
60% đến 80%; chi phí gián tiếp (Chi phí quản
lý điều hành, lệ phí cầu đường, bến bãi, chi phí
khác…) chiếm từ 20% đến 40%
Thiểu hụt nhân sự là một trong ba vấn đề
lớn gây khó khăn cho các công ty logistics trong
hoạt động kinh doanh của mình Việt Nam có
khoảng 4.000 doanh nghiệp hoạt động chuyên
nghiệp, trong đó 54% số doanh nghiệp tập trung
trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh, nhu cầu
về nguồn nhân sự logistics là rất lớn Dự báo
đến năm 2030 nhu cầu nhân lực chuyên nghiệp
cho toàn ngành là 200.000 nhân sự, trong khi
đó khả năng đáp ứng nhu cầu nhân sự chỉ đạt
khoảng 10% - một con số vô cùng khiêm tốn
Ngoài ra, nếu tính cả nhu cầu nhân lực logistics
từ các doanh nghiệp sản xuất thì nhu cầu nhân
lực logistics có thể lên đến 2,2 triệu người đến
năm 2030 Như vậy, việc đánh giá thực trạng
công tác tuyển dụng nhân viên logistics của các
doanh nghiệp là việc làm hết sức cần thiết và có
ý nghĩa quan trọng góp phần nâng cao năng lực doanh nghiệp logistics Việt Nam
Bên cạnh những khó khăn chính thì hiện tại Nhà nước đang bắt đầu tiến hành các chủ trương chính sách nhằm cải thiện chi phí logistics cho doanh nghiệp Việt Nam, tuy nhiên doanh nghiệp logistics vẫn còn nhiều mặt vướng mắc khó phát triển ở các lý do sau:
- Thiếu cơ sở vật chất trang thiết bị hiện đại, hệ thống IT chưa cập nhật kịp với nền công nghiệp 4.0
- Các phương thức vận tải còn rời rạc, thiếu liên kết
- Đa số doanh nghiệp có quy mô nhỏ lẻ phân tán nên không khai thác được tính kinh tế
về quy mô và mạng lưới vốn
- Hạn chế về khả năng tài chính và trình
độ quản trị doanh nghiệp
- Không cập nhật, nắm bắt xu hướng phát triển công nghệ thông tin
- Thiếu hụt nhân lực và nhân lực chất lượng cao
NGÀNH LOGISTICS CHO CÁC DOANH NGHIỆP VỪA VÀ NHỎ TẠI TPHCM TRONG HỘI NHẬP QUỐC TẾ.
Ngành dịch vụ logistics Việt Nam đã được Nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ XII xác định làmột “ngành dịch vụ giá trị gia tăng cao” và phải
“hiện đại và mở rộng” dịch vụ logistics Ngành dịch vụ logistics đã có nhiều chuyển biến tích cực sau khi có Quyết định 200/QĐ-TTg, ngày 14/02/2017 của Thủ tướng Chính phủ “Về phê duyệt Chương trình hành động nâng cao năng lực cạnh tranh và phát triển dịch vụ logistics đến năm 2025” Các Bộ, ngành và địa phương, các doanh nghiệp cung cấp dịch vụ logistics và VLA đã có các kế hoạch triển khai thực hiện Quyết định 200 và thu được kết quả bước đầu đáng kích lệ Nhiều hội nghị, hội thảo, đặc biệt
là “Hội nghị toàn quốc về logistics - Các giải pháp giảm chi phí, kết nối hiệu quả hệ thống hạ tầng giao thông vận tải”, ngày 16/04/2018 tại
Trang 7Hà Nội do Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Xuân
Phúc chủ trì đã thể hiện quyết tâm của Đảng và
Nhà nước Việt Nam trong việc phát triển ngành
dịch vụ logistics nước ta Theo LPI 2018 của
Ngân hàng Thế giới, Việt Nam đã tăng 25 bậc
lên 39/160 nước được khảo sát, so với 64 bậc
năm 2016 Một số giải pháp nhằm giúp các
doanh nghiệp ngành logistics tại TPHCM nâng
cao năng lực cạnh tranh trong hội nhập quốc tế:
Một là tập trung đẩy mạnh kết nối giữa
các phương thức vận tải; Đẩy mạnh phát triển
dịch vụ vận tải thu gom hàng từ các trung tâm
phân phối theo khu vực đến các điểm bán lẻ, vận
tải cự ly ngắn, khối lượng vận tải nhỏ đến trung
bình; tham gia vào chuỗi vận tải đa phương
thức kết nối giữa các đầu mối của phương thức
vận tải khối lượng lớn (đường biển, đường sắt,
đường thuỷ nội địa) đến các trung tâm phân phối
quy mô vừa và nhỏ
Đối với đường bộ: Phát huy lợi thế của
vận tải đường bộ trong gom hàng, tạo chân
hàng, vận chuyển hàng hóa với cự ly ngắn và
trung bình; giảm thị phần vận tải đường bộ liên
tỉnh, chia sẻ thị phần cho các phương thức vận
tải khác;
Đối với đường sắt: Chủ yếu đảm nhận vận
tải hàng hóa đường dài hoặc trung bình, khối
lượng lớn; tăng thị phần đảm nhận của vận tải
đường sắt trên các hành lang vận tải chủ yếu
Đối với đường thủy nội địa: Chủ yếu đảm
nhận vận tải hàng rời khối lượng lớn (than, xi
măng, phân bón, thép…) với chi phí thấp, hàng
siêu trường, siêu trọng, vận tải chuyển tiếp phục
vụ nông nghiệp và nông thôn; tăng thị phần đảm
nhận của vận tải đường thủy nội địa tại khu vực
đồng bằng sông Cửu Long và đồng bằng sông
Hồng, vận tải pha sông biển
Đối với hàng hải: Chủ yếu đảm nhận vận
chuyển hàng hóa viễn dương, các tuyến ven
biển, nhất là vận tải Bắc - Nam, vận tải than
nhập khẩu phục vụ các nhà máy nhiệt điện, vận
chuyển dầu thô phục vụ các nhà máy lọc hóa
dầu; chú trọng đầu tư đảm bảo sự kết nối liên
hoàn giữa cảng biển với mạng giao thông quốc gia và đầu mối logistics ở khu vực, phát triển kết cấu hạ tầng hỗ trợ phát triển dịch vụ logistics Đối với hàng không: Chủ yếu đảm nhận vận tải hàng hóa có giá trị kinh tế cao; phát triển vận tải hàng không trở thành phương thức vận tải an toàn và thuận tiện theo hướng thị trường
mở, gắn liền với thị trường vận tải hàng không khu vực và thế giới;
Hai là, Kết nối các doanh nghiệp logistics
vừa và nhỏ cùng nhau phát triển sàn giao dịch logistics, tối ưu hóa vận tải hai chiều hàng hóa, container, tiếp tục tăng cường hoạt động của tuyến vận tải sông pha biển để giảm thiểu chi phí logistics đặc biệt là từ vùng Đồng bằng sông Cửu Long đến TPHCM và ngược lại Để đảm bảo cung ứng một chuỗi logistics trọn vẹn như các doanh nghiệp nước ngoài, các doanh nghiệp cung cấp dịch vụ logisitcs cần hợp tác
và chia sẻ nguồn lực xây dựng chuỗi dịch vụ trọn gói Điều này giúp có khả năng cạnh tranh tốt hơn và đặc biệt là có thể đầu tư chiều sâu vào logistics cả về con người và hệ thống thông tin - hai thế mạnh nổi bật của các nhà cung cấp dịch vụ logistics nước ngoài Các doanh nghiệp dịch vụ logistics là những doanh nghiệp tiếp xúc nhiều với nước ngoài, học hỏi được nhiều kinh nghiệm về hội nhập và cạnh tranh nên càng phải chủ động, có chiến lược phát triển bài bản để
mở rộng phạm vi và quy mô hoạt động, đem lại dịch vụ chất lượng cao với chi phí thích hợp cho khách hàng Đẩy mạnh hợp tác quốc tế trong lĩnh vực logistics Tiếp tục mở rộng kết nối hạ tầng logistics với các nước trong khu vực ASEAN, Đông Bắc Á và các khu vực khác trên thế giới nhằm phát huy tác dụng của vận tải đa phương thức, vận tải xuyên biên giới và quá cảnh Xây dựng công trình giao thông, kho bãi, trung tâm logistics trên các tuyến đường, hành lang kết nối các cảng của Việt Nam với Lào, Campuchia, Thái Lan và Nam Trung Quốc Tăng cường liên kết với các hiệp hội và DN dịch vụ logistics khu vực ASEAN và trên thế giới Vận động thu