1. Trang chủ
  2. » Mẫu Slide

Thực trạng và giải pháp phát triển ngành logistics cho các doanh nghiệp vừa và nhỏ tại thành phố Hồ Chí Minh trong hội nhập quốc tế - Trường Đại Học Quốc Tế Hồng Bàng

7 43 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 7
Dung lượng 330,76 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Qua bảng thống kê này có thể thấy các doanh nghiệp kinh doanh trong ngành vận tải và kho bãi của nước ta chủ yếu là các doanh nghiệp vừa và nhỏ, vốn ít nên gặp khó khăn trong [r]

Trang 1

THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN NGÀNH LOGISTICS CHO CÁC DOANH NGHIỆP VỪA VÀ NHỎ TẠI THÀNH PHỐ

HỒ CHÍ MINH TRONG HỘI NHẬP QUỐC TẾ

Nguyễn Hoàng Phương*, Cao Thị Quỳnh Giao**

TÓM TẮT

Nền kinh tế thế giới năm 2018 và đầu năm 2019 có nhiều biến động mạnh mẽ, cuộc chiến tranh thương mại Mỹ – Trung, đồng USD tăng giá so với nhiều đồng tiền khác và chi phí vay cao hơn là những quan ngại về nền kinh tế toàn cầu, đặc biệt là tại các nền kinh tế đang phát triển như Việt Nam Trong năm 2018 và 6 tháng đầu năm 2019 nền kinh tế Việt Nam vẫn duy trì mức tăng trưởng vững vàng trong năm nay, các dự báo lạm phát được điều chỉnh giảm từ mức 3,5% ban đầu xuống còn 3,0% trong năm 2019 Việc ký kết hiệp định thương mại tự do với Liên minh Châu Âu (EU) gần đây

và Hiệp định Đối tác toàn diện và tiến bộ xuyên Thái Bình Dương hứa hẹn sẽ mở ra khả năng tiếp cận thị trường cho các hoạt động thương mại và đầu tư lớn hơn tại Việt Nam Trước tiềm năng như thế, việc đưa ra giải pháp phát triển cho các doanh nghiệp logistics đặc biệt vừa và nhỏ tại TPHCM

là một nhu cầu cấp thiết trong giai đoạn hội nhập quốc tế.

Từ khóa: doanh nghiệp logistics vừa và nhỏ, thời kỳ hội nhập, xuất nhập khẩu, giải pháp.

SITUATION AND LOGISTICS DEVELOPMENT SITUATION FOR SMALL AND MEDIUM ENTERPRISES IN HO CHI MINH CITY IN INTERNATIONAL

INTEGRATION ABSTRACT

The world economy in 2018 and early 2019 had many strong fluctuations, the US-China trade war, the dollar appreciated against many other currencies and higher borrowing costs were concerns about the global economy, especially in developing countries like Vietnam In 2018 and the first 6 months of 2019, Vietnam’s economy maintained a stable growth this year, inflation forecasts were revised down from the original 3.5% to 3.0% in 2019 The recent signing of a free trade agreement with the European Union (EU) and the Comprehensive and Progressive Agreement for Trans-Pacific Partnership promises to open up market access for activities trade and investment activities in Vietnam Facing such potential, offering development solutions for especially small and medium logistics enterprises in Ho Chi Minh City is an urgent need in the stage of international integration.

Keywords: small and medium logistics enterprises, integration period, import and export,

solutions.

Trang 2

I TỔNG QUAN TÌNH HÌNH PHÁT TRIỂN

NGÀNH LOGISTICS VIỆT NAM

Thuật ngữ logistics thường được hiểu

là quản lý chuỗi cung ứng (supply chain

management) hay quản lý hệ thống phân phối

của doanh nghiệp đó Dịch vụ logistics Việt

Nam bắt đầu phát triển trên cơ sở dịch vụ giao

nhận vận tải (freight forwarding) từ những năm

1986 Hiện nay tổng số doanh nghiệp hoạt động

trong lĩnh vực logistics theo khảo sát của Hiệp

Hội doanh nghiệp logistics VLA là khoảng hơn

3.500 doanh nghiệp trong đó 20% là công ty

nhà nước, 70% là công ty Trách nhiệm hữu hạn

và doanh nghiệp tư nhân là 10% Nhìn chung

các doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực dịch

vụ logistics hoạt động ở quy mô vốn đăng ký

nhỏ cũng như quy mô lao động hạn chế Cụ thể,

theo kết quả thống kê của VLA thì vẫn có tới

90% số doanh nghiệp dịch vụ logistics có vốn

điều lệ đăng ký dưới 10 tỷ đồng Doanh nghiệp

logistics Việt Nam còn khá non trẻ, quy mô đa số

là những doanh nghiệp vừa và nhỏ nhưng phát triển nhanh, phần lớn xuất phát điểm từ các hoạt động truyền thống như vận chuyển kho bãi

và đang phát triển các dịch vụ tích hợp có hàm lượng giá trị gia tăng cao Tuy nhiên năng lực giữa các doanh nghiệp không đồng đều, thiếu chuyên nghiệp, hoạt động logistics còn phân tán, thiếu kết nối nên chưa thuyết phục được chủ hàng tăng thuê ngoài dịch vụ logistics

Thống kê số lượng doanh nghiệp và tỷ trọng doanh nghiệp logistics phân bổ theo vùng miền cho thấy miền Nam đang chiếm khoảng 60% số doanh nghiệp trong ngành tiếp theo là miền Bắc Thành phố Hồ Chí Minh chiếm tỷ trọng lớn nhất về số lượng doanh nghiệp logistics (54%) và tiếp theo là Hà Nội (18%) Đây là hai thị trường tiêu thụ lớn đồng thời đây cũng là hai cửa ngõ kết nối giao thông quan trọng với toàn

bộ khu vực miền Đông và Tây Nam Bộ cũng như khu vực miền Bắc

Hình 1 Phân bổ doanh nghiệp logistics theo vùng miền

Nguồn: Cục Quản lý đăng ký kinh doanh - Bộ Kế hoạch và Đầu tư

Hoạt động logistics phục vụ xuất nhập

khẩu hàng hóa.

Dựa vào chuỗi giá trị của logistics tại Việt

Nam, có thể thấy các hoạt động của chuỗi tập

trung vào giao nhận, vận tải nội địa, khai thác cảng biển và cảng hàng không, lưu kho bãi, quản lý hàng hóa và vận tải quốc tế

Trang 3

Hình 2 Chuỗi giá trị ngành logistics.

Hoạt động logistics tạo ra một mạng lưới

dịch vụ hỗ trợ cho việc lưu chuyển hàng hóa

trong phạm vi nội địa và ngoài biên giới các

quốc gia và vùng lãnh thổ Doanh thu của ngành công nghiệp này trong năm 2017 được định lượng trị giá 4.3 nghìn tỷ USD

Hình 3 Trị giá xuất khẩu 10 nhóm hàng lớn nhất 6 tháng/2019

Nguồn: Tổng cục Hải quan.

Qua đó ta có thể thấy ngành logistics ảnh

hưởng trực tiếp và sâu rộng đến các sản phẩm

xuất nhập khẩu Nếu Việt Nam có thể giảm thiểu

được chi phí logistics quốc gia và nâng cao năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp logistics sẽ góp phần đẩy mạnh ngành xuất nhập khẩu

Trang 4

II THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG CỦA

DOANH NGHIỆP LOGISTICS TẠI THÀNH

PHỐ HỒ CHÍ MINH.

Vấn đề nổi cộm nhất đối với các Doanh

nghiệp dịch vụ logistics của Việt Nam là chi phí

đang ở mức cao Theo nghiên cứu của Ngân hàng

Thế giới, chi phí logistics của Việt Nam tương

đương 20.9% so với GDP; trong đó chi phí vận

tải chiếm khoảng 59% Bên cạnh đó, chi phí xăng

dầu chiếm khoảng 30 - 35%, phí cầu đường (phí

BOT) bình quân chiếm khoảng 10-15% Theo

Bộ Giao thông Vận tải, chi phí vận chuyển bằng

container loại 40 feet bằng đường bộ từ Hà Nội

vào Tp Hồ Chí Minh (không tính chi phí xếp dỡ

hai đầu) khoảng 40 triệu đồng, cao gấp 9.7 lần so

với vận chuyển bằng đường biển và cao hơn 2.5

lần so với vận chuyển bằng đường sắt Tuyến vận

chuyển Hải Phòng - Tp Hồ Chí Minh với đoạn

đường khoảng 1,700km, tổng chi phí vận chuyển

và xếp dỡ cho một container 20 feet theo đường

bộ trung bình tốn khoảng 34 triệu đồng và 60 giờ,

đường sắt hết 12.4 triệu đồng và 120 giờ, đường

biển hết 5.2 triệu đồng và 120 giờ Quãng đường

từ Tp Hồ Chí Minh đi Cái Mép chưa đến 200km

nhưng cả đi và về phải đi qua 8 trạm thu phí,

riêng phí qua trạm đã mất 800,000 đồng, trong

khi giá cước vận tải cho tuyến này chỉ khoảng 4

triệu đồng Các chi phí này chưa bao gồm các chi

phí không chính thức khác phát sinh trong quá

trình vận chuyển hàng hoá Theo ước lượng của

World Bank, tỷ trọng chi phí không chính thức

so với tổng chi phí nội địa ở mức rất lớn, chiếm

đến 13.4%

Đơn vị % - Nguồn: Nhịp cầu đầu tư tổng hợp

Một trong những nguyên nhân của việc chi phí logistics cao là do quy mô của doanh nghiệp logistics Việt Nam đặc biệt là tại TPHCM không lớn Theo số liệu trên từ Tổng cục thống

kê, số lượng doanh nghiệp được báo cáo bao gồm các doanh nghiệp có đăng ký mã ngành với

Sở Kế hoạch và Đầu tư và những doanh nghiệp kinh doanh vận tải kho bãi không đăng ký mã ngành Theo đó các doanh nghiệp có quy mô về vốn lớn từ 50 tỷ đồng trở lên còn rất hạn chế, chỉ chiếm khoảng 4,68% số lượng doanh nghiệp trong năm 2015 Số lượng doanh nghiệp chiếm

tỷ trọng cao nhất qua các năm chủ yếu là các doanh nghiệp có số vốn tương đối nhỏ từ 1 tỷ đến dưới 5 tỷ đồng Thậm chí có một số lượng các doanh nghiệp có số vốn cực kỳ ít ỏi là dưới

500 triệu đồng

Hình 4 Số lượng doanh nghiệp logistics theo quy mô vốn.

Nguồn: Hiệp hội doanh nghiệp logistics Việt Nam.

Trang 5

Qua bảng thống kê này có thể thấy các

doanh nghiệp kinh doanh trong ngành vận tải và

kho bãi của nước ta chủ yếu là các doanh nghiệp

vừa và nhỏ, vốn ít nên gặp khó khăn trong việc

đầu tư trang thiết bị máy móc hiện đại để hỗ trợ

cho hoạt động vận tải đường bộ ngày càng phát

triển trong khu vực và trên thế giới Đặc biệt

khi nước ta tham gia vào AEC, việc trở thành

một mắt xích quan trọng trong chuỗi vận tải

xuyên biên giới đòi hỏi phải có nỗ lực của doanh

nghiệp và cũng cần có một số tiền đầu tư lớn Vì

đa số doanh nghiệp có quy mô nhỏ lẻ phân tán

nên không khai thác được tính kinh tế nhờ quy

mô (economies of scale) và mạng lưới vốn là

một điểm mạnh của khai thác vận tải đường bộ

Ngoài ra hạn chế về khả năng tài chính và

trình độ quản trị doanh nghiệp là rào cản lớn

cho các doanh nghiệp logistics Việt Nam trong

xu thế hội nhập kinh tế khu vực và toàn cầu Đa

phần doanh nghiệp logistics là các doanh nghiệp

trong nước (88%), 10% là các doanh nghiệp liên

doanh và chỉ có 2% là doanh nghiệp 100% vốn

nước ngoài Phạm vi hoạt động của các doanh nghiệp logistics bao trùm cả thị trường quốc tế với 84% số doanh nghiệp dịch vụ logistics Việt Nam có phạm vi hoạt động cả trong và ngoài nước và có 16% doanh nghiệp chỉ hoạt động trong nước Một chỉ tiêu rất quan trọng để đánh giá năng lực của các doanh nghiệp trong lĩnh vực logistics là dựa trên việc kinh doanh có lãi hoặc lỗ của họ Theo số liệu từ Tổng Cục Thống

kê liên quan đến việc kinh doanh lãi lỗ của các doanh nghiệp vận tải -kho bãi (dựa trên số liệu

từ trên 24.000 doanh nghiệp liên quan) có thể thấy tỷ lệ các doanh nghiệp kinh doanh có lãi đã tăng theo các năm, tuy nhiên mức độ tăng đang chậm lại trong những năm gần đây Bên cạnh đó, việc thiếu hụt nguồn nhân lực và việc không kịp thời cập nhật CNTT cũng là các nguyên nhân khiến cho các doanh nghiệp ngành logistics tại TPHCM chậm phát triển so với toàn cầu

Một số vấn đề còn tồn tạo đối với việc phát triển ngành logistics cho các doanh nghiệp vừa và nhỏ tại TPHCM:

Hình 5 Thực trạng những khó khăn của doanh nghiệp logistics tại TPHCM năm 2018

Nguồn: Hiệp hội doanh nghiệp logistics Việt Nam.

Có thể thấy doanh nghiệp logistics tại

TPHCM đang gặp phải những khó khăn chủ yếu

và trọng điểm Trong Báo cáo cuối kỳ năm 2014

“Dịch vụ tư vấn: Hỗ trợ Bộ GTVT về Phát triển

Vận tải đa phương thức”, Công ty Tư vấn ALG

của Ngân hàng Thế giới (WB) đã thông tin chi

phí logistics của Việt Nam tương đương 20,9% GDP Theo báo cáo này, thì chi phí logistics trong tổng giá thành hàng hóa chiếm tỷ trọng cao ở các ngành hàng sản xuất gạo (29,8%), rau quả (29,5%), nội thất (22,8%) và chiếm tỷ trọng thấp ở các ngành hàng sản xuất giá trị cao như

Trang 6

thiết bị và phụ tùng điện (3,5%), dược phẩm

(0,3%), ô tô (2%) và điện tử (1,2%) Do đó, khi

so sánh đánh giá chi phí logistics tương đương

với GDP của Việt Nam so với các nước trên thế

giới, cũng cần có sự phân tích sâu để thấy rằng

chi phí logistics/GDP sẽ thấp khi giá trị đóng

góp vào GDP đến từ các ngành sản xuất giá trị

cao và ngược lại Đối với từng mặt hàng khác

nhau chi phí logistics chiếm tỷ lệ khác nhau,

với mặt hàng thủy sản xuất khẩu, chi phí vận tải

chiếm 51%, lưu kho chiếm 20%, xếp dỡ 23%,

đóng gói 5% và cảng phí 1%; mặt hàng may

mặc xuất khẩu chi phí vận tải là 61%, lưu kho

9%, xếp dỡ 19%, đóng gói 9% và cảng phí 2%;

gạo xuất khẩu chi phí vận tải chiếm 58%, lưu

kho chiếm 10%, xếp dỡ 24%, đóng gói 7% và

cảng phí chiếm 1%; cây ăn trái chi phí vận tải

chiếm 61%, lưu kho 14%, xếp dỡ 20%, đóng gói

5% và cảng phí là 1% Theo đánh giá sơ bộ, cơ

cấu chi phí chủ yếu của các phương thức vận tải

hàng hóa trong tổng chi phí vận tải bao gồm: chi

trực tiếp (Khấu hao, tiền lương công nhân vận

hành, nhiên liệu, sửa chữa, bảo dưỡng) chiếm từ

60% đến 80%; chi phí gián tiếp (Chi phí quản

lý điều hành, lệ phí cầu đường, bến bãi, chi phí

khác…) chiếm từ 20% đến 40%

Thiểu hụt nhân sự là một trong ba vấn đề

lớn gây khó khăn cho các công ty logistics trong

hoạt động kinh doanh của mình Việt Nam có

khoảng 4.000 doanh nghiệp hoạt động chuyên

nghiệp, trong đó 54% số doanh nghiệp tập trung

trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh, nhu cầu

về nguồn nhân sự logistics là rất lớn Dự báo

đến năm 2030 nhu cầu nhân lực chuyên nghiệp

cho toàn ngành là 200.000 nhân sự, trong khi

đó khả năng đáp ứng nhu cầu nhân sự chỉ đạt

khoảng 10% - một con số vô cùng khiêm tốn

Ngoài ra, nếu tính cả nhu cầu nhân lực logistics

từ các doanh nghiệp sản xuất thì nhu cầu nhân

lực logistics có thể lên đến 2,2 triệu người đến

năm 2030 Như vậy, việc đánh giá thực trạng

công tác tuyển dụng nhân viên logistics của các

doanh nghiệp là việc làm hết sức cần thiết và có

ý nghĩa quan trọng góp phần nâng cao năng lực doanh nghiệp logistics Việt Nam

Bên cạnh những khó khăn chính thì hiện tại Nhà nước đang bắt đầu tiến hành các chủ trương chính sách nhằm cải thiện chi phí logistics cho doanh nghiệp Việt Nam, tuy nhiên doanh nghiệp logistics vẫn còn nhiều mặt vướng mắc khó phát triển ở các lý do sau:

- Thiếu cơ sở vật chất trang thiết bị hiện đại, hệ thống IT chưa cập nhật kịp với nền công nghiệp 4.0

- Các phương thức vận tải còn rời rạc, thiếu liên kết

- Đa số doanh nghiệp có quy mô nhỏ lẻ phân tán nên không khai thác được tính kinh tế

về quy mô và mạng lưới vốn

- Hạn chế về khả năng tài chính và trình

độ quản trị doanh nghiệp

- Không cập nhật, nắm bắt xu hướng phát triển công nghệ thông tin

- Thiếu hụt nhân lực và nhân lực chất lượng cao

NGÀNH LOGISTICS CHO CÁC DOANH NGHIỆP VỪA VÀ NHỎ TẠI TPHCM TRONG HỘI NHẬP QUỐC TẾ.

Ngành dịch vụ logistics Việt Nam đã được Nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ XII xác định làmột “ngành dịch vụ giá trị gia tăng cao” và phải

“hiện đại và mở rộng” dịch vụ logistics Ngành dịch vụ logistics đã có nhiều chuyển biến tích cực sau khi có Quyết định 200/QĐ-TTg, ngày 14/02/2017 của Thủ tướng Chính phủ “Về phê duyệt Chương trình hành động nâng cao năng lực cạnh tranh và phát triển dịch vụ logistics đến năm 2025” Các Bộ, ngành và địa phương, các doanh nghiệp cung cấp dịch vụ logistics và VLA đã có các kế hoạch triển khai thực hiện Quyết định 200 và thu được kết quả bước đầu đáng kích lệ Nhiều hội nghị, hội thảo, đặc biệt

là “Hội nghị toàn quốc về logistics - Các giải pháp giảm chi phí, kết nối hiệu quả hệ thống hạ tầng giao thông vận tải”, ngày 16/04/2018 tại

Trang 7

Hà Nội do Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Xuân

Phúc chủ trì đã thể hiện quyết tâm của Đảng và

Nhà nước Việt Nam trong việc phát triển ngành

dịch vụ logistics nước ta Theo LPI 2018 của

Ngân hàng Thế giới, Việt Nam đã tăng 25 bậc

lên 39/160 nước được khảo sát, so với 64 bậc

năm 2016 Một số giải pháp nhằm giúp các

doanh nghiệp ngành logistics tại TPHCM nâng

cao năng lực cạnh tranh trong hội nhập quốc tế:

Một là tập trung đẩy mạnh kết nối giữa

các phương thức vận tải; Đẩy mạnh phát triển

dịch vụ vận tải thu gom hàng từ các trung tâm

phân phối theo khu vực đến các điểm bán lẻ, vận

tải cự ly ngắn, khối lượng vận tải nhỏ đến trung

bình; tham gia vào chuỗi vận tải đa phương

thức kết nối giữa các đầu mối của phương thức

vận tải khối lượng lớn (đường biển, đường sắt,

đường thuỷ nội địa) đến các trung tâm phân phối

quy mô vừa và nhỏ

Đối với đường bộ: Phát huy lợi thế của

vận tải đường bộ trong gom hàng, tạo chân

hàng, vận chuyển hàng hóa với cự ly ngắn và

trung bình; giảm thị phần vận tải đường bộ liên

tỉnh, chia sẻ thị phần cho các phương thức vận

tải khác;

Đối với đường sắt: Chủ yếu đảm nhận vận

tải hàng hóa đường dài hoặc trung bình, khối

lượng lớn; tăng thị phần đảm nhận của vận tải

đường sắt trên các hành lang vận tải chủ yếu

Đối với đường thủy nội địa: Chủ yếu đảm

nhận vận tải hàng rời khối lượng lớn (than, xi

măng, phân bón, thép…) với chi phí thấp, hàng

siêu trường, siêu trọng, vận tải chuyển tiếp phục

vụ nông nghiệp và nông thôn; tăng thị phần đảm

nhận của vận tải đường thủy nội địa tại khu vực

đồng bằng sông Cửu Long và đồng bằng sông

Hồng, vận tải pha sông biển

Đối với hàng hải: Chủ yếu đảm nhận vận

chuyển hàng hóa viễn dương, các tuyến ven

biển, nhất là vận tải Bắc - Nam, vận tải than

nhập khẩu phục vụ các nhà máy nhiệt điện, vận

chuyển dầu thô phục vụ các nhà máy lọc hóa

dầu; chú trọng đầu tư đảm bảo sự kết nối liên

hoàn giữa cảng biển với mạng giao thông quốc gia và đầu mối logistics ở khu vực, phát triển kết cấu hạ tầng hỗ trợ phát triển dịch vụ logistics Đối với hàng không: Chủ yếu đảm nhận vận tải hàng hóa có giá trị kinh tế cao; phát triển vận tải hàng không trở thành phương thức vận tải an toàn và thuận tiện theo hướng thị trường

mở, gắn liền với thị trường vận tải hàng không khu vực và thế giới;

Hai là, Kết nối các doanh nghiệp logistics

vừa và nhỏ cùng nhau phát triển sàn giao dịch logistics, tối ưu hóa vận tải hai chiều hàng hóa, container, tiếp tục tăng cường hoạt động của tuyến vận tải sông pha biển để giảm thiểu chi phí logistics đặc biệt là từ vùng Đồng bằng sông Cửu Long đến TPHCM và ngược lại Để đảm bảo cung ứng một chuỗi logistics trọn vẹn như các doanh nghiệp nước ngoài, các doanh nghiệp cung cấp dịch vụ logisitcs cần hợp tác

và chia sẻ nguồn lực xây dựng chuỗi dịch vụ trọn gói Điều này giúp có khả năng cạnh tranh tốt hơn và đặc biệt là có thể đầu tư chiều sâu vào logistics cả về con người và hệ thống thông tin - hai thế mạnh nổi bật của các nhà cung cấp dịch vụ logistics nước ngoài Các doanh nghiệp dịch vụ logistics là những doanh nghiệp tiếp xúc nhiều với nước ngoài, học hỏi được nhiều kinh nghiệm về hội nhập và cạnh tranh nên càng phải chủ động, có chiến lược phát triển bài bản để

mở rộng phạm vi và quy mô hoạt động, đem lại dịch vụ chất lượng cao với chi phí thích hợp cho khách hàng Đẩy mạnh hợp tác quốc tế trong lĩnh vực logistics Tiếp tục mở rộng kết nối hạ tầng logistics với các nước trong khu vực ASEAN, Đông Bắc Á và các khu vực khác trên thế giới nhằm phát huy tác dụng của vận tải đa phương thức, vận tải xuyên biên giới và quá cảnh Xây dựng công trình giao thông, kho bãi, trung tâm logistics trên các tuyến đường, hành lang kết nối các cảng của Việt Nam với Lào, Campuchia, Thái Lan và Nam Trung Quốc Tăng cường liên kết với các hiệp hội và DN dịch vụ logistics khu vực ASEAN và trên thế giới Vận động thu

Ngày đăng: 01/04/2021, 15:48

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w