Giáo dục kĩ năng hợp tác cho trẻ mẫu giáo là một quá trình tác động sư phạm có mục đích, có kế hoạch của nhà giáo dục đến trẻ nhằm hình thành và phát triển ở trẻ sự phối hợp hành động để[r]
Trang 1JOURNAL OF SCIENCE OF HNUE DOI: 10.18173/2354-1075.2016-0037 Educational Sci., 2016, Vol 61, No 3, pp 136-147
This paper is available online at http://stdb.hnue.edu.vn
THỰC TRẠNG GIÁO DỤC KĨ NĂNG HỢP TÁC CỦA TRẺ 5 - 6 TUỔI TẠI CÁC TRƯỜNG MẦM NON TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH BÌNH DƯƠNG
Vũ Thị Nhân
Khoa Sư phạm, Trường Đại học Thủ Dầu Một
Tóm tắt Con người là tổng hòa các mối quan hệ xã hội” (Karl Marx) - đời sống con người
vận hành với sự giao tiếp cộng đồng trong mọi sinh hoạt, học tập và làm việc, vì vậy kĩ năng hợp tác được coi là một trong những trang bị thiết yếu nhất Đối với trẻ, đặc biệt là trẻ mẫu giáo lớn với những đặc thù lứa tuổi trong ứng xử và tiếp nhận, hợp tác là kĩ năng quan trọng cần được hình thành, trau dồi và rèn luyện Nghiên cứu nhìn nhận vào bản chất của
kĩ năng hợp tác đồng thời khẳng định vai trò của việc giáo dục kĩ năng này trong việc hình thành – phát triển nhân cách trẻ 5 – 6 tuổi Bằng việc khảo sát thực trạng nhận thức về việc giáo dục kĩ năng hợp tác cho trẻ của giáo viên mầm non trên địa bàn tỉnh Bình Dương, và thực tế biện pháp giảng dạy sử dụng trong các nhà trường, nghiên cứu đã nhìn nhận và chỉ
ra ưu điểm và hạn chế của thực trạng Từ thực tế giáo dục của giáo viên mầm non trên địa bàn tỉnh Bình Dương, nghiên cứu là cơ sở để xuất những biện pháp hiệu quả cho việc giáo dục kĩ năng hợp tác trẻ 5 – 6 tuổi trong nhà trường mầm non.
Từ khóa: Kĩ năng, kĩ năng sống, kĩ năng hợp tác, thực trạng giáo dục, trẻ 5 - 6 tuổi.
1 Mở đầu
Xã hội hiện nay là xã hội của sự hội nhập, toàn cầu hóa và đề cao giá trị của sự hợp tác, cùng nhau làm việc, tôn trọng và hiểu biết lẫn nhau Vì vậy mục tiêu học tập trong các nhà trường trong đó có trường mầm non đã có sự thay đổi Người học không chỉ lĩnh hội kiến thức có sẵn và phát triển năng lực trí tuệ mà quan trọng hơn cả là hình thành và phát triển các kĩ năng giải quyết các mối quan hệ xã hội có hiệu quả [2]
Nghiên cứu vấn đề này ở Việt Nam, Thái Duy Tuyên (2008) cho rằng hợp tác là một yếu
tố không thể thiếu trong cuộc sống Sự hợp tác diễn ra trong suốt cuộc đời mỗi con người, diễn ra trong mọi gia đình, mọi cộng đồng khi các thành viên cùng hoạt động để đạt mục đích chung Đối với học sinh, việc dạy, rèn luyện kĩ năng hợp tác ngay từ khi trẻ còn ngồi trên ghế nhà trường là rất quan trọng, cần được coi trọng như việc dạy kiến thức và các kĩ năng cơ bản khác [9]
Cao Thị Cúc (2009) cho rằng trẻ 5-6 tuổi đã có những kĩ năng hợp tác cơ bản khi tham gia vào các hoạt động chung của lớp mẫu giáo như cùng bạn thỏa thuận về chủ đề chơi, nội dung chơi, phân vai chơi cho nhau nhưng tác giả cho rằng những kĩ năng này chưa được hình thành đầy đủ
và bền vững Các kĩ năng này cần được rèn luyện trong nhóm bạn bè thông qua hoạt động vui chơi
ở trường mầm non, cụ thể là thông qua các trò chơi như: trò chơi đóng vai theo chủ đề, trò chơi xây dựng lắp ghép, trò chơi vận động [3]
Ngày nhận bài: 15/2/2016 Ngày nhận đăng: 23/4/2016.
Liên hệ: Vũ Thị Nhân, e-mail: dongnoibinhduong@yahoo.com
Trang 2Trong “Bộ chuẩn phát triển trẻ 5 tuổi” do Bộ Giáo dục và Đào tạo (2009) đưa ra, tích cực hợp tác là một trong những nội dung quan trọng thuộc lĩnh vực tình cảm – quan hệ xã hội cần rèn cho trẻ 5-6 tuổi để chuẩn bị vào lớp một Bộ chuẩn này cũng đưa ra các chỉ số thể hiện sự hợp tác với bạn bè và mọi người xung quanh như: lắng nghe ý kiến của mình với người khác, trao đổi ý kiến với người khác, thể hiện sự thân thiện, đoàn kết với bạn bè, chấp nhận sự phân công của nhóm bạn và người lớn, sẵn sàng thực hiện nhiệm vụ đơn giản cùng người khác [1]
Trên thế giới, nghiên cứu về vấn đề này, Joseph S Krajcik và cộng sự (2003) cho rằng: trong
sự hợp tác giữa trẻ với cộng đồng, trẻ làm việc với cha mẹ, hàng xóm, bạn bè, người thân, những
“chuyên gia” mà trẻ biết qua giáo viên giới thiệu hoặc qua các phương tiện truyền thông trong lĩnh vực học tập , bằng cách gặp trực tiếp hoặc gián tiếp qua điện thoại, thư từ để chia sẻ, học hỏi các thông tin Thông qua việc hợp tác với cộng đồng, trẻ nhận ra rằng kiến thức mà trẻ học ở trường học có liên quan đến những vấn đề trong thế giới thực Chúng không chỉ học được kiến thức khoa học mà còn học được cả về con người và nghề nghiệp, học cả cách giao tiếp với người khác trong mối quan hệ hợp tác [5]
Trung tâm Nghiên cứu về giáo dục và phát triển trẻ em - thanh niên thuộc Đại học Ochanomizu, Nhật Bản (2004) đã đưa ra sổ tay giáo dục trẻ giai đoạn đầu, trong đó đề cập đến các mối quan hệ của trẻ với bạn cùng lứa nhằm phát triển sự hợp tác, tương tác tích cực giữa các trẻ với nhau [4]
Theo Press và cộng sự (2009), việc phát triển sự hợp tác, phối hợp ở trẻ em là rất quan trọng nhằm giúp trẻ phát huy tối đa sự ảnh hưởng đối với nhau theo nhiều cách khác nhau, trong bối cảnh gia đình và cộng đồng của chúng [7] Ở Australia, nghiên cứu Investing in the Early Years –
A National Early Childhood Development Strategy (Đầu tư trong giai đoạn đầu – Chiến lược quốc gia phát triển trẻ em) đã xác định “hợp tác, xét về phương diện vật chất hay tinh thần, đều thúc đẩy việc đáp ứng nhu cầu của trẻ và gia đình của trẻ theo nhiều hướng khác nhau”, được coi như một thành tố quan trọng trong hệ thống phát triển trẻ giai đoạn đầu một cách hiệu quả (Hội đồng Chính phủ Australia, 2009) [6]
Như vậy, kĩ năng hợp tác là một kĩ năng xã hội rất quan trọng, để trẻ chiếm lĩnh được kĩ năng này đòi hỏi các trường mầm non nói chung và các trường mầm non trên địa bàn Tỉnh Bình Dương nói riêng phải có những biện pháp cụ thể và đồng bộ tác động lên trẻ 5-6 tuổi nhằm giúp trẻ đạt được kĩ năng này Trên thực tế hiện nay các trường mầm non trên địa bàn Tỉnh đã quan tâm đến việc giáo dục kĩ năng hợp tác cho trẻ,tuy nhiên những biện pháp tác động chưa đồng bộ và chưa mang lại hiệu quả cao trên trẻ
2 Nội dung nghiên cứu 2.1 Khái niệm giáo dục kĩ năng hợp tác cho trẻ mẫu giáo (5-6) tuổi
Giáo dục kĩ năng hợp tác cho trẻ mẫu giáo là một quá trình tác động sư phạm có mục đích,
có kế hoạch của nhà giáo dục đến trẻ nhằm hình thành và phát triển ở trẻ sự phối hợp hành động
để cùng thực hiện có hiệu quả một nhiệm vụ chung nào đó dựa trên những tri thức và vốn kinh nghiệm đã có trong điều kiện nhất định [8]
2.2 Ý nghĩa của việc giáo dục kĩ năng hợp tác cho trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi
Giáo dục kĩ năng hợp tác cho trẻ là giúp hình thành và phát triển nhân cách cho trẻ.
Các mối quan hệ xã hội mà trẻ tham gia càng phong phú đa dạng, càng góp phần vào việc hoàn thiện nhân cách của trẻ Sự kết hợp và phối hợp các hoạt động giữa các trẻ trong nhóm chơi
đã tạo ra những mối quan hệ xã hội hết sức độc đáo và điển hình Vì vậy khi tham gia vào các hoạt
Trang 3động chung, mỗi trẻ bằng hoạt động giao tiếp của mình đã tích cực chiếm lĩnh các mối quan hệ xã hội Về thực chất, đây là nền tảng của quá trình phát triển nhân cách
Giáo dục kĩ năng hợp tác cho trẻ là tạo cơ hội để trẻ được chơi và rèn luyện các kĩ năng khác qua chơi.
Không phải ngẫu nhiên mà các nhà khoa học trong và ngoài nước đã chỉ ra rằng: Đối với trẻ nhỏ, chơi là nhu cầu của một cơ thể đang phát triển, là “trường học của cuộc sống” Khi chơi, trẻ trở nên cao hơn chính mình và chúng có thể làm được nhiều việc mà trong thực tế không thể làm được Khi tham gia vào trò chơi do được thoả mãn nhu cầu nên mang lại niềm vui cho trẻ, làm cho tinh thần của trẻ sảng khoái, phấn khởi đó là những yếu tố quan trọng để tăng cường sức khoẻ cho trẻ Khi trẻ được cùng chơi với nhau trong nhóm, trẻ sẽ cọ sát với nhau, học hỏi lẫn nhau Trong khi chơi trẻ biết thỏa thuận với nhau để phân vai chơi, hành động chơi, biết lắng nghe ý kiến của nhau, biết chia sẻ Có thể nói rằng, chơi trong nhóm bạn bè là nhu cầu bức thiết của trẻ và trò chơi cũng là nội dung chủ yếu để tập hợp trẻ thành nhóm Phần lớn các nét tính cách của trẻ được nhen nhóm trong nhóm bạn bè Đây là một điều vô cùng quan trọng đối với trẻ
Giáo dục kĩ năng hợp tác cho trẻ là giúp trẻ bước vào cuộc sống xã hội.
Thông qua hoạt động hợp tác với các bạn trong nhóm, trẻ tự tìm kiếm sự hoàn thiện của những quan hệ giữa con người với con người Vì vậy cũng không nên cho rằng chơi theo nhóm chỉ giúp trẻ lĩnh hội kiến thức hay một tiêu chuẩn ứng xử nào đó, mà còn là cơ sở ban đầu để trẻ xây dựng cách ứng xử của mình để bước vào thế giới mai sau Vì vậy, có thể nói giáo dục kĩ năng hợp tác cho trẻ là tạo ra cho trẻ các kinh nghiệm về quan hệ đạo đức, quan hệ trách nhiệm và giúp đỡ lẫn nhau, cùng nhau hướng đến mục tiêu chung, làm nảy sinh rung cảm về nhau, gây ảnh hưởng tới việc hình thành động cơ chung của tập thể Hoạt động nhóm dạy trẻ những bài học có giá trị và hình thành ở trẻ những kĩ năng xã hội [7]
2.3 Nội dung giáo dục kĩ năng hợp tác cho trẻ mẫu giáo 5 - 6 tuổi
Giáo dục mầm non là một bộ phận trong hệ thống giáo dục quốc dân, thực hiện việc nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục trẻ em từ ba tháng tuổi đến 6 tuổi (Điều 21, Luật Giáo dục, 2005) [2] Mục tiêu của giáo dục mầm non là giúp trẻ em phát triển về thể chất, tình cảm, trí tuệ, thẩm
mĩ, hình thành những yếu tố đầu tiên của nhân cách và chuẩn bị cho trẻ vào lớp 1; hình thành và phát triển ở trẻ những chức năng tâm sinh lí, năng lực và phẩm chất mang tính nền tảng, những kĩ năng sống cần thiết, phù hợp với lứa tuổi, khơi dậy và phát triển tối đa những khả năng tiềm ẩn, đặt nền tảng cho việc học ở các cấp tiếp theo và cho việc học tập suốt đời [2]
Trong đó nội dung giáo dục kĩ năng chơi hợp tác cho trẻ 5- 6 tuổi nằm trong mục tiêu phát triển tình cảm và các kĩ năng xã hội cho trẻ 5- 6 tuổi Cần phát triển ở trẻ các kĩ năng xã hội như:
“biết lắng nghe ý kiến của người khác, sử dụng lời nói, cử chỉ, lễ phép, lịch sự; biết tôn trọng, hợp tác, chấp nhận; quan tâm chia sẻ, giúp đỡ bạn; nhận xét và tỏ thái độ với hành vi đúng – sai, tốt – xấu.”
Bên cạnh đó, trong “Bộ chuẩn phát triển trẻ 5 tuổi” do Bộ Giáo dục và Đào tạo (2009) đưa
ra, tích cực hợp tác là một trong những nội dung quan trọng thuộc lĩnh vực tình cảm – quan hệ xã hội cần rèn cho trẻ 5-6 tuổi để chuẩn bị vào lớp một Bộ chuẩn này cũng đưa ra các chỉ số thể hiện
kĩ năng hợp tác với bạn bè và mọi người xung quanh như: lắng nghe ý kiến của mình với người khác, trao đổi ý kiến với người khác, thể hiện sự thân thiện, đoàn kết với bạn bè, chấp nhận sự phân công của nhóm bạn và người lớn, sẵn sàng thực hiện nhiệm vụ đơn giản cùng người khác [1] Như vậy, dựa trên mục tiêu của chương trình giáo dục mầm non, mục tiêu cụ thể về phát triển tình cảm và kĩ năng xã hội cho trẻ 5-6 tuổi nằm trong chương trình, đồng thời dựa trên bộ chuẩn phát triển trẻ 5 tuổi, luận án đưa ra nội dung cơ bản về giáo dục kĩ năng chơi hợp tác cho trẻ
Trang 45- 6 tuổi trong trò chơi đóng vai có chủ đề như sau:
- Giáo dục trẻ em biết lắng nghe chia sẽ kinh nghiệm, ý tưởng với các bạn trong nhóm chơi Biết chấp nhận sự phân công nhiệm vụ của nhóm và hoàn thành nhiệm vụ nhóm giao cho
- Biết phối hợp hành động với các bạn tronh nhóm để thực hiện công việc chung
- Chủ động hổ trợ bạn và yêu cầu bạn hỗ trợ mình một cách tự tin, chân thực, cởi mở
- Biết điều tiết hoạt động chơi và thể hiện thái độ tích cực đối với kết quả hoạt động chung
2.4 Kết quả khảo sát trực trạng giáo dục kĩ năng hợp tác trẻ 5-6 tuổi trên địa bàn Tỉnh Bình Dương
Khảo sát thực trạng thực hiện các biện pháp giáo dục kĩ năng hợp tác cho trẻ 5-6 tuổi ở các trường mầm non trên địa bàn Tỉnh Bình Dương được thực hiện bằng phương pháp sử dụng phiếu điều tra, trao đổi, đàm thoại với 404 GV và CB quản lí, đồng thời quan sát quá trình tổ chức các hoạt động của GV ở trường mầm non Kết quả thu được xử lí bằng phần mềm thống kê SPSS 16.0
- Mục đích khảo sát:
Xác định thực trạng giáo dục kĩ năng hợp tác cho trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi ở trường mầm non hiện nay Trên cơ sở đó, xác định nguyên nhân dẫn đến thực trạng làm cơ sở để đề xuất biện pháp
- Nội dung khảo sát
Khảo sát thực trạng nhận thức của giáo viên về vấn đề giáo dục kĩ năng hợp tác cho trẻ Khảo sát trực trạng các biện pháp giáo dục kĩ năng hợp tác mà giáo viên đã sử dụng để giáo dục trẻ
Thực trạng các yếu tố ảnh hướng đến giáo dục kĩ năng hợp tác cho trẻ
Thực trạng những thuận lợi và khó khăn mà giáo viên gặp phải trong quá trình giáo dục kĩ năng hợp tác cho trẻ
Xác định nguyên nhân dẫn đến thực trạng
- Phương pháp khảo sát
Để đánh giá thực trạng nhận thức của giáo viên về việc giáo dục kĩ năng hợp tác cho trẻ cũng như thực trạng biện pháp mà giáo viên đã sử dụng để giáo dục kĩ năng hợp tác cho trẻ, chúng tôi sử dụng các phương pháp thu thập thông tin: điều tra bằng bảng hỏi; đàm thoại, trao đổi với giáo viên; quan sát cách thức giáo viên tổ chức hoạt động vui chơi cho trẻ
2.4.1 Kết quả khảo sát trực trạng nhận thức của giáo viên về vấn đề giáo dục kĩ năng hợp
tác trẻ 5 - 6 tuổi
Nhận thức của giáo viên về khái niệm kĩ năng hợp tác và ý nghĩa của việc giáo dục kĩ năng hợp tác cho trẻ.
Kết quả khảo sát cho thấy sự nhận thức của giáo viên về kĩ năng hợp tác của trẻ mẫu giáo được nhấn mạnh ở nội dung: khả năng tương tác thực hiện hiệu quả một công việc dựa trên kinh nghiệm và tri thức đã có nhằm đạt mục đích chung (38.9%) Các nội dung khác được đánh giá với
tỉ lệ như sau: Là một nhóm trẻ cùng nhau thực hiện công việc được giao, dựa trên tri thức và vốn kinh nghiệm nhất định (15.6%); Hệ thống mối quan hệ giữa người với người (19.6%) Trong khi
đó nội dung “khả năng phối hợp hành động cùng nhau thực hiện có hiệu quả hoạt động chung dựa trên những tri thức và vốn kinh nghiệm đã có trong những điều kiện nhất định” được xem là nội dung phản ánh đầu đủ và đúng bản chất về kĩ năng hợp tác của trẻ mẫu giáo Thế nhưng nội dung này cũng chỉ có (26.0%) giáo viên lựa chọn Với con số này, có thể kết luận rằng nhận thức của
GV về kĩ năng hợp tác của trẻ chưa thực sự sâu sắc và phản ánh đúng bản chất của nó Đa phần
Trang 5GV cho rằng kĩ năng hợp tác là khả năng tương tác trong khi khả năng tương tác được hình tượng hóa bằng sự tiếp xúc bề mặt của hai đối thể, còn khả năng phối hợp hành động được thể hiện bởi
sự hòa quyện, kết hợp của các đối tượng tham gia hướng tới kết quả cuối cùng chính là sản phẩm – mục tiêu của quá trình hợp tác
Bảng 1 Nhận thức của GV về khái niệm kĩ năng hợp tác
Nhận thức của GV về khái niệm kĩ năng hợp tác Tần số Tỉ lệ % Tần xuất tích lũy
Là khả năng giao tiếp dựa trên đối thoại; 63 15,6 15,6
Hệ thống mối quan hệ giữa người với người 79 19,6 35,1 Khả năng phối hợp hành động cùng nhau thực hiện có hiệu
quả hoạt động chung dựa trên những tri thức và vốn kinh nghiệm đã có trong những điều kiện nhất định 105 26,0 61,1 Khả năng tương tác thực hiện hiệu quả một công việc dựa
trên kinh nghiệm và tri thức đã có nhằm đạt mục đích chung 157 38,9 100,0
Bảng 2 Nhận thức của giáo viên
về ý nghĩa của việc giáo dục kĩ năng hợp tác cho trẻ 5 - 6 tuổi
Nhận thức của giáo viên về ý nghĩa của việc giáo dục kĩ năng hợp tác Tần số Tỉ lệ % Tần xuất tích lũy
Giúp trẻ hòa đồng hơn với các bạn 162 40,1 40,1 Giúp trẻ tự tin hơn trong giao tiếp 69 17,1 57,2 Giúp trẻ biết cách tự khẳng định bản thân trong tập thể 77 19,1 76,2 Giúp nâng cao phẩm chất đạo đức cho trẻ 40 9,9 86,1 Giúp phát triển các kĩ năng xã hội ở trẻ 56 13,9 100,0
Dù chưa nhận thức đúng bản chất của khái niệm hợp tác trong hoạt động nhóm của trẻ, các giáo viên đều thấy được ý nghĩa của việc giáo dục kĩ năng hợp tác cho trẻ ở các khía cạnh khác nhau 100% GV cho rằng việc giáo dục kĩ năng hợp tác cho trẻ là cần thiết Khi được hỏi phần lớn
GV (40,1%) cho rằng, giáo dục kĩ năng hợp tác cho trẻ là góp phần phát triển sự hòa đồng ở trẻ Một số GV cho rằng hợp tác giúp trẻ tự tin đến trường hơn và tự tin trong giao tiếp (17.1%) Bên cạnh đó (19.1%) GV cho rằng hợp tác phát triển ở trẻ khả năng tự khẳng định bản thân trong tập thể 13.9% GV cho rằng giáo dục kĩ năng hợp tác là phát triển các kĩ năng xã hội ở trẻ Và 9.9%
GV cho rằng giáo dục kĩ năng hợp tác góp phần phát triển phẩm chất đạo đức cho trẻ
Như vậy, các giáo viên mầm non đều nhận thức rõ về vai trò quan trọng của việc giáo dục
kĩ năng hợp tác cho trẻ, và điều này sẽ là điều kiện thúc đẩy GV thiết kế, xây dựng các hoạt động dạy học nhằm hướng tới mục tiêu phát triển kĩ năng này ở trẻ
Nhận thức của giáo viên về phương tiện giáo dục kĩ năng hợp tác cho trẻ 5-6 tuổi.
Phần lớn giáo viên (51%) đã lựa chọn hoạt động vui chơi để thông qua đó giáo dục kĩ năng hợp tác cho trẻ Khi được hỏi lí do, thì GV cho rằng vì vui chơi là hoạt động chủ đạo và nó chiếm thời lượng cao hơn so với các hoạt động khác, nên khi tích hợp mục tiêu giáo dục kĩ năng hợp tác vào hoạt động vui chơi, trẻ sẽ có nhiều thời gian trải nghiệm cũng như thực hành và phát triển
kĩ năng hợp tác (30%) giáo viên cho rằng hoạt động học tập cũng là một trong những hoạt động
Trang 6giáo viên sử dụng để tổ chức cho trẻ hợp tác với nhau, trẻ có thể cùng giải quyết nhiệm vụ học tập, như cùng nhau học thuộc bài thơ, câu chuyện, bài hát Bên cạnh đó, hoạt động lao động cũng được (15.1%) GV sử dụng để giáo dục kĩ năng hợp tác cho trẻ GV giải thích rằng khi có nhiệm
vụ lao động như nhặt lá cây, dọn rác xung quanh lớp học, quanh sân trường giáo viên giao cho một nhóm trẻ thực hiện, và nhắc nhở các em cùng nhau hợp tác để hoàn thành nhiệm vụ 4% GV lựa chọn giáo dục trẻ hợp tác thông qua chế độ sinh hoạt như giao nhiệm vụ cho trẻ cùng nhau dọn dẹp đồ chơi, sắp xếp đồ chơi trên kệ, hoặc cùng nhau chuẩn bị bàn ăn
Bảng 3 Nhận thức của giáo viên
về phương tiện giáo dục kĩ năng hợp tác cho trẻ 5 - 6 tuổi
Nhận thức của giáo viên về phương tiện giáo dục kĩ năng hợp tác cho trẻ Tần số Tỉ lệ % Tần xuất tích lũy
Trong 51% giáo viên đã lựa chọn hoạt động vui chơi để giáo dục kĩ năng hợp tác cho trẻ, khi được hỏi các cô sử dụng trò chơi nào để thông qua đó giáo dục kĩ năng hợp tác cho trẻ thì kết quả nhận được cho thấy các giáo viên không tập trung vào một trò chơi nào để giáo dục kĩ năng hợp tác cho trẻ, mà các trò chơi được sử dụng gần như dàn trải với mức độ phần trăm khá tương đối: trò chơi đóng vai theo chủ đề (24%), đóng kịch (21%), học tập (18,6%), vận động (19.3%), xây dựng – lắp ghép (13.1%)
2.4.2 Kết quả khảo sát thực trạng các biện pháp giáo viên đã sử dụng để giáo dục kĩ năng
hợp tác cho trẻ thông qua hoạt động vui chơi
Khi được hỏi về các biện pháp mà GV đã sử dụng để giáo dục kĩ năng hợp tác cho trẻ thì câu trả lời của các GV xoay quanh những biện pháp sau:
Bảng 4 Thực trạng các biện pháp GV thường sử dụng
để giáo dục kĩ năng hợp tác cho trẻ
Các biện pháp GV thường sử dụng để giáo dục kĩ năng hợp tác cho trẻ xuất Tần Tỉ lệ %
% các trường hợp
Xây dựng môi trường thân thiện trong lớp học 145 19,3% 35,9% Tạo tình huống chơi mang tính hợp tác và ứng xử theo
Xây dựng chủ đề và nội dung chơi phong phú 184 24,5% 45,5% Khuyến khích trẻ thỏa thuận, chia sẻ kinh nghiệm, ý tưởng
Theo dõi việc chơi và kịp thời giải quyết những xung đột 141 18,8% 34,9%
Trang 7Xây dựng môi trường thân thiện trong lớp học
35.9% GV cho rằng sự thân thiện, cởi mở giữa giáo viên với trẻ và với các trẻ với nhau trong khi chơi là việc làm tuy đơn giản nhưng mang lại bầu không khí tích cực góp phần giúp trẻ phát triển kĩ năng hợp tác
Để làm được điều này các cô cho rằng trong quá trình tổ chức hoạt động vui chơi, giáo viên luôn có những cử chỉ nhẹ nhàng, gần gũi với trẻ, lời nói nhỏ nhẹ, thiện cảm từ đó giúp trẻ tự tin thể hiện bản thân mình, bày tỏ suy nghĩ của mình với bạn, mạnh dạn trong khi chơi
Tạo tình huống chơi cho trẻ
24.3% GV cho rằng trong quá trình trẻ chơi cũng nảy sinh các tình huống khác nhau, tuy nhiên tình huống chơi của trẻ còn nghèo nàn, chủ yếu trẻ chơi trong nhóm của mình và ít liên kết với nhóm khác, đặc biệt là đối với trò chơi đóng vai, chính vì vậy GV nên tạo tình huống chơi cho trẻ
Để làm điều này thì GV cho rằng trong quá trình tổ chức hoạt động vui chơi, thì GV nên theo dõi, quan sát từng nhóm chơi để kịp thời phát hiện ra những tình huống nảy sinh trong khi chơi, từ đó kích thích, yêu cầu trẻ giải quyết tình huống Qua đó GV chủ động tạo ra các tình huống chơi cho trẻ theo diễn biến của cuộc chơi Khi tạo tình huống chơi GV không gợi ý cách giải quyết cho trẻ mà để trẻ tự tìm kiếm cách giải quyết Sau đó GV quan sát và kịp thời động viên, khích lệ trẻ có những biểu hiện hợp tác như biết chia sẻ, lắng nghe bạn bằng cách nêu gương trẻ để các trẻ khác học tập
Xây dựng chủ đề chơi và nội dung chơi phong phú
45,5% GV cho rằng thông thường, việc tổ chức hoạt động vui chơi là công việc giáo viên tổ chức thường xuyên, trong đó chủ đề chơi là mảng hiện thực của cuộc sống sinh hoạt xung quanh trẻ được phản ánh trong trò chơi, thường là các lĩnh vực gần gũi quen thuộc với trẻ và khi tìm hiểu sâu hơn về biện pháp xây dựng chủ đề và nội dung chơi phong phú của các giáo viên thì kết quả thu được như sau: Đối với trò chơi đóng vai theo chủ đề, giáo viên thường chọn các chủ đề chơi như chủ đề gia đình, bệnh viện, bán hàng Ngoài ra, giáo viên cũng tổ chức thêm các chủ đề khác như chủ đề trường tiểu học, cửa hàng uốn tóc, cấp dưỡng Đối với trò chơi xây dựng lắp ghép GV cũng thay đổi đồ dùng đồ chơi liên tục theo chủ đề chơi: xây công viên, xây sở thú, trường học, bệnh viện Đối với trò chơi đóng kịch thì GV thay đổi thường xuyên các câu chuyện theo chủ đề chơi, cho trẻ cùng nhau tái hiện lại câu chuyện Đồng thời GV xây dựng nội dung và xác định nhiệm vụ cụ thể, chi tiết cho từng hoạt động và lên kế hoạch thực hiện phù hợp
Theo dõi trẻ chơi, và kịp thời giải quyết những xung đột
34.9% GV cho rằng trong khi chơi, không thể tránh khỏi giữa các trẻ xảy ra xung đột, vướng mắc Kết quả của những vướng mắc đó có thể dẫn đến mất vui, đổ vỡ tình bạn, quá trình chơi bị bỏ giữa chừng Vì vậy, tình đoàn kết, gắn bó của trẻ sẽ bị mất đi, những công việc đòi hỏi sự hợp tác
sẽ khó thực hiện được Tuy nhiên, xung đột có thể sẽ là động lực của sự phát triển, tăng thêm sự hiểu biết, sự đoàn kết và giúp cho mối quan hệ trở lên tốt đẹp hơn nếu giáo viên biết cách hướng dẫn, chỉ bảo cho trẻ một cách khoa học và hợp lí
Trong quá trình tổ chức hoạt động vui cơi, giáo viên luôn gần gũi với trẻ Khi thấy có biểu hiện xung đột xảy ra mà trẻ không tự giải quyết được thì giáo viên cần kịp thời giúp trẻ giải quyết những vướng mắc đó một cách thoả đáng, làm cho xung đột dịu xuống, thảo luận một cách bình tĩnh với thái độ xây dựng Làm được điều này sẽ tạo điều kiện cho trẻ có hứng thú tham gia vào cuộc chơi, có tinh thần hợp tác với mọi người để thực hiện nhiệm vụ chung
Khuyến khích trẻ thỏa thuận, chia sẻ kinh nghiệm, ý tưởng chơi cùng nhau
45.3% GV cho rằng, khi tham gia trò chơi, trẻ luôn mong muốn được mọi người tôn trọng mình, được thể hiện tính tự nguyện, độc lập, sáng tạo, tự nói ra ý tưởng và kinh nghiệm chơi Cố gắng thể hiện mình trong cuộc chơi để khẳng định năng lực cá nhân và góp phần thể hiện sức mạnh