1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Ebook Đa dạng sinh học và bảo tồn thiên nhiên: Phần 2 - Lê Trọng Cúc

20 11 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 20
Dung lượng 2,13 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Việc áp đặt các giống mới cải tiến cho các vùng nông nghiệp có ít tiềm năng còn là một việc làm liều lĩnh, vì mất mùa có thể xẩy ra và nhiều lý do khác nhau, như đầu tư không[r]

Trang 1

148 Đa dạng sinh học và Bảo tồn thiên nhiên - Lê IVọng Cức

PHẦN II

BẢO TỒN THIÊN NHIÊN

Chương 6

TÀI NGUYÊN SINH QUYỂN

Trước khi nói đến bảo tồn thiên nhiên, chủng ta hãy thử kiểm kê lại tài nguyên của Sinh quyển:

Tông diện tích của đạị đưđng và biển là 361 triệu km®, chiếm 71% diện tích bề mặt Trái đất, 29% còn lại là các lục địa, vói tổng diện tích khoẳng 148 triệu km® Năng lượng Mặt tròi xuấng tôi mặt đất đo được khoảng 5.10“ kcal trong một năm Như vậy trong tổng số nảng lượng đó, các lục địa nhận được 1,4.10®® kcál/ năm, còn 3,6.10“ kcal/ năm cho biển cả

Trong khoảng thèi gian hơn* 1 triệu năm lại đây, các hệ sinh thái lục địa cùa Trái đất đượẹ hình thành do hoạt động tưđng hỗ

và tiến h6a không ngừng gỉữa các cơ thể sếng với các thành phần vô sinh trong môi trưòiig Tất cả các hệ sinh thái đó, ngày càng chịũ ẳnh hưỏng tác đông mạnh mẽ hdn của con ngưòi

Trong thiên nhiên, hiệu quả quang hỢp thay đổi tùy theo các kiểu hệ sinh thái khác nhau Sự thay đổi đó chủ yếu là do

sự khác biệt về diện tích bề mặt đồng hóa và thòi kỳ đồng hóa

Trang 2

dài hay ngắn Nhiều vùng khí hậu, thực vật bị mất cơ quan đồng hóa trong một thòi kỳ khá dài do rụng lá Nhìn chung, cây xanh trung bình chỉ sử dụng được 0,1 đến 0,2% ỉượng bức

xạ mặt tròi Trong những điều kiện thuận lợi nhất có thể đạt đến cực đại là 1% Dựa trên những số liệu của FAO về các

nhóm quần hệ lón, có thể tính tổng sản lượng gần đúng hàng

năm của toàn bộ sinh quyển như sau;

1 SẢN LƯỢNG S ơ CẤP

Các lục địa cho 53 tỷ tấn chất hữu cđ, đại dương và biển cho 30 tỷ tấn, như vậy tổng số là 83 tỷ tấn/năm Sự đánh giá này được xem là trung bình Một số tác giả xác định thấp hơn nhiểu, chỉ chừng 25 tỷ tấn cacbon hoặc 50 tỷ tấn chất hữu cơ

sản lượng trong khoảng 70 đến 180 tỷ tấn, với con số trung

bình là 140 tỷ tấn /năm

Trên các lục địa, phần lớn sản phẩm là do rừng cung cấp, còn lại là ỏ đại dương Các vùng có năng suất cao hơn cả lầ các vùng nước trồi và các vùng thềm lục địa của biển ỉạnh

Thức ăn của ngưồi chủ yếu do các cây trồng nông nghiệp cung cấp Diện tích đất trồng trọt chỉ bằng 10% diện tích các lục địa Trong số 8,7 tỷ tấn chất hữu cơ được sản xuất ra (gần 3,5.10*® kcal), ngưòi ta nhận được một lượng thức ăn tương tự

như v ậ y chứa 4,5.10'® kcal, trong đó 2,29.10'® kcal đưỢc sử

d ụ n g trự c tiế p tro n g các th ứ c ă n củ a người P h ầ n còn lại chứ a 2,21.10’^ kcal dùng cho thức ăn gia súc và được sử dụng trong

công n gh iệp hoặc m ất đi ở d ạn g thải bã.

Trang 3

2 SẲN LƯỢNG THỨ CẤP

Sản ỉượng thứ cấp của chăn nuôi là gần 10,4 tỷ tấn (chừng 4,2.10*® kcal) cung cấp thức ăn cho gần 3 tỷ đầu gia súc sả n

lượng hàng năm cùa chúng được đánh giá tướng đưđng với con

sô' 0,29.10*® kcal và chứa 16,5 triệu tấn protein

Vối sản ỉượng sđ cấp là 30 tỷ tấn (chừng 12.10'® kcal), đại dương cung cấp cho con ngưòi khoảng 47,2 triệu tấn cá tôm, cua và trai ốc, chứa chừng 217.10" kcal và 3,2 triệu tấn protein Nếu cộng tất cả 0,29.10*® kcal trong tất cả các sản phẩm nguồn gốc động vật với 2,29.10“ kcal trong thớc ăn thực vật thì nguồn dự trữ thực tế dành cho con ngưòi sử dụng sẽ đạt tối 2,6.10‘® kcal, trong số đó 74,5 triệu tấn là protein, mà 19,7

triệu tấn có nguồn gốc động vật.

Con ngưòi cần đến thức ăn, trước hết là để xây dựng cđ thể

và sau nữa là để bù đắp những nâng lượng bị mất đi trong quá trình trao đổi chất, đặc biệt là hoạt động để thực hiện những công việc lao động chân tay Ngưồi ta đo năng lượng tiêu thụ bằng sế calo, đốì vói những ngưòi lao động nhẹ thì cần 2.500- 3.000 kcal/ngày, những ngưòi lao động vừa phải cần 3.000-3.500 kcal/ngày, còn vối những người lao động nặng thì cần 3.500 đến 5.0(X) kcal/ngày

Gìối tính và lứa tuổi khác nhàu, đòi hổi lượng calo không giếng nhau và những ngưòỉ ỏ xứ nóng cần thức ăn ít calo hđn

so vôi những ngưòỉ sống ỏ ôn đdi hoặc xứ ỉạnh Nếu tính số ỉượng trung bình đối vdi tấ t cả các điều kiện ăn uếng khác nhau thi khẩu phần trung bình hàng ngày của một người thay đổi từ 2.250 đến 2.7Ỗ0 kcaỉ, ỉượng calo trong thức ăn như vậy

ỉà đủ Ta có thể lấy con sế trung binh là 2.400 kcai, con số này

Trang 4

được xem là khẩu phần vừa phải, nghĩa là lượng thức ăn tối thiểu cẩn thiết để cung cấp khả n ă n g lao động chân tay và trí

óc có hiệu quả

3 S ự TĂNG DÂN SỐ TRÊN TRÁI ĐẤT

Sự tăng dân số trên Trái Đất đă đặt sinh quyển vào tình trạng khủng hoảng Theo nhiều tài liệu cho biết, dân sô' trên hành tinh chúng ta vào những năm 10.000 năm trưốc công nguyên có không quá 8 triệu người, họ sống nhò vào “quà của thiên nhiên” Đến năm 2.000 trước công nguyên là điểm khỏi đầu cho kỷ nguyên nông nghiệp, cùng với sự phát triển của nghề trồng trọt và chăn nuôi, dân số thế giới đă tăng lên 300

triệu ngưòi, vói mật độ là 2 ngưòi trên 1 km* Năm 150 trưổc

Công nguyên, bắt đầu của kỷ nguyên nông-công nghiệp, dân sô' thế giói tăng lên 1 tỷ người, vổi mật độ là 7 ngưồi trên 1 km® ! Năm 1975 dân sô' thế giói tăng lên 3 tỷ 9 trăm nghìn ngưdi với

m ậ t độ 30 ngưòi trên 1 km^ Hiện nay (năm 2000) dần số thế giới lên tới gần 7 tỷ ngưòi, với mật độ gần 50 người trên 1 km* Hiện nay dân sô' thế giới tăng với nhịp độ 86 triệu ngưòi trong 1 năm, với xu hướng này thì đến năm 2025 dân sô' thế giới táng lên 8,3 tỷ ngưòi và đến năm 2050 sẽ đạt tâi 10 tỷ ngưòi

Mặc dù, các nhà sinh vật học cho rằng bất kỳ một sự tăng trưỗng nào thì cũng sẽ xẩy ra theo đưòng cong hình chữ s

Nhưng hiện nay, sự tăng dân sô' đang tương ứng vôi đường cong biểu diễn đơn thuần nâng lên Theo lý thuyết thì sớm hay muộn đường cong này cũng sẽ gặp một đưòng nằm ngang ỏ trên Vấn đề là ỏ chỗ lúc nào thì đưòng nằm ngang này sẽ xuất hiện Một tình trạng trái ngược đang được hình thành, là nền

Trang 5

y học và vệ sinh đạt được thành tích làm giảm tỷ lệ tử vong xuống rất nhiều, nhưng tốc độ sinh đẻ lại không gỉẳm ỉà bao

Do sự tiến bộ của khoa học kỹ thuật đã khắc phục được nhiều loại bệnh tậ t/b a thế kỷ trưóc thiên chúa giáng sinh, phần lốn trẻ em sinh ra chết yểu trong thòi gian sau một tuần Các bệnh vi khuẩn, siêu vi khuẩn, dịch tả, đậu mừa đả giết chết hàng chục triệu ngưòi trước thế kỷ thứ XVIII, khi chưa biết tiêm vácxin Năm 1919, vi khuẩn cúm đã giết chết 25 triệu ngưòi Nhò tiến bộ của khoa học kỹ thuật y học mà tỷ lệ

tử vong giảm từ 25% năm 1935 xuếng 12,7% năm 1980 Hiện nay, hầu như chỉ có các loại bệnh tim mạch và ung thư, sida còn là các loại bệnh hiểm nghèo Sự tiến bộ trong y học và dược học đã đóng góp to lốn cho việc kéo dài tuổi thọ của loài ngưòi

4 TÁC ĐỘNG CỦA DÂN s ố LÊN TÀI NGUYÊN THIÊN NHIÊN

Với sự tăng dân số mạnh mẽ ỏ các nưóc nhiệt đối đang phát triển, các hoạt động của con ngưòi trong việc sử dụng rOtng và tài nguyên thiên nhiên cũng ngày càng tăng iên Do khai thác quá mức, chặt trắng rừng để mở mang đất nông nghiệp và không quy hoạch rõ ràng đã làm cho diện tích rừng nhiệt đới hgàỷ càrig thú hệp lặi Théo đảnh giá cùa FAO (năm 1977), rừng ẩm nhiệt đói bị giảm sút hơn 60% cho đến năm

1970 so với diện tích ban đầu của nó Như vậy, hàng năm mất

đi khoảng 11 triệu ha, tức là bằng khoảng 2% diện tích rừng nhiệt đói ẩm Chường trình môi trưòng của Liên hỢp quốc (UNEP, 1980) dựa vào các sô' liệu về diện tích rừng đã bị tàn phá và diện tích rừng sẽ bị tàn phá đă đưa ra dự báo như sau:

■ - — - - •

Trang 6

Chương 6 - Tài nguyên sinh quyển 153

- ở Trung và Nam Mỹ, rừng gỗ nhiệt đới tự nhiên giảm từ

788 triệu hecta năm 1975 xuốhg 562 triệu vào năm 2000

- ở châu Phi, rừng ẩm nhiệt đới nam Sahara ước tính giảm từ 202 triệu ha năm 1975 xuống 187 triệu ha năm 2000

- ở châu Á và Thái Bình Dương, rừng tự nhiên giảm từ

291 triệu ha năm 1975 xuống 243 ha năm 2000

Việc giảm diện tích rừng nhiệt đới gây ra nhiều hậu quả nghiêm trọng, quan trọng nhất là tác động nguy hại lên sinh quyển, bdi sự chuyển sinh khối rừng thành khí CO2, gây hiệu ứng nhà kính, phá hủy tầng Ozon, làm thay đổi điều kiện khí hậu, thủy văn, tăng cưòng dòng chảy bề mặt, gây xói mòn đất

và bồi đắp sông suối, kênh máng và các hồ chứa, giảm dự trữ nguồn nước và làm khô đất đai, gây hạn hán, mất tiềm năng tài nguyên tái tạo, tiêu diệt nhiểu loài động, thực vật qúy hiếm, là nguồn gen quan trọng đốỉ với sự phát triển nông, lâm nghiệp, y dược cũng như công nghiệp

Cáo nguyên nhân chính gây ra sự tàn phá rừng chủ yếu là khai thác củi, gỗ và khai hoang mở mang diện tích-đất nông

Trang 7

nghiệp Đặc biệt, ỏ Đông Dưcíng còn do chiến tranh hóa học đã dừng chất diệt cỏ làm trụi lá cây Diện tích mất rừng nhiều nhất là do chặt phá rừng làm nường rẫy để sản xuất ỉương thực Nhu cầu về cùi gỗ cũng đóng vai trò quan trọng không kém đôi vôi rừng nhiệt đới Theo Kinh (1980) thì khoảng 90% củi gỗ khai thác ỏ châu Phi, 82% ỏ Trung và Nam Mỹ và 73% ở châu Á • Thái Bình Dưđng được sử dụng để làm củi đốt vấn đề củi đốt đã trô thành báo động

Với tốc độ tăng dân số nhanh như vậy, phải chăng nhân loại sẽ nhìn thấy nạn đói đe dọa cùng với những tệ nạn xâ hội, chiến tranh và những hỗn loạn khác Ngay từ năm 1928, Thomas Maltus đã bộc lộ tư tưỏng về cái gọi là "quần thể ngưòi" không cổ gi phân biệt vói các quần thể cây cồ và muông thú khác Số lượng của các quần thể này tăng lên với một tốG

độ kỳ lạ, nếu như chling không gặp những trồ ngại của các lực thiên nhiên như nạn đói hoặc bệnh tật Số lượng cá thể trong các quần thể này có xu hưdng tăng tự nhiên theo cấp sồ' nhân, trong khi đó thì số ỉượng của các nguồn thức án lại chỉ tăng lên theo cấp số cộng Vì thế, nếu con ngưòi không hạn chế sinh đẻ thì với môi trưdng thiên nhiên như vậy, con ngưòi sẽ bị đẩy tâi vực thẳm của nạn đối và chiến tranh

Các rthà khòâ họỂ đềù đồhg ỹ với lũậh Ihuýết củia Mãltus

về khả năng sinh sẳn đặc biệt của các cở thể sếng Nhưng ỉuận thuyết thứ hai về sự tăng trưông nguồn thức àn thì cần phải bàn, bôi vì thức ăn ỉà một phần của chính sinh khôi của các cđ thể sếng đố, mà phần sinh khốỉ này ỉại tăng theo cấp sế nhân Vậy, sinh khốỉ thức án cũng phải được tăng theo cấp số nhân Hơn thế nữa, những người theo theo chù nghĩa lạc quan đánh giá khác về tình trạng này

154 Đa dạng sinh học và Bảo tồn thiên nhiên - Lê Trọng Cúc

Trang 8

Mặt này đáng chú ý nhất là công trình cùa Kollin Clark Tác giả này đã thử tính toán tất cả các khả năng sản xuất nguồn thức án cùa Sinh quyển đến mức cao nhất nhò nhũng trang bị nông nghiệp hiện đại Luận điểm của Kollin Clark cho

rằng, ò các nước nhiệt đới có diện tích đất trồng trọt tương

đưdng vói 6.600 triệu ha ở các vùng nhiệt đới ẩm có 510 triệu

ha đất thuận lợi đôl với nông nghiệp, ngoài ra năng suất lý tưởng của chúng cao hơn gấp 3 lần so vói vùng khí hậu ôn hòa

Do đó, vùng đất này tương đương với 1.530 triệu ha đất nông nghiệp cày cấy được ỏ vùng ôn đói Như vậy, con ngưòi có quyển sở hữu một diện tích đất sinh lợi là khoảng 8.200 triệu

ha Nếu tính năng suất ngũ cốc là 5T/ha / năm thì 1 ha nuôi đưỢc 17 người, vì một đơn vị sinh tồn nếu tính bằng ngũ cốc không thôi là 250 - 300 kg hạt N h ư vậy, với kỹ thuật canh tác hiện đại và bằng cách tính toán cho các khẩu phần thức ăn,

hay gọi là "đớn VỊ sinh tồn", trằ i đất cổ thể nuồi sống; 8.200 ;

10® 17 = 140 tỷ ngưòi

N ếu ă n h ỗ n hỢp, k h ẩ u p h ần ăn cho m ột ngưòi tro n g m ột

năm là 260 kg ngũ cốc cần 500 đất trồng trọt, 90 kg thịt cần

800 và 250 kg sữ a cần 500 đất cho chăn nuôi Như vậy, khẩu phần ăn hỗn hợp của một người trong một năm cần 1.800 Như vậy, một ha nuôi được 5,5 ngưòi và 8.200 10® ha nuôi được 45 tỷ ngưòi

Mặc dù sự tính toán như vậy là viển vông nhưng rất đáng chú ỹ, bỏi nó cho ta một khái niệm về con số cực đại lý thuyết tnà ta có thể vướn tới được Nên thấy rằng những tính toán của Kollin Clark hoàn toàn không chú ý đến nguồn tài nguyên của đại dương cũng như của các thủy vực nưôc ngọt và không nêu

một g iả thiết nào có liên quan đến khả năng, thành tựu hóa

Trang 9

sinh học cổ thể cho phép tạo ra những thiết bị công nghệ để tổng hỢp các thực phẩm cho con ngưòi bằng con đưòng vi sinh vật

Một điều nữa là trong tính toán của mình, Koỉlin Clark đã

không đề cập đến những khát vọng hiện nay của con ngưdi là

dành những khu đất dùng cho việc tể chức nghỉ ngởi, an dưỡng vổi những tiện nghi có kỹ thuật và ván minh hiện đại ngày càng có tầm quan trọng lớn lao Clark cũng đã không tính đến

cả những diện tích bắt buộc phải thoát ỉy khôi ngành nông nghiệp và dành cho việc trồng cây lấy gỗ trong xây dựng, công nghiệp sản xuất giấy (sách, báo, tạp chí) nhằm thỏa mẫn những nhu cầu tinh thần của con ngưòỉ

Nếu quay ỉẹi sự đánh giá về sản lượng sở cấp là gần 53 tỷ tấn trên lục địa, 30 tỷ tấn trong các đại dương và công nhận khẩu phần trung binh hàng năm trên một đầu ngưòi là tưdng đưdng với 1.000 kg ngũ cốc, thi sô' người tối đa c6 thể được cung cấp đầy đủ bằng sản lượng sđ cấp đó là 83 tỷ ngưdi Dĩ nhiên đó ỉà con sế không tưỏng, nhưng nó ỉạỉ gần vói tính toán của Clark

Mặc dù vôi những tính toán ỉạc quan như vậy nhưng tình trạng hiện nay trêơ thế giổi bắt buộc ta phải thừa nhận rằng, hãy còn xa mối đi tổi chỗ thực hiện được những điều nói trên Một 8ố ngưối giằ định rằng, trong v i^ tổng hỢp các hỢp chất hữu cđ, sinh quyển đang tiến vào thòi kỳ thứ ba cùa lịch sử phất triển địa hóa

của sự tổng hỢp tự nhiên khí C02 trong khí quyển, nhò tỉa cực tím trong vừng quang phể có bước sóng ngắn, sự phóng điện xẩy ra ỉúc cổ dông bão và sự hoạt động của núi ỉửa

Trang 10

- Thời kỳ thứ hai là thòi kỳ hiện chúng ta đang sông, nó ầã kéo dài gần 800 triệu năm - là kỷ nguyên của cây xanh, sản

xuất ra các hỢp chất hữu cơ bằng sinh tổng hỢp qua quá trình

quang hợp

- Thòi kỳ thứ ba, chỉ mới bắt đầu, sẽ là kỷ nguyên của các tổng hợp hóa học, thực hiện dưới sự điều khiển của con ngưòi Các nhà kinh tế học và xã hội học tin tưỏng tuyệt đối vào khả năng này của khoa học hiện đại và cho rằng, sức sản xuất thực tế của sinh quyển có thể tâng lên vô tận Cùng vối sự tăng dân số, con số các nhà bác học cũng tăng lên và vói tài năng của họ, ngưòi ta có thể tìm ra cách giải quyết vấn đề dinh dưỡng, khả năng đó còn to lớn hớn cả sô' lượng ngưòi

Nhiều nhà kinh tế học hiện nay xem tài nguyên con ngưòi quan trọng hơn nhiều so với tài nguyên thiên nhiên trong việc xầc định tương lai của một dân tộc Vặt chất đóng vai trổ ít quan trọng hơn trong kinh tế học hiện đại, trong khi đó thông tin và vốn đóng vai trò quan trọng hdn nhiều Một lực lượng lao động có tri thức, cần cù, giàu kinh nghiệm là hinh thức vốn nhân lực, đó là một thành phần quan trọng trong vấn đề này Điều đáng tiếc ỉà hầu hết các nưóc có tốc độ tãng dân sế nhanh lại là nhữiíg nưổc kém phát triển, không cố thâm niên công nghiệp, chưa nói đến "thâm niên thông tin" của máy vi tính, viễn thông, ngưòi máy và thương mại quốic tế Điều này cũng có thể các th ế hệ trẻ trong kỷ nguyên tói c6 nhiều sức lực hởn, nhiều ý tưỏng mới hdn và có khẳ năng tết hđn để thích nghi hđn với một thế giói thay đổi khác vdi thế hệ cha, anh Họ

có thể là chìa khóa để đi tói một thế giới mới

Ngày đăng: 01/04/2021, 15:41

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w