1. Trang chủ
  2. » Cao đẳng - Đại học

Mối quan hệ giữa bảo tồn, phát huy giá trị di sản văn hóa với phát triển du lịch trong giai đoạn hiện nay - Trường Đại học Công nghiệp Thực phẩm Tp. Hồ Chí Minh

7 53 2

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 7
Dung lượng 148,78 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trong trường hợp đối với các di sản văn hóa, nếu các hoạt động khai thác, phát huy giá trị di sản được quản lý tốt có thể đem lại những lợi ích cho cộng đồng như lợi ích ki[r]

Trang 1

V Ă N HÓ A

1 Bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hóa

thông qua du lịch

Có thể nói bây giờ văn hóa Việt Nam

còn những gì chứ không phải “có

những gì” bởi phần nhiều các giá trị/di sản văn hóa mà các bậc tiền nhân thiết

lập và tồn tại trong một thời gian dài nhưng

vì lẽ này, hay lẽ khác, mà đặc biệt khi dùng nó

biến mất Đó là chưa kể một số di sản văn hóa còn lại, nếu không tính toán kỹ thì rất dễ biến sang dạng khác Có thể sự biến dạng đó hiện đại, sinh lợi hơn (như thu hẹp khu di tích để xây nhà hàng, khách sạn, khu vui chơi, tạo cảnh quan mới…; hay lược bớt nghi thức, đưa thêm những loại hình nghệ thuật biểu diễn hiện đại vào lễ hội truyền thống…) nhưng khi sắc diện

MỐI QUAN HỆ GIỮA BẢO TỒN, PHÁT HUY GIÁ TRỊ

DI SẢN VĂN HÓA VỚI PHÁT TRIỂN DU LỊCH

TRONG GIAI ĐOẠN HIỆN NAY

BÙI THANH THỦY Tóm tắt

Suốt một thời gian dài, chúng ta đã được tiếp cận với những lý thuyết luận, phương pháp luận, khoa học luận đa dạng của nhiều nhà khoa học, chuyên gia trong nhiều lĩnh vực về vấn đề bảo vệ các giá trị văn hóa truyền thống/di sản văn hóa trong bối cảnh hiện đại hoá, toàn cầu hoá hiện nay, trong

đó có gắn với sự phát triển kinh tế mang tính quốc tế và đại chúng - du lịch Du lịch hiện đang là một điểm sáng (mũi nhọn) cho kinh tế Việt Nam; dân chúng tiếp nhận du khách nước ngoài với lòng hiếu khách của văn minh, văn hóa Việt; xã hội đón nhận du lịch trong nhiều sinh hoạt thường nhật một cách thản nhiên, du lịch sẽ gắn bó với tương lai của đất nước, là thước đo chính xác khả năng của Việt Nam trong cách đón nhận những biến đổi lớn từ toàn cầu hóa Tiếp bàn về vấn đề nhận thức đối với mối quan hệ giữa bảo tồn, phát huy giá trị di sản gắn với phát triển du lịch; giải pháp tạo sự cân bằng cho mối quan hệ này là những vấn đề mà bài viết này xin được trao đổi.

Từ khóa: Du lịch, di sản văn hóa, bảo tồn, phát huy

Abstract

For a long time, we have accessed to the various theories, methodologies, and scientific studies of many scientists and experts in many fields of protecting traditional cultural values/ cultural heritage

in the context of modernization and globalization today, in which is linked to the international and mass-tourism economic development Tourism is currently a bright spot for the Vietnamese economy; people receive foreign tourists with the hospitality of Vietnamese civilization and culture; the society welcome tourism naturally in many daily activities Tourism will be related to the future of the country and considered as an accurate measure of Vietnam’s ability to receive major changes from the globalization The paper will discuss the awareness on the relationship between conservation and promotion of heritage values associated with tourism development; solutions to create a balance for this relationship.

Keywords: Tourism, cultural heritage, conservation, promotion

VĂN HÓA DU LỊCH

Trang 2

nằm trong thế mâu thuẫn giữa phát triển và

bảo tồn; giữa kinh tế hóa và bảo vệ di sản, môi

trường di sản; giữa lợi nhuận trước mắt và lợi

ích lâu dài (như trường hợp biệt thự Bảo Đại

ở thành phố Nha Trang; bán đảo Sơn Trà, Đà

Nẵng; đồi Vọng Cảnh ở Huế; xây cầu trên núi

Cái Hạ, Tràng An, Ninh Bình…) Nói chung, ở

Việt Nam, phát triển kinh tế du lịch gắn với bảo

tồn di sản luôn là bài toán rất khó giải đối với

các nhà hoạch định, quản lý đất nước

Di sản văn hóa là tài sản vô giá và không

thể thay thế được đối với mỗi một quốc gia và

toàn thể nhân loại Những mất mát do hư hại

hoặc biến mất của bất kỳ tài sản nào sẽ mang

đến sự nghèo nàn cho hệ thống di sản, nền

văn hóa của quốc gia đó và của các dân tộc

trên thế giới

Văn hóa, di sản văn hóa khi kết nối với hoạt

động du lịch, vừa đánh thức các giá trị văn hóa/

di sản, vừa quảng bá các giá trị văn hóa rộng

rãi; góp phần lưu giữ, phổ biến những tinh hoa

văn hóa bản địa (hợp thành văn hóa dân tộc)

Ý nghĩa lớn nhất của sự phục sinh, bảo tồn,

phát huy giá trị các di sản là đảm bảo tính liên

tục không đứt gãy của truyền thống văn hóa

dân tộc, làm cho đời sống tinh thần của cộng

đồng phong phú, sâu sắc và trở thành một

thành luỹ của các giá trị truyền thống, bản sắc

trong xu thế hội nhập hiện nay Để đảm bảo

được vấn đề này trong bối cảnh đương đại, du

lịch là một phương thức hiệu quả bởi nó thu

hút sự chú ý của mọi người dân trong nước

và thế giới đối với giá trị văn hóa của di sản ở

mọi vùng miền, mọi quốc gia Qua du lịch, các

di sản văn hóa khi được khai thác dưới dạng

tài nguyên để tạo thành những điểm đến, sản

phẩm du lịch sẽ giúp du khách có cái nhìn rõ

nét, sâu sắc hơn về nền văn hoá trong quá khứ

và cảm nhận được mối liên hệ giữa quá khứ,

hiện tại và tương lai; đồng thời được tận mắt

chứng kiến, tiếp cận cuộc sống văn hóa bản

khách từ các nơi trên thế giới đến tham quan

và trải nghiệm di sản văn hóa của địa phương

sẽ tạo nên động lực để địa phương bảo tồn, khôi phục, gìn giữ di sản Và chỉ khi các giá trị

di sản được phát huy thì mới có cơ sở, có căn

cứ và điều kiện để bảo tồn Phát huy giá trị di sản qua du lịch không chỉ tạo hướng tiếp cận, ảnh hưởng mới làm cho các giá trị văn hóa không bị lãng quên mà còn bảo tồn được bản sắc của dân tộc Vấn đề này cũng mang đến sự nhận biết sâu sắc hơn về tầm quan trọng của việc bảo vệ, gìn giữ các di sản văn hóa Một khi người dân đã nhận ra và đánh giá cao giá trị đặc biệt của các di sản trong cộng đồng của họ, một khi niềm tự hào của họ được củng cố, họ sẽ cố gắng hết sức để bảo vệ di sản Điều đó thực sự mang tính bền vững vì không một lực lượng nào có thể đối xử tốt với các di sản văn hóa hơn những chủ thể sở hữu, sáng tạo ra nó Như thế, du lịch nội địa và du lịch quốc tế đóng vai trò là chất xúc tác cho việc bảo tồn các di sản văn hóa, đánh thức và làm trỗi dậy các giá trị văn hóa của các thời đại đã qua đang bị lãng quên hoặc mai một theo thời gian trước những biến cố của lịch sử

Mặt khác, một trong những giá trị của các

di sản là trở thành tài nguyên du lịch và đem lại lợi ích kinh tế lớn Các lợi ích kinh tế ấy lại tiếp tục phục vụ đắc lực cho công tác bảo tồn và phát huy giá trị của các di sản Chúng ta không thể phủ nhận lợi ích to lớn về kinh tế mà du lịch mang lại cho điểm di sản Cộng đồng địa phương ở bất kỳ vùng nào đã và đang có sự phát triển về du lịch đều nhận ra lợi ích này Ngoài việc tạo thu nhập, việc làm, nâng cao đời sống kinh tế, tư duy, nhận thức cho người dân địa phương, du lịch còn hỗ trợ việc bảo tồn di sản bằng cách cung cấp nguồn tài chính ổn định

Du lịch phát triển tạo tiềm lực để tôn tạo, trùng tu các di tích, phục dựng các lễ hội, các

Trang 3

V Ă N HÓ A

loại hình nghệ thuật dân gian,… đồng thời

nâng cao ý thức, trách nhiệm của các cơ quan

nhà nước, chính quyền địa phương và cộng

đồng cư dân trong việc giữ gìn, phát triển di

sản văn hóa Du lịch tạo ra nguồn thu nhập tại

chỗ cho phép các địa phương tích luỹ và phát

triển kinh tế - xã hội, trong đó có văn hóa Nhờ

đó các tài sản văn hóa được bảo vệ, tôn tạo,

tái sinh, đồng thời với việc xây dựng mới các

cơ sở văn hóa làm phong phú thêm các giá trị

văn hoá đương đại Việc tuyên truyền, quảng

bá du lịch rộng rãi ở ngoài nước, trong nước và

tại điểm du lịch đã truyền tải được giá trị văn

hóa dân tộc đến bạn bè quốc tế, khách du lịch

và nhân dân Vấn đề này cũng được nhắc rất

rõ trong Hiến chương quốc tế về du lịch văn

hóa được Hội đồng Di tích và Di chỉ Quốc tế

(ICOMOS) thông qua năm 1999: “Du lịch có thể

tận dụng các lợi điểm về kinh tế của cả di sản

và khai thác chúng phục vụ cho mục đích bảo

tồn bằng cách tạo ra nguồn phí hỗ trợ, giáo dục

cộng đồng và tác động vào chính sách” [5]

Ngoài ra, bản thân du lịch có chức năng

giáo dục thông qua các hoạt động ngành

nghề, nhắc nhở mọi người về cội nguồn văn

hóa và giúp du khách xác định, hình thành

nên ý thức về bản sắc văn hóa của mình, thúc

đẩy mối quan tâm của công dân đến lịch sử,

văn hóa, di sản; giúp chính phủ tác động đến

dư luận và giành được sự ủng hộ cho những

mục tiêu quốc gia (việc triển khai phát triển du

lịch trở thành ngành kinh tế mũi nhọn của Bộ

Chính trị từ Nghị quyết 08-NQ/TW là một minh

chứng); thúc đẩy những tư tưởng, tham vọng

quốc gia, hình thành hình ảnh tích cực về đất

nước và bản sắc dân tộc

Di sản văn hóa là bộ phận trọng yếu của

nền văn hóa dân tộc Thái độ ứng xử đối với

di sản văn hóa nói lên trình độ nhận thức của

mỗi quốc gia, dân tộc và tuỳ thuộc vào việc

xem xét vai trò của di sản văn hóa đối với sự

phát triển xã hội trong từng thời điểm lịch

hợp những cặp phạm trù vừa thống nhất, vừa tương phản: Truyền thống và hiện đại; kế thừa

và phát triển; bảo tồn và khai thác…

Thương mại hóa văn hóa (phát triển kinh

tế từ văn hóa, kinh tế hóa văn hóa) luôn có hai mặt Trong trường hợp đối với các di sản văn hóa, nếu các hoạt động khai thác, phát huy giá trị di sản được quản lý tốt có thể đem lại những lợi ích cho cộng đồng như lợi ích kinh

tế, tạo dựng niềm tự hào, thu hút khách du lịch, xây dựng vị thế cho địa phương, tạo hình ảnh của điểm đến du lịch và quốc gia Nhưng nếu không được quản lý, điều hành tốt và nếu như không thấy được những lợi ích một cách rõ ràng, cái giá phải trả và những vấn đề nảy sinh

sẽ gia tăng, sẽ bị mai một, biến dạng hoặc sẽ mất đi, sự hỗ trợ từ phía cộng đồng và những đóng góp tự nguyện sẽ không còn Công cuộc bảo tồn và phát huy di sản văn hóa trong thời đại mới sẽ gặp nhiều trở ngại, khó khăn

2 Du lịch phát triển dựa vào hệ thống di sản văn hóa

Di sản văn hóa tạo động lực cho du lịch

Văn hoá là điều kiện và môi trường để cho

du lịch phát sinh và phát triển Các di sản văn hóa là một trong những điều kiện đặc trưng cho việc phát triển du lịch của quốc gia, vùng, địa phương Giá trị của những di sản văn hóa:

Di tích lịch sử, các công trình kiến trúc, các hình thức nghệ thuật, các tập quán, lễ hội, ngành nghề truyền thống,… cùng các thành tựu kinh

tế, chính trị, xã hội, các cơ sở văn hóa nghệ thuật, các bảo tàng,… là những đối tượng cho

du khách khám phá, thưởng thức; cho du lịch khai thác, sử dụng Các di sản không chỉ tạo ra môi trường và điều kiện cho du lịch phát sinh, phát triển mà còn quyết định quy mô, thể loại, chất lượng và hiệu quả hoạt động du lịch của một quốc gia, một vùng, một địa phương

Di sản văn hóa tạo nên sự khác biệt cho hệ thống điểm đến, sản phẩm du lịch

Văn hóa là nền tảng của xã hội, thể hiện tầm cao, chiều sâu của sự phát triển dân tộc cũng

Trang 4

đặc thù của mỗi quốc gia Khai thác những yếu

tố mang tính bản sắc, đặc trưng của văn hóa

dân tộc - di sản văn hóa để hình thành những

điểm đến, sản phẩm du lịch chính là tạo nên

những sản phẩm du lịch đặc sắc, riêng biệt

Một nguyên tắc khi thiết kế sản phẩm du

lịch luôn chú ý đến tính đa dạng trong sự độc

đáo, riêng biệt để tạo nên sự khác biệt cho

sản phẩm, hình thành hệ thống sản phẩm đặc

trưng, có sức hút lớn và tăng tính cạnh tranh

trong kinh doanh cũng như điểm đến Tính

đặc trưng của điểm đến, sản phẩm du lịch

được quy định bởi đặc điểm tự nhiên hoặc văn

hóa bản địa (mà ở đây là di sản văn hóa) điển

hình của địa phương, nơi sản phẩm du lịch

được hình thành, phát triển

Di sản văn hóa giải quyết vấn đề sản

phẩm du lịch Việt Nam

Việt Nam đang sở hữu một “kho báu” để làm

nền tảng thiết kế sản phẩm du lịch mà nhiều

quốc gia khác không có, đó là một nền văn hóa

đặc sắc, nhiều lợi thế về cảnh quan, cấu trúc và

biểu hiện dấu ấn văn hóa vật chất, tinh thần

Về cảnh quan, Việt Nam có cảnh quan văn hóa

đa dạng được tạo nên bởi sự thích ứng của

con người trong từng dạng địa hình Về cấu

trúc, Việt Nam là một quốc gia đa sắc màu

văn hóa của 54 dân tộc cùng sinh sống, thống

nhất trong đa dạng Điều đó đã tạo nên một

hệ thống di sản văn hoá vật thể, phi vật thể

phong phú, độc đáo, khác lạ, trong đó nhiều di

sản văn hóa mang đậm dấu ấn đóng góp của

văn hóa đa tộc người được công nhận là di sản

văn hóa thế giới Đặc biệt, Việt Nam còn hàm

chứa một hệ thống di sản văn hóa thời kỳ cận

hiện đại ghi dấu ấn công cuộc xây dựng và bảo

vệ Tổ quốc Hệ thống di sản: các di tích lịch sử

văn hóa, ẩm thực, lễ hội, các trò chơi dân gian,

hàng thủ công,… là những nguồn tài nguyên

độc đáo, đặc sắc để làm nên cái hồn của sản

phẩm du lịch, đa dạng hóa và nâng cao chất

lượng sản phẩm du lịch hiện nay

lượng khách

Các hoạt động chủ yếu của du lịch bao gồm: Ăn, ở, du ngoạn, mua sắm, vui chơi giải trí (nhu cầu nội tại của con người) Tất cả các hoạt động đó ngoài việc thoả mãn nhu cầu thiết yếu của mọi thành viên trong xã hội đều mang đến những cảm nhận trải nghiệm về đặc trưng văn hóa, khát vọng về văn hóa - thể hiện sự ngưỡng mộ, theo đuổi với nền văn hóa của nơi khác Điều đó cho thấy văn hoá với hệ thống các di sản là động cơ, là mục đích tìm kiếm của du khách bởi sự khác biệt Đây sẽ là tác nhân tạo nên sự hấp dẫn của điểm đến, sự thu hút/lôi cuốn du khách, thúc đẩy tính lưu chuyển của dòng khách Những ấn tượng về văn hóa làm cho du khách khó quên chuyến

đi của mình và họ sẽ giới thiệu, quảng bá nâng cao những giá trị đó

Di sản văn hóa giải quyết vấn đề định vị hình ảnh, nâng cao thương hiệu du lịch địa phương/vùng/quốc gia

Khai thác di sản văn hóa sẽ tạo nên các sản phẩm du lịch đặc trưng, khác biệt, giúp định

vị hình ảnh, nâng cao năng lực cạnh tranh, thương hiệu du lịch của một điểm đến và hình ảnh quốc gia Tính cạnh tranh thu hút khách của một điểm đến, hình thành, định vị thương hiệu cho địa phương/vùng/quốc gia phụ thuộc vào một số yếu tố cơ bản: Mức độ hấp dẫn dựa trên tính khác biệt của sản phẩm

du lịch so với những điểm đến khác; tình trạng môi trường (bao gồm cả môi trường tự nhiên

và môi trường xã hội); sự thuận lợi trong tiếp cận điểm đến (thủ tục ra vào, phương tiện);

và hình ảnh, thông tin về điểm đến Các sản phẩm du lịch được khai thác từ tính độc đáo, riêng biệt của di sản văn hóa sẽ góp phần làm giảm sự cạnh tranh tiêu cực giữa các khu vực phát triển du lịch bởi tạo nên yếu tố không trùng lặp Tự thân chúng sẽ hấp dẫn và thu hút

du khách mà không phải dùng đến các biện

Trang 5

V Ă N HÓ A

pháp không phù hợp, giúp phát triển du lịch

đồng đều ở mỗi địa phương, vùng miền Đảm

bảo sự khác biệt, tăng tính cạnh tranh, giúp

định vị hình ảnh, thương hiệu cho điểm đến

địa phương, quốc gia là một yêu cầu đặc biệt

quan trọng trong quá trình phát triển du lịch

của đất nước

Di sản văn hóa tạo khả năng sinh lời tại

chỗ

Di sản văn hóa là sơ sở tạo ra một hệ thống

các sản phẩm, dịch vụ tại chỗ để đáp ứng nhu

cầu của du khách đến tham quan du lịch (bán

vé, sách, đồ lưu niệm, đồ ăn, chụp ảnh, khu

dịch vụ bán lẻ thương mại…) kích thích tiêu

dùng, sản xuất ở khu vực xung quanh Điều

đó khẳng định di sản văn hóa có khả năng tạo

thành tài sản, tác động kinh tế ở phạm vi vùng,

khu vực, quốc gia

3 Tạo mối quan hệ bền vững giữa bảo tồn,

phát huy giá trị di sản văn hóa với phát triển

du lịch trong giai đoạn hiện nay

Mối quan hệ giữa di sản và du lịch tốt hay

xấu tuỳ thuộc vào cách chúng ta xử lý như

thế nào Sẽ rất lý tưởng nếu kết hợp được hai

mục tiêu: Phát triển du lịch và bảo tồn di sản

văn hóa Có thể đưa những “điều” này vào hai

“phạm trù công việc”: Một là những công việc

thuộc phạm trù văn hóa (phục dựng, bảo tồn,

tôn tạo…); hai là những công việc thuộc phạm

trù du lịch (cơ sở, tiện nghi, hình thức thực

hiện…)

Những tài nguyên văn hóa của dân tộc sẽ

hình thành và tồn tại lâu dài, bền vững, một khi

cùng tiến hành song song một cách văn hóa,

hai lĩnh vực văn hóa và du lịch Để thực hiện

được mong muốn trên, cần thống nhất quan

điểm giải quyết Trong từng hoạt động mọi

điểm mạnh cần phải được duy trì, phát huy;

mọi điểm yếu cần phải được cải thiện, xóa bỏ

Trên thực tế, mâu thuẫn giữa bảo tồn và

di sản Một mặt, du lịch là động lực cho sự phát triển kinh tế địa phương và là nguồn cung cấp tài chính bền vững cho di sản, nhưng mặt khác du lịch lại có thể gây hại cho di sản khi số lượng du khách tăng lên Điều này, khiến cho mối quan hệ giữa hai bên căng thẳng và khó có thể giải quyết trong một sớm một chiều và cần có sự nỗ lực từ hai phía Nhiều trường hợp cho thấy, việc khai thác các di sản quá mức để phục vụ du lịch sẽ dẫn đến di sản bị huỷ hoại Dưới ảnh hưởng của du lịch, rất nhiều di sản văn hóa (cả vật thể và phi vật thể) đã bị biến dạng hoặc biến mất Ví dụ, ở một số quốc gia trên thế giới, khá nhiều di tích phải giảm tải số lượng khách đến tham quan bằng nhiều chính sách khác nhau; một số di tích phải đóng cửa vì lượng khách đến quá lớn, gây ảnh hưởng xấu đến môi trường và cảnh quan di tích, cũng như tác động xấu đến sinh hoạt của cộng đồng địa phương Nhiều lễ hội khi trở thành

lễ hội du lịch đã mất hết những giá trị gốc/bản thể của nó, trở thành những sinh hoạt trần tục Nói chung, nhiều giá trị văn hóa, những yếu tố đặc trưng, nguyên bản đã biến mất khi bị khai thác du lịch một cách thái quá, thiếu kiểm soát Hậu quả này không nên đổ lỗi hoàn toàn cho du lịch Cách thức quản lý, vận hành và phát triển của con người đóng vai trò quyết định trong việc du lịch tác động tích cực hay tiêu cực đối với vấn đề bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hóa Điều cơ bản là làm sao phát triển du lịch nhưng vẫn giữ gìn được bản sắc, tính nguyên gốc của di sản, làm cho du lịch và

di sản văn hóa không xung đột nhau mà bổ trợ, phục vụ lẫn nhau Gánh nặng và những thách thức này được đặt lên vai của tất cả các bên liên quan đến chu trình quản lý di sản văn hóa ở một khu di tích, địa phương có di sản nhằm đảm bảo khả năng đạt được sự cân bằng giữa việc bảo tồn và phát triển bền vững tại một điểm di sản

Chính quyền địa phương, ban quản lý địa

Trang 6

văn hóa Điều cốt yếu là phải nhận thức rõ vai

trò của di sản văn hóa đối với cộng đồng và

làm mọi điều để giữ gìn cho cộng đồng cũng

như nghiên cứu các biện pháp, cách thức tốt

nhất khi kết hợp di sản với du lịch Quá thương

mại hóa hoặc quá bảo tồn di sản văn hóa một

cách cứng nhắc không phải là phương thức lý

tưởng đối với việc bảo vệ và phát huy di sản Vì

thế những chính sách, quy chế, quy định đối

với bảo tồn, phát huy di sản cần linh hoạt để

thu hút du khách và phòng tránh được những

mặt trái mà du lịch có thể tác động

Mặc dù người dân địa phương có thể tự

thân bảo vệ di sản để thể hiện đức tin, niềm tự

hào, trách nhiệm của chính họ mà không phải

sử dụng ngân sách Nhà nước, song không thể

phủ nhận vai trò quan trọng của kinh tế đối với

sự tồn tại của các di sản văn hóa trong đời sống

hiện nay Bởi ít nhất phải có kinh phí để duy trì

một ban tổ chức hoạt động hiệu quả, nâng cấp

và xây dựng cơ sở hạ tầng, cảnh quan, tôn tạo,

sửa chữa, phục dựng, duy trì di sản Hơn nữa,

khi người dân được hưởng lợi từ các di sản này

sẽ kích thích hơn việc tham gia tích cực từ phía

họ, tình yêu di sản vì thế sẽ lớn dần lên và được

duy trì một cách lâu dài, bền vững Xét trên

khía cạnh du lịch, du khách sẽ được chào đón

hơn khi đến với địa phương, do người dân địa

phương hiểu rằng du khách đến giúp họ phục

hưng, bảo tồn chính văn hóa của họ và mang

lại lợi ích kinh tế cho họ Ngược lại, du khách sẽ

cảm thấy hài lòng khi đến một nơi du lịch mà

người dân nồng nhiệt, mến khách, thân thiện,

môi trường hoạt động an toàn và khám phá

được nhiều điều mới, lạ, độc đáo Những nhà

đầu tư, tài trợ, các doanh nghiệp kinh doanh

cũng sẽ tham gia hăng hái hơn vì nhận thấy

có được lợi ích mang đến cho bản thân, đơn

vị Điều đó cho thấy, việc giữ gìn, phát huy di

sản văn hóa và những lợi ích từ kinh tế có mối

liên kết với nhau Và như thế, vấn đề thương

bá cho di sản là một việc đáng làm, cần thiết trong phát triển du lịch Bảo tồn, phát huy di sản văn hóa cần dựa trên quan điểm di sản văn hóa, các giá trị truyền thống đang tồn tại song hành với xã hội, phải có những biện pháp vận hành/phát huy một cách thích hợp với những yêu cầu của thời đại mới, trong bối cảnh chính trị - kinh tế - văn hóa - xã hội nhất định Đây là mối quan hệ hai chiều, có sự ảnh hưởng và tác động tương hỗ lẫn nhau

Luôn xác định di sản văn hóa là một sản phẩm văn hóa, phải vận hành phù hợp với vai trò của nó trong xã hội hiện tại, phải đáp ứng nhu cầu của xã hội đương đại Dưới góc độ du lịch, di sản văn hóa có vai trò kích thích nhu cầu du lịch/tham quan của du khách, tạo tính hấp dẫn cho điểm tham quan du lịch, xây dựng hình ảnh cho một vùng đất cũng như là tác nhân tạo sự phát triển kinh tế - xã hội, địa phương, vùng, quốc gia; hình thành loại hình

du lịch thay thế và đáp ứng mục tiêu phát triển bền vững

Quản lý, bảo tồn phát huy giá trị di sản văn hóa phải có cách nhìn theo nghĩa rộng hơn, không chỉ xoay quanh việc phục hồi, sửa chữa, tôn tạo phát huy bản thân những di sản văn hóa ấy hay cứ mặc định về giá trị để du khách

tự tìm đến mà còn liên quan đến các vấn đề như lập kế hoạch; nguồn nhân lực; cách thức tuyên truyền, quảng bá; tìm kiếm nguồn tài trợ/đầu tư; phát triển dịch vụ; đảm bảo về an ninh, y tế, vệ sinh môi trường, hệ thống ánh sáng; cơ sở hạ tầng… Do đó, mọi quy chế, quy định khi ban hành cần tính đến những vấn đề liên quan, tác nhân có thể xảy ra và phải có sự phối kết chặt chẽ mang tính liên ngành trong công tác quản lý Cách thức, phương pháp quản lý cũng phải linh hoạt, vận dụng cho từng trường hợp di sản cụ thể, nhất là khi hệ thống di sản văn hóa của nước ta rất đa dạng

và phong phú

Trang 7

V Ă N HÓ A

Du lịch gắn liền với bảo tồn và khai thác

nghiêm túc các di sản vật chất, tinh thần, hay

nói cách khác là du lịch mang tính giáo dục, vì

vậy, cần đẩy mạnh công tác xã hội hóa du lịch

gắn với bảo vệ di sản Ví như ở nước Anh có

hai tổ chức xã hội sở hữu và khai thác các di

sản, đó là English Heritage (Di sản Anh) và The

National Trust (Niềm tin quốc gia) với các điểm

tham quan rộng khắp cả nước Hai tổ chức này

phát hành thẻ hội viên hàng năm với nhiều

ưu đãi để khuyến khích nhân dân và du khách

nước ngoài Các cơ sở của hai tổ chức này hầu

hết là những di tích lịch sử, các địa phương

gắn với thân thế những danh nhân và các khu

sinh thái nhân văn Hoạt động của hai tổ chức

này thống nhất với nhau nhưng không trùng

lặp Họ thường xuyên liên lạc với các du khách

thành viên Ở đây, công tác xã hội hóa du lịch

đã được thực hiện rất tốt

Tất cả những nhận định trên cho thấy, để

bảo tồn, phát huy di sản văn hóa; để phát

triển du lịch có lợi cho việc bảo tồn, phát huy

những tinh hoa của dân tộc, cần phải lưu ý

đến một số yêu cầu: 1) Khi phát triển du lịch,

vấn đề bảo tồn các giá trị văn hóa phải luôn

được đặt lên trên mục đích kinh tế; 2) Phải xây

dựng hệ thống văn bản pháp lý trong quản lý

di sản văn hóa và phát triển du lịch một cách

cụ thể tương ứng với từng trường hợp kiểu

loại di sản; 3) Phát triển du lịch trên cơ sở tôn

trọng tính nguyên gốc và môi trường không

gian văn hóa của di sản; 4) Thiết lập các tuyến

du lịch liên kết để khai thác những nhu cầu

khác nhau của du khách với đối tượng hạt

nhân là các di sản văn hóa; 5) Phải có những

chính sách, cơ chế phù hợp để tái đầu tư cho

di sản văn hóa từ những nguồn thu du lịch; 6)

Phải đảm bảo các dịch vụ, cơ sở hạ tầng, môi

trường du lịch đáp ứng, thoả mãn nhu cầu của

du khách; 7) Đẩy mạnh công tác xã hội hóa du

lịch thúc đẩy bảo tồn di sản; 8) Phải phát huy

vai trò tích cực và chủ động của người dân ở

du lịch vào việc tham gia làm du lịch và bảo

vệ di sản văn hóa

Di sản văn hóa của nước ta chỉ có thể được bảo tồn, tôn vinh nếu nó mang lại lợi ích cho

xã hội đương đại, mà điều đó dễ nhìn nhận thông qua hoạt động du lịch, nhất là khi có một cách thức quản lý, điều hành tốt và hiệu quả trong hoạt động khai thác các di sản văn hóa, có được sự trân trọng, hiểu biết, tính gắn kết giữa hai lĩnh vực này

B.T.T

(PGS.TS, Trưởng khoa Gia đình & Công tác xã hội,

Trường ĐHVHHN)

Tài liệu tham khảo

1 Bùi Hoài Sơn (2009), Quản lý lễ hội truyền

thống của người Việt, Nxb Văn hóa dân tộc, Hà

Nội

2 Bùi Thanh Thủy (2009), “Nội hàm văn hóa

du lịch”, Tạp chí Du lịch Việt Nam, (12), tr.45-47.

3 Bùi Thanh Thủy (2009), “Sự thích ứng của văn hóa truyền thống nhìn từ góc độ du lịch”, in

trong Kỷ yếu Hội thảo khoa học Quốc tế Văn hóa

trong thế giới hội nhập, Nxb Văn hóa - Thông tin,

Hà Nội

4 Bùi Thanh Thủy (2013), Tác động của hoạt

động du lịch đến đời sống kinh tế - xã hội của cộng đồng cư dân tại các khu du lịch tiêu biểu vùng đồng bằng Bắc Bộ, Đề tài cấp Bộ.

5 Tổng cục du lịch (2007), Du lịch ở các di sản

văn hóa thế giới, Hà Nội.

Ngày nhận bài: 16 - 6 - 2019 Ngày phản biện, đánh giá: 10 - 8 - 2019 Ngày chấp nhận đăng: 25 - 9 - 2019

Ngày đăng: 01/04/2021, 15:04

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm