cho bảo tồn, cho duy trì cơ sở vật chất kỹ thuật và nộp ngân sách nhà nước; nguồn thu từ thuế thông qua các hoạt động du lịch sẽ được phân chia ra sao; những chính sách cụ thể về bảo [r]
Trang 1PHÁT TRIỂN DU LỊCH CỘNG ĐỒNG TẠI HUYỆN CÁT HẢI, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
ĐỖ TRẦN PHƯƠNG * Tóm tắt
Du lịch cộng đồng là loại hình du lịch không chỉ hướng tới mục tiêu thỏa mãn tối đa nhu cầu của
du khách về khám phá, thẩm nhận những giá trị văn hóa vật thể cũng như cảnh quan thiên nhiên,
mà còn quan tâm đến tác động của du lịch đến cộng đồng và tài nguyên môi trường Huyện đảo Cát Hải, thành phố Hải Phòng có nhiều tiềm năng để phát triển loại hình du lịch này Bài viết này tập trung phân tích tiềm năng, thực trạng hoạt động du lịch tại Cát Hải từ đó đưa ra một số giải pháp nhằm phát triển du lịch cộng đồng tại nơi đây
Từ khóa: Du lịch cộng đồng, phát triển du lịch, huyện Cát Hải
Abstract
Community-based tourism is a type of tourism that not only aims to satisfy the needs of travelers
in terms of discovering and recognizing tangible cultural values as well as natural landscapes, but also takes care of impact of tourism to the community and environmental resources Moreover, comunity-based tourism is used as a tool for local communities to manage tourism resources, participate in tourism development planning, preserving cultural values and developing themselves Cat Hai island district, Hai Phong city has a lot of potential to develop this type of tourism This article focuses on analyzing the potential and the real situation of tourism activities in Cat Hai, thereby offering some solutions to develop community-based tourism there.
Keywords: Community-based tourism, tourism development, Cat Hai island district
1 Du lịch cộng đồng
1.1 Khái niệm
Hiện nay, có nhiều khái niệm về du lịch
cộng đồng (DLCĐ) Các khái niệm này được
sử dụng khá linh hoạt tùy thuộc mục đích,
địa điểm nghiên cứu của từng tác giả Theo
nhà nghiên cứu Nicole Hauseler và Wolfgang
Strasdas: “DLCĐ là một loại hình du lịch trong đó
chủ yếu là người dân địa phương đứng ra phát
triển và quản lý Lợi ích kinh tế có được từ du lịch
sẽ đọng lại nền kinh tế địa phương…” [2, tr.149]
Cộng đồng bản địa có vai trò quan trọng trong
hoạt động kinh doanh du lịch Họ không phải
là người đi làm thuê mà tự đứng ra tổ chức
quản lý, điều hành hoạt động kinh doanh của
mình sao cho có hiệu quả nhất Bên cạnh đó,
lợi ích kinh tế từ hoạt động du lịch sẽ ở lại với cộng đồng
Báo cáo của APEC về đặc điểm của DLCĐ
đưa ra cách hiểu: DLCĐ là mội loại hình du lịch
bền vững thúc đẩy các chiến lược vì người nghèo trong môi trường cộng đồng Các sáng kiến DLCĐ nhằm vào mục tiêu thu hút sự tham gia của người dân địa phương vào việc vận hành và quản lý các dự án du lịch nhỏ như một phương tiện giảm nghèo và mang lại thu nhập thay thế cho cộng đồng Các sáng kiến DLCĐ còn khuyến khích tôn trọng các truyền thống và văn hóa địa phương cũng như các di sản thiên nhiên [1, tr.9]
Quan điểm về DLCĐ của APEC nhấn mạnh góc
độ phát triển du lịch phải theo hướng du lịch bền vững Phát triển du lịch không chỉ hướng tới đạt được những mục đích kinh tế mà còn phải đạt được những mục tiêu về văn hóa và môi trường
* ThS, Khoa Du lịch, Trường Đại học Văn hóa Hà Nội
Trang 2V Ă N HÓ A
Tại Việt Nam, các tổ chức và các học giả
cũng đưa ra nhiều khái niệm về DLCĐ khác
nhau Trong Tài liệu hướng dẫn phát triển du
lịch cộng đồng của Viện Nghiên cứu và phát
triển ngành nghề nông thôn Việt Nam, DLCĐ
được hiểu là một loại hình du lịch do chính cộng
đồng người dân phối hợp tổ chức, quản lý và làm
chủ để đem lại lợi ích kinh tế và bảo vệ được môi
trường chung thông qua việc giới thiệu với du
khách các nét đặc trưng của địa phương (phong
cảnh, văn hóa)… [5, tr.3] Khái niệm này đề cao
sự hiểu biết về văn hóa một cách sinh động
của cộng đồng địa phương trong việc truyền
tải giá trị văn hóa vật thể và phi vật thể đến với
du khách Không gì tốt hơn là chính người dân
địa phương giới thiệu, trao truyền những giá
trị văn hóa của chính cộng đồng họ đến với
du khách Điều này sẽ giúp du khách được trải
nghiệm những giá trị văn hóa một cách sinh
động nhất
Hiện nay, DLCĐ có nhiều tên gọi khác nhau
như: Community - Based Tourism (Du lịch dựa
vào cộng đồng); Community - Development
in Tourism (Phát triển cộng đồng dựa vào du
lịch); Community - Based Ecotourism (Phát
triển du lịch sinh thái dựa vào cộng đồng);
Community - Participation in Tourism (Phát
triển du lịch có sự tham gia của cộng đồng);
Community - Based Mountain Tourism (Phát
triển du lịch núi dựa vào cộng đồng)… Tuy có
nhiều khái niệm cũng như nhiều tên gọi khác
nhau, nhưng nhìn chung, DLCĐ có các đặc
trưng cơ bản như sau:
- DLCĐ dựa trên sự tò mò, mong muốn của
khách du lịch để tìm hiểu thêm về cuộc sống
hàng ngày của người dân từ các nền văn hóa
khác nhau
- DLCĐ thường liên kết với người dân
thành thị đến các vùng nông thôn để thưởng
thức, trải nghiệm cuộc sống tại đó trong một
khoảng thời gian nhất định
- Cộng đồng địa phương tham gia hoặc
chịu trách nhiệm ra quyết định thực thi và điều
hành hoạt động du lịch
- Cộng đồng dân cư, các đối tác liên quan,
du khách có trách nhiệm bảo vệ tài nguyên
văn hóa và thiên nhiên địa phương
- Các thành viên của cộng đồng được chia sẻ
lợi ích kinh tế - xã hội từ hoạt động du lịch DLCĐ
góp phần nâng cao nhận thức, kiến thức về thế
- Các sản phẩm, dịch vụ - du lịch được phát triển phù hợp với điều kiện tự nhiên, văn hóa địa phương
Tuy nhiên, nghiên cứu của chúng tôi không chỉ tiếp cận DLCĐ dưới góc độ là một loại hình,
mô hình mà còn ở khía cạnh rộng hơn, đó là mức độ tham gia của cộng đồng trong hoạt động du lịch tại địa phương (cụ thể là ở thị trấn Cát Bà và làng chài Việt Hải) để tìm hiểu cộng đồng dân cư nơi đây tham gia vào hoạt động
du lịch như thế nào và thu được lợi ích gì từ hoạt động du lịch
1.2 Những thành phần cơ bản tham gia
du lịch cộng đồng
* Cộng đồng dân cư địa phương: Cộng đồng
dân cư có nhiệm vụ tổ chức mô hình DLCĐ tại địa phương Họ là trọng tâm của phát triển DLCĐ Không có yếu tố này thì không thể phân biệt được DLCĐ với các loại hình du lịch khác Cộng đồng dân cư làm chủ nguồn tài nguyên
du lịch và trực tiếp phục vụ du khách Lối sống của mỗi cộng đồng chính là những trải nghiệm mà du khách sẽ có được Mặc dù các cộng đồng đều thân thiện và cởi mở với khách
du lịch nhưng không có kỹ năng và thiếu kiến thức chính là điểm yếu kém và bất lợi lâu dài của những cộng đồng này
* Công ty lữ hành: Nhiệm vụ chính là đưa
khách đến với các điểm DLCĐ Các công ty này
có khả năng tiếp cận thị trường tốt hơn nhiều
so với cộng đồng dân cư địa phương Họ am hiểu về khách hàng và có các kênh tiếp thị hiệu quả Họ có thể không chỉ tham gia vào quá trình hoạt động mà còn có thể có mặt ở khâu sớm hơn như quá trình chuẩn bị và quy hoạch nhằm thiết kế và phát triển sản phẩm du lịch
có thể đáp ứng nhu cầu của khách hàng Bỏ qua sự tham gia của thành phần này có thể cản trở tính khả thi về mặt kinh tế của mô hình DLCĐ Để mối quan hệ giữa công ty lữ hành
và cộng đồng địa phương kinh doanh du lịch
có thể phát triển bền vững, hai bên cũng cần hoạt động trên cơ sở minh bạch, theo những điều khoản, hợp đồng kinh tế, tránh làm ăn theo lối thoả thuận miệng
* Khách du lịch: Là người có mong muốn
được tìm hiểu mô hình DLCĐ tại địa phương Theo nghiên cứu, khách du lịch tham gia tour DLCĐ thường mang các đặc điểm sau: quan tâm
và tôn trọng các giá trị tự nhiên, lịch sử và văn
Trang 3văn hóa truyền thống; ưa thích tìm kiếm những
giá trị chân thực trong cuộc sống của người dân
địa phương như ẩm thực, trang phục, nếp sinh
hoạt, các loại hình biểu diễn truyền thống; có
học vấn và thu nhập tương đối cao
* Các công ty vận tải: Là đơn vị vận chuyển
khách đến địa phương - thường các công ty
vận tải này có quan hệ mật thiết với các công
ty lữ hành hoặc người điều hành du lịch Các
công ty vận tải, ngoài phương tiện hiện đại
còn phối kết hợp với người dân địa phương
để có thể đưa những phương tiện vận chuyển
truyền thống của địa phương vào kinh doanh
du lịch tạo ra những sản phẩm đặc thù trong
vận chuyển khách du lịch mang lại ấn tượng
tích cực cho du khách
* Chính quyền địa phương: Chính quyền địa
phương là cơ quan trực tiếp quản lý và điều
hành ở mỗi điểm nhất định Chính quyền
thuộc các cấp khác nhau đảm bảo cho mô
hình DLCĐ tại địa phương hoạt động hiệu quả
nhất, chẳng hạn như đề ra các chính sách, hỗ
trợ hạ tầng, cấp giấy phép cho khách nước
ngoài… Chính quyền địa phương đóng vai trò
quyết định nhất trong sự phát triển DLCĐ, bởi
không có những đường lối, chính sách đúng
đắn và sự chỉ đạo sát sao của chính quyền địa
phương thì không thể phát triển DLCĐ theo
đúng những nguyên tắc tốt đẹp mà loại hình
du lịch này đề ra
* Cơ sở đào tạo: Các cơ sở đào tạo có nhiệm
vụ cung cấp các dịch vụ đào tạo đến những
đối tượng khác nhau trong mô hình DLCĐ Các
lĩnh vực đào tạo có thể là đào tạo kỹ năng vận
hành du lịch, đào tạo kỹ năng bán hàng, kỹ
năng quản lý, đào tạo ngoại ngữ… Cơ sở đào
tạo đóng vai trò quan trọng trong quá trình
phát triển DLCĐ, vì xét cho cùng, bản chất của
du lịch là kinh doanh dịch vụ, mà đại đa số dịch
vụ du lịch đều liên quan đến sự phục vụ của
những con người tác nghiệp cụ thể Bởi vậy,
chỉ khi nâng cao được chất lượng nguồn nhân
lực thì chúng ta mới có thể nâng cao được chất
lượng dịch vụ trong DLCĐ
* Doanh nghiệp: Là các đơn vị tham gia vào
phát triển các dịch vụ tại địa phương như sản
xuất hàng thủ công, hướng dẫn khách du lịch
Đây cũng có thể là các doanh nghiệp không
nằm ở địa phương nhưng liên kết với ban
quản lý DLCĐ địa phương để cùng phát triển
triển DLCĐ thường không lớn nên rất phù hợp với các doanh nghiệp vừa và nhỏ và các doanh nghiệp khởi nghiệp với những số vốn vừa phải
* Các tổ chức hỗ trợ phát triển: Các tổ chức
hỗ trợ phát triển có thể là các tổ chức phi chính phủ trong hoặc ngoài nước Các tổ chức phi chính phủ quốc tế thường xuyên hỗ trợ về mặt chuyên môn và một phần nhỏ về mặt tài chính Họ đóng vai trò quan trọng trong việc nâng cao năng lực của cộng đồng địa phương
về phát triển du lịch bền vững Các cơ quan tài trợ tham gia hỗ trợ nguồn vốn xây dựng các
mô hình tại địa phương…
2 Tiềm năng du lịch cộng đồng tại huyện Cát Hải
Được thành lập từ năm 1977, huyện Cát Hải, thành phố Hải Phòng gồm đảo Cát Hải
và Cát Bà với diện tích tự nhiên toàn huyện là 345km2, trong đó đảo Cát Hải có diện tích gần
40 km2 và đảo Cát Bà hơn 300 km2 Biển Cát Hải
có gần 200 loài cá, gần 600 loài động vật biển,
75 loài thực vật phù du, hàng trăm loài động vật phù du, 27 loại rừng ngập mặn Nơi đây có nhiều vụng, vịnh với dải cát vàng, những quần thể san hô muôn màu sắc là những tài nguyên
du lịch hấp dẫn thu hút khách du lịch trong nước và quốc tế
Các xã được lựa chọn để phát triển DLCĐ trên đảo như Xuân Đám, Trân Châu, Hiền Hào, Gia Luận, Việt Hải là những điểm du lịch cách trung tâm thị trấn từ 10 - 15km có đầy đủ các yếu tố tiềm năng của du lịch sinh thái cộng đồng với các nghề chủ yếu là trồng lúa nước, trồng rau xanh để cung cấp cho đảo, các loại cây nhiệt đới như na, hồng, cam, chuối, và các nghề chăn nuôi gia súc, gia cầm, nuôi ong lấy mật, khai thác đánh bắt thủy hải sản Tập hợp dân cư ở các xã này tương đối nhỏ, thường có
từ 70 - 90 hộ được bố trí xen kẽ các khu vực đồi, rừng, thung lũng tạo nên cảnh quan đẹp Môi trường thiên nhiên ở đây khá hoang sơ, trong lành, không bị ảnh hưởng bởi tác hại của các ngành sản xuất độc hại cũng như khí thải của các khu công nghiệp Đến các xã này,
du khách dễ dàng tiếp cận với các điểm tham quan thuộc Vườn quốc gia như hang Quân
Y, động Trung Trang, hang Giếng Tiên… Các điểm này cũng là những nơi rất gần để tổ chức cho du khách xuống thuyền thăm vịnh Lan Hạ, trải nghiệm chèo thuyền kayak hoặc tắm trên
Trang 4V Ă N HÓ A
các bãi nhỏ của đảo An ninh xã hội tại các xã
tương đối tốt do tập hợp dân cư nhỏ lại sống
trong các vùng đồi, thung lũng trong rừng nên
vấn đề an ninh được thiết lập bằng sự cố kết
trong cộng đồng, không có các tệ nạn như
ma túy, trộm cắp, cướp giật… Các đặc sản chủ
yếu là sản vật được khai thác hoặc nuôi trồng
tại chỗ dựa trên điều kiện tự nhiên của rừng
và biển như các loại hải sản (tôm, ngao, sò, tu
hài…), cam Gia Luận, mật ong hoa rừng, rau
xanh các loại và đặc biệt là giống gà Liên Minh,
một loại gia cầm quý đã được đưa vào danh
sách bảo tồn và phát triển
Với những điều kiện kể trên cùng với yếu tố
địa lý nằm trong khu dự trữ sinh quyển Cát Bà,
các điểm này có đầy đủ điều kiện để tổ chức
các hoạt động DLCĐ góp phần làm phong phú
các loại hình sản phẩm du lịch trên đảo, giảm
thiểu tính thời vụ và cân bằng lượng khách
giữa khu vực trung tâm với các xã vùng xa
3 Thực trạng phát triển du lịch cộng đồng
tại huyện Cát Hải
3.1 Lượng khách du lịch và doanh thu
Những năm vừa qua, huyện đảo Cát Hải đã
xác định du lịch là ngành kinh tế mũi nhọn để
nâng dần tỷ trọng trong cơ cấu phát triển kinh
tế chung của huyện Trong đó, định hướng
phát triển du lịch sinh thái cộng đồng là một
trong những mục tiêu chính của các hướng
sản phẩm được khai thác tại đây
Số lượng khách du lịch đến Cát Hải tăng
tương đối đều qua các năm, trong đó số lượng
khách nội địa chiếm tỷ trọng chủ yếu Khảo
sát cho thấy, lượng khách du lịch đến Cát Hải
thường tập trung nhiều vào mùa hè từ tháng
5 đến tháng 9 trong năm, là mùa cao điểm của
du lịch nghỉ dưỡng biển Vào mùa này, thời tiết
và khí hậu tại Cát Hải phù hợp cho những kỳ
nghỉ hè của du khách Tuy nhiên, mùa hè lại
là mùa nhiều bão nên cũng ảnh hưởng không
nhỏ đến yếu tố vận chuyển đường thủy nói
riêng, hoạt động du lịch nói chung Từ trung
tâm thị trấn Cát Bà phải di chuyển bằng phà,
tàu hoặc đi xuyên Vườn quốc gia du khách mới
tiếp cận được với các xã đảo, nên thời gian lưu
trú của khách du lịch tại các xã ít nhất là hai
tiếng buổi trưa, dài nhất là hai ngày Du khách
có thể tự do tham quan tìm hiểu đời sống của
người dân địa phương cũng như tài nguyên
thiên nhiên vô cùng phong phú Tuy nhiên, cơ
vẫn chưa đáp ứng được đầy đủ nhu cầu của
du khách Chính vì vậy, vào mùa cao điểm, du khách thường lựa chọn tham quan một ngày
và nghỉ qua đêm tại trung tâm Cát Bà
Thực tế, du lịch Cát Bà chỉ phát triển trong
vụ hè, còn những tháng khác, du lịch nơi đây chỉ hoạt động mang tính cầm chừng Vấn đề đặt ra là phải làm sao để phát triển mạnh DLCĐ
có tính trải nghiệm cao để du khách ưa khám phá, trải nghiệm văn hóa có thể đến nơi đây vào những tháng khác với những mức giá hợp
lý để khai thác hết tiềm năng về du lịch sinh thái và du lịch vịnh biển ở huyện Cát Hải
3.2 Cơ sở hạ tầng và cơ sở vật chất kỹ thuật phục vụ du lịch
Khảo sát cho thấy, hiện nay cơ sở hạ tầng
và cơ sở vật chất kỹ thuật phục vụ du lịch của huyện Cát Hải đang ở giai đoạn phát triển Về
cơ bản, đường giao thông trên đảo đã hoàn thành và hoạt động khá tốt Do đặc thù là đảo
xa nên du khách muốn tiếp cận với đảo phải
sử dụng nhiều loại phương tiện khác nhau, tốn thời gian Với xã vùng xa như Việt Hải, du khách lại phải tiếp tục chuyển tàu gây ra nhiều bất tiện Chính vì vậy, để tạo điều kiện thuận lợi cho du khách, con đường xuyên đảo Hải Phòng - Đình Vũ - Cát Hải - Cát Bà dài 31km
đã được khánh thành và đưa vào hoạt động Đây là con đường huyết mạch, đóng vai trò chính trong mọi sự phát triển của Cát Bà, Cát Hải gồm kinh tế biển, quốc phòng và cả hoạt động du lịch
Tại huyện Cát Hải, ngày càng có nhiều khách sạn hiện đại, đạt tiêu chuẩn gắn sao theo cách phân hạng của Tổng cục Du lịch Hệ thống cơ
sở lưu trú và dịch vụ ăn uống phục vụ du lịch phát triển không đồng bộ và có sự chênh lệch giữa khu vực trung tâm thị trấn với các xã vùng
xa Sự không đồng bộ trong cách xây dựng và các tiêu chuẩn chất lượng xuất phát từ việc đại
đa số các cơ sở do người dân tự đầu tư, xây dựng mà thiếu sự quy hoạch đồng bộ, nhất quán Các resort, các khách sạn lớn như Sea Pearl, Hùng Long, Thảo Minh,… đều được đầu
tư xây dựng ở khu vực trung tâm thị trấn Các
xã thuộc địa bàn Vườn quốc gia chủ yếu gồm các hộ gia đình kinh doanh homestay hoặc các nhà nghỉ nhỏ Ngoài ra, ở xã Việt Hải còn có mô hình bungalow nằm ở phía cuối làng
Với hệ thống nhà hàng, khách sạn nêu
Trang 5chất phục vụ được cho các đối tượng khách
đa dạng, có nhu cầu và khả năng chi trả khác
nhau Điều này tạo điều kiện thuận lợi cho du
khách đến tham quan nghỉ ngơi, vui chơi giải
trí Tuy nhiên, với công suất sử dụng phòng
chưa lên đến 60%, cho thấy Cát Hải vẫn chưa
khai thác được hết tiềm năng dẫn đến lãng
phí nguồn lực này Địa bàn này chú trọng tăng
về số lượng hơn đẩy mạnh chất lượng, nâng
hạng các cơ sở lưu trú vốn có Các cơ sở lưu trú
của khối kinh doanh tư nhân phát triển nhanh
chóng đã có những đóng góp tích cực vào việc
cải thiện hệ thống cơ sở vật chất kỹ thuật du
lịch của Cát Hải, tuy nhiên, cũng đã tạo thêm
“gánh nặng” cho du lịch Cát Hải về đội ngũ lao
động vốn đã hạn chế về chất lượng Phần lớn
các chủ doanh nghiệp du lịch và các nhân viên
phục vụ tại những cơ sở này chưa qua đào tạo
cơ bản về quản lý và nghiệp vụ
3.3 Công tác quảng bá du lịch
Trong những năm gần đây, bên cạnh việc
quảng bá hình ảnh chung cho các hoạt động
du lịch biển của đảo ngọc Cát Bà, UBND huyện
Cát Hải đã đẩy mạnh công tác tuyên truyền
quảng bá về du lịch sinh thái cộng đồng tại
một số xã Công tác quảng bá về du lịch được
mở rộng trên nhiều kênh thông tin Cùng với
việc quảng bá thông qua panô, tờ rơi, huyện
Cát Hải đã cho ra mắt cuốn cẩm nang “Du lịch
sinh thái cộng đồng” đầu tiên về xã Gia Luận
Phối hợp mở nhiều chương trình quảng bá
hình ảnh huyện đảo Cát Hải cũng như các xã
làm du lịch sinh thái cộng đồng Chương trình
quảng bá được thực hiện trên Đài Truyền hình
Việt Nam, Phim tài liệu Đảo Cát Bà hương vị của
biển trên kênh VTC4, phim tài liệu quảng bá
ẩm thực Cát Bà trên HTV9 Các sản phẩm đặc
trưng của huyện đảo như nước mắm Cát Hải,
mật ong Gia Luận, Cam Gia Luận cũng được
tham gia triển lãm tại Hà Nội nhân Ngày Di sản
văn hóa Việt Nam 23/11/2013
Bên cạnh đó, công tác quảng bá DLCĐ
huyện Cát Hải còn tồn tại những mặt hạn
chế Hoạt động quảng bá, giới thiệu du lịch
sinh thái cộng đồng thông qua các hoạt động
xúc tiến du lịch trong và ngoài huyện Cát Hải
tuy đã phát triển trong những năm gần đây
nhưng vẫn chưa thực sự hiệu quả Việc cung
cấp những ấn phẩm, tập gấp nhằm quảng bá
hình ảnh DLCĐ cho khách du lịch chưa được
xuyên và kịp thời Chỉ vào những đợt tham gia chiến dịch hành động nào đó, ví dụ như năm
du lịch quốc gia đồng bằng sông Hồng 2013 việc in tập gấp, tờ rơi mới được chú ý Trên thực
tế, du khách biết đến hoạt động DLCĐ tại Cát Hải trên các phương tiện đại chúng còn ít, một
số biết tới qua bạn bè, người thân, thậm chí có khách du lịch chỉ tình cờ biết tới DLCĐ ở Cát Hải do đi du lịch Cát Bà Nhiều khách du lịch tại khu vực trung tâm Cát Bà, khi được hỏi tại sao không lựa chọn các xã vùng xa hay loại hình
du lịch sinh thái, DLCĐ, đã trả lời là do không biết Họ chỉ biết ở đây có Vườn quốc gia với một số điểm du lịch, nếu đi tham quan thì phải
đi bộ nhiều và xa nên có tâm lý e ngại
Ngoài ra, công tác quảng bá, xúc tiến DLCĐ ở huyện Cát Hải cũng còn gặp rất nhiều khó khăn Kinh phí phục vụ cho hoạt động xúc tiến, quảng
bá còn rất hạn chế, tại các xã chưa có nguồn kinh phí riêng phục vụ cho việc quảng bá nên ảnh hưởng nhiều đến hiệu quả hoạt động Trước thực trạng đó, UBND cùng các cấp chính quyền huyện Cát Hải cần đưa ra các giải pháp cụ thể nhằm xúc tiến quảng bá hình ảnh DLCĐ Cát Hải đến với khách du lịch trong và ngoài nước
3.4 Sự tham gia của người dân trong hoạt động du lịch
Trong hoạt động quản lý điều hành du lịch
Hoạt động du lịch tại đây vẫn nằm trong
sự quản lý chung của huyện Cát Hải Tháng 7/2006, UBND huyện Cát Hải đã thành lập Trung tâm hướng dẫn và phát triển du lịch Tháng 5/2009, Phòng VH,TT,TT&DL tham mưu cho UBND huyện kiện toàn Ban chỉ đạo hoạt động du lịch năm 2009 và thành lập Đội kiểm tra liên ngành về hoạt động du lịch - dịch vụ huyện Cát Hải nhằm quản lý, tổ chức các hoạt động du lịch ngày càng được nâng cao về chất lượng, du lịch được phát triển cả về bề rộng và chiều sâu Đội kiểm tra về hoạt động du lịch - dịch vụ đã tích cực hoạt động, kiểm tra, thu giữ
và xử lý nghiêm những trường hợp vi phạm đổ nước thải, rác thải ra đường, lấn chiếm vỉa hè, lòng đường, nơi công cộng làm địa điểm kinh doanh, buôn bán để đảm bảo an ninh trật tự,
mỹ quan du lịch trên địa bàn
Thực tế cho thấy sự tham gia của người dân trong hoạt động DLCĐ ở Cát Hải vẫn còn nhiều bất cập Một trong những nguyên nhân
Trang 6V Ă N HÓ A
thiếu đi sự tham gia của cộng đồng dân cư
vào bộ máy quản lý trực tiếp là do nhận thức
của người dân các vùng chưa đồng đều, cũng
không phải ai cũng ý thức được đúng và đầy
đủ về giá trị của hoạt động du lịch đối với địa
bàn sinh sống
Không chỉ thiếu vắng sự tham gia của
người dân trong công tác điều hành quản lý,
ban quản lý điều hành du lịch tại các xã đảo
còn tồn tại một số hạn chế do đơn vị cấp cơ sở
quản lý du lịch tại các xã được thành lập chưa
lâu, chuyên môn nghiệp vụ chưa cao nên công
tác quản lý còn mang tính chất vùng và địa
phương, chưa có tính chuyên nghiệp
Trong hoạt động kinh doanh du lịch
Bộ phận lưu trú tại các xã là tập hợp các gia
đình trong xã có điều kiện, được ban quản lý
điều hành lựa chọn, thẩm định, đánh giá để
phục vụ nhu cầu lưu trú của du khách Bộ phận
này đã thực hiện các nhiệm vụ tương đối tốt và
nhận được sự hài lòng của du khách Cơ sở lưu
trú được vệ sinh sạch sẽ, trang thiết bị trong
phòng được sắp xếp phù hợp, gọn gàng Du
khách được nhân viên đón tiếp với thái độ vui
vẻ, ân cần, thân thiện Vì vậy, mặc dù trình độ
chuyên môn nghiệp vụ chưa cao nhưng văn
hóa ứng xử của các hộ gia đình làm du lịch đã
mang đến cảm giác thoải mái cho du khách
mỗi khi đến với huyện đảo Cát Hải
Đối với bộ phận kinh doanh ăn uống, ban
quản lý lựa chọn những thành viên có điều kiện
chế biến thức ăn, đồ uống để phục vụ khách,
được trang bị các kiến thức vệ sinh an toàn thực
phẩm và các kiến thức căn bản trong phục vụ
ăn uống khách du lịch Đặc biệt, biết chế biến
thành thạo các món đặc sản của địa phương
Tuy nhiên, các trang thiết bị phục vụ cho hoạt
động ăn uống của du khách chỉ đảm bảo vấn
đề vệ sinh chứ chưa được đầu tư hiện đại Các
hộ kinh doanh ăn uống chỉ đơn thuần kê bàn
ghế ở trước cửa để bày món ăn phục vụ khách,
chưa có sự đầu tư đồng bộ, chuyên nghiệp
Bộ phận dịch vụ hướng dẫn là tập hợp các
thành viên được đào tạo hướng dẫn du lịch cơ
bản, nắm được những di tích lịch sử - văn hóa
cũng như kết cấu địa lý tự nhiên, các thông tin
văn hóa, kinh tế trong vùng để giới thiệu với
du khách khi tham quan Tại xã Việt Hải, những
người hướng dẫn được chọn từ chính các hộ
dân, được tham gia một số lớp tập huấn về
du khách do bộ đội biên phòng kết hợp với UBND huyện Cát Hải tổ chức
Bên cạnh các dịch vụ cơ bản, tại các xã còn
có các hoạt động kinh doanh dịch vụ bổ sung Điển hình là dịch vụ bán hải sản để khách mang về làm quà Tuy nhiên, các loại hải sản được bán ở đây chủng loại không phong phú, quy mô cũng không lớn và chuyên nghiệp như ở trung tâm thị trấn Các hộ chủ yếu treo bảng nhỏ hoặc tự giới thiệu tới du khách trong quá trình phục vụ, ngoài ra, có những hộ bày
tủ cấp đông loại nhỏ ở trước hiên để bán Đối với dịch vụ kinh doanh hàng lưu niệm, ngoài những mặt hàng hải sản khô, tươi để bán cho khách du lịch mang về làm quà, ở Việt Hải đã dần hình thành một số cửa hàng lưu niệm nhỏ, bán mũ nón, một số loại đồ lưu niệm như áo,
đồ trang sức Tuy nhiên, các mặt hàng được bày bán lại chưa có nét đặc trưng riêng mà giống với nhiều điểm du lịch khác
Nhìn chung, do lượng khách đến với Cát Hải còn chưa tương xứng với tiềm năng nên
cơ hội mở rộng kinh doanh dịch vụ du lịch còn gặp rất nhiều khó khăn Chính vì vậy, cơ hội kinh doanh các dịch vụ du lịch như lưu trú, ăn uống và các dịch vụ bổ sung khác cũng mới chỉ tập trung vào một số hộ gia đình chứ chưa đến được sâu rộng trong cộng đồng
Trong hoạt động bảo vệ tài nguyên tự nhiên
và văn hóa
Đối với môi trường tự nhiên của Vườn quốc gia, người dân có ý thức bảo vệ, giữ gìn sinh cảnh, không chặt phá cây rừng Tuy nhiên, giai đoạn 2011 - 2012, tại Gia Luận có hiện tượng
sử dụng chim chào mào làm món ăn phục vụ
du khách Điều này đã đi ngược lại tiêu chí hoạt động du lịch sinh thái của địa phương Sau khi
có ý kiến phản hồi và từ chối sử dụng từ du khách nước ngoài, UBND xã Gia Luận đã có lệnh cấm săn bắt các loài động vật trong rừng
để phục vụ cho hoạt động du lịch Nhìn chung,
cư dân Cát Hải nhận thức rất rõ ràng những gì
mà thiên nhiên ưu đãi cho địa phương và vai trò của môi trường tự nhiên đối với việc khai thác, phát triển DLCĐ Bản thân họ luôn có ý thức giữ gìn tài nguyên tự nhiên và chủ động tham gia vào các chiến dịch, hoạt động nhằm bảo vệ môi trường của huyện
Qua quá trình thực tế ở địa phương, chúng
Trang 7ích kinh tế, cải thiện đời sống cho người dân
nơi đây Ở xã Việt Hải, mô hình bảo tàng gia
đình mới được hình thành nửa cuối năm 2016
đã giúp phục dựng, triển lãm giới thiệu về
cách sống của cư dân bản địa, những đồ đạc,
nông ngư cụ mà cư dân Việt Hải vẫn thường
dùng trong sinh hoạt và sản xuất Song mặt
khác, sự phát triển du lịch cũng kéo theo
những hệ quả mang tính tiêu cực Hiện nay,
xã Việt Hải, xã Gia Luận phần nào không còn
giữ được nét đẹp hoang sơ của ngôi làng cổ
Việt Nam như trước nữa Nhiều ngôi nhà được
xây mới khang trang, hiện đại nhưng không
có quy hoạch cụ thể về kiểu dáng, độ cao nên
đều hướng đến xu hướng hiện đại nhất có thể,
do đó đã phá vỡ cảnh quan vốn có Thực tế này
dẫn đến cuối năm 2008 UBND huyện Cát Hải
và Sở VH,TT,TT&DL thành phố Hải Phòng đã
đưa Việt Hải ra khỏi danh sách mô hình DLCĐ,
bởi tại thời điểm này xã không đảm bảo đầy
đủ yêu cầu và điều kiện đáp ứng cho một địa
chỉ DLCĐ Qua khảo sát, phỏng vấn một số
hộ kinh doanh các lĩnh vực khác nhau tại Cát
Hải, chúng tôi nhận thấy, cư dân ở đây chưa
ý thức được rõ ràng về các giá trị văn hóa cần
được duy trì Vậy nên, cần phải tuyên truyền
sâu rộng hơn nữa để chính những người dân,
những hộ kinh doanh DLCĐ nơi đây trở thành
những người tham gia bảo tồn văn hóa và tự
nhiên một cách chủ động nhất, tích cực nhất
4 Một số giải pháp cơ bản nhằm phát triển
du lịch cộng đồng tại huyện đảo Cát Hải
4.1 Cơ chế chính sách
Đây là một trong những giải pháp mang
tính quyết định nhất, bởi nó mang tính pháp
lý để DLCĐ dựa vào đó mà hoạt động và phát
triển Tuy nhiên, cũng là một trong những giải
pháp rất khó để đưa ra Để có được những giải
pháp đúng đắn về cơ chế, chính sách, cần phải
có sự họp bàn kỹ lưỡng của các bên liên quan
trong hoạt động DLCĐ để đảm bảo giải pháp
mang tính toàn diện và thiết thực
Các cơ quan quản lý, các nhà khoa học
cũng như các bên liên quan trong hoạt động
DLCĐ cần sớm ngồi lại với nhau, bàn thảo, tìm
ra một cơ chế chính sách thoả đáng trong phát
triển DLCĐ để đáp ứng được quyền lợi tối đa
của các bên tham gia: Doanh nghiệp sẽ được
hưởng ưu đãi như thế nào khi sử dụng nguồn
lực chính cho doanh nghiệp mình là người dân
được phân chia lại như thế nào cho người dân, cho bảo tồn, cho duy trì cơ sở vật chất kỹ thuật
và nộp ngân sách nhà nước; nguồn thu từ thuế thông qua các hoạt động du lịch sẽ được phân chia ra sao; những chính sách cụ thể về bảo vệ
di sản văn hóa và tài nguyên du lịch; người dân địa phương được tham gia vào quá trình quản
lý du lịch ở mức độ nào; chính sách ưu đãi cho người dân phát triển mô hình kinh doanh DLCĐ, chính sách đào tạo nâng cao nguồn nhân lực tại chỗ; chính sách hỗ trợ cho hoạt động xây dựng sản phẩm du lịch mới; chính sách, cơ chế trong xúc tiến quảng bá
4.2 Đào tạo, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực
Đối với đội ngũ cán bộ quản lý: Đây là lực lượng rất quan trọng trong nguồn nhân lực du lịch Để có thêm những kiến thức về quản lý du lịch cũng như về DLCĐ, các cán bộ quản lý nên được trang bị, đào tạo thêm những mảng kiến thức như sau: Khối kiến thức về quản lý nhà nước, kiến thức về kinh tế du lịch, kiến thức về DLCĐ
Đối với đội ngũ trực tiếp kinh doanh du lịch: Đây là nhóm lao động rất đông đảo, chủ yếu bao gồm những vị trí như lễ tân, buồng, bàn, bar, bếp, lái xe và hướng dẫn viên du lịch Cần bồi dưỡng cho họ những chuyên môn, nghiệp
vụ cụ thể như nghiệp vụ lễ tân, giao tiếp ứng
xử, thao tác phục vụ bàn, xử lý các tình huống phát sinh trong quá trình phục vụ khách
Đối với hướng dẫn viên địa phương: Đây chính là bộ mặt của cộng đồng, thay mặt cộng đồng giới thiệu những giá trị văn hóa vật thể
và phi vật thể của địa phương mình đến với
du khách Du khách có hiểu, có yêu những nét văn hóa nơi đây hay không chính là quyết định bởi khả năng của hướng dẫn viên Cần có những chuyên đề đào tạo về hướng dẫn viên như: quy trình tổ chức hướng dẫn, tham quan, giá trị văn hóa vật thể, phi vật thể tiêu biểu của Cát Hải, phương pháp xây dựng bài thuyết minh, xử lý tình huống
Đối với cộng đồng địa phương: Cần tăng cường nhận thức cho cộng đồng, kể cả những người không trực tiếp tham gia vào hoạt động kinh doanh du lịch Chúng tôi dự kiến sẽ phát hành những tập tài liệu ngắn gọn đến người dân địa phương nhằm tăng cường nhận thức cho cộng đồng dân cư về những vấn đề: vai