Trong khuôn khổ bài viết này tác giả hướng đến việc nghiên cứu mô hình đảm bảo chất lượng (ĐBCL) để thấy được mối liên hệ lẫn nhau giữa các cấp ĐBCL giáo dục đại học củ[r]
Trang 1MÔ HÌNH ĐẢM BẢO CHẤT LƯỢNG GIÁO DỤC ĐẠI HỌC CỦA AUN-QA: MỘT SỐ NHẬN ĐỊNH, KHUYẾN NGHỊ TRIỂN KHAI ĐẢM BẢO CHẤT LƯỢNG CẤP CHƯƠNG TRÌNH
LƯU KHÁNH LINH (*)
TÓM TẮT
Trong khuôn khổ bài viết này tác giả hướng đến việc nghiên cứu mô hình đảm bảo chất lượng (ĐBCL) để thấy được mối liên hệ lẫn nhau giữa các cấp ĐBCL giáo dục đại học của Mạng lưới các trường đại học Đông Nam Á (Asean University Network, AUN), đồng thời trình bày cụ thể các tiêu chuẩn, tiêu chí đánh giá chất lượng cấp chương trình
Từ đó, có những nhận định và khuyến nghị cho công tác chuẩn bị, triển khai đánh giá chất lượng cấp chương trình đào tạo theo tiêu chuẩn AUN-QA tại các trường đại học
Từ khóa: đảm bảo chất lượng, cấp chương trình
ABTRACT
In this article, the author’s aims are to study and analyze the models quality assurance
in order to understand clearly the relationship among the levels of the Higher Education Quality Assurance of ASEAN University Network Also, in special, the standards and criteria for assessing the quality of the program level have been presented Then, the author has made the proposal of more identifies and recommendations for the preparation and implementation of quality assessment at program level based on AUN-QA standards at the universities
Keyword: quality assurance, program level
Mô hình đảm bảo chất lượng giáo dục
đại học (GDĐH) của AUN dựa trên mô
hình Baldrige và EFQM (education frame
quality management) của châu Âu, tuy
nhiên có chú ý đến những đặc điểm riêng
biệt của GDĐH Theo AUN-QA, chất
lượng trong GDĐH là một khái niệm đa
chiều cần được xem xét trên diện rộng
(tổng thể) bao quát nhiều chức năng và
hoạt động học thuật như: giảng dạy, học
tập, nghiên cứu, phát triển tri thức, phát
triển đội ngũ, đào tạo sinh viên, cơ sở vật
chất, phục vụ cộng đồng, mối quan hệ với
(*) ThS, Trường Đại học Tài chính - Marketing
các yếu tố từ bên ngoài… Mô hình chất lượng AUN giúp trường đại học nhận định những điểm mạnh, điểm yếu của mình, thấy được hiện trạng của trường so với mục tiêu mong đợi và tìm ra những biện pháp cải thiện nhằm đạt mục tiêu đó
Mô hình đảm bảo chất lượng giáo dục của AUN-QA
Mô hình ĐBCL giáo dục của
AUN-QA được chia thành nhiều cấp (cấp trường
và cấp chương trình), với những hoạt động tương ứng như ĐBCL bên trong và ĐBCL bên ngoài
Trong mô hình ĐBCL cấp trường (hình 1), các yếu tố cốt lõi của mô hình liên quan đến toàn bộ hệ thống, hoạt động
Trang 2thường xuyên của một trường đại học gồm:
(1) Sứ mạng, mục đích, mục tiêu, (2) Các
nguồn lực hay các điều kiện ĐBCL, (3)
Các hoạt động then chốt (đào tạo, nghiên
cứu, phục vụ cộng đồng) và (4) Các thành
quả đạt được Các yếu tố hỗ trợ có liên
quan đến các thông tin phản hồi của các
bên (có thể là Bộ Giáo dục & Đào tạo, cán
bộ quản lí, giảng viên, nhân viên, cán bộ
phục vụ, nhà tuyển dụng, cựu sinh viên.…)
và cơ cấu giám sát, đánh giá, đối sánh (cấp quốc gia, quốc tế) Các thông tin từ bên ngoài đưa vào hệ thống để nghiên cứu nhằm giúp cho hệ thống giáo dục nhà trường có thể vận hành đúng hướng và hiệu quả Yếu tố hỗ trợ là những yếu tố không trực tiếp tạo ra chất lượng nhưng lại rất cần thiết giúp các yếu tố cốt lõi bên trong có thể tạo ra chất lượng mong muốn
Hình 1: Mô hình đảm bảo chất lượng cấp trường
(Nguồn: Guide to AUN Actual Quality Assessment at Programme Level,
bản dịch NXB Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh)
Để vận hành các hoạt động then chốt
của trường đại học như hoạt động đào tạo,
nghiên cứu, phục vụ cộng đồng trong mô
hình ĐBCL cấp trường một cách hiệu quả,
đạt mục tiêu và thực hiện được sứ mạng
tuyên bố, mỗi trường đại học cần xây dựng
mô hình hệ thống ĐBCL bên trong (hình 2)
phù hợp với bối cảnh và đặc thù của từng
trường, bao gồm 4 thành tố cơ bản sau: (1)
Hệ thống các công cụ giám sát, ghi nhận
chỉ số, chỉ báo quan trọng phục vụ hoạt
động ĐBCL như tiến trình học của sinh
viên, tỷ lệ tốt nghiệp, tỷ lệ bỏ học từng
năm, phản hồi của cựu sinh viên và thị
trường lao động… để giúp nhà trường nhận định khả năng đáp ứng của sự vận hành các hoạt động trong trường, từ đó có những điều chỉnh phù hợp để đạt mục tiêu, (2) Hệ thống các công cụ đánh giá cho biết các chỉ
số, chỉ báo, nhận xét định tính của các bên liên quan về môn học, chương trình đào tạo (CTĐT), quá trình triển khai dạy học, hiệu quả nghiên cứu khoa học, hoạt động phục
vụ sinh viên, (3) Hệ thống các quy trình ĐBCL chuyên biệt là những qui định, quy trình liên quan đến các hoạt động ĐBCL về sinh viên, đội ngũ giảng viên, nhân viên,
cơ sở vật chất trang thiết bị, hỗ trợ sinh
Sứ mạng
Mục đích
Mục tiêu
Kế hoạch, chính sách Quản lý Nhân lực
Ngân sách
Hoạt động đào tạo Nghiên cứu
Phục vụ
xã hội
Thành quả (Các kết quả đạt được)
Sự hài lòng của các bên liên quan
Đảm bảo chất lượng & Đối sánh quốc gia/ quốc tế
Trang 3viên của nhà trường, nhằm duy trì chất
lượng, (4) Hệ thống các công cụ ĐBCL
chuyên biệt như tự đánh giá sau mỗi chu
kỳ hoạt động tạo ra sản phẩm đào tạo (5
năm), phân tích SWOT (Strengths – weaks
– Opportunities - Threats) xác định điểm
mạnh, điểm yếu, cơ hội, thách thức để
kiểm soát hướng đi và điều chỉnh mục tiêu,
chiến lược của trường cho chu kỳ tiếp theo
Hệ thống thông tin và sổ tay chất lượng là
công cụ khẳng định lần nữa chất lượng
hoạt động của nhà trường
Trong mô hình ĐBCL hệ thống bên
trong, hai thành tố đầu tiên là công cụ giám
sát, thu thập thông tin và đánh giá thường
xuyên các mặt hoạt động dạy - học và
nghiên cứu do các đơn vị phòng ban quản
lý chịu trách nhiệm thực hiện tại đơn vị
mình theo chức năng, nhiệm vụ được giao
Ví dụ: phòng Quản lý đào tạo giám sát tiến
trình học của sinh viên, tỷ lệ tốt nghiệp, tỷ
lệ bỏ học hàng năm, đánh giá môn học và
chương trình học, phòng Quản lý khoa học
giám sát và đánh giá kết quả nghiên cứu
khoa học của giảng viên và sinh viên, Thư viện đánh giá hoạt động phục vụ bạn đọc (sinh viên, giảng viên), các Khoa làm đầu mối giữ liên lạc với cựu sinh viên và chủ động tạo mối quan hệ với các doanh nghiệp
từ đó thu thập những thông tin phản hồi có ích cho quá trình đào tạo, xây dựng và phát triển chương trình đào tạo… Hai thành tố còn lại là các qui trình hoạt động và công
cụ quản lý đào tạo có đề cập yếu tố ĐBCL thường do bộ phận ĐBCL triển khai hoặc đưa ra các yêu cầu ĐBCL để các đơn vị thực hiện, báo cáo kết quả Để xây dựng và duy trì hệ thống ĐBCL bên trong, tất cả các hoạt động vận hành, giám sát, đánh giá trong mô hình ĐBCL bên trong (hình 2) cần được thực hiện theo chu trình Deming – PDCA (Plan – Do – Check - Act), bất kỳ hoạt động nào cũng được lập kế hoạch, triển khai thực hiện, kiểm tra, giám sát, đánh giá kết quả và đưa ra các phương án cải tiến, nâng cao hiệu quả cho hoạt động… và tiếp tục chu trình PDCA tiếp theo cho chính hoạt động đó
Hình 2: Mô hình ĐBCL hệ thống bên trong (Nguồn: Guide to AUN Actual Quality Assessment at Programme Level,
bản dịch NXB Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh)
Đảm bảo chất lượng bên trong Các công cụ giám sát
Các công cụ đánh
giá
Các quy trình ĐBCL
chuyên biệt
Các công cụ ĐBCL
chuyên biệt
Theo dõi và cải tiến
Đánh giá giảng viên do sinh viên thực hiện
Đánh giá môn học và
Đánh giá các dịch
vụ phục vụ sinh viên
ĐBCL việc đánh giá sinh viên
thiết bị
ĐBCL công tác
hỗ trợ sinh viên
Phân tích SWOT (tự đánh giá)
Kiểm toán nội bộ/
đồng nghiệp
Tiến trình học tập của sinh viên
Phản hồi từ thị trường lao động và cựu SV
Tỷ lệ lên lớp Tỷ
lệ bỏ học
Hiệu suất nghiên cứu
Trang 4Trong khi mô hình ĐBCL hệ thống
bên trong là một tổng thể các nguồn lực, hệ
thống công cụ giám sát quản lý và hệ thống
thông tin được sử dụng để thiết lập, duy trì,
cải tiến chất lượng giáo dục của trường đại
học thì mô hình ĐBCL cấp chương trình
(hình 3) tập trung vào hoạt động giảng dạy
- học tập và lưu ý đến 3 thành tố: chất
lượng đầu vào, chất lượng quá trình đào
tạo và chất lượng đầu ra
Theo mô hình ĐBCL cấp chương trình,
chất lượng đầu vào được thể hiện qua chất
lượng về nội dung và cách thức triển khai
CTĐT, giảng viên, nhân viên hỗ trợ, sinh
viên, các hoạt động hỗ trợ sinh viên, cơ sở
vật chất phục vụ giảng dạy - học tập Chất lượng quá trình đào tạo thể hiện qua ĐBCL tiến trình dạy và học, hoạt động phát triển đội ngũ giảng viên và nhân viên hỗ trợ, lấy
ý kiến phản hồi của các bên liên quan Chất lượng đầu ra thể hiện qua số lượng, tỉ lệ sinh viên tốt nghiệp và thôi học, thời gian tốt nghiệp đúng hạn, khả năng có việc làm đúng ngành học sau khi tốt nghiệp từ 6 tháng đến 1 năm, mức thu nhập, đạt chuẩn kết quả học tập dự kiến (chuẩn đầu ra của chương trình), mức độ hài lòng của các bên liên quan đối với sản phẩm đào tạo của chương trình
Hình 3: Mô hình ĐBCL cấp chương trình, (Nguồn: Guide to AUN Actual Quality Assessment at Programme Level,
bản dịch NXB Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh)
Sự hài lòng của các bên liên quan (TC15)
Đảm bảo chất lượng & đối sánh quốc gia/ quốc tế
Kết quả
học tập dự
kiến
(TC1)
Chất lượng giảng viên
(TC6)
Chất lượng nhân viên hỗ
trợ (TC7)
Chất lượng sinh viên
(TC8)
Tư vấn & hỗ trợ sinh viên
(TC9)
Cơ sở vật chất
và trang thiết bị
(Các kết quả đạt được)
(TC 14)
ĐBCL tiến trình dạy & học
(TC11)
Hoạt động phát triển đội ngũ
(TC12)
Phản hồi của các bên liên quan
(TC13)
Tỉ lệ đậu tốt nghiệp
(TC14)
Tỉ lệ bỏ học
(TC14)
Thời gian tốt nghiệp
(TC14)
Khả năng có việc làm
(TC14)
Nghiên cứu
(TC14)
Mô tả chương trình đào tạo
(TC2)
Nội dung & cấu trúc chương trình đào tạo
(TC3)
Chiến lược dạy & học
(TC4)
Đánh giá sinh viên
(TC5)
Trang 5Mô hình đảm bảo chất lượng cấp chương trình gồm 15 tiêu chuẩn, 68 tiêu chí, cụ thể như sau:
Bảng 1
Tiêu
3 MỘT SỐ NHẬN ĐỊNH
Thứ nhất, từ việc nghiên cứu mô hình
ĐBCL giáo dục theo AUN-QA, cho thấy
mô hình ĐBCL giáo dục có hai cấp, trong
đó ĐBCL cấp chương trình mang tính cốt
lõi, còn ĐBCL cấp trường mang tính tổng
thể, bao quát của một trường đại học Tuy
nhiên để ĐBCL cho các hoạt động đáp ứng
các tiêu chuẩn thuộc cấp chương trình và cấp trường, nhà trường cần có một hệ thống ĐBCL bên trong vững chắc bao gồm các nguồn lực, các công cụ giám sát, qui trình, qui định… giúp vận hành 2 cấp ĐBCL, kết nối chặt chẽ 2 cấp để hình thành chất lượng giáo dục nói chung của một trường đại học
Trang 6Hình 4: Các cấp đảm bảo chất lượng
(Nguồn: Introduction to the AUN-QA model)
Hiện nay, Bộ Giáo dục & Đào tạo đã
ban hành Bộ tiêu chuẩn đánh giá chất
lượng trường đại học Bộ tiêu chuẩn, tiêu
chí đánh giá này cũng khá phù hợp với mô
hình ĐBCL cấp trường và mô hình hệ
thống ĐBCL bên trong của AUN-QA
Theo mối liên hệ giữa các cấp ĐBCL
cho thấy nếu không có hệ thống ĐBCL bên
trong thì không thể vận hành các hoạt động
then chốt của trường để ĐBCL cấp trường
hoặc cấp chương trình Nói cách khác, hệ
thống ĐBCL bên trong là điều kiện không
thể thiếu đối với một trường đại học khi
lãnh đạo nhà trường thực sự mong muốn
cải tiến chất lượng giáo dục và quyết tâm
được công nhận chất lượng qua kiểm định
Thứ hai, bộ tiêu chuẩn đánh giá chất
lượng cấp chương trình có thể phân 4
nhóm:
Nhóm 1: Tiêu chuẩn 1, 2, 3, 4, 5 đề
cập đến việc thiết kế và vận hành CTĐT
Nhóm 2: Tiêu chuẩn 6, 7, 8, 10, 12 đề
cập đến các điều kiện đầu vào như đội ngũ,
phát triển đội ngũ, cơ sở vật chất
Nhóm 3: Tiêu chuẩn 9, 11, 13 đề cập
đến đảm bảo chất lượng và các công cụ
giám sát chất lượng
Nhóm 4: Tiêu chuẩn 14, 15 đề cập đến
kết quả đầu ra của chương trình
Bộ tiêu chuẩn đánh giá chất lượng cấp
chương trình theo AUN-QA có 5/15 tiêu chuẩn (chiếm 30% tiêu chuẩn và 37% tiêu chí) liên quan đến thiết kế và vận hành chương trình đào tạo như: xác định chuẩn đầu ra (KQHTDK), mô tả cấu trúc và nội dung chương trình đào tạo, chiến lược giảng dạy/ học tập, đánh giá SV; nếu xét về
số lượng tiêu chí đánh giá, tiêu chuẩn về chất lượng đội ngũ giảng viên có số lượng tiêu chí đánh giá nhiều nhất (10 tiêu chí) chiếm 15% tổng số tiêu chí của Bộ tiêu chuẩn Điều này cho thấy AUN-QA đề cao vai trò của đội ngũ giảng viên đối với chương trình đào tạo; chính đội ngũ giảng viên thiết kế, vận hành CTĐT sao cho đáp ứng các mục tiêu ĐBCL chương trình Thứ ba, thang điểm đánh giá cấp chương trình có 7 mức (bảng 2), mỗi mức
có yêu cầu riêng, không có trọng số cho từng tiêu chuẩn Chất lượng CTĐT được đánh giá đạt khi điểm đánh giá từ mức 4 trở lên (mức trung bình) Thang điểm này giúp nhà trường, khoa dễ dàng đánh giá mức độ ĐBCL hơn là thang đo 2 mức (đạt/không đạt) Tuy nhiên, vì không có trọng số nên khi đánh giá có những tiêu chuẩn đạt dưới mức 4, sau khi tổng kết điểm của tất cả tiêu chuẩn thành kết quả cuối cùng để ra quyết định, kết quả này lại đạt trên mức trung bình và CTĐT được
Trang 7đánh giá đạt Điều này cho thấy, các mặt
đánh giá có tầm quan trọng như nhau trong
việc hình thành chất lượng, kết quả đánh
giá đạt chỉ mang tính tương đối, quan trọng
là thông qua đánh giá CTĐT nhà trường
thấy được các mặt còn khuyết dù CTĐT đã
đánh giá đạt trên mức yêu cầu Hoặc nhà trường lấy mức đạt đó làm mốc chuẩn tiếp tục có biện pháp cải tiến để CTĐT đạt mức cao hơn trong thang đánh giá ở chu kỳ tiếp theo
Bảng 2
Điểm Ý nghĩa của giá trị trong thang 7 điểm
chứng)
tế
4 KẾT LUẬN VÀ NHỮNG KHUYẾN NGHỊ
TRIỂN KHAI ĐÁNH GIÁ CHẤT LƯỢNG
CẤP CHƯƠNG TRÌNH
4.1 Kết luận
Mô hình ĐBCL cấp chương trình theo
tiêu chuẩn AUN-QA đã được triển khai
thực hiện tại 10 nước thành viên Asean
Tại Việt Nam, mô hình này được triển khai
rộng rãi ở các trường thành viên AUN (Đại
học Quốc gia TP.HCM, Đại học Quốc gia
Hà Nội, trường đại học Cần Thơ) và một
số trường đại học khác theo dự án của Cơ
quan trao đổi hàn lâm Đức (DAAD) tài trợ,
đã mang lại lợi ích rất lớn trong đánh giá,
cải tiến, nâng cao chất lượng CTĐT
Trong bối cảnh Bộ Giáo dục & Đào
tạo chưa ban hành qui định Bộ tiêu chuẩn
chung kiểm định CTĐT bậc đại học và có
hướng khuyến khích các trường chủ động
tự đánh giá CTĐT theo tiêu chuẩn quốc tế thì việc các trường đại học nghiên cứu, vận dụng mô hình và bộ tiêu chuẩn ĐBCL cấp chương trình của AUN-QA là hướng đi khả thi mang tính hội nhập
4.2 Khuyến nghị
Một là, hệ thống ĐBCL bên trong tạo điều kiện thuận lợi cho ĐBCL cấp chương trình Xây dựng và hoàn thiện hệ thống ĐBCL bên trong có sự tham gia đầy đủ của giảng viên, nhân viên, cán bộ quản lý cấp phòng, ban, khoa, bộ môn, cán bộ lãnh đạo cấp trường và các bên liên quan (sinh viên, thị trường lao động) Hệ thống ĐBCL bên trong đòi hỏi sự phối hợp giữa các đơn vị trong trường theo chức năng, nhiệm vụ được giao; đòi hỏi mỗi đơn vị phải xây dựng các công cụ (chiến lược, chính sách, qui định, qui trình, hướng dẫn, phương