Thời chúa Nguyễn vào Nam, phong hóa cư dân Thuận Hóa - Quảng Nam nói chung giữ nề nếp Đàng Ngoài thời Trịnh Nguyễn phân tranh, Đào Duy Từ tác động chúa Nguyễn Phúc Nguyên (1613 [r]
Trang 1Muơc luơc
l Âo dăi xưa của phụ nữ
l Trang phục Hă Nội
l Tản mạn về chiếc âo dăi
l Trang phục xứ Đăng Trong
l Trang phục phụ nữ ba miền
Tr 14
l Trang phục triều đình
Tr 18
l Lương Khắc Ninh nhă cải câch
Tr 24
l Nghệ thuật sđn khấu cải lương
l Trường phâi hăi của băi vọng cổ
l Nhớ rạp hât Chợ Lớn
l Chợ Bến Thănh xưa & nay
l Cải lương câi điệu hât
l Ba thế hệ Nhơn Nghĩa Đường
l Đất Thị Nghỉ xưa
l Về tâc giả Gia Định thất thủ vịnh
Ảnh bìa:
Lụa phương Nam
Chõu traâch nhiïơm xuíịt baên
Ăöî Thõ Phíịn - nguýîn haơnh
Chuê biïn
TS nguýîn Maơnh huđng
Biïn tíơp
ẶÂC huy
Trònh bađy
Trung Quín
táp chí xöa & nay
nhaø xuaât bạn vaín hoùa saøi goøn
Trang 2Dưới thời triều Nguyễn -
Pháp thuộc, phụ nữ lao động ở miền Nam ưa mặc màu đen Áo cánh cài cúc giữa không có túi, vạt áo sau trùm mông, dùng khăn vải màu sáng hoặc kẻ ô gập dọc lại vắt lên đầu để tránh nắng Ngày hội, ngày tết các cô thường mặc áo dài truyền thống, màu sắc tự nhiên, thường chỉ cài cúc cạnh sườn, còn đoạn từ nách lên đến cổ thì lật chéo để lộ
ba màu áo ra ngoài Bên trong là chiếc áo cánh trắng, không cài các
cổ, tôn màu yếm hoa hiên hoặc đỏ thắm Cổ yếm có hai dải bơi chèo buộc ở sau gáy để lộ ra phía ngoài những lớp áo
Phụ nữ miền Nam còn thường mặc áo bà ba trắng Khi mặc áo dài phủ lên chiếc quần lĩnh đen Các
bà nhà giàu mặc nhiều áo dài, áo trong cùng dài hơn cả, những chiếc
áo ngoài gấu ngắn dần lên một chút để khoe màu sắc khác nhau Những năm đầu thế kỷ XX các bà, các cô gái miền Nam thường mặc
áo dài cổ tròn đứng cao khoảng 1cm Từ vai đến cổ tay áo nhỏ dần, cửa ống tay áo mở một đoạn (dài chừng 3cm) sau khi mặc, cài kín bằng cúc bấm cho cổ tay áo khít vào cổ tay Gấu áo dài cách đất từ
10 đến 20cm
Đầu những năm 1930, ở Sài Gòn, có mốt áo dài tân thời Vẫn là kiểu áo dài năm thân truyền thống nhưng may chật hơn, thân trước thân sau không nối giữa nữa (vì đã
có loại vải khổ rộng để may), vạt con được cắt ngắn lên Áo dài tân
xưa Á o D à i Lịch sử ghi nhận những năm trị vì của mình, vua
Minh Mạng là người rất quan tâm đến vấn đề trang phục Những bản dụ về vấn
đề này nói riêng và ghép chung với các khác đã được ban hành đến 34 lần Có những năm tới 5 lần (năm 1825) đã chấp thuận cho bản tâu của một đơn vị ở Gia Định, xin cải đồ y phục
của phụ nữ Sài Gòn - Nam Bộ
Phong cách tiếp
khách của phụ nữ
Sài Gòn năm 1930
Trang 3thời may bằng nhiều chất liệu vải
với màu sắc khác nhau, được coi là
mốt tân tiến
Trong phong trào này, họa sĩ
Cát Tường ở Hà Nội nghiên cứu,
giới thiệu trên báo chí rồi sau đó
tung ra kiểu áo Lơ Muya (tiếng
Pháp: Le mur nghĩa là bức tường
Tường là tên họa sĩ)
Áo dài Lơ Muya vai bồng, cổ
tay măng sét (như tay áo sơ mi
nam) hoặc tay áo lá sen, tay chun
Cổ áo tròn khoét sâu xuống ngực,
viền đăng ten, hoặc kiểu lá sen
tròn, lá sen cài vắt chéo… Gấu áo
cắt hình sóng lượn, đắp vải khác
màu, hoặc đính những đường den,
đăng ten diêm dúa
Nhiều chi tiết của chiếc áo dài
“Lơ Muya” đã vay mượn ở loại áo,
váy của phụ nữ châu Âu thời đó
Bên cạnh Cát Tường, họa sĩ Lê
Phổ cũng có những đóng góp để
hình thành kiểu áo dài Lê Phổ Tuy
nhiên, đây mới chỉ là những cải
tiến khiêm tốn như thân áo ôm sát
nhiều hơn, kích dài xuống hở lườn,
vạt dài, tà lượn Cũng nối ở đoạn
vai Cổ áo bẻ, mùa nóng mở ra cho
mát, mùa rét gài vào cho ấm
Áo dài Lơ Muya, cho dù có
nhiều phản đối, vẫn được những
người phụ nữ tân tiến ở thành thị
ba miền hưởng ứng (điển hình ở
Hà Nội có cô Nguyễn Thị Hậu; ở
Sài Gòn cô Hồng Vân; ở Hội An
trong hội chợ Lạc Thiện, một số
chị em đã mạnh dạn mặc áo Lơ
Muya Bà Trịnh Thục Oanh, ở Hà
Nội cũng đã mặc áo dài do họa sĩ
Lê Phổ thiết kế )
Ít năm sau, chiếc áo dài “Lơ
Muya" quay lại trở về dạng quen
thuộc cũ, có ít nhiều cải tiến: cổ áo
đứng cao từ 1 đến 2cm, tay thẳng,
may liền vải, cổ tay hẹp, viền nhỏ
Có kiểu ở cửa tay, gấu, nẹp cài
cúc đều viền vải khác màu thành
đường nẹp rộng khoảng 0,5cm gọi
là áo né lẹp Có loại gấu áo vẽ tròn
lẳn, không gập
Trải qua những cuộc đấu tranh
chung về quan điểm thẩm mỹ
để bảo vệ cái đẹp giản dị, thanh
nhã, có tính dân tộc – chiếc áo dài
truyền thống lại được phục hồi
Phụ nữ thành thị tiểu tư sản, người nhiều tuổi, mặc áo dài cổ đứng cao
từ 1cm đến 2cm, góc thẳng Các cô gái thường mặc áo cổ cao từ 4cm đến 7cm dựng bằng vải hồ cứng, góc tròn, vạt áo lượn, tà khép Các
bà mặc quần đen, các cô thường mặc quần trắng Ở trong nhà mặc
áo cánh trắng, cổ áo tròn, cổ quả tim, cổ thìa hay cổ vuông cài cúc giữa, tay dài hoặc mặc “coóc sê”
(corset) để giữ cho ngực tròn đẹp
Khi có khách đến nhà, hoặc đi
ra đường phố, đi chơi, đi làm, đi học, lễ Tết đều mặc áo dài
Mùa hè thường mặc áo dài bằng lụa hay vải mỏng, màu sáng, hoa nhỏ Mùa rét may áo dài bằng các loại vải nhung, len, dạ, hoặc mặc lồng hai chiếc áo dài cho ấm Các
cụ già mặc áo dài bông, hình thức may như áo dài bình thường, bằng hai lần vải, ở giữa là một lượt bông mỏng, ngoài bằng nhung, hoặc sa tanh hay gấm hoa
Kể từ năm 1954, ở miền Nam chiếc áo dài được nhiều nữ sinh mặc đến trường với kiểu tà rộng, sát eo,
cổ cao, có lót cứng, ống tay hẹp
Đầu những năm 1960, thịnh hành nhất là kiểu áo dài mỏng
được mặc ra ngoài một loại áo lót,
áo lót này cổ khoét sâu, không tay may liền với quần sa tanh đen
Bà Trần Lệ Xuân, người đầu tiên tung ra một kiểu áo dài khoét cổ ngang… nhưng rồi người ta lại khoét cổ tròn, cổ vuông, cổ nhọn, tay áo ngắn hơn, tà rộng dài ra, thân áo bó sát, thắt eo Những năm sau trong phong trào “mini” chiếc
áo dài bị đổi dạng, tà áo rất hẹp, vạt ngắn đến đầu gối, cổ cao, vai nối chéo, cánh tay áo ngắn, cổ tay rộng,
xẻ tà áo cao bên trong lại không mặc áo cánh nên từ chỗ xẻ tà đến cạp quần thường hở một khoảng nhỏ…
Sau năm 1975, phụ nữ ở miền Nam vẫn gắn bó với kiểu quần áo
bà ba, búi tóc trùm khăn rằn quen thuộc Những ngày hội, ngày Tết vẫn thấy phổ biến những chiếc áo dài kiểu cũ mới… Những chiếc
áo dài truyền thống dù dài, ngắn,
tà rộng hay hẹp, màu trắng hay vàng, điểm hoa to, nhỏ… bằng lụa thường hay lụa quý… vẫn là chiếc
áo dài ba miền là thành tựu của sự sáng tạo độc đáo của hơn một thế
kỷ qua.l
Tài liệu tham khảo Trang phục nữ sinh áo tím Sài Gòn năm 1925
Trang 4Vào những năm 1908 - 1909, Henri Oger đã đến xứ Bắc kỳ với nhiệm vụ nghiên cứu về xã hội Việt Nam (thông qua con đường phục vụ quân dịch).
Ông đã để lại 4.577 bức ký họa chú giải chữ Hán - Nôm về
xã hội Việt Nam cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX Chúng tôi xin
trích giới thiệu về trang phục trong phần Xã hội Việt Nam
cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX.
mỗi khi mô tả cuộc sống phong lưu vào đầu thế kỷ Với hàng chữ Hán chú thích bên cạnh: “Giày này Gia Định mới chế” (Kỳ lý nãi Gia Định tân chế) ta mới thấy rõ các cụ rất hợp thời trang vào giai đoạn lịch
sử ấy
Làm gì ngày tư, ngày Tết các cụ không sắm cho mình một đôi để
đi chúc Tết mọi người Đây cũng
là cách để mọi người chúc tụng lại mình?! Nhất là các cụ lại diện vào
henri
oger
Trang phục Hà Nội
1908 - 1909 dưới mắt
nguyễn Mạnh hùng
ThỜi TRAng
Trước mắt chúng ta là hình ảnh một bác nông dân, tay xách nách mang, đang thong dong trên đường phố Bác đi đâu? Đi sắm Tết về ư?
Bác sắm được gì? Vật bác kẹp nách
ta chưa xác định rõ nhưng vật bác cầm tay ta dễ nhận ra Chính nghệ nhân có ghi rõ ba chữ Nôm: “mang đôi dép (?)”
Phải chăng đây là loại “giày Gia Định” mà ta thường nghe nói đến
Trang 5những bộ quần áo lục chẽn, thắt
lưng lệch hoặc chiếc áo năm thân
dài trong trắng, hoặc chiếc quần
mỡ gà hay trắng phủ trên đôi giày
Gia Định
Còn đối với các bà, trang phục
là những cặp áo mớ năm, mớ ba,
mớ bảy khoe màu Những chiếc
áo the thâm hay nâu gụ phủ ngoài
Chiếc nón ba tầm phụ nữ, chiếc
nón lá cọ tán lớn, vành to, quai
thao lụa bện tua dài buông xuống
hai bên đu đưa trước gió Lại còn
có tấm váy lĩnh hoặc váy lụa hoa
và đôi dép cong hay đôi hài như ta
được trông thấy tận mắt với bốn
chữ Hán: “Phu nhân văn hài”
Để có thể hình dung một người
phụ nữ ăn mặc sang trọng vào thời
ấy như thế nào H Oger giới thiệu
lối phục sức của bà nhà giàu sau
đây (costume de bourgeoise riche)
Ăn mặc quần áo mới đẹp, trang
nhã, phong lưu dù người nông dân
quanh năm chân lấm tay bùn, hay
người thợ sống hẩm hiu trong bóng
tối, hoặc giới quan lại, hay giới
trưởng giả học làm sang cũng đều
theo lệ chung là lo trang phục để
đón xuân
ThỜi KỸ nghệ LẤy TÂy
Đặc biệt, trong lúc giao thời
giữa thực dân và phong kiến chúng
ta không thể quên được một số bà
mẹ thức thời, không còn cho con
chơi tiến sĩ giấy hay tiến sĩ đất như
ngày nào đã lỗi thời mà bắt đầu cho
con mặc áo quan Tây Phải chăng
nền “kỹ nghệ lấy Tây” cũng bắt
đầu xuất hiện vào thời này Chúng
ta hãy trông lại cậu bé mang ghệt, mặc áo sĩ quan, có đeo len trên tay
áo, nhưng còn ló đuôi trên đầu với cái chỏm tóc Bà mẹ tuy còn chiếc nón quai thao, nhưng tay và cổ đã mang vòng vàng, xuyến bạc
Nhà văn Vũ Trọng Phụng có viết thiên phóng sự đề cập đến loại kỹ nghệ này Tây đây là lính lê dương mà dân chúng quen gọi là lính tây Nhân sĩ Bắc Hà thời ấy rất thành kiến với các me Tây Cụ Tam nguyên Yên Đổ có làm một câu đối
Nôm tặng cho một me Tây nọ mà
bố được phong tặng hàm Thị Độc!
Mấy sắc đạo phong hàm cụ lớn Trăm năm danh giá của bà to.
Khi người Pháp mới đặt chân đến Việt Nam, họ đã nghĩ ngay đến việc đào tạo một lớp người làm thông ngôn, ký lục Hình ảnh ấy đã được H Oger ghi lại dưới dạng một
“thầy thông ngôn trẻ con” - xuất hiện trong những dịp Tết (1908-1909) để khoe cái mũ fléchet, cái áo gấm của hạng quan sang thay cho cái khăn đóng áo dài.l
Trang 6Tản mạn về chiếc
Dương Văn An, viết trong
Ô Châu Cận Lục rằng,
năm 1555 khi Nguyễn Hoàng vào Thuận Hóa hai phủ Tân Bình, Triệu Phong người Việt ăn bận theo kiểu
áo dài cổ kín của Chăm Tà áo dài
Chăm, 4 vạt bít tà, cổ hình trái
tim, váy khăn rộng Thái Văn Kiểm
trong Y phục người Việt qua các
thời đại, tạp chí Đại Học số 38 - Sài
Gòn, 1964, cho rằng từ nhà Ngô
năm 939 đến nhà Nguyễn trang
phục Việt Nam luôn bị chi phối bởi
quan hệ giai cấp trong xã hội, thí
dụ dân gian bị cấm dùng các màu
vàng, xanh, đỏ, tía đời Trần do
sùng bái Phật giáo ra lệnh đàn ông
dân dã phải cạo sạch đầu như sư,
hậu Lê trọng Nho thì trái lại Thời
Minh thuộc, phụ nữ Việt phải bận
quần dài bỏ váy, mặc áo ngắn bỏ
yếm + tứ thân
Sách Việt sử thông giám cương
mục viết: triều Lê thắng Minh muốn
khẳng định quyền tự do độc lập của
mình nên trong gần ba trăm năm
có đến hơn 20 lần ra lệnh thay đổi
y phục toàn quốc: qui định dân -
binh - quan ăn bận kiểu cách và màu
sắc vải bô - nhung gấm khác nhau:
người nam bình thường bận áo lá
vải ta, cổ đứng, xẻ giữa cài nút có tay
hoặc không và quần dài tới gối, lao
nguyễn Minh
mặc áo dài tay bên trong bận áo lá ngắn tay có hai túi lớn và quần dài với thắt lưng để nhét túi trầu cau, màu sắc chủ yếu nâu sẫm hay đen
Áo dài đàn ông, chỉ mặc khi có lễ hội, như áo thụng Trung Quốc gọi
là áo lương, áo dài đàn bà giống
áo dài đàn ông Tầm nguyên kiểu dáng chiếc áo dài phụ nữ Nam kỳ lục tỉnh chúng ta thấy từ thuở Đàng Trong đã may giống như áo Táh của Chăm, tròng đầu, thắt eo lưng bó người 4 thân tay dài, cổ hình trái tim
có may dúm lại ở phần ngực, tay dài
bó và đi với chiếc váy khăn Chúng
ta tiếp nhận áo Srây phụ nữ Khmer
mà giống Táh của Chăm dúm lại chỗ phần bầu sữa và bận quần Phụ nữ Hoa với sườn xám cổ cao, 2 tà bó sát mình bít tới gối, tay ngắn sát nách hay dài chưa tới khủy với váy bó
Áo dài Việt giống áo sườn xám có 2 thân với cổ cao,
bó sát trên eo, dúm ở ngực như Táh và thả tà từ eo lưng xuống che phất phơ chiếc quần lá mem và tay dài Khi Pháp vào, chiếc
áo dài Việt Nam có nhiều biến tấu kiểu châu
Âu như áo Lơ Muya của Cát Tường, thập niên
1950 hở cổ (décolleté) và tay dài xẻ tréo từ cổ xuống nách (raglan) để khoe bờ vai tròn trịa của chị em phụ nữ Áo dài phụ nữ miền Nam còn dùng nhiều mặt hàng vải lụa phối hợp màu sắc phong phú đa dạng và
kỹ thuật cắt may tân tiến của ngoại quốc nên khá thanh lịch Đất Lục tỉnh tiếp nhận nhiều luồng văn hóa, người dân không bảo thủ nên về trang phục phụ nữ là đầu tàu trong việc cách tân.l
động thì ở trần đóng khố nhưng khi
ra công đường bận áo màu và (nâu), búi tóc và đội nón Đàn bà mặc yếm
cổ xây, cánh tay trần, váy ngắn, thắt lưng thả múi phía trước, đầu có khăn lượt cuốn tóc
Thời chúa Nguyễn vào Nam, phong hóa cư dân Thuận Hóa - Quảng Nam nói chung giữ nề nếp Đàng Ngoài thời Trịnh Nguyễn phân tranh, Đào Duy
Từ tác động chúa Nguyễn Phúc Nguyên (1613 - 1635) nên thay đổi khác Đàng Ngoài trong đó
có việc thay đổi y phục: bỏ yếm đào áo
tứ thân thay vào là áo năm thân cài khuy vải, bới tóc bỏ khăn quấn, bỏ váy mặc quần dài, triều phục quần thần theo kiểu nhà Minh - Trung Quốc Ngày xưa khung vải hẹp chỉ từ
30 - 40cm, mà tà áo phải rộng 70cm nên mỗi tà phải may nối
4 hay 5 thân mới che hết người
Biết rằng, cư dân đồng bằng sông Mékong đa phần thuộc tầng lớp thấp, nam khi làm lụng bận áo ngắn quần tới gối, riêng phụ nữ thì
áo dài
Trang 7 Trịnh Quang Vũ
Triều Lý kể từ năm Ất Mão (1075) người Việt
mới bắt đầu di dân vào đất Quảng Bình,
Quảng Trị ngày nay Đến triều Trần sau cuộc
viếng thăm của vua Trần vào Chiêm và đám
cưới của công chúa Huyền Trân (1306) dân
Việt vào đến Thừa Thiên Một thế kỷ sau triều Hồ thu
được đất Chiêm Động, Cổ Lũy, người Việt vào đến
Quảng Ngãi Thời nhà Minh sang xâm lược người
Việt chỉ còn lại đất Thuận Hóa Năm 1425, Bình định
vương Lê Lợi thu phục Thuận Hóa và giành giật với
Chiêm cho đến cuộc Nam chinh của vua Thánh Tông,
người Việt luôn phải đương đầu với Chiêm Thành Vua
Thánh Tông chiếm Chà Bàn (1471) tổ chức lại hành
chính, đặt quân đội phòng giữ từ Hải Vân nên hai xứ
Thuận, Quảng mới được yên ổn Cuối triều Lê sơ các
xứ Đàng Trong thời Lê - Trịnh
vua hoang dâm, vô đạo đức từ đời Uy Mục, Tương Dực, kỷ cương rối loạn, mục nát, loạn cướp khắp nơi, Mạc Đăng Dung cướp ngôi, đất nước rối loạn Khi vua Trang Tông lên ngôi ở Lào, thái sư Trịnh Kiểm đưa vua Trang Tông về thu phục Tây Đô năm Thuận Bình thứ 6 (1553) thái sư Trịnh Kiểm sai tướng tâm phúc
là Quảng quận công Phạm Đốc coi vệ Kim Ngô đem quân vào chiếm lại Thuận Hóa và Quảng Nam Năm
1558 cho em vợ là Đoan quận công Nguyễn Hoàng vào trấn thủ châu Quảng Nam để giữ, căn bản trở nên phồn thịnh Sách Ô châu cận lục viết do Dương Văn An
đề tựa năm Ất Mão (1555) cho ta biết về sự trù mật và trang phục thời điểm đó như sau trong mục phong tục tổng luận:
“ Đồng bằng thì nông tang vốn sản nghiệp nhà,
trang phụcTrang phục Đàng Trong thế kỷ XVIII
Trang 8bờ biển thì cá muối vô tận Của
thổ nghi đã sẵn thứ rượu tăm rất
ngon Cá tôm sẵn ở sông bể, gỗ
cây lấy ở núi rừng Xóm làng trù
mật nên gà chó từng đàn Xuân
sang thì mở hội bơi trải, gái lịch
trai thanh, hạ tới thì bày cuộc
dấu thăm, dập dìu rộn rã nơi ca,
chốn múa Sự mua bán thì tùy
nơi đong lấy, ba đấu thóc không
quá ba đồng tiền; cách ăn uống
thì hoang phí vô cùng Nói tiếng
Chiêm thì có thổ dân làng La
Giang, mặc áo Chiêm thì có con
gái làng Thủy Ban ”, nói về đất
Quảng Nam viết: “Nhân dân làm
giàu bằng thóc, nhà nông đạp lúa
bằng trâu xã Mạc Châu trồng
nhiều hoa hồng, xã Lang Châu
sản nhiều lụa trắng Đàn bà mặc
áo Chiêm, con trai cầm quạt Tàu,
người sang kẻ hèn đĩa bát đều
vẽ rồng phượng, kẻ hơn người
kém sống áo toàn màu đỏ, màu
hồng ”
Sách viết về: “Lộ Thuận Hóa
ở phía cực nam Triệu Phong non sông kỳ thú, ruộng
đất mở mang, nhân dân đông đúc, thực là nơi đô hội
lớn một phương, cảnh tượng vui tươi, phong vật quý
giá còn đâu nữa ” Tiếp theo là cuốn Xứ Đàng Trong
của giáo sĩ Christophoro Borri, ông sinh năm 1583
tại Milan (Italia) là giáo sĩ dòng Tên (1601) Ông qua
Ấn Độ (1615) tới Đàng Trong năm 1618, ở đó 5 năm,
năm 1622 ông về Ma Cao Ông giỏi thiên văn và toán
học, học thông thạo ngành hàng hải, đã từng giảng
dạy tại Đại học Coimbra về thiên văn, toán học, viết
sách chỉ dẫn đi Ấn Độ Ông viết Xứ Đàng Trong bằng
tiếng Italia in năm 1631 được dịch ra nhiều thứ tiếng:
Latinh, Pháp, Hà Lan, Đức, Anh Ngày 7 tháng 12
năm 1931, ông Bonifacy dịch ra tiếng Pháp và in ở tạp
chí Đô Thành hiếu cổ Huế (theo Hồng Nhuệ - Nguyễn
Khắc Xuyên và Nguyễn Nghị) Đây là một cuốn sách
quý giá dưới dạng hồi ký cho ta nhiều thông tin tư liệu,
còn nhiều chi tiết quan trọng về nhiều mặt: lãnh thổ,
khí hậu, hành chính, phong tục của xứ Đàng Trong, ở
đây tôi chỉ xin giới thiệu phần trang phục của nước ta ở
đầu thế kỷ XVII khi xảy ra cuộc chiến tranh của Đàng
Trong và Đàng
Borri như là một nhân chứng lịch sử viết về nước
ta với các nước châu Âu đầu thế kỷ XVII cũng như De
Rhodes với cuốn Vương quốc Đàng Ngoài Borri cho
biết: “Y phục như chúng tôi đã nói tơ lụa rất thông
dụng ở xứ Đàng Trong, mọi người dân đều mặc hàng
dệt tơ lụa Bây giờ nói về cách ăn mặc của phái nữ, phải
nhận ra rằng cách mặc của họ giản dị hơn nhiều so với
khắp nước Ấn Độ, không để lộ một phần nào cơ thể,
ngay cả trong mùa hè nóng bức nhất Họ mặc tới 5 hay 6 váy lụa trơn, cái nọ chồng lên cái kia mỗi váy một màu khác nhau Cái thứ nhất phủ dài chấm đất, họ kéo lê rất trịnh trọng, khoan thai, nhẹ nhàng khi di chuyển không trông thấy đầu ngón chân Váy thứ hai ngắn hơn chừng 4 hay 5 đốt ngón tay, rồi cái thứ ba lại ngắn hơn cái thứ hai, cứ tuần tự như thế theo
tỷ lệ tương đồng để tất cả màu váy được phô bày, phía trên là thắt lưng Còn áo dài được vắt chéo
từ phải sang cũng phô nhiều màu sắc (vắt chéo như bàn cờ), phủ lên trên tất cả là một áo the mịn mỏng để cho ta nhìn thấy màu sắc sặc sỡ phía trong chẳng khác
gì mùa xuân tươi vui, duyên dáng nhưng trang trọng và giản dị ”
“Đầu tóc họ để tóc xõa rủ xuống vai, có người để tóc dài chấm đất, tóc dài được coi là đẹp, càng dài càng đẹp Họ đội trên đầu một chiếc mũ lớn, diềm rộng che hết mặt khiến họ chỉ có thể trông xa độ hơn ba bốn thước trước mặt Mũ đó bằng lụa thêu kim tuyến
là con nhà thế gia quý tộc, phép xã giao gặp gỡ chào hỏi người khách gặp chỉ phải cất nón, mũ đủ để trông thấy mặt là được ”
Người Đàng Trong không đi dép cũng không đi giày, cùng lắm họ chỉ mang một miếng da buộc mấy dây lụa và khuy trên mu bàn chân như kiểu săng đan của ta để cho bàn chân không bị đâm Họ cho rằng đi chân không thì chân họ vẫn lấm bẩn, họ biết nhưng không ngại vì trước thềm nhà bao giờ cũng có một chậu nước đầy để rửa chân, còn kẻ đi dép thì phải để dép ở ngoài lúc ra mới xỏ vào, ở trong nhà họ đã trải chiếu nên không sợ bẩn chân ”
Thông qua những tư liệu, hồi ký của Borri tả về trang phục của xứ Đàng Trong cho thấy về cơ bản hoàn toàn không khác gì ở Đàng Ngoài, vẫn là mặc áo
xẻ tà bắt chéo vạt, mớ ba, mớ bảy, ngoài phủ áo the, chân đi dép mỏng, đầu tóc bỏ xõa, phụ nữ vẫn mặc váy cho đến đầu thế kỷ XVIII kể cả trong lúc yến tiệc vẫn một phong tục
Những diễn biến thay đổi xứ Đàng Trong kể từ năm Tân Mùi niên hiệu Đức Long thứ 3 (1631), kể từ khi quan văn nội tán lộc khê hầu Đào Duy Từ thuyết phục chúa Phước Nguyên đắp lũy Nhật Lệ, Trường Dục làm kế cố thủ quyết tâm xây dựng quân đội củng
cố lực lượng, chia ngăn cách đất Bắc và có sự thay đổi dần y phục truyền thống cho khác với Đàng Ngoài, nhằm mục đích chia đôi sơn hà thành hai nước khác nhau Khi nhà Mãn Thanh diệt nhà Minh, tổng binh
Quân khởi nghĩa Tây Sơn thế kỷ XVIII
Trang 9trấn thủ Long Môn thuộc Quảng Tây là Dương Ngạn
Địch cùng phó tướng là Hoàng Tiến, tổng binh Trần
Thượng Xuyên đem ba nghìn quân và 50 chiếc thuyền
chạy sang xin làm dân Việt Nam Chúa Nguyễn Phúc
Tần (1648-1667) cho vào Đông Phố (Gia Định) khai
khẩn Đồng Nai, Biên Hòa, Mỹ Tho trở thành người
Minh Hương và khu vực Hội An càng bị ảnh hưởng ăn
mặc theo lối nhà Minh Cùng thời điểm này có nhiều
du tăng Trung Quốc đến Việt Nam Có một lão tăng
danh tiếng Thích Đại Sán đã đến Thuận Hóa vào tháng
8 năm 1695 Ông đã thuật lại trong bộ Hải ngoại ký sự
qua đó ta biết nhiều thông tin về trang phục ở cuối thế
kỷ XVII ở Đàng Trong Ông thuật lại lúc vào Thuận
Hóa: “Nước Đại Việt kiến thiết đô ấp trên hình vòng
cung Ăn cơm sớm xong, ta hỏi nay gió Hội An thuận
hay vào Thuận Hóa thuận chăng? Đều trả lời vào
Thuận Hóa thuận Ta cười bảo nếu vậy cứ vào Thuận
Hóa Người coi lái biết không thể cãi, nhìn nhau rồi
quyết định Buông gió một chặp đến vùng núi, ấy là
đảo Tiêm La Bích (Cù Lao Chàm) dần thấy gò cao,
rừng rậm, dần dần thấy nội phẳng đồng bằng kia so le
mấy nếp nhà tranh, phơ phất mấy cây cổ thụ, bãi cát
trắng xóa Nổ mấy phát pháo lớn ra hiệu cho trong
bờ biết có tàu đến nơi Cửa biển vẫn chưa trông thấy,
chỉ thấy trên mặt biển có một làn sóng gợn gợn xa xa
Bỗng chốc một lá buồm hình lưỡi rìu từ phía mặt trời
lặn chạy lại; lúc đến nơi, trời đã nhá nhem tối, nhìn
thấy một người trần mang khố, đầu búi tóc có giắt
lông nhím, răng đen, nói líu lo Người ấy vì không phải
phụng mạng mà lại, nên không dám trèo lên tàu Trên
tàu có người muốn xuống thuyền xem chơi, người ấy
không chịu Hai phiên tăng nguyên người nhà chúa sai sang Quảng Đông ra hỏi chuyện, người ấy bèn thi lễ, lấy dây giòng phiên tăng xuống thuyền đó để chạy đi thông báo với nhà chúa, kế đó có một chiếc thuyền lại,
có một viên quan cũng búi tóc, đi chân không, chong đèn ngồi canh giữ không đi Suốt đêm ồn ào ngủ không yên giấc Rạng sáng thuyền tứ phía chèo đến đông như kiến cỏ Người bản xứ chen lấn giành mua các thứ giày, mũ, bít tất, quạt rất thích mua thứ dù che mưa Qua giờ Thìn có hai chiến hạm nhà chúa sai quốc cậu ra đón, hai phiên tăng cũng trở lại thi lễ xong Lập tức giục xuống thuyền nói có quốc cậu đang kính chờ bên thuyền, vài mươi thủy quân vòng xuống, nổi trống đồng hò hát chèo đi Thuyền sơn son láng bóng soi mặt được, tả hữu đều 25 chèo, thủy quân rất mạnh
mẽ, cửa khoang thuyền chạm long vân, sơn đỏ trên che đệm cỏ đằng vân, dưới trải chiếu lác mịn màu xanh lục,
lò đốt kỳ nam hương, hộp vàng bày cau trầu, có đủ các thứ gối tựa, ống nhổ
Đến công đường ở bờ biển, công đường tức nhà thu thuế chỉ có một gian cỏ lợp tranh” (Hải ngoại ký sự
quyển I) Một đoạn khác sách viết: “Đầu thuyền một
vị quan ngồi, dưới thuyền một người cầm lái đứng, giữa thuyền sáu mươi bốn quân nhân đứng chèo, giữa khoang thuyền có 4 cọc nạng sơn son, trên bắc ngang một cây mõ gỗ, một người lính ngồi gõ mõ làm nhịp cho những người đứng chèo thuyền, cây qua tả là qua
tả, bát qua hữu là qua hữu, miệng hò hơ, chân giậm ván, đều răm rắp theo nhịp mõ, chẳng phút đơn sai Thuyền dài mà hẹp hình long chu mũi cất cao, đuôi thuyền sơn đỏ ” (Hải ngoại ký sự, quyển III).
Trang phục lính Đàng Trong cuối thế kỷ XVIII
Trang 10Ngoài những tư liệu ghi chép của triều đình và các
nhà sử học nước ta còn một số những thương nhân,
giáo sĩ ngoại quốc của các nước châu Âu cũng đã tới
Đàng Trong đã ghi chép lại để ta nghiên cứu, tham
khảo, bổ sung được nhiều mặt đời sống xã hội Những
sinh hoạt dân dã mà nhân viên phái bộ Macartney
quan sát nhận xét ở Tourane (Quảng Nam) vào cuối
thế kỷ XVIII, họ thuộc dân ở Nghệ An tổng hữu
đạo huyện Thượng Du đi lấy vỏ quế và sáp ong để
thượng tiến Việc lấy sáp ong ở khắp mọi nơi trên
đất Việt (Hoàng lạp nậu của Gia Định), đặc biệt là
quê ở Thanh, Nghệ, Quảng cũng như trầm hương, kỳ
nam thấy nhiều ở phía nam của dân Bình Khang, dân
Chăm họ sống bằng nghề hái trầu, lá trầu to, vị đậm
Ngoài ra còn ngà voi, sừng tê là những sản vật quý giá
nổi tiếng
Theo những người ngoại quốc nhận xét, đàn bà
nhiều hơn đàn ông, nông dân nhanh nhẹn thông
minh, nước da sẫm, hiền lành giản dị, người miền núi
đen đủi dữ dằn Họ chú ý tới trầu cau, Nguyễn Nhạc
xưa đã làm nghề buôn trầu cau Người ta đựng trong
túi lụa, treo nơi lưng quần vào có nhiều ngăn đựng trầu
ăn Người giàu có đầy tớ mang theo ống điếu Nhưng
chính họ lại mang trầu cau để trong túi gấm nhỏ bỏ
trong bao tượng được quàng từ trên vai xuống dây
lưng Gói trầu là một trong những vật kể vào đồ đạc
chính Ở Quảng Nam có rất nhiều bông vải, trẻ con hái
các múi bông, đàn bà kéo sợi, dệt vải và thường đem
nhuộm chàm Dân chúng cả đàn ông, đàn bà đều mặc
những cái áo choàng dài thật rộng, cổ chật, trước ngực
có nhiều lằn xếp, cánh tay dài phủ cả bàn tay Người
quý phái mặc áo trùng nhiều cặp, cặp đôi, cặp ba Áo
thứ nhất dài chấm đất, chiếc áo ngoài ngắn hơn một
chút Cứ như vậy nếu có cặp nhiều màu thì ta thấy có
hình dạng cầu vồng sặc sỡ Đồ lót gồm có một áo cánh,
lụa hay áo vải và không quần cụt, quần dài cùng với
thứ vải áo Đàn bà đội nón không đội mũ, đàn ông chít
khăn trên đầu hoặc đội các thứ nón tu lờ (cư diện),
nón nhà sư hoặc nón sọ nhỏ (xuân lôi tiểu lạp), nón vỏ
bứa (toan bì), tất cả đều đi chân không
Thông qua những tư liệu văn tự cổ vẫn thấy “lối
trang phục dân dã cởi trần, đóng khố, đi chân không,
thuyền trang trí màu sắc thời Lê Trịnh Sang đến triều
chúa Võ vương Nguyễn Phúc Khoát (1738-1765) với
chủ trương nhằm mục đích hai nước khác nhau nên ra
chiếu chỉ bỏ kiểu mặc truyền thống như bỏ áo tứ thân
sang mặc áo năm thân, cài khuy, bỏ mặc yếm, bỏ bao,
bỏ mặc váy chuyển theo mặc kiểu Tàu, mặc quần hai
ống, búi tóc Năm 1774, chúa Trịnh Sâm thấy Đàng
Trong suy yếu, cử chưởng phủ đại tư đồ Hoàng Ngũ
Phúc tước Việp quận công vào đánh chúa Nguyễn,
quân Trịnh giành thắng lợi chiếm lại Phú Xuân (Huế)
ngày 3 tháng 1 năm 1775 Chúa Trịnh cho đúc tiền
ở Phú Xuân tiền “Cảnh Hưng thuận bảo” ra hiểu dụ
sửa lại cách ăn mặc trang phục truyền thống Đàng
Ngoài, mặc váy, vấn tóc, đội khăn, đi hài, áo dài nữ giới
dài hơn áo nam giới Nam mặc áo trong trắng ngoài đen hoặc màu thanh cát đội nón ba tầm Lúc bấy giờ
“Người họ Nguyễn là quân Chiêm, quân Thăng và hơn một trăm người đều quy thuận, văn võ tướng lại đều đón hàng Việp quận công tuyên chỉ vỗ về ủy lạo, yết bảng chiêu an Quan lại sĩ dân ở yên như cũ; chợ không đổi hàng, cả miền vui vẻ nói rằng: “Không ngờ
200 năm nay lại trông thấy áo mũ triều đình” (Phủ biên tạp lục, 75) Khi Lê Quý Đôn vào trấn thủ đã nhiều lần
hiển dụ: “Y phục bản quốc vốn có chế độ, địa phương này từ trước cũng chỉ theo quốc tục Nay kính vâng thượng đức, dẹp yên cõi biên trong ngoài như nhau, chính trị và phong tục phải thống nhất Nếu có người mặc áo quần kiểu người khác (người Tàu) thì nên đổi theo thể chế của nước nhà Đổi may y phục thì theo tục nước ” (Phủ biên tạp lục).
Trang phục truyền thống kéo dài cho đến khi triều
Lê Trịnh mất
Trang phục quân đội chúa Nguyễn Đàng Trong.
Kể từ sau khi Nguyễn Hoàng mất, Nguyễn Phước Nguyên là con thứ sáu, lúc đó 52 tuổi, là người đã từng trải việc cai trị, trấn thủ ở Quảng Nam mười năm nên được nối nghiệp cha Chúa Phước Nguyên còn gọi là chúa Sãi Thời kỳ chúa Sãi được Đào Duy Từ trốn từ Đàng Ngoài vào giúp, đầu năm 1630, Duy Từ cho đắp lũy Trường Dục; năm 1631 lại đắp lũy Đồng Hới trên giáp núi Đâu Mâu, chạy xuống dưới ra biển Nhật Lệ Khi đắp xong lũy chúa Sãi tuyên bố không cống nộp cho Đàng Ngoài nữa, chuẩn bị lực lượng phát triển quân đội Năm 1635, chúa Sãi mất, con trai thứ là Nguyễn Phước Lan lên ngôi theo cha là chúa Thượng
Từ các đời chúa Nguyễn sau này có thay đổi dần về trang phục, đến đời Võ vương là thay đổi nhiều nhất Năm 1645 chúa Thượng đã tiếp hai dòng thánh Phanxicô và mấy nữ tu Tây Ban Nha trên mấy chiến thuyền ở Áo Môn xuôi Philippin gặp bão dạt vào cửa Hàn Đến kinh, bốn nữ tu, hai cha, quan thuyền trưởng với một toán độ năm chục thủy binh Tây Ban Nha, được đưa đến nghỉ chân ở nhà một quan đại thần Khoảng hai giờ chiều được mời vào yết kiến chúa Thượng “Trên thềm phủ, chúa Thượng ngồi ở gian chính giữa, tựa tay vào cửa sổ nhìn xuống, còn gian bên là phu nhân vợ chúa Trong gian đình chúa đã truyền làm một trướng chăng rèm hoa dành cho các
nữ tu để tránh con mắt tò mò của triều thần Ba mặt sân phủ đều có lính dàn hàng Bốn ngàn lính túc vệ chia làm bốn đội, hai đội hai bên mặc nhung phục màu tím, đeo kiếm, còn hai đội ở cuối mặc áo màu nâu đen đeo dao Hàng nào đứng hàng nấy ngay như tượng gỗ, không nhúc nhích cựa quậy” (LSTG ở Việt Nam, trang
1 )
Sau khi chúa Thượng mất, năm 1648, chúa Hiền nối ngôi Tiếp sau đến chúa Ngãi là Nguyễn Phước Thái, thấy địa điểm không phù hợp, chúa cho quân vượt sông Kim Long đi về hướng đông 5 dặm, chọn làng Phú Xuân có Hòn Mô(1) làm tiền án, xây dựng thủ