Âm nhạc dân gian Mường hiện còn lưu truyền một thể loại dàn nhạc có tên gọi “Cò ke ôống kháo”. Xét theo Luật di sản văn hóa.. Nó tồn tại trong mối liên hệ không tách rời giữa nghệ th[r]
Trang 1NGHỆ NHÂN “CÒ KE ÔỐNG KHÁO”
TRONG ĐỜI SỐNG CỘNG ĐỒNG MƯỜNG Ở HÒA BÌNH
TRẦN BẠCH DƯƠNG Tóm tắt
Âm nhạc dân gian Mường hiện còn lưu truyền một thể loại dàn nhạc có tên gọi “Cò ke ôống kháo” Các thành viên của dàn nhạc này là những người có năng khiếu bẩm sinh, có đam mê nghệ thuật và phải trải qua một quá trình nỗ lực rèn luyện, tu dưỡng để trở thành nghệ nhân Cộng đồng Mường kính trọng họ, coi họ là những người tài giỏi, hiểu biết về phong tục tập quán Nghệ nhân “Cò ke ôống kháo” thuộc tầng lớp tinh hoa trong xã hội Mường, giữ vai trò quan trọng trong bảo tồn, phát huy và giáo dục truyền thống văn hóa tộc người
Từ khóa: Cò ke ôống kháo, người Mường, âm nhạc dân gian, nghệ nhân dân gian
Abstract
Folk music of Muong ethnic minority circulates an orchestra called “Cò ke ôống kháo” The members
of this orchestra are innate gifted people who have a passion for art and must go through a process
of training and attempting to become artisans Muong community respects them, considers them as talented people, understanding customs and habits The artisans of “Cò ke ôống kháo” belong to the elite class of Muong society, playing an important role in preserving, promoting and educating ethnic cultural traditions.
Keywords: Cò ke ôống kháo, Muong people, folk music, folk artisans
Đặt vấn đề
Người Mường - tộc người bản địa
ở vùng núi Tây Bắc Việt Nam, sinh sống tập trung nhiều nhất tại tỉnh Hòa Bình, nơi bắt đầu của địa hình núi đá kéo
dài và cao dần về phía các tỉnh Sơn La, Điện
Biên, Lai Châu, tạo nên một miền Tây Bắc hùng
vĩ Người Mường coi Hòa Bình là quê hương,
là vùng đất khởi sinh tộc người, kể cả người
Mường sinh ra và lớn lên ở nơi khác cũng xem
Hòa Bình như đất tổ của mình
Văn hóa Mường có nhiều điểm tương đồng
với văn hóa Kinh, vì thế các nhà nghiên cứu tin
vào giả thuyết rằng hai tộc người này chung
một nguồn gốc, gọi là người tiền Việt - Mường
Theo giả thuyết này, vào khoảng thế kỷ VI -
VIII, một bộ phận người tiền Việt - Mường di chuyển xuống sinh sống ở đồng bằng Bắc Bộ, tại đây họ liên tục tiếp xúc, giao lưu với các tộc người khác nên có sự biến đổi về văn hóa và trở thành người Kinh hiện nay [4, tr.29] Người Mường là bộ phận tộc người ở lại vùng núi, ít tiếp xúc giao lưu nên vẫn còn giữ một số nét văn hóa cổ xưa từ thời tiền Việt - Mường Ngày nay văn hóa Mường với bản sắc độc đáo trở nên đầy hấp dẫn đối với các nhà nghiên cứu và khách du lịch, người ta biết tới văn hóa Mường với nghệ thuật cồng chiêng, diễn xướng Mo,
hoặc chỉ đơn giản qua câu nói: “Cơm đồ, nhà
gác, nước vác, lợn thui, ngày lui, tháng tới ”.
Âm nhạc dân gian Mường hiện còn lưu truyền một thể loại dàn nhạc có tên gọi “Cò
ke ôống kháo” Xét theo Luật di sản văn hóa
Trang 2V Ă N HÓ A
Việt Nam thì đây là một trường hợp thuộc di
sản văn hóa phi vật thể [3] Nó tồn tại trong
mối liên hệ không tách rời giữa nghệ thuật
âm nhạc và người trình diễn Những người
trình diễn đồng thời giữ vai trò bảo lưu và trao
truyền nghệ thuật đó qua các thế hệ, họ được
gọi là Nghệ nhân dân gian “Cò ke ôống kháo”
Bàn về yếu tố con người trong di sản văn
hóa, GS.TS Hoàng Vinh đã viết: “Di sản văn hóa
phi vật thể bao gồm các thể loại văn hóa nghệ
thuật chủ yếu sau đây: Âm nhạc, ca múa, sân
khấu, ngôn ngữ, truyền thuyết, huyền thoại,
lễ hội, nghi lễ, phong tục, tập quán, y học dân
tộc, nghệ thuật nấu ăn, bí quyết trong sản xuất
đồ thủ công mỹ nghệ Có thể ghi nhận vào đây
cả “nghệ nhân dân gian”, người đang nắm các
bí quyết này, cũng được xem là tài sản văn hóa
Trong đạo luật “Bảo tồn các tài sản văn hóa”
của nước Nhật Bản, lớp nghệ nhân dân gian
kể trên được gọi là “Kho báu sống” [5, tr.110]
Cách gọi “Kho báu sống” đã cho thấy đặc trưng
của nghệ nhân dân gian dưới góc nhìn văn
hóa, những con người đang sống, vừa là chủ
thể vừa là thành phần của một di sản văn hóa
Điều đó cũng cảnh báo sự khó khăn trong việc
chọn cách tiếp cận và phương pháp nghiên
cứu phù hợp
Bài viết giới thiệu một cái nhìn tổng thể về
các nghệ nhân “Cò ke ôống kháo”, qua khảo
sát, nghiên cứu ở 03 điểm thuộc tỉnh Hòa
Bình: 1) Xã Sủ Ngòi, thành phố Hòa Bình; 2) Xã
Phong Phú, huyện Tân Lạc; 3) Xã Nhân Nghĩa,
huyện Lạc Sơn Thông tin được tổng hợp từ
các quan sát về thân phận và cuộc sống hàng
ngày, những ý kiến từ phía cộng đồng và lời
bộc bạch của bản thân các nghệ nhân “Cò ke
ôống kháo”
1 Vài nét về dàn nhạc “Cò ke ôống kháo”
“Cò ke ôống kháo” hiểu theo nghĩa đen là từ
ghép của tên gọi hai nhạc khí: “Cò ke” và “ôống
kháo” (đàn nhị và sáo trúc) Đây là hai nhạc khí
chủ chốt không thể thiếu trong dàn nhạc này,
người ta thường bổ sung thêm các nhạc khí khác như: trống con, chũm chọe, đàn tam, đàn bầu, tùy theo điều kiện cho phép1
“Cò ke ôống kháo” được trình diễn trong đám tang và lễ hội, tại đây nó phục cho các nghi lễ tín ngưỡng2 Ngoài ra, người Mường còn dùng nó để giải trí ở những dịp vui như: gặp mặt ngày xuân, sau tiệc rượu, các cuộc trò chuyện trong đêm khuya Cách đây vài chục năm, người ta còn thấy “Cò ke ôống kháo” xuất hiện tại đám cưới ở Kim Bôi và Lạc Thủy, tuy nhiên hiện nay không còn thấy nữa
Biên chế một dàn nhạc “Cò ke ôống kháo” khá linh hoạt, thông thường tại tang lễ chỉ từ
3 - 5 người, vào các dịp vui hoặc tham gia lễ hội thì số lượng thường nhiều hơn, có thể lên đến hơn 10 người Mỗi dàn nhạc có một người trưởng nhóm, người này sẽ đại diện cho nhóm nhạc để làm các công việc chung như: tiếp nhận và xếp lịch công việc, thương thảo tiền công, tổ chức họp nhóm, phân công nhiệm vụ cho các thành viên khác Người trưởng nhóm
được lựa chọn, suy tôn với hai tiêu chí: Thứ
nhất là người giỏi chuyên môn, sử dụng được
nhiều nhạc khí và thông thạo các bài bản âm
nhạc “Cò ke ôống kháo”; thứ hai phải là người
trung thực, có uy tín trong cộng đồng3 Hiện nay, “Cò ke ôống kháo” khá phổ biến trong cộng đồng Mường ở Hòa Bình, mỗi xã thường có từ 1 - 3 dàn nhạc Thông tin cụ thể tại 03 xã mà chúng tôi chọn khảo sát: Xã Sủ Ngòi có 1 dàn nhạc, số lượng nghệ nhân là
5 người; xã Phong Phú có 3 dàn nhạc ở xóm Lầm, xóm Ải và xóm Mận, tổng số nghệ nhân
là 10 người; xã Nhân Nghĩa có 03 dàn nhạc ở xóm Vó trên, Vó giữa và xóm Bưng, tổng số nghệ nhân là 12 người
Số nghệ nhân ở mỗi xã có lẽ còn nhiều hơn, thống kê trên là những người thường xuyên tham gia dàn nhạc “Cò ke ôống kháo”, còn lại một số nghệ nhân khác ít tham gia, vì những
lý do như: bận công việc, hoặc sức khỏe yếu do
Trang 3ôống kháo”
Trình diễn “Cò ke ôống kháo” không phải là
nghề gia truyền, chỉ có một vài nghệ nhân kế
tục nghề từ những người ruột thịt Trong thực
tế thì ai cũng có thể trở thành nghệ nhân “Cò
ke ôống kháo” nếu có đủ các điều kiện: Năng
khiếu, niềm đam mê, đạo đức tốt và lối ứng xử
đúng mực Đó là những yếu tố lần lượt xuất
hiện qua từng giai đoạn để một người bình
thường trở thành nghệ nhân “Cò ke ôống
kháo”
Trước tiên, người học phải có năng khiếu
âm nhạc, đây là tố chất mà mỗi người có được
từ bẩm sinh, thể hiện qua khả năng cảm nhận
cao độ, tiết tấu và ghi nhớ giai điệu âm nhạc
Các nghệ nhân vốn là những người chân chất,
mộc mạc, họ giải thích về tố chất này bằng từ
khéo: “Cái món này không phải cứ thích là làm
được đâu, người khéo thì chỉ cần nghe, nhìn đã
làm theo được rồi! Anh nào không khéo thì dù
có chỉ tận tay, gí vào đầu, học cả đời vẫn làm sai,
không theo nghề được” (PVS Nghệ nhân Bùi
Văn N, ở Tân Lạc) Vì vậy, trước khi nhận học
trò để truyền dạy, các nghệ nhân bao giờ cũng
chú ý tới yếu tố này Nếu người học không có
năng khiếu, họ sẽ thẳng thắn từ chối, vì “cứ nể
nang mà nhận dạy, rồi cũng chẳng học được
thành nghề đâu” (PVS Nghệ nhân Bùi Văn T, ở
Sủ Ngòi)
Trường hợp nghệ nhân Bùi Văn X, trưởng
nhóm “Cò ke ôống kháo” ở Sủ Ngòi, có con
trai là Bùi Văn H (sinh 1992), hiện đang thất
nghiệp, ở nhà giúp cha mẹ làm việc đồng áng
Mặc dù ông X đang dạy “Cò ke ôống kháo”
cho một người cùng xóm, nhưng ông không
truyền nghề cho con trai mình Lý do rất đơn
giản: “Cháu không có năng khiếu nên không học
được”.
Nếu năng khiếu âm nhạc là yếu tố đầu tiên
phải có, thì niềm đam mê đối với âm nhạc “Cò
ke ôống kháo” là yếu tố thứ hai, nó là động lực
xuyên suốt giúp cho người học vượt qua quá
T (ở Tân Lạc, sinh năm 1943) cho biết, ông đã
“mê” âm nhạc “Cò ke ôống kháo” ngay từ lần đầu được nghe, khi mới 12 tuổi Ông về nhà
tự làm cò ke (đàn nhị), cắt đoạn tre làm thùng
đàn, dùng da ếch căng mặt đàn, làm xong còn chẳng biết lên dây cho đúng Với chiếc đàn
tự tạo đó, ông hăng hái theo các đàn anh để học “Cò ke ôống kháo” và trở thành một nghệ nhân giỏi Nay tuổi đã cao, ông vẫn thường xuyên tham gia dàn nhạc “Cò ke ôống kháo”,
ông nói: “cái này nó ngấm vào máu rồi, nếu
không được chơi thường xuyên, tôi cảm thấy thiêu thiếu gì đó”.
Cuối cùng, sau khi học đủ các bài bản “Cò
ke ôống kháo”, để có một vị trí chính thức trong dàn nhạc “Cò ke ôống kháo” và được cộng đồng công nhận, người học “Cò ke ôống kháo” phải đạt tiêu chuẩn thứ ba, đó là có lối sống lành mạnh, biết ứng xử đúng chuẩn mực tại các không gian tôn nghiêm như lễ hội, lễ tang Vì tiêu chuẩn này mà có người từng bị
“thử thách” đến hàng chục năm, cũng có người
vì liên tiếp cư xử sai mà bị loại bỏ Chẳng hạn như trường hợp của nghệ nhân Bùi Văn K ở Sủ Ngòi Ông có tật hay uống rượu say và quấy nhiễu, nhiều lần giữa lễ tang ông lè nhè trêu chọc mọi người (chọc cả dùi trống vào người đến viếng), vì thế bị cộng đồng chê trách, những người cùng nhóm nhạc cũng dần tránh
né không mời tham gia nữa
3 Cuộc sống hàng ngày của nghệ nhân “Cò
ke ôống kháo”
Đời sống kinh tế
Chơi nhạc “Cò ke ôống kháo” là công việc không thường xuyên, nguồn thu nhập đến
từ phục vụ lễ tang rất ít ỏi và không ổn định
Nghệ nhân Bùi Văn T ở Tân Lạc cho biết: “Thời
gian trước, tại đám tang thầy Mo được chia 1 vai thịt lợn (tức là ¼ con lợn), người thổi kèn nhận được chiếc thủ lợn, nghệ nhân “Cò ke ôống kháo” chỉ được chia một phần thịt nhỏ khoảng 1kg, thay cho lời cảm ơn của tang chủ”.
Trang 4V Ă N HÓ A
Nguyên tắc trả công này được giải thích
như sau: Thứ nhất, thầy và thợ là hai vị trí khác
nhau4, thầy Mo nhận công nhiều hơn thợ kèn,
thợ đàn; Thứ hai, thợ kèn được trả công cao
hơn thợ đàn (tức “Cò ke ôống kháo”), vì công
việc của người thổi kèn được cho là nặng nhọc,
vất vả hơn Người Mường quan niệm rằng các
bản nhạc được trình bày bằng âm sắc của chiếc
kèn mới là âm nhạc nghi lễ và chỉ dành riêng
cho nghi lễ5 Dàn nhạc “Cò ke ôống kháo” mặc
dù xuất hiện ở đám tang, nhưng có vai trò hỗ
trợ cho giai điệu của kèn, hoặc chơi độc lập các
bài bản “Cò ke ôống kháo” khi chiếc kèn tạm
nghỉ (đêm khuya, hoặc lúc gia đình tang chủ
dùng bữa)
Ngày nay, việc trả công được thay bằng
tiền mặt, thầy Mo: 1,5 - 2 triệu; thợ kèn: 700
- 800 ngàn; nghệ nhân “Cò ke ôống kháo” chỉ
được nhận khoảng 400 - 500 ngàn cho một lần
phục vụ tang lễ Tất nhiên đó không thể là một
khoản thu nhập thường xuyên, cũng chẳng đủ
để duy trì cuộc sống, như một nghệ nhân đã
nói: “Đủ tiền để uống trà, hút thuốc thôi” (PVS
nghệ nhân Bùi Văn T ở Tân Lạc)
Nghệ nhân “Cò ke ôống kháo” không nhận
thù lao khi phục vụ lễ hội, vì đó là nhiệm vụ
được xem là vinh dự mà cộng đồng lựa chọn
giao phó, nên họ tự nguyện tham gia với một
tâm thế nhiệt tình và thành kính Sau cùng, họ
sẽ được Ban tổ chức lễ hội mời một bữa cơm
“thụ lộc” từ những đồ cúng
Bởi lý do nêu trên mà “Cò ke ôống kháo”
không thể trở thành một nghề mưu sinh và
các nghệ nhân phải mưu sinh bằng một nghề
khác Tuy nhiên, khảo sát về nghề mưu sinh
của họ lại mang cho chúng tôi những kết quả
rất bất ngờ và thú vị Hóa ra các nghệ nhân
“Cò ke ôống kháo” thường làm những nghề
đòi hỏi có trí thông minh và sự khéo léo Một
số người làm việc trí óc như: Chủ tịch xã, cán
bộ văn hóa, kế toán, giáo viên trung học phổ
khéo léo, có tay nghề như: Lái máy cẩu chuyên dụng, thợ mộc, nhạc công organ, công nhân nhà máy Thủy điện Hòa Bình… Những nghề này giúp họ có đời sống kinh tế khá ổn định so với mức sống chung của cộng đồng, thường ở mức trung bình trở lên
Sở thích và lối sống
Thưởng thức âm nhạc là sở thích chung của các nghệ nhân “Cò ke ôống kháo” Vật dụng phổ biến tại nhà riêng của họ là bộ thiết bị nghe nhạc, những dàn âm thanh không đắt tiền, công suất trung bình (40 - 60W), chúng thường được bày đặt ở không gian để tiếp khách, gần bàn uống trà Tất cả ở trong trạng thái hoạt động tốt, điều đó chứng tỏ chúng được sử dụng và tu sửa thường xuyên Âm nhạc mà họ thích nghe
là các ca khúc Việt Nam được sáng tác trong nửa cuối thế kỷ XX6 Giai điệu của chúng đôi khi còn được họ trình diễn bằng “Cò ke ôống kháo” trong những lúc cao hứng
Các nghệ nhân “Cò ke ôống kháo” có một điểm chung trong lối sống: rất hướng ngoại và
có nhiều mối quan hệ trong cộng đồng Điều này dễ dàng nhận thấy qua thái độ hiếu khách
và sự chân thành Họ cởi mở, thích được làm quen với người lạ, sẵn sàng chia sẻ mọi câu chuyện đời thường của mình khá thoải mái nhưng không “vẽ chuyện làm quà”7 Có lẽ thái
độ hiếu khách, sự chân thành cùng với công việc “Cò ke ôống kháo” khiến họ có nhiều mối quan hệ trong cộng đồng Khảo sát cho thấy hầu như mỗi người dân Mường đều biết và giao thiệp với một vài nghệ nhân “Cò ke ôống kháo” trong vùng
Họ cùng có thói quen chung phổ biến trong cộng đồng Mường là uống rượu Nhưng
họ luôn uống có chừng mực, vì hầu như không
có phản ánh hay than phiền về việc các nghệ nhân “Cò ke ôống kháo” say xỉn, có lẽ bởi công việc “Cò ke ôống kháo” đòi hỏi sự nghiêm túc
và tỉnh táo Tuy nhiên, uống vài chén rượu khi
Trang 5nhà riêng một bữa cơm rượu đãi khách hay
họp nhóm “Cò ke ôống kháo”; họ cũng rất vui
lòng nhận lời mời dùng cơm ở nhà của một
thành viên trong nhóm Các bữa ăn này mang
lại cho họ sự gắn kết và tình thân, hơn nữa sau
đó thường là những khoảnh khắc ngẫu hứng
để họ chơi đàn với nhau
Tập luyện và truyền dạy nghề
Việc tập luyện và truyền dạy nghề thường
diễn ra sau bữa ăn tối, khi các công việc hàng
ngày đã kết thúc Các nghệ nhân tập hợp tại
nhà của một thành viên trong nhóm và hòa
tấu các bản “Cò ke ôống kháo” với nhau Sau
mỗi bản nhạc, họ thường dừng lại để trao đổi,
góp ý cho nhau về ngón đàn, rồi nói chuyện
tâm tình Đây cũng là thời gian họ sẽ truyền
dạy bài bản, ngón đàn cho các học trò Học trò
chẳng của riêng ai, họ có thể học ở mỗi người
một ít Thầy dạy thì không bao giờ thu học phí,
thường chỉ thấy học trò tự nguyện chăm lo trà
thuốc, hoặc biếu thầy vài lít rượu, thế là đủ
Ngoài ra, học trò còn được đi cùng các
nghệ nhân để thực tập trong các dịp trình
diễn “Cò ke ôống kháo” Việc học có thể kéo dài
hoặc rút ngắn tùy theo khả năng của học trò,
những người học giỏi thường thành nghề sau
2 - 3 năm, có những trường hợp lâu hơn như
nghệ nhân Bùi Văn L (ở Sủ Ngòi) học hơn 10
năm mới được hành nghề Ông L kể lại rằng,
ngày đó ông rất khéo, học nhanh tiến bộ,
nhưng ham chơi, không chú tâm tập luyện, vì
vậy các thầy phải cân nhắc mãi mới cho phép
ông đi làm nghề Chuyện này cho thấy đam
mê với nghề và đạo đức của người học là tiêu
chí cơ bản để thầy dạy quyết định có truyền
nghề hay không Các nghệ nhân luôn dặn học
trò phải xem đây là việc làm phước, không cầu
lợi, cần có thành tâm và biết chia sẻ Người làm
nghề cần có lối sống giản dị, tránh khoác lác,
khoa trương và đặc biệt không được gian dối
Chúng tôi còn ghi nhận được ở Sủ Ngòi có 2
thật thà8
4 Vị thế của nghệ nhân “Cò ke ôống kháo” trong đời sống cộng đồng
Khi đề cập tới “Cò ke ôống kháo”, chúng tôi ghi nhận các ý kiến từ cộng đồng Mường như sau:
- “Cò ke ôống kháo” à! Món đó không dễ đâu, phải khéo mới làm được!
- Ông ấy khéo đấy! Biết chơi “Cò ke ôống kháo” cơ mà!
- Anh ấy thông minh lắm! Việc gì cũng làm được, biết chơi cả “Cò ke ôống kháo”!
“Cò ke ôống kháo” gắn bó với đời sống cộng đồng Mường Không ít người dân Mường
đã từng một lần thử làm quen với các nhạc khí
“Cò ke ôống kháo”, nhưng phần lớn sẽ nhanh chóng bỏ cuộc sau khi nhận ra rằng đó không phải là việc dễ dàng Âm nhạc cần sự khéo léo hơn là sức mạnh cơ bắp, hơn nữa, kể cả người khéo léo nhất cũng phải trải qua một thời gian tập luyện mới có thể thành nghề Vì thế, việc biết chơi “Cò ke ôống kháo” đôi khi trở thành một tiêu chí để người ta đánh giá về năng lực con người Và nghệ nhân “Cò ke ôống kháo” mặc nhiên được coi là những người thông minh, khéo léo
Khác với năng lực của ông Mo, ông T’lượng hay bà Mỡi (những người thực hành tâm linh
và được cộng đồng tin rằng có năng lực thần bí), nghệ nhân “Cò ke ôống kháo” mang tố chất của con người, trở thành tài nghệ qua rèn luyện Quan niệm đó thể hiện qua cách ứng
xử của cộng đồng với nghệ nhân “Cò ke ôống kháo”, người ta không cần phải tỏ ra cung kính, thậm chí có chút e sợ như với ông Mo, ông T’lượng, song người Mường luôn kính trọng và thường có mối quan hệ khá thân mật, gần gũi với nghệ nhân “Cò ke ôống kháo”
Tính chất công việc của nghệ nhân “Cò ke ôống kháo” luôn gắn với các sự kiện trong xã hội, từ việc thờ cúng chung (lễ hội), hay việc
Trang 6V Ă N HÓ A
riêng của mỗi gia đình (lễ tang, đám giỗ) Họ
không chỉ thường xuyên tham gia mà như đã
trở thành một phần của các sự kiện ấy, điều đó
đòi hỏi họ phải biết và tuân thủ đúng theo quy
tắc và trình tự của các nghi lễ Trong đám tang,
mỗi khi ông Mo thực hành một nghi lễ thì dàn
nhạc “Cò ke ôống kháo” sẽ chơi một bản nhạc
phù hợp với nghi lễ đó Thêm nữa, họ phải biết
cách điều chỉnh để kéo dài hơn hoặc rút ngắn
bản nhạc tùy theo thời gian của một nghi lễ
đang diễn ra, sao cho nghi lễ kết thúc thì bản
nhạc cũng dừng
Sự kiêng kỵ trong tang ma được các nghệ
nhân tuân thủ rất nghiêm cẩn Ở Mường Vang
còn lưu truyền một bản nhạc tên là “Mo trâu”,
được tấu lên khi gia chủ dâng mâm cúng thịt
trâu cho tinh linh người chết Thực ra, việc
dâng cúng thịt trâu là thủ tục phổ biến ở thời
gian trước, khi mà các trình tự của tang ma
Mường còn rất rườm rà Người Mường tin rằng
nếu tấu bản nhạc này mà không có mâm cúng
thịt trâu thì sẽ mắc lỗi với người chết Nhưng
ở thời điểm hiện nay, không phải gia đình nào
cũng có điều kiện để cúng thịt trâu, vì vậy bài
“Mo trâu” ngày càng ít được sử dụng đến nỗi
đang có nguy cơ thất truyền Trong quá trình
sưu tầm tài liệu, chúng tôi đã rất khó khăn để
thuyết phục các nghệ nhân “Cò ke ôống kháo”
trình tấu bản nhạc này Cuối cùng họ miễn
cưỡng thực hiện sau khi hướng về phía cửa sổ
(cửa vóng) lầm rầm vài câu xin phép
Do tính chất công việc nên họ là những
người được nhiều người biết đến và có nhiều
mối quan hệ trong cộng đồng, nhất là với các
già làng, trưởng bản Những mối quan hệ đó
mang lại cho họ nhiều kiến thức về cuộc sống
và cơ hội trong công việc Vì vậy, nghệ nhân
“Cò ke ôống kháo” trở thành người được cộng
đồng tin tưởng để tham khảo ý kiến về nghi lễ
hay phong tục tập quán9
Như vậy có thể thấy, nghệ nhân “Cò ke
mình trong đời sống cộng đồng Mường Họ được cộng đồng kính trọng và yêu quý không chỉ bởi là những người trực tiếp giữ gìn và phát huy di sản âm nhạc dân gian Mường, mà còn bởi tư chất thông minh, khéo léo, am hiểu phong tục tập quán và hiểu biết xã hội, có kinh nghiệm trong đối nhân xử thế
5 Một số vấn đề đặt ra hiện nay
Nghệ nhân “Cò ke ôống kháo” vừa là chủ thể, vừa là thành phần của một di sản văn hóa nghệ thuật Họ đang ngày một già đi theo quy luật của cuộc sống, một khi họ từ giã cuộc sống này mà chưa kịp trao truyền cho thế hệ sau, vốn cổ nghệ thuật đó sẽ theo họ về thế giới bên kia Nhiều nghệ nhân đã bày tỏ với chúng tôi sự lo lắng vì không tìm được người
để truyền nghề, bởi hiện nay giới trẻ người Mường không mấy quan tâm đến nghệ thuật
“Cò ke ôống kháo”
Bên cạnh đó, ý kiến của các nghệ nhân đôi khi còn bị xem nhẹ Tại lễ hội khai hạ Đình Ngòi, xã Sủ Ngòi, ban tổ chức đã yêu cầu các nghệ nhân “Cò ke ôống kháo” tập và chơi bản nhạc “Lưu thủy” của người Kinh thay thế các bản nhạc “Cò ke ôống kháo” truyền thống, mặc cho họ phản đối một cách yếu ớt10 Có lễ hội thì lại thu thanh sẵn các bản nhạc cồng chiêng
và “Cò ke ôống kháo” Điều đó cho thấy nhận thức của một số cán bộ văn hóa cấp cơ sở còn hạn chế, vô tình làm ảnh hưởng đến sự tồn vong của một loại hình nghệ thuật mang bản sắc dân tộc Mường
Để bảo vệ di sản văn hóa này, chúng tôi cho rằng giải pháp thiết thực nhất là chú trọng nâng cao trình độ nhận thức của các cán bộ văn hóa ở cơ sở Họ, hơn ai hết phải hiểu được giá trị của các yếu tố văn hóa bản địa mà họ đang tiếp xúc, gần gũi và biết tôn trọng ý kiến của các nghệ nhân Trên nền tảng đó họ sẽ
có những hành động tuyên truyền hiệu quả
về giá trị di sản văn hóa, tạo chuyển biến tích
Trang 7trọng văn hóa nghệ thuật dân gian, muốn
học tập và gìn giữ nó, thì các nghệ nhân “Cò
ke ôống kháo” sẽ không còn phải lo lắng về
việc truyền nghề
Kết luận
Con người là tổng hòa của các mối quan
hệ xã hội, vì thế muốn làm rõ chân dung một
nhân vật có vị trí nhất định trong xã hội như
nghệ nhân “Cò ke ôống kháo”, thì việc xem xét
một cách tổng thể là điều cần thiết Từ nhiều
góc độ mô tả khác nhau, bài viết mong muốn
nhận diện một cách khách quan, chân thực
về nghệ nhân “Cò ke ôống kháo” trong xã hội
Mường ở Hòa Bình
Thứ nhất, mặc dù “Cò ke ôống kháo” không
phải nghề gia truyền, nhưng để trở thành
nghệ nhân “Cò ke ôống kháo”, người học phải
có năng khiếu bẩm sinh, có đủ đam mê để khổ
luyện, và cuối cùng là tu dưỡng đạo đức để
được xã hội công nhận
Thứ hai, trong đời sống văn hóa cộng
đồng Mường, nghệ nhân “Cò ke ôống kháo”
là những người giản dị, chân thật, am tường
phong tục tập quán, say mê âm nhạc dân
gian như một thú vui tao nhã Nghệ nhân
“Cò ke ôống kháo” là một kiểu “nhân cách văn
hóa”, một vị trí ít được chú ý, nhưng luôn hiện
hữu trong xã hội Mường Người Mường kính
trọng họ, coi họ là những người tài giỏi, am
hiểu về phong tục tập quán và có uy tín trong
cộng đồng
Thứ ba, các nghệ nhân “Cò ke ôống kháo”
đã tạo nên một tổ chức, có người đứng đầu
và các thành viên, có các hoạt động cụ thể
(trình diễn, tập luyện, trao truyền) Trong đó,
nội dung tập luyện gắn với truyền dạy “Cò ke
ôống kháo” là một sinh hoạt tinh thần mang
giá trị văn hóa, giáo dục sâu sắc Đó chính
là hiện thực của hoạt động bảo lưu và sáng
tạo truyền thống từ các nghệ nhân dân gian
Mường
thầy Mo, thầy Thường, ông T’lượng, bà Mỡi, các nghệ nhân “Cò ke ôống kháo” đã góp phần tạo nên một bộ khung của tầng lớp tinh hoa trong xã hội, góp phần bảo lưu, phát huy và giáo dục truyền thống văn hóa Mường
Trong xu hướng biến đổi và hội nhập văn hóa hiện nay, rất cần trân trọng và phát huy vai trò xã hội của các nghệ nhân dân gian như nghệ nhân “Cò ke ôống kháo”, không chỉ ở tài năng nghệ thuật mà còn ở vốn văn hóa truyền thống mà họ đang lưu giữ, thực hành và giáo dục cho cộng đồng, góp phần bảo vệ bản sắc văn hóa dân tộc Mường
T.B.D
(ThS., Khoa Văn hóa học, Trường ĐHVHHN)
Chú thích
1 Không có quy ước, giới hạn cụ thể về
số lượng nhạc khí tham gia dàn nhạc Thông thường, dàn nhạc “Cò ke ôống kháo” có ít hơn 10 nhạc khí Nhưng số lượng người tham gia có thể lên tới 15 người hoặc hơn bằng cách tăng gấp đôi, gấp ba số người chơi cùng một loại nhạc khí
2 Jean Cusinier là người có những ghi chép
sớm nhất về “Cò ke ôống kháo”, trong cuốn Người
Mường - Địa lý nhân văn và xã hội học, xuất bản lần
đầu bằng tiếng Pháp năm 1948 [1, tr.679-680]
3 Đã có trường hợp người trưởng nhóm bị
“khai trừ” do vi phạm các tiêu chuẩn đạo đức,
đó là câu chuyện của nghệ nhân Bùi Văn T, vốn
là trưởng nhóm “Cò ke ôống kháo” ở xã Sủ Ngòi Ông rất giỏi nghề, nhưng vì hay bớt xén tiền công của các thành viên khác nên đã bị tẩy chay
và mời ra khỏi nhóm
4 Người Mường phân biệt rõ qua cách gọi:
thầy Mo, thợ kèn, thợ đàn.
5 Điều này thể hiện qua sự kiêng kỵ đối với chiếc kèn, người Mường cho rằng tiếng kèn đám
là điềm báo của sự xúi quẩy, một tín hiệu của cái chết Vì thế người học kèn đám thường phải lắp dăm kèn vào chiếc ống nứa nhỏ (nhằm giảm âm